Điều này khẳng định sự bứt phá về bút pháp cũng như sự trưởng thành của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư: “Tác phẩm kết thúc một bước quá độ dài để khẳng định sự trưởng thành của ngòi bút Nguyễ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
- -
NGUYỄN THỊ LÊ THỦY
Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Phong cách là sự độc đáo của nhà văn cả về tư tưởng và nghệ thuật Tuy nhiên không phải nhà văn nào cũng có phong cách, bởi phong cách là sự lặp đi lặp lại trong sáng tác của nhà văn những đặc điểm riêng vừa có tính bền vững vừa không ngừng đổi mới Nghiên cứu phong cách, vì vậy, cũng là một hướng nghiên cứu không bao giờ cũ, không bao giờ lạc hậu
1.2 Cuộc sống vốn luôn vận động không ngừng và đời sống văn học cũng không nằm ngoài quy luật ấy Bằng chứng là văn chương nước ta đang từng ngày từng giờ khởi sắc với sự đóng góp đặc biệt mạnh mẽ của các nhà văn trẻ Nhưng nếu chỉ xét riêng trong văn chương khu vực Nam Bộ, thì kể từ những nhà văn lớp trước như Sơn Nam, Trang Thế Hy, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Dạ Ngân…; khu vực này vẫn chưa có nhà văn trẻ nào xuất hiện như là một “hiện tượng” của văn học nước nhà, mãi cho đến trường hợp tỏa sáng của cây bút nữ Nguyễn Ngọc Tư Hiếm có nhà văn nào mới sáng tác đã sớm khẳng định được vị trí, vùng sáng tác và phong cách sáng tác chuyên biệt như Nguyễn Ngọc Tư Từ nay chúng ta có Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn của nông thôn và nông dân Nam Bộ, một nhà văn sáng tác bằng ngôn ngữ Nam Bộ rặt ròng để bản thân tác giả và tác phẩm nghiễm nhiên trở
thành “đặc sản miền Nam” Những tập truyện ngắn của chị đã để lại trong lòng
người đọc nhiều dư vị cũng như khiến cho các nhà phê bình tốn không ít giấy mực
1.3 Vì vậy, chúng tôi chọn thực hiện đề tài Phong cách truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư nhằm khám phá những nét độc đáo trong truyện ngắn của cây bút
Trang 3trẻ này, đồng thời góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảy văn chương Nam Bộ nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ có khối lượng tác phẩm xuất bản khá lớn chỉ trong thời gian ngắn Đồng thời chị đã được trao tặng nhiều giải thưởng văn học có uy tín cũng như nhận được nhiều sự yêu mến và kì vọng lớn lao từ độc giả
Do đó, có lẽ không quá võ đoán khi khẳng định Nguyễn Ngọc Tư đã đạt được những thành công nhất định trên con đường định hình một phong cách Nam Bộ đặc sắc trong sáng tác Thế nhưng, hiện tại công việc nghiên cứu truyện ngắn của chị lại
có vẻ khá chậm chạp so với những bước tiến trong nghề nghiệp của nhà văn Nó không tương xứng với một hiện tượng văn học, chỉ dừng lại chủ yếu qua các bài viết trên báo, tạp chí và các trang web Qua quá trình khảo sát những bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chúng tôi tạm chia thành hai nhóm:
2.1 Nhóm công trình, bài viết liên quan gián tiếp đến đề tài
* Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách ở Việt Nam
Tôn Thảo Miên trong bài viết Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách
(Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5 – 2006) chỉ ra bốn khuynh hướng nghiên cứu phong cách chính, đó là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản
- Nghiên cứu phong cách tác giả
- Nghiên cứu phong cách tác phẩm
- Nghiên cứu phong cách tác giả và tác phẩm [22,tr.75]
Ở Việt Nam chưa có một công trình khoa học chuyên biệt nào nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của phong cách Cuốn sách lý thuyết phong cách được tham khảo nhiều nhất ở Việt Nam vẫn là công trình của nhà nghiên cứu người Nga
M.B.Khrapchenko – Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học (NXB
Tác phẩm mới – 1978) Trong cuốn sách này, tác giả nghiên cứu phong cách dưới
Trang 4nhiều hướng lí thuyết hiện đại như tự sự học, thi pháp học và các chủ nghĩa hiện đại
Nghiên cứu phong cách ở Việt Nam trước nay chủ yếu đi theo ba khuynh hướng còn lại, hoặc nghiên cứu phong cách tác giả, hoặc nghiên cứu phong cách tác phẩm, hoặc kết hợp nghiên cứu phong cách tác giả và tác phẩm
Có thể nói người đầu tiên thực hành phê bình phong cách học ở Việt Nam
là Phan Ngọc với công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều Bản thảo cuốn sách Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều được
Phan Ngọc hoàn thành năm 1965, hai mươi năm sau (1985) cuốn sách mới được
ra mắt bạn đọc ở nhà xuất bản Khoa học xã hội Ở công trình nghiên cứu này,
GS Phan Ngọc đã nghiên cứu đánh giá vấn đề phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều trên nhiều khía cạnh: vấn đề tư tưởng, phương pháp tự sự, bố cục theo yêu cầu của kịch, ngôn ngữ, câu thơ, ngữ pháp
Một nguời nổi tiếng với khuynh hướng nghiên cứu phong cách tác giả ở Việt
Nam là GS.Nguyễn Đăng Mạnh với các công trình Con đường đi vào thế giới nghệ
thuật của nhà văn (NXB Giáo dục, in lần thứ hai năm 1996) và Nhà văn Việt Nam
hiện đại – Chân dung và phong cách (NXB Trẻ, 2000) Phương pháp nghiên cứu
của giáo sư là phối hợp thật nhuần nhuyễn giữa dựng chân dung văn học và đi tìm phong cách nhà văn
Ngoài ra có thể kể đến một số chuyên luận nghiên cứu về phong cách tác giả
như Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu của Tôn Phương Lan (NXB Khoa
học xã hội – 2001), Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải của Tuyết Nga (NXB Hội
nhà văn – 2004), Phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam của Nguyễn Thành
Thi (NXB Khoa học xã hội – 2005),…Và mới đây có một chuyên luận nghiên cứu
về phong cách thời đại, đó là công trình Phong cách thời đại nhìn từ một thể loại
văn học của Nguyễn Khắc Sính (NXB Văn học – 2006)
* Một số bài viết về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
Đây là những bài viết nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư và truyện ngắn của chị được đăng trên các báo và website, tuy chưa đi sâu vào nghiên cứu các bình
Trang 5diện phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhưng chứa đầy tâm huyết của người viết và cũng khá giá trị về mặt khoa học Đặc biệt có rất nhiều bài viết nghiên
cứu về “hiện tượng” Cánh đồng bất tận trong thời điểm truyện ngắn này gây tiếng
vang lớn trên văn đàn
Tiêu biểu, có thể kể đến bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam” của GS.Trần Hữu Dũng Ông đã xem xét truyện ngắn của chị một cách tường tận và thấu đáo trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Trần Hữu Dũng đặc biệt
đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, ông đánh giá đó
là một nét riêng đặc sắc không thể trộn lẫn với bất kì nhà văn nào khác, như là một
“đặc sản miền Nam” Bằng tất cả sự yêu mến chân thành, Trần Hữu Dũng cũng
không quên cảnh báo những nguy cơ có thể khiến tác giả trẻ này đi vào lối mòn
trong sáng tác bên cạnh sự nhìn nhận và tán thưởng tài năng của chị
Đoàn Ánh Dương trong bài viết “Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và
ngôn ngữ trần thuật” in trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 2 năm 2007 đặc biệt
chú trọng đến ngôn ngữ của tác phẩm Khen ngợi truyện ngắn mang phong cách của
một tiểu thuyết, tác giả khẳng định: “Lựa chọn cấu trúc tự sự bao gồm: chuỗi sự
kiện nhân- quả, thời gian tuyến tính và dòng chảy tâm lí nhân vật cùng với cách sử dụng ngôn ngữ trần thuật và phương ngữ chính là cách xử lí rất k héo léo của Nguyễn Ngọc Tư trong tác phẩm này” Điều này khẳng định sự bứt phá về bút pháp
cũng như sự trưởng thành của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư: “Tác phẩm kết thúc một
bước quá độ dài để khẳng định sự trưởng thành của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư”.[3]
Trong bài viết “Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư” của Thụy Khuê đăng trên trang web viet-studies.info, người viết đánh giá cao
việc Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng được một không gian Nam Bộ với ruộng đồng sông nước đặc sắc trong tác phẩm của mình, góp phần to lớn vào việc phục vụ cho
ý đồ nghệ thuật của tác giả Còn trong bài viết “Thời gian huyền thoại trong truyện
ngắn “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư” của Mai Hồng đăng trên cùng
trang web, người viết chỉ ra nét đặc sắc của kiểu thời gian huyền thoại trong truyện
Trang 6ngắn “Cánh đồng bất tận” Đây cũng là một góc nhìn mới lạ trong việc tìm hiểu về
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Nguyên Ngọc trong bài viết “Không gian… của Nguyễn Ngọc Tư” in trên
báo Sài Gòn tiếp thị năm 2008 đã không ngần ngại đánh giá về Nguyễn Ngọc Tư và
tập truyện “Cánh đồng bất tận” như sau: “Với cánh đồng bất tận, văn chương ta
bước vào toàn cầu hóa hiện nay một cách đàng hoàng và ngang bằng với những giá trị nghệ thuật và nhân văn của toàn cầu, chẳng phải nể ai hết Nó đưa vă n chương,
và như thế cũng là con người của toàn cầu, để cho toàn cấu biết rằng ta cũng là con người chẳng hề thua kém họ” [ 23]
Hay bài nghiên cứu Bi kịch hóa trần thuật- Một phương thức tự sự (Trên cứ liệu Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư) của Nguyễn Thanh Tú được in trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5 năm 2008, tác giả đi vào nghiên cứu bi kịch hóa trần thuật trong Cánh đồng bất tận trên các phương diện: bi kịch hóa tình huống, bi
kịch hóa không gian- thời gian, bi kịch hóa hoàn cảnh, tâm lí, tính cách nhân vật
Trần Việt Thường trong bài viết Khát vọng nhân văn trong cánh đồng bất
tận in trên báo Quân đội ngày 4 tháng 5 năm 2006 đã nói về khả năng đào sâu hiện
thực cũng như sự dũng cảm của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư khi cho ra đời tập
truyện ngắn Cánh đồng bất tận, tập truyện đã phản ánh bằng văn học những điều
mà lẽ ra không còn tồn tại nữa đối với người nông dân trong thời kỳ đổi mới để “từ
đó, làm cơ sở xã hội học mà hoạch định chính sách giúp nông dân thoát đói giảm nghèo, để có sự thay đổi tốt đẹp hơn cho đời sống của nông dân” [28]
2.2 Nhóm công trình, bài viết liên quan trực tiếp đến đề tài
Đây là nhóm công trình, bài viết có đề cập trực tiếp đến phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ một phương diện cụ thể nào đó, có thể là nội dung tự
sự hay phương thức nghệ thuật
Chẳng hạn, Nguyễn Trọng Bình với bài viết Phong cách truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư nhìn từ nội dung tự sự trên trang web viet-studies ngày 26-9-2010 Tác giả
đi sâu nghiên cứu phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên phương diện nội dung tự sự, và đặc biệt chú ý đến những câu chuyện về thân phận con người ở miền
Trang 7quê Nam Bộ Những phân tích của bài viết mới dừng lại ở sự khai mở bước đầu, nhưng cũng trở thành tư liệu quý báu cho người viết khi nghiên cứu phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Cũng tác giả này, trong bài Những dạng tình huống thường gặp trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên trang web viet-studies ngày 30-9-2010, đã cho rằng
điểm chung trong các dạng tình huống của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là nêu bật lên được phẩm chất tốt đẹp của những con người nghèo khổ, đồng thời khẳng định
“những dạng tình huống trên chính là sự đảm bảo chất lượng cho một “thương hiệu”, một phong cách truyện ngắn độc đáo – phong cách Nguyễn Ngọc Tư” [40]
Sau đó, Nguyễn Trọng Bình tiếp tục đăng tải bài viết Phong cách truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện quan niệm nghệ thuật về con người trên
trang web viet-studies vào ngày 3 tháng 3 năm 2011 Tác giả đã đưa ra những nhận xét khẳng định phong cách Nguyễn Ngọc Tư: “Có thể nói, kế thừa truyền thống về quan niệm nghệ thuật về con người của các thế hệ đi trước, bằng sự trải nghiệm và
sự sáng tạo của bản thân, Nguyễn Ngọc Tư đã đưa ra một “cái nhìn”, một cách “lí giải” về con người rất mới mẻ và độc đáo, đem đến cho người đọc một sự thích thú
và ngày một yêu mến truyện ngắn của chị hơn Đây chính là dấu ấn riêng góp phần làm nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư” [ 41]
Hay trên báo Văn nghệ quân đội tháng 6 năm 2006 có bài viết Thị hiếu thẩm
mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Trần Phỏng Diều Ông cho rằng:
“đi tìm thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thực chất là đi tìm những hình tượng văn học trong sáng tác của tác giả Các hình tượng văn học này
cứ trở đi trở lại và trở thành một ám ảnh khôn nguôi, buộc người viết phải thể hiện
ra tác phẩm của mình” [2] Ở đây, tác giả đi sâu vào phân tích hình tượng người
nông dân, hình tượng người nghệ sĩ và hình tượng dòng sông để làm rõ thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Huỳnh Công Tín với bài viết “Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam Bộ”
trên trang web “Văn nghệ Sông Cửu Long” cũng dành cho Nguyễn Ngọc Tư những lời khen tặng xứng đáng với tài năng của chị Ông đánh giá cao khả năng xây dựng
Trang 8những không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư và thừa nhận: “Đặc
biệt, vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị.”
Huỳnh Công Tín cũng đánh giá cao khả năng miêu tả tâm lý người và vật hết sức sắc sảo của Nguyễn Ngọc Tư, cho rằng chúng ta cần có cái nhìn thông cảm hơn khi những vấn đề chị quan tâm còn nhỏ nhặt và chưa có tầm bao quát Ông cũng khẳng định cái đáng quý cần phải phát huy ở chị chính là chất Nam Bộ trong sáng tác
Nhìn chung, đã có không ít bài viết tìm hiểu về phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhưng còn khá riêng lẻ trên một vài phương diện: nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu, hiện thực cuộc sống, nhân vật, kết cấu… Tuy nhiên, các công trình, bài viết đã nêu vẫn là những tài liệu quí giá giúp chúng tôi nghiên
cứu đề tài Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư một cách có hệ thống và
hoàn chỉnh hơn
Khóa luận bước đầu tìm hiểu phong cách truyện ngắn của một tác giả trẻ, do
đó dĩ nhiên chưa thể có những công trình nghiên cứu dày dặn và thấu đáo để người viết tham khảo Các nguồn tư liệu chủ yếu được thu thập trên các trang web văn học
như Viet-studies, E-văn, Vietnamnet, Văn nghệ Sông Cửu Long…, trên các tờ báo giấy uy tín như Văn nghệ, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người lao động, Tiền Phong,…
Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo trên các diễn đàn văn học, blog cá nhân của tác giả và những nhà văn, nhà nghiên cứu khác để có thêm tư liệu Không thể nói tư liệu về Nguyễn Ngọc Tư ít ỏi, nhưng trước sự đa dạng của các ý kiến cũng như các nguồn tư liệu, chúng tôi buộc phải tỉnh táo và khách quan để “gạn đục khơi trong”,
để tìm ra những tư liệu có giá trị nhằm phục vụ tốt cho khóa luận này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “Phong cách truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 9Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
như Ngọn đèn không tắt (Nxb Trẻ, 2000), Giao thừa (Nxb Trẻ, 2003), Truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Văn hóa, 2005), Cánh đồng bất tận (Nxb Trẻ, 2005), Gió lẻ
và 9 câu chuyện khác (Nxb Trẻ, 2008), Khói trời lộng lẫy (Nxb Thời đại, 2010)
Ngoài ra, người viết còn tham khảo thêm các truyện ngắn của một số nhà văn trẻ cùng thời với Nguyễn Ngọc Tư để đối chiếu và so sánh
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp cấu trúc- hệ thống: Nghiên cứu phong cách truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư theo quan điểm phong cách tác giả là một chỉnh thể và biểu hiện ở
tất cả các mặt trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
4.2 Phương pháp phân tích- tổng hợp: Vận dụng phương pháp này, đầu tiên chúng tôi tiến hành khảo sát từng tác phẩm, tập trung chú ý đến các yếu tố chính để nêu bật nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư Từ đó, chúng tôi rút ra những nhận xét chung về đặc điểm truyện ngắn của chị
4.3 Phương pháp so sánh- đối chiếu: Tiến hành so sánh Nguyễn Ngọc Tư với một số cây bút truyện ngắn hiện đại khác như Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng,
Dạ Ngân, Kim Lân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu… ở từng vấn
đề có liên quan để thấy được phong cách riêng độc đáo của nhà văn
5 Đóng góp của khóa luận
5.1 Khóa luận tập trung tìm hiểu Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư, để làm rõ những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên cả hai
phương diện nội dung và nghệ thuật
5.2 Góp tiếng nói khẳng định những đóng góp và vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong tiến trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được chia thành ba chương chính:
Trang 10Chương I: Nguyễn Ngọc Tư và con đường định hình phong cách trong thể loại truyện ngắn
Chương II: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự và quan niêm nghệ thuật về con người
Chương III: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ một số phương thức nghệ thuật
Trang 11CHƯƠNG I NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ CON ĐƯỜNG ĐỊNH HÌNH PHONG CÁCH TRONG THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN 1.1 Về vấn đề phong cách
1.1.1 Khái niệm phong cách
Bàn về phong cách trong văn học, từ trước đến nay đã có nhiều ý kiến khác nhau, đáng chú ý nhất là ý kiến của một số tác giả sau đây:
Công trình Lí luận phong cách (1968) của N.Sokolov có thể coi là tác phẩm
đầu tiên của khối xã hội chủ nghĩa đặt lại vấn đề phong cách Ông khẳng định phong cách là một hiện tượng nghệ thuật, thể hiện quy luật của nghệ thuật, là phạm trù thẩm mỹ trong tất cả mọi loại hình nghệ thuật, là bản chất sự thống nhất của mọi thành tố nghệ thuật theo những quy luật đặc thù
Trong công trình nghiên cứu Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển
văn học, M Khrapchenco đưa ra ý kiến: “Mỗi một nhà văn có tài đều đi tìm những
biện pháp và phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những
tư tưởng và hình tượng ấy trở thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn gần gũi với công chúng độc giả Và điều đó cũng có nghĩa là nhà văn đã tạo ra được phong cách của mình.” [14,tr.152] Với quan niệm này, M Khrapchenco đã đề cao phong cách của nhà văn trong quá trình đưa sáng tác văn học đến với đông đảo công chúng độc giả
Trong giáo trình Lý luận văn học- tập 3, tác giả Phương Lựu lại cho rằng:
“Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” [17,tr.89]
Tiến sĩ Nguyễn Khắc Sính trong cuốn Phong cách thời đại nhìn từ một thể
loại văn học cũng khẳng định: “Không phải lúc nào nhà văn cũng có phong cách mà
chỉ có ở những nhà văn lớn, nhà văn ưu tú mới làm nên chỗ độc đáo có phẩm chất thẩm mĩ và cái độc đáo ấy là nét xuyên suốt, thống nhất, ổn định trong sự phong phú, đa dạng và đổi mới ở trong tất cả các sáng tác của nhà văn đó.” [24, tr.65]
Trang 12Đặc biệt, nhóm tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra một hệ
thống quan niệm toàn diện về phong cách trong văn học: “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn.”[4,tr.225] “Nói chung, phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố của chỉnh thể nghệ thuật, là một biểu hiện của tính nghệ thuật Không phải nhà văn nào cũng có phong cách, chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong cách riêng độc đáo”[4,tr.225] “Ngoài thế giới quan, những phương diện tinh thần khác như tâm lí, khí chất, cá tính đều có ảnh hưởng đến sự hình thành phong cách nhà văn, phong cách của nhà văn cũng mang dấu ấn của dân tộc và của thời đại.” [4,tr.225]
Như vậy, tuy ý kiến của các nhà nghiên cứu về phong cách có khác nhau nhưng đều thống nhất trên một quan điểm rằng phong cách là sự thống nhất tương đối ổn định giữa nội dung và nghệ thuật, nó nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn Và một nhà văn được cho là có phong cách khi sáng tác của nhà văn đó tập trung thể hiện được nét riêng cả về nội dung và nghệ thuật
1.1.2 Vai trò của phong cách trong sáng tác văn học
Từ xưa đến nay, các nghệ sĩ lớn đều nhất trí nhấn mạnh tầm quan trọng của
sự độc đáo của cá nhân trong sáng tác văn học Có thể thấy điều này qua một số ý
kiến mà GS Phương Lựu đã dẫn trong Giáo trình Lý luận văn học-tập 3 Đáng chú
ý nhất là ý kiến của nhà phê bình người Nga Tuốcghênhép: “Phải chăng anh chưa bao giờ đọc hàng tập giấy viết kín và có cảm giác rằng anh cũng có thể viết không kém và đúng nguyên như thế cũng nên Hoặc là anh, hoặc bất kì một người nào khác, có thể làm thế, vì trong ấy không có gì là đặc sắc riêng biệt Nhưng liền ngay
đó, anh bắt gặp một mẩu truyện ngắn, một bức phác thảo, chỉ một vài dòng thôi…và anh cảm thấy khác hẳn Anh không thể nói được như thế Có thể hay hơn hoặc kém hơn, nhưng nhất định là phải khác, bởi muốn nói được như thế, muốn bắt đúng cái nốt ấy thì phải có một thanh quản tổ chức dúng như thế Cũng giống như
Trang 13chim ấy…Đó là nét riêng biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo và đầy sức sống” [17, tr.89]
Khi nói đến vai trò của phong cách trong đời sống văn học, chúng ta phải xem xét trên cả hai bình diện sáng tác và tiếp nhận
Đối với các nhà văn thì có được một phong cách riêng sẽ giúp nhà văn khẳng định được tài năng và cá tính sáng tạo, đồng thời tạo ra sự hấp dẫn cho tác phẩm văn học Chẳng hạn, trong phong trào thơ Mới, cùng là cảm hứng lãng mạn, cùng là
sự biểu hiện cái Tôi nhưng mỗi nhà thơ đều có cách thể hiện độc đáo rất riêng Có
thể thấy được những cái Tôi khác nhau này qua lời bình của Hoài Thanh trong Một
thời đại thi ca: “…Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề
sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn, trở về hồn ta cùng Huy Cận…” Hay cùng trong trào lưu hiện thực phê phán nhưng cách nhìn hiện thực của Nam Cao lại khác Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố,Nguyễn Công Hoan…Có được sự khác nhau đó là do mỗi nhà văn, nhà thơ biết tạo ra phong cách riêng cho sáng tác của mình
Còn đối với người đọc thì phong cách chính là điều hấp dẫn người đọc đến với văn chương Trong sáng tác văn học, đến nay thì những vấn đề như chiến tranh, tình yêu, số phận con người…đều đã trở thành những đề tài muôn thưở Nhưng chúng không làm cho người đọc nhàm chán, mà những tác phẩm ra đời sau vẫn có một sự hấp dẫn đối với độc giả, nếu nhà văn biết tạo ra cách nhìn mới cho vấn đề tưởng là đã cũ, khiến đời sống văn học luôn tươi mới Chẳng hạn, cũng viết về đề
tài chiến tranh nhưng nếu như trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh khai thác ở
khía cạnh mặt trái của cuộc chiến, trong đó có những con người hèn nhát, đầy dục
vọng thì trong Tuổi thơ dữ dội, Phùng Quán lại khai thác những mặt tốt đẹp nhất
của người chiến sĩ, không kể người già, thanh niên hay con nít, tất cả đều anh dũng chiến đấu bảo vệ thành phố Huế, bảo vệ đất nước thân yêu
Trang 14Như vậy, có thể thấy rằng, phong cách nhà văn có một vai trò quan trọng trong sáng tác văn học “Rất nhiều nghệ sĩ lớn, nhà văn lớn đã đóng “dấu ấn phong cách” của mình vào tác phẩm và nhờ vậy mà khi tiếp nhận các tác phẩm, chúng ta nhận ra đó là tác phẩm của nghệ sĩ nào, nhà văn nào nếu họ có phong cách riêng Phong cách cá nhân tạo nên sự đa dạng, phong phú của phong cách văn học Bản chất phong cách văn học đã là cái nhìn nghệ thuật thì cái nhìn ấy phải mang tính cá nhân của con người văn hóa, lịch sử cụ thể”
1.1.3 Những biểu hiện của phong cách trong văn học
Theo TS Nguyễn Khắc Sính thì phong cách trong văn học có những biểu hiện sau:
1 Phong cách là dấu hiệu độc đáo, không lặp lại, đánh dấu phẩm chất thẩm
mỹ riêng biệt của một hiện tượng văn học nào đó Phong cách hoặc là “con người”,
là sự sáng tạo, sự mới mẻ làm nên vẻ riêng biệt ít thấy hiện tượng văn học khác nhưng lại nhất quán, xuất hiện thường xuyên ở hiện tượng văn học cụ thể
2 Phong cách là phẩm chất của chính thể, là phẩm chất xuyên suốt qua các yếu tố tác phẩm, qua các tác phẩm của một tác giả hoặc các tác giả của một trào lưu nghệ thuật
3 Phong cách là phẩm chất tương đối ổn định của sáng tác Các đặc điểm của nó được lặp đi lặp lại tương đối thường xuyên, ít thay đổi Nhưng đây là ổn định trong sự phong phú đa dạng, có biến đổi chứ không phải là sự lặp lại giản đơn, nghèo nàn Tuy nhiên cần lưu ý rằng sự ổn định là cơ bản, nhờ thế nó mới trở thành phong cách để phân biệt với các phong cách khác
4 Phong cách là hình thức của chủ thể Tư duy, hệ hình tư duy, thái độ cảm xúc, quan niệm giá trị tạo thành hình thức cảm nhận của chủ thể Hình thức cảm nhận của chủ thể dẫn đến những phát hiện mới về hình thức, bút pháp, kỹ thuật, tạo thành nền tảng của phong cách
Rõ ràng, trong tác phẩm có bao nhiêu yếu tố thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách nhà văn thể hiện: “Phong cách có thể biểu hiện ở việc chọn đề tài Có nhà văn
ưa chọn những đề tài nên thơ, lại có nhà văn thích những đề tài rắc rối, phức tạp
Trang 15Phong cách có thể biểu hiện ở cảm hứng chủ đạo Có nhà văn ca ngợi thì xúc động lòng người, nhưng phê phán thì hời hợt Ngược lại, có nhà văn phê phán thì đầy sức thuyết phục, nhưng ca ngợi thì nhạt nhẽo Có nhà thơ thì thiên về trí tuệ sắc sảo, cũng có nhà thơ lại thiên về tình cảm ngọt ngào Phong cách cũng biểu hiện ở việc xây dựng nhân vật Có nhà văn viết về loại nhân vật này hay nhưng lại thất bại với loại nhân vật khác Phong cách cũng biểu hiện ở thể loại Mỗi nhà văn thường chỉ viết được một thể loại, hoặc nếu viết được nhiều thể loại thì cũng chỉ thành công ở một thể loại nào đó mà thôi Có thể viết thơ hay nhưng viết văn dở Cùng một đề tài tương tự nhưng viết bút kí thì hay nhưng viết truyện lại xoàng Thậm chí viết truyện ngắn thì xuất sắc, nhưng không viết được truyện dài hoặc ngược lại Có nhà văn tả
và kể thì duyên dáng, mà trữ tình thì vụng về hoặc ngược lại Còn trong ngôn ngữ thì mỗi nhà văn độc đáo ở những hệ thống tu từ khác nhau cũng là điều dễ thấy, v.v…” [17, tr.91-92]
Truyện ngắn là một thể loại tự sự đặc biệt Nó có những đặc trưng riêng về dung lượng, cốt truyện, tình huống, ngôn ngữ, kết cấu, nhân vật… Nhưng đặc trưng quan trọng nhất của truyện ngắn là chi tiết Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng khẳng định rằng: “Truyện ngắn sống bằng các chi tiết Tất cả trong truyện ngắn: không khí, cảnh trí, tình huống, nhân vật, tính cách, hành động, tâm tư, diễn biến…đều phải được tạo ra, dựng nên, làm bằng các tình tiết Chi tiết càng cụ thể, chính xác, sắc sảo thì truyện càng sống, sinh động Không có chi tiết, nghèo chi tiết hoặc chi tiết không chính xác, cụ thể, sắc sảo thì truyện sẽ lì ra, nhân vật và tình huống sẽ nhạt nhẽo, không tin được, thậm chí truyện không phát triển được” [1,tr.30,31]
“…Trong truyện ngắn chính những chi tiết sắc, đắt đến đáng sợ như vậy đã làm nên cái ta vẫn thường quen gọi là nội dung hay tư tưởng của truyện Truyện ngắn có thể
có cốt truyện, thậm chí cốt truyện li kì, gay cấn, kể được Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả…Nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ như
nước lã.” [1,tr.33] GS Phương Lựu trong cuốn Lí luận văn học cũng khẳng định
rằng: “Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn, hành văn mang ẩn ý.” [tr.394]
Trang 16Phong cách truyện ngắn là sự kết hợp giữa phong cách thể loại và phong cách nhà văn Nhà văn không thể không chịu ảnh hưởng của thi pháp thể loại khi sáng tác nhưng đồng thời tính độc đáo không lặp lại của văn học buộc nhà văn phải sáng tạo nên cái mới, cái riêng cho tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn trẻ, nhưng chị đã rất khéo léo vận dụng các đặc trưng thể loại truyện ngắn một cách phong phú, đa dạng, chính điều này đã góp phần tạo thành phong cách riêng cho chị
1.2 Nguyễn Ngọc Tư trên hành trình sống và viết
1.2.1 Nguyễn Ngọc Tư - “Đặc sản miền Nam”
Vốn là một học sinh giỏi văn của Trường Phan Ngọc Hiển, nhưng từ nhỏ chưa bao giờ Ngọc Tư nghĩ mình sẽ trở thành một nhà văn Ngay khi đám bạn cùng lớp tập tễnh viết truyện, làm thơ gửi đăng các báo thì chị vẫn “im hơi lặng tiếng” Khác với các anh chị của mình, Nguyễn Ngọc Tư khi về Cà Mau không sống cùng với cha mẹ mà chị gắn bó với ông ngoại Ngay lúc nhà chật vật và chị đang học lớp
10 thì ông ngoại bị tai biến liệt giường, thế là má kêu: “Tư ơi! Thôi con nghỉ học ở nhà lo hái rau, chăm sóc ông ngoại nghe!” Cô bé Tư chỉ năn nỉ một lần: “Má cho con học thêm một tuần nữa thôi” Những buổi học cuối cùng cứ ngắn dần và rồi cuộc đời học sinh của chị kết thúc Chín năm đến lớp thế cũng đã đủ, chị tự an ủi và
bù đắp cho mình bằng những trang nhật ký Thấy con có khiếu văn chương, cha chị động viên: “Nghĩ gì viết nấy, viết điều gì con đã trải qua” Sau đó chị xin được
Trang 17một chân làm văn thư cho tạp chí Bán đảo Cà Mau, bắt đầu mưu sinh cho mình và cũng là lúc chị vừa làm vừa học để tốt nghiệp phổ thông
Hạnh phúc mỉm cười với Ngọc Tư năm 24 tuổi, chị làm cô dâu và đây cũng
là thời gian chị dần bước lên văn đàn văn học hiện đại Việt Nam Chồng của chị là Quang Hà - một anh thợ bạc hiền lành, chất phác Tuy ít biết về văn chương nhưng anh là chỗ dựa vững chắc, bình yên cho chị trên mọi bước đường Đến nay, khi đã
có với nhau hai mặt con, tình cảm của họ càng thêm gắn bó, thương yêu và tôn trọng lấn nhau Không chỉ là một người vợ đảm đang, thủy chung, một người mẹ hiền bên chồng con, Nguyễn Ngọc Tư còn là một nhân viên văn thư, biên tập viên trang Thiếu nhi của Tạp chí bán đảo Cà Mau thuộc Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cà Mau Dẫu phải đảm nhận nhiều công việc trong cuộc sống nhưng chị vẫn miệt mài dâng hiến cuộc đời của mình cho nghiệp viết Cái xóm Bà Điều, xã Lý Văn Lâm (Cà Mau) toàn rau bèo vẫn chưa ai biết đến Ngọc Tư – con nhỏ sớm tối hái rau ra chợ ngày nào – lại được bình chọn là một trong số 10 gương mặt trẻ tiêu biểu của
VN Lại còn tiêu biểu trong lĩnh vực văn vẻ… nên càng khó biết Chỉ có Ngọc Tư là thầm cảm ơn chuỗi ngày nghèo khó đã giúp chị vốn sống, nghị lực để trở thành một nhà văn trẻ của vùng đất mũi
1.2.1.2 Nhà văn của những yêu thương
Chính những ngày “vào đời sớm” này đã đưa Nguyễn Ngọc Tư đến với văn
học Năm 1996, truyện ngắn đầu tay Đổi thay của Ngọc Tư được đăng báo, cô
mừng rỡ về khoe với Ba Vốn là một người làm báo và yêu thơ, ba của Ngọc Tư, ông Nguyễn Thái Thuận đã trở thành người đầu tiên đọc và góp ý cho cô con gái út Hôm cơn bão số 5 ập vào đất Mũi, Nguyễn Ngọc Tư tất tả đi thực tế đến cửa biển Khánh Hội, sông Đốc, đất Mũi Cảnh làng quê hoang tàn, cảnh cụ bà khóc con đời
ngư phủ hẩm hiu… đã trở thành ký sự Nỗi niềm sau cơn bão dữ Nguyễn Ngọc Tư
bảo đọc lại ký sự này thấy mình viết hơi… sên sến, nhưng đây là tác phẩm đầu tay giúp chị đoạt giải ba báo chí của tỉnh năm 1997
Năm 2000, Báo Tuổi Trẻ phát động cuộc thi văn học tuổi hai mươi Bất ngờ,
tập Ngọn đèn không tắt đạt giải nhất đã đưa Nguyễn Ngọc Tư lên đỉnh cao vinh
Trang 18quang của nghề viết Năm 2001, tác phẩm được Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng giải B; Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam trao tặng giải thưởng dành cho tác giả trẻ Không tự hài lòng với chính mình, chị liên tục gửi đến độc giả
trong nước từ tập truyện ngắn này đến những tập truyện ngắn khác như: Ông ngoại (2001), Biển người mênh mông, Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004),
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005) Càng ngày chị càng nhận được nhiều sự yêu
mến của đọc giả nhờ chất giọng chân chất, mộc mạc, in đậm dấu ấn của người dân Nam Bộ và phong cách không thể trộn lẫn vào đâu được Chị liên tiếp nhận được các giải thưởng giá trị Năm 2003, chị được bình chọn là gương mặt tiêu biểu cho tuổi trẻ sáng tạo cả nước, năm 2004 được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Đặc
biệt, năm 2005, tập truyện Cánh đồng bất tận đã đưa chị lên đỉnh cao vinh quang
trong nghiệp viết của mình Tác phẩm mang đến cho chị giả thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006, giải thưởng văn học ASEAN năm 2008
Không dừng lại ở đó, những năm sau này Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục viết và
thành công với hai tập truyện Gió lẻ (2008) và Khói trời lộng lẫy (2010) Nhưng có
lẽ thành công lớn nhất đối với Nguyễn Ngọc Tư chính là sự yêu mến của độc giả dành cho chị Là một nhà văn còn khá trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề nhưng những đóng góp của chị cho nền văn học hiện đại Việt Nam phải nói là rất lớn Chúng ta
có thể bắt gặp hình ảnh nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư trên các báo, tạp chí hay những bài phỏng vấn: “Một nhà văn thẳng thắn, thấu đáo mà tế nhị Một nhà văn có duyên thầm trong lối kể chuyện, dựng cảnh, tưng tửng, thấu đáo trong giọng kể Một nhà văn có cái nhìn đậm chất nhân văn trước các hiện tượng đời sống Một nhà văn luôn ý thức tự phản tỉnh với một tinh thần cầu tiến…”[45] Và hơn tất cả, Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn của những yêu thương
1.2.2 Nguyễn Ngọc Tư và thể loại truyện ngắn
1.2.2.1 Quan niệm của lý luận văn học về thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn là một trong những thể loại xuất hiện sớm, có tác dụng thúc đẩy nền văn học phát triển rực rỡ Đồng thời, thể loại này cũng là mảnh đất khá màu mỡ
Trang 19để các nhà văn khẳng định phong cách của mình Đã có rất nhiều ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học trong cũng như ngoài nước bàn về vấn đề này
Trước hết, chúng ta có thể kể đến quan niệm về truyện ngắn của nhà phê bình văn học N.A.Gulaiep: “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ, trong đó nó khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một sự kiện nào đó thường xảy ra trong cuộc sống của một nhân vật, hơn nữa thường bộc lộ một nét nào đó của nhân vật” [tr.146]
Các tác giả trong cuốn “Từ điển văn học” (bộ mới) (2004) quan niệm truyện ngắn là “một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Truyện ngắn khác với truyện vừa và truyện dài - vốn là những thể tài mà qui mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong toàn vẹn, đầy đặn của nó- truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay trong đời sống con người” [tr.1846-1847]
Tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì định nghĩa: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn (…) Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người” [4,tr.370-371]
Qua rất nhiều quan niệm khác nhau của các tác giả trong cũng như ngoài nước, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đều thống nhất với nhau về đặc trưng thể loại truyện ngắn, đó là một thể loại phức tạp, dung lượng ngắn nhưng chứa đựng nội dung phong phú, cô đọng, điển hình Khi xây dựng một truyện ngắn, nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Số lượng nhân vật truyện ngắn không nhiều, thường được miêu tả tập trung vào những chi tiết có ý nghĩa lớn trong suốt cuộc đời anh ta/cô ta
Trang 20Lịch sử phát triển của nền văn học hiện đại và đương đại Việt Nam gắn liền với truyện ngắn Thế kỷ XX truyện ngắn Việt Nam phát triển liên tục và vượt trội
so với tất cả các thể loại khác, bắt đầu từ những năm hai mươi với sự đóng góp của Nguyễn Bá Học, Phạm Huy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài, Bùi Hiển, Vũ Bằng… Từ sau cánh mạng tháng Tám, truyện ngắn có giai đoạn chững lại nhưng vẫn chảy liên tục với các tên tuổi Trần Đăng, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Vũ Thị Thường, Lê Minh, Nguyễn Minh Châu…Chiến tranh kết thúc, truyện ngắn vượt lên
tỏ rõ sự ưu việt của mình trong việc khám phá đời sống Nhất là từ 1986 trở đi, truyện ngắn gần như đã độc chiếm toàn bộ văn đàn, khi hằng ngày trên các báo và các tạp chí có trên dưới hai mươi truyện ngắn được in Thực tế ấy đã kích thích mạnh đến sáng tác cũng như phê bình - lý luận về truyện ngắn những năm gần đây Nhiều cuộc thi sáng tác truyện ngắn được khởi xướng Nhiều cuộc hội thảo đã được
mở ra và nhiều ý kiến có khi trái ngược nhau cũng đã được trình bày Điều này chứng tỏ, truyện ngắn đang là thể loại được các nhà văn quan tâm, nỗ lực cách tân bậc nhất Nguyễn Huy Thiệp đã từng tạo nên một cơn lốc trong đời sống văn học nhờ truyện ngắn Gần đây không khí văn chương lại tiếp tục nóng lên bởi tên tuổi
Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè, Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận Mỗi nhà văn
có một bút pháp riêng tạo nên “hiệu ứng” truyện ngắn hay và được gắn với các tên gọi “bội thu”, “thăng hoa”, “được mùa”, “lên ngôi”… Điều đó chứng tỏ truyện ngắn
đã không ngừng được đổi mới
1.2.2.2 Truyện ngắn - mảnh đất khẳng định phong cách Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư nổi bật lên trong năm 2005 - 2006, được xem là năm có biến thiên, chấn động trong đời sống văn học, đặc biệt trong thể loại truyện ngắn Truyện của chị đã mang đến một “hơi gió mát” (chữ dùng của nhà văn Nguyên Ngọc) cho văn xuôi đương đại Chị dùng ngòi bút viết về những con người chân
lấm tay bùn, những mối tình buồn “hết biết” trong Cuối mùa nhan sắc, Hiu hiu gió
bấc, Mối tình năm cũ, Thương quá rau răm…Thế nhưng, đến Cánh đồng bất tận,
nhân vật không còn cái vẻ hiền hiền, cam chịu mà đã bắt đầu nổi loạn
Trang 21Nguyễn Ngọc Tư trẻ về tuổi đời lẫn tuổi nghề nhưng truyện ngắn của chị đã chinh phục được độc giả không chỉ ở Nam Bộ mà còn ở khắp mọi miền trên đất nước Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư mang phong cách đặc sệt Nam bộ từ cách xây dựng hình tượng nhân vật đến cách sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu Đồng thời, chị
sử dụng một lượng lớn phương ngữ Nam Bộ trong sáng tác của mình, nhưng điều
đó không hề làm giảm đi giá trị truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư mà nó còn góp phần khẳng định phong cách không lẫn vào đâu được của chị
Nguyễn Ngọc Tư có cái tài là khui mở những cái tầm thường, nhỏ bé trong đời sống và thổi cho nó một luồng sinh khí mới để nó có thể sống trong văn học Đó
có thể là những sinh hoạt đời thường, những phong tục của người dân Nam Bộ và thấp thoáng đâu đó có cả hình ảnh của những con người thân thuộc nhất xung quanh chị Nhà văn Nguyễn Quang Sáng từng nhận xét: “Cổ có phong cách riêng Mà phong cách đó, bắt nguồn từ vốn sống độc đáo, do chính cổ tìm được Tôi ngẫm ra,
Tư có cái cốt của người viết văn, nhưng lại theo cái nghề làm báo Nghề bắt cổ phải lăn lộn, đi nhiều, thấy nhiều Tất cả những hiểu biết đó biến thành vốn sống, trộn với tài năng riêng, mới cho ra tác phẩm ấn tượng Tui đọc Tư nhiều và kỹ Làm văn chương mà có cá tính không phải dễ tìm Chất Nam bộ trong văn cổ đậm đặc, từ hình dáng thân thể con người, cách sống, tính cách cho tới ngôn từ Thoại trong văn
Tư không hề bị lai, rặt Nam bộ mà người ta đọc vẫn hiểu và cảm thấu trọn vẹn Cái lớn nhất mà Tư làm được ở chỗ cổ có công nâng ngôn ngữ bình dân của người miền Tây thành ngôn ngữ văn học” (Đắc Quý, phỏng vấn - Báo Sinh viên Việt Nam - Tết Đinh hợi 2007) So với các nhà văn nữ miền Nam như Ý Anh, Diệp Mai thì Nguyễn Ngọc Tư Nam Bộ hơn cả Chị viết rất tự nhiên thoải mái, không câu nệ Vì vậy, người đọc choáng váng một cách thích thú với nồng độ phương ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Phương ngữ đó tích tụ từ một thính giác tinh nhạy, chị nghe
âm thanh trong trẻo xung quanh và chuyển âm thanh đó vào trong tác phẩm của mình một cách tự nhiên
Ở thể loại truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đặt được dấu ấn của mình ngay từ
tập truyện đầu tiên Ngọn đèn không tắt Không dừng lại ở đó, chị viết những tập
Trang 22truyện tiếp theo và đạt được nhiều giải cao Đặc biệt, khi Cánh đồng bất tận ra đời,
ngay lập tức chị rực sáng trên văn đàn Khắp nơi rộ lên mọi lời khen chê bàn tán
Từ nông thôn đến thành thị, từ trí thức đến dân cày, từ già đến trẻ… tất cả đều mua sách vì họ “bắt được sóng” từ trái tim và tài năng của chị Chị lao tâm khổ tứ trên con đường nhà văn - nhà báo không ngừng nghỉ Vì vậy, tác phẩm của chị đều đặn
ra đời và được các nhà chuyên môn đánh giá cao, thậm chí lọt vào tầm ngắm các nhà đạo diễn điện ảnh Bao nhiêu đó cũng đủ để Ngọc Tư vượt qua các gương mặt văn học lão làng và trở thành gương mặt sáng giá và triển vọng nhất trong đội ngũ các nhà văn đương đại (đứng sau Nguyễn Huy Thiệp)
Nguyễn Tý đã có lý khi cho rằng; truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thể hiện một nỗi đau đời mà dẫu vô tình hoặc cố ý khi xây dựng nhân vật chị đều pha trộn vào đấy, tạo nên một phong cách riêng không lẫn vào ai Chị trăn trở rất nhiều về con đường văn nghiệp, cái “khó nhất là vượt qua sự nhàm chán lặp lại chính mình, leo qua những cái đỉnh do mình dựng nên, thoát ra khỏi cái vòng tròn do mình vẽ Và khó nữa là làm sao thu xếp với bản thân” (Báo Sinh viên Việt Nam - Tết Đinh Hợi 2007) Chị biết con đường văn chương vô cùng khó khăn, gian khổ, có thể lên đến đỉnh cao của vinh quang nhưng cũng có thể biến mình thành tội đồ của văn chương
Vì vậy, trên con đường văn nghiệp của mình, chị phải cố gắng thật nhiều, cố gắng từng ngày để có thể mang đến cho độc giả nhưng tập truyện có ý nghĩa nhân văn hơn nữa, lôi cuốn, hấp dẫn độc giả hơn nữa
Nguyễn Ngọc Tư chưa đi khỏi vùng đất Nam bộ, song truyện của chị đã vượt qua địa hạt vùng miền, đến với bạn đọc trong nước và một số bạn đọc ở nước ngoài
Số lượng tác phẩm chưa đồ sộ nhưng chị vừa ấn tay vào cánh cửa văn học ngay lập tức đã có tiếng vang Có chị văn học Nam bộ được biết đến nhiều hơn trong cả nước
Trang 23CHƯƠNG II PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TỰ SỰ
VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 2.1 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự
2.1.1 “Cái nhìn khắc khoải” về thân phận dân quê
Nguyễn Ngọc Tư từng tâm sự rằng, chị viết văn “vì thương quê, thương cái
nghèo khó, cái mộc mạc, chân sơ của nơi mình sinh ra, lớn lên, nơi mình hứng ngụm nước mưa trong lành ở cái lu đầu ngõ, nơi mình hâm nồi cơm nguội buổi chiều, nướng con khô cá lóc, nhấp chén rượu cay mà thương quê đến nao lòng ”
[45] Chính vì vậy mà trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, ta bắt gặp những câu chuyện rất đỗi đời thường và hình ảnh những người dân quê lam lũ nghèo khổ, một nắng hai sương, dãi nắng dầm mưa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Viết về thân phận những người dân nghèo khổ, những thân phận con người
bé nhỏ hay gặp tai ương trong cuộc sống là một mảnh đất đã có khá nhiều nhà văn khai thác và gặt hái nhiều thành công như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…Nguyễn Ngọc Tư cũng vậy, chị đi vào khai thác ở cái mảnh đất đã được cày xới kĩ lưỡng ấy để thử sức mình Vậy, cũng trên một mảnh đất, cũng khai thác về một đề tài là vấn đề cái nghèo, người nghèo, Nguyễn Ngọc Tư có gì riêng, có gì độc đáo so với những nhà văn khác, và điều gì đã tạo nên phong cách truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư?
Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là những bức tranh sống động về cuộc sống của một bộ phận người dân (nhất là ở thôn quê) vùng đồng bằng sông Cửu Long mà cái nghèo, cái khổ cứ bám riết lấy họ, không chịu buông tha Khai thác vấn đề cái nghèo, truyện ngắn của chị thường chủ yếu xoay quanh việc phản ánh tình cảnh nghèo khổ của ba đối tượng người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đó là người nông dân, người nghệ sĩ “cuối mùa nhan sắc” và những cô gái điếm
Trang 24Trước hết là tình cảnh những người nông dân quanh năm vất vả mưu sinh trên những “cánh đồng bất tận”, dễ thấy nhất là hình ảnh những người nông dân
nuôi vịt chạy đồng Nguyễn Ngọc Tư đã miêu tả cuộc sống của ông Hai trong Cái
nhìn khắc khoải như thế này: “Ông làm nghề nuôi vịt đẻ chạy đồng Hôm nay ở
đồng rạch Mũi, ngày mai ở nhà Phấn Ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không chừng Ông đậu ghe, dựng lều, lùa vịt lên những cánh đồng vừa mới gặt xong, ngó chừng chừng qua những cánh đồng lúa mới vừa chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng Đời của ông là một cuộc đời lang bạt Một cuộc sống trên đồng khơi Chòi cắm ở đâu cũng được, miễn có chỗ khô ráo cho ông nằm.” [33, tr.50]
Cuộc đời của những con người nuôi vịt chạy đồng là một cuộc đời lang bạt,
không ổn định Sáng trong Một dòng xuôi mải miết là một ví dụ Không ai biết quê
Sáng ở đâu, chỉ biết “mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chỏ bầy vịt đổi đồng về xóm Rạch Giồng này Rồi cất cái chòi lợp bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn Xóm Lung Tới khi người ta chuẩn bị bừa đất, sạ vụ mới, Sáng lại ra đi.” [31,tr.107]
Tương tự, trong Cánh đồng bất tận là tình cảnh khốn khó của ba cha con anh
nông dân Út Vũ Họ phải lang bạt trên khắp những cánh đồng cùng bầy vịt để mưu
sinh Tuy nhiên, so với hoàn cảnh của ông Hai trong Cái nhìn khắc khoải, Sáng trong Một dòng xuôi mải miết, ba cha con Út Vũ có hoàn cảnh bi đát hơn vì toàn bộ
bầy vịt – tài sản lớn nhất của gia đình gặp phải đại dịch nên cả gia đình trong phút
chốc đã trắng tay Chưa hết, trong Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư còn cho
thấy vì nghèo khổ mà con người ta tìm mọi cách để tồn tại Họ sẵn sàng giành giật, cướp bóc, thậm chí hãm hại nhau
Bên cạnh hình ảnh người nông dân vất vả mưu sinh trên những cánh đồng là hình ảnh của những con người sống kiếp thương hồ, nay đây mai đó trên những khúc sông chỉ để tìm miếng cơm manh áo sống cho qua ngày
Trang 25Anh chàng Lương “khùng” trong Bến đò Xóm Miễu là một trường hợp tiêu
biểu cho nỗi cơ cực này Lương vốn “không cha, má chết sớm”, bắt đầu chèo đò mướn khi còn là một cậu bé mười hai tuổi đến năm ba mươi hai tuổi nhưng vẫn không thoát khỏi cái nghèo Và cũng không riêng gì Lương, những người sống kiếp thương hồ rày đây mai đó trên sông nước cũng có chung tình cảnh nghèo khó vất vả
như vậy như Hai Giang trong Dòng nhớ, của gia đình ông Chín trong Nhớ sông…
Thứ hai là tình cảnh của những nghệ sĩ đã “cuối mùa nhan sắc”, phải mưu sinh và sống lay lắt ở đầu đường cuối chợ bằng mọi nghề Ai có thể tin rằng, những
cô đào hát đã từng một thời lừng danh với giọng ca và nhan sắc khiến nhiều người
ngưỡng mộ như đào Hồng và đào Phỉ trong Cuối mùa nhan sắc đến cuối đời lại
phải lay lắt mưu sinh bên gánh chè, xấp vé số cùng chút ít lòng hảo tâm của người đời Cuộc đời của họ cũng thăng trầm và tuột dốc thê thảm như bộ môn nghệ thuật
mà suốt cuộc đời họ đam mê theo đuổi
Không chỉ riêng cuộc đời của những cô đào mà cả cuộc đời của những con
người lang thang, kiếm ăn bằng giọng ca cũng vậy Gia đình chú Đời trong Đời Như
Ý được Nguyễn Ngọc Tư miêu tả còn khổ hơn cả “đời cô Lựu” trong một vở tuồng
cải lương nổi tiếng khi mà chú Đời chỉ là một hành khất mù, hàng ngày lang thang trên những nẻo đường để kiếm miếng ăn nuôi một người vợ nửa điên, nửa tỉnh cùng hai cô con gái Như, Ý
Còn trong truyện ngắn Bởi yêu thương là cuộc đời một cô San mê đắm cải
lương và trân trọng, gìn giữ tiếng tăm cho nền nghệ thuật Chị rất muốn trở thành người nghệ sĩ nhưng không dám biến mơ ước thành sự thật, lý do đơi giản - đơn giản nhưng hệ trọng và thiêng liêng đối với chị: “Đi hát lỡ nổi tiếng,…người ta biết lúc trước tôi từng làm tiếp viên quán bia thì dơ danh cả một giới nghệ sĩ, làm người
ta mất cảm tình với cải lương, vậy khác nào hại cả nền sân khấu nước nhà” [31,tr.14] San phản đối những ai mượn danh nghệ sĩ để làm hoen ố nghệ thuật, giọng điệu nghe tưng tửng, vui vui, nhưng ngẫm nghe sao nghẹn ngào, xót xa
Có thể khẳng định, thiên chức cao quý nhất của người phụ nữ là được làm
mẹ, nhưng vì muốn trở thành một nghệ sĩ nổi danh bằng chính con đường nghệ
Trang 26thuật, chị Diệu trong Làm má đâu có dễ, từ bỏ niềm hạnh phúc làm mẹ chọn kiếp
“xướng ca” Vai Trưng Trắc chị mê và chờ đợi từ lâu, nếu được đóng vai này chị nghĩ mình sẽ thành danh trên con đường nghệ thuật Song càng ước mơ, khao khát bao nhiêu thì càng bế tắc, tuyệt vọng bấy nhiêu, chị cô đơn biết dường nào khi đứa con mình rứt ruột đẻ ra lại lạnh nhạt, xa lạ Bé San gọi má bằng “chế - xưng em nghe khách sáo như nói với người dưng”
Ngoài ra ta còn bắt gặp cuộc đời của ông Năm Nhỏ trong Cải ơi, Điệp trong
Chuyện của Điệp…
Cuối cùng là tình cảnh những cô gái, những người phụ nữ phải chấp nhận
đánh đổi thân xác mình để tồn tại Nhân vật chị Ái trong Một mối tình bảo rằng:
sống với nhau nếu chỉ có “thương thôi thì được cái gì Chị không hợp cái cảnh nhà nầy, thầy Thành nói vậy Nghe kể chuyện trên đó rồi, chị thấy sống ở đây chán
thiệt, chán thí mồ” [31, tr.118] Và chị bỏ chồng con đi theo trai Những người phụ
nữ mười tám đôi mươi đua nhau lên thành phố để đổi đời Họ muốn hít thở không khí thành phố và muốn thay đổi cuộc sống nhàm chán, buồn bả ở nông thôn Song trình độ chuyên môn không có, vốn liếng chỉ có cái thân này nhưng kiên quyết bám trụ ở thành phố Để rồi bị đánh? “Bị người ta đổ keo dán sắt vào cửa mình”? Ngọc
Tư để cho nhân vật tự lí giải, “Tôi hỏi chị làm gì để bị đánh Chị cười, “Làm đĩ” [33,tr.160] Đọc thấy gai cả người, người đàn bà ấy cùng chung số phận với nhiều người trong xã hội, do ăn chơi đua đòi, do hoàn cảnh đẩy đưa Họ đánh mất mình và vứt luôn lòng tự trọng bản thân, tự biến mình thành hàng hóa để mua bán trao đổi,
vì vậy con người - đánh mất giá trị làm người Chị đĩ trong Cánh đồng bất tận thì
rút ra bài học: “ăn trên mồ hôi nước mắt của họ lâu lâu bị đánh cũng đáng” Đạo đức đối với họ không có nghĩa lý gì, công, dung, ngôn, hạnh xem như con số không tròn trĩnh Họ tìm cách thay đổi cuộc sống nhưng thay đổi bằng con đường này có
ổn không? Theo dõi cuộc đời của họ sẽ thấy, khi đến độ nhàu nát, không ai thèm
đếm xĩa đến nữa, đói rã ruột ở thành phố đành mò về nông thôn Gái đĩ mồi chài
những người làm thuê, thả tiếng cười mênh mang trên các triền đê và cuỗm luôn số tiền công ít ỏi mà họ nai lưng làm lụng cả ngày
Trang 27Ta còn thấy điều này qua các nhân vật khác trong truyện ngắn của chị như
Diễm Thương (Cải ơi), Xuyến (Duyên phận so le), Bông (Bến đò xóm Miễu), Dịu – (Sầu trên đỉnh Puvan), Lành (Làm mẹ)…
Ngoài ra, trong truyện ngắn của chị luôn có những đứa trẻ sớm phải lăn lộn
vào đời tìm kế mưu sinh như Như, Ý (Đời như ý), Nương, Điền (Cánh đồng bất
tận), San (Bởi yêu thương), Củi (Sầu trên đỉnh Puvan), Mỹ Ái, Dự (Gió lẻ) Đây là
một thực trạng đau lòng và xót xa mà nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã rất dũng cảm nhìn nhận và phản ánh
Rõ ràng, tiếng nói của Nguyễn Ngọc Tư đã cất lên từ nỗi ám ảnh khôn nguôi
về hiện thực cuộc sống của những người dân nghèo ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Tuy vậy, đây không phải là toàn bộ cuộc sống của vùng đất được mệnh danh
là “vựa lương thực lớn nhất cả nước” này mà đó chỉ là cách nhìn riêng của Nguyễn Ngọc Tư về một góc khuất nào đó trong xã hội Chị muốn nói, ở mảnh đất này không chỉ có phù sa màu mỡ, cây trái xum xuê mà còn có những mảnh đời bất hạnh, những kiếp sống lênh đênh, trôi nổi, những con người đang hàng ngày hàng giờ vật lộn với cái nghèo, cái đói để mưu sinh
Viết về đề tài cái nghèo, cái đói thì những nhà văn giai đoạn 1930-1945 là những bậc thầy Nguyễn Ngọc Tư tuy cũng muốn thử sức mình ở đề tài này nhưng cái nghèo, người nghèo trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chưa đến mức trầm trọng cả về mức độ lẫn sắc thái Cái nghèo trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
chưa đến mức bần cùng, không lối thoát như chị Dậu trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố, của anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan hay của
Chí Phèo, Lão Hạc trong những tác phẩm cùng tên của Nam Cao
Nếu như chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố bị bọn cường hào ác bá bóc
lột nghèo tới mức phải bán con, bán chó mới có thể lo cho chồng hay Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao bị đẩy tới bước đường cùng không có lối thoát phải đánh đổi cả nhân phẩm của mình, phải tìm đến cái chết để giải thoát cho chính mình thì những nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư tuy cũng nghèo nhưng họ chỉ nghèo vật chất, còn tinh thần, tâm hồn họ vẫn rất giàu có Ta có thể
Trang 28thấy điều này qua các nhân vật như ông Năm Nhỏ trong Cải ơi, của Dịu trong Sầu
trên đỉnh Puvan, của chị Lành, chị Diệu trong Làm mẹ…
Trong truyện ngắn Làm mẹ, dì Diệu không sinh con được nên đã thuê chị
Lành – người phụ nữ làm nghề gánh nước thuê sinh dùm Vì nghèo chị Lành đã đồng ý Hai người cũng tiến hành làm giấy tờ giao kèo và ký kết hợp đồng hẳn hoi Thế nhưng sau đó, chị Lành bỏ đi vì nghĩ đến cảnh phải giao đứa con mình rứt ruột sinh ra cho người ta Đến đây, người đọc cứ nghĩ là sẽ diễn ra một cuộc tranh cãi, tranh giành giữa hai người phụ nữ, thế nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra một kết thúc rất bất ngờ nhưng cũng rất phù hợp với tâm lý và suy nghĩ chân chất rất đáng thương của những người dân quê, nghèo khó nhưng trọng tình nghĩa khi để cho chị Diệu: “lấy tờ hợp đồng ra và đốt cháy thành tro mỏng” [31,tr.96]
Tương tự, trong Bến đò xóm Miễu, người đọc lại bắt gặp cách hành xử của
anh chàng Lương tuy nghèo xơ xác nhưng rất cao thượng và nghĩa khí Trong truyện, Lương là anh con trai nghèo, xấu xí, thất học, làm nghề chèo đò yêu tha thiết cô bé tên Bông xinh đẹp, bỏ học giữa chừng để đi bán “bia ôm” ở bên kia sông Sở dĩ về sau Bông chấp nhận làm vợ Lương vì cô đã bị một tai nạn và liệt nửa thân dưới phải ngồi một chỗ, không đi được Tuy vậy, người đọc vẫn thấy có một lý
do quan trọng hơn là Bông đã nhìn thấy trong sâu thẳm tâm hồn anh chàng Lương chèo đò tuy xấu xí, thô kệch nhưng lại có tấm lòng bao dung, độ lượng, tấm chân tình không gì có thể so sánh được
Nói đến cách ứng xử của con người trước cái nghèo thì Nguyễn Ngọc Tư có phần nào đó giống với Nam Cao, khi mà đứng trước cái nghèo những nhân vật của hai nhà văn này luôn tìm mọi cách để điều chỉnh hành vi của mình sao cho hợp với đạo đức xã hội Nhưng nếu như nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao thường suy tư, trăn trở, day dứt khôn nguôi trước hoàn cảnh cái nghèo, cái đói, đồng thời
thường nhìn lại chính mình để tự điều chỉnh hành vi bản thân như Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên, Hộ trong Đời thừa, Điền trong Trăng sáng và Thứ trong Sống
mòn… thì ngược lại, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không đi sâu vào khai thác về
“quá trình” con người lâm vào cảnh nghèo đói mà tập trung vào thể hiện cách con
Trang 29người ta ứng xử như thế nào trước cái nghèo và con người trong truyện ngắn của chị thường nhìn sang những người xung quanh để tự điều chỉnh mình
Chúng ta dễ dàng nhận ra cách ứng xử này qua hầu hết nhân vật trong truyện
ngắn của Nguyễn Ngọc Tư như Phi (Lý con sáo sang sông), Hết (Hiu hiu gió bấc), ông Hai(Cái nhìn khắc khoải), Quý (Giao thừa) Hai Nhớ (Qua cầu nhớ người), ông già Năm Nhỏ (Cải ơi), Sáu Đèo(Biển người mênh mông), Nương (Cánh đồng bất
tận)…
Đây có thể nói là điểm độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư trong quá trình phản ánh hiện thực về cái nghèo của người dân quê trong cuộc sống đời thường ỏ các vùng quê Nam Bộ
2.1.2 Những câu chuyện tình dang dở và những miền kí ức buồn
Một nội dung tự sự đáng chú ý nữa trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là tình yêu - đề tài muôn thưở của văn học Tuy là một đề tài đã cũ nhưng đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, người ta vẫn thấy có khá nhiều vấn đề hấp dẫn và lôi cuốn
lạ thường
Điểm lôi cuốn và hấp dẫn của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là những câu chuyện tình yêu đều gắn liền với không gian làng quê, sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long, gắn vào đó là tình yêu của những chàng trai cô gái thật thà, quanh năm chân lấm tay bùn ở vùng quê dân dã Chính vì vậy mà tình yêu của họ cũng chân chất, mộc mạc, đời thường, son sắt, thủy chung…Có thể kể ra trường hợp của
Phi trong Lý con sáo sang sông, Hết trong Hiu hiu gió bấc, ông già Chín Vũ trong Cuối mùa nhan sắc, Lương trong Bến đò xóm Miễu, Quý trong Giao thừa, Trọng trong Một mối tình, Tư Nhớ trong Chiều vắng, Hai Nhớ trong Qua cầu nhớ
người… Những câu chuyện tình yêu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư tuy
còn chút gì đó quê mùa, thô kệch nhưng đó là những câu chuyện tình còn lưu giữ được những điều thiêng liêng và cao quý bao đời của cha ông
Viết về đề tài tình yêu, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thường tập trung vào những mối tình dang dở, không trọn vẹn:
Trang 30“Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ Cho ngàn sau lơ lửng với ngàn xưa…”
(Ngập ngừng – Hồ Dzếnh) Không chỉ riêng Nguyễn Ngọc Tư mà các nhà văn từ xưa đến nay cũng thường đưa vấn đề tình yêu dang dở vào trong văn học Nhưng hầu hết các tác giả đều lí giải nguyên nhân dẫn đến những cuộc tình dang dở không trọn vẹn là do hoàn cảnh khách quan tác động, do xã hội gây nên Chẳng hạn, Nguyễn Du lí giải cho sự tan vỡ của mối tình Kim – Kiều là do bọn quan lại thối nát lúc bấy giờ:
“Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Và hàng loạt những mối tình không trọn vẹn khác trong tiểu thuyết trước năm 1945 cũng được các nhà văn lí giải là do phong tục và lễ giáo phong kiến lạc hậu, cụ thể là do các vấn đề giàu nghèo, “môn đăng hộ đối”, quan niệm “cha mẹ đặt
đâu con ngồi đấy”… như mối tình Mai – Lộc (Nửa chừng xuân – Khái Hưng), Loan – Dũng (Đoạn tuyệt – Nhất Linh)…Hoặc mối tình của hai nhân vật trong truyện
ngắn Chí Phèo của Nam Cao, Chí Phèo và Thị Nở đã không thể đến được với nhau một phần là do quan niệm ích kỷ hẹp hòi của dân làng Vũ Đại (mà đại diện là bà cô
của Thị Nở) Hay tình yêu dang dở của Kiên và Phương trong Nỗi buồn chiến tranh
được Bảo Ninh giải thích nguyên nhân bởi vì chiến tranh khốc liệt đã khiến họ mãi mãi xa nhau
Như vậy, các nhà văn đều lí giải nguyên nhân của những tình yêu dang dở là
do hoàn cảnh, do xã hội phong kiến, do các quan niệm cổ hủ, lạc hậu gây nên Còn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chị đưa ra cách lí giải riêng, khi cho rằng nguyên nhân dẫn đến tình yêu không thành của những đôi trai gái trong truyện là do chính người trong cuộc quyết định, do một trong hai người yêu nhau đã nhường nhịn và hi sinh hạnh phúc của mình cho người họ yêu
Trang 31Phi trong Lý con sáo sang sông đã hi sinh tình yêu của mình để người mình
yêu được hạnh phúc Anh yêu Út Thà nhưng vì nhà nghèo, lại phải nuôi hai đứa em học đại học, anh không thể bắt Út Thà đợi mình thêm nữa, anh nói: “Em lấy chồng đi” [27, tr.79] sau khi “chạy xuồng tắt qua Rau Dừa, dò hỏi kĩ bên chồng em Hỏi từ ông già, bà già cho đến đứa con nít.” [29, tr.79]
Hết trong Hiu hiu gió bấc cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự Anh yêu chị
Hoài nhưng vì nhà nghèo, lại nợ mẹ chị Hoài lúc nhỏ “món nợ sữa là món nợ lớn nhất đời người”, nên khi mẹ chị Hoài qua không biết nói gì, còn khóc nữa thì Hết quyết định rời xa chị Hoài, anh giấu mình trong những con cờ để “chị Hoài can ngăn, thuyết phục mãi, tốn không biết bao nhiêu là nước mắt, cuối cùng đành phải
bỏ đi lấy chồng” [36, tr.25]
Còn ông già Chín Vũ trong Cuối mùa nhan sắc vì yêu cô đào Hồng mà bỏ cả
gia đình, sự nghiệp đi theo gánh hát chỉ để được ngày ngày thấy cô hát, ông tự nhận mình là cha đứa trẻ cô đào Hồng đang mang trong bụng trong khi đứa bé ấy là con người khác Ông theo đào Hồng cho đến gần hết cuộc đời, khi đào Hồng gần qua thế giới bên kia thì ông đóng một vai mà đó là vai chính duy nhất trong cuộc đời của ông: làm con của đào Hồng để cô có thể nhắm mắt xuôi tay
Ngoài ra, ta còn bắt gặp nhiều nhân vật như thế trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư như ông Hai trong Cái nhìn khắc khoải,ông Mười, dì Thấm trong Mối tình
năm cũ, anh Tư Nhớ trong Chiều vắng, dì Út trong Một mối tình, San trong Bởi yêu thương, Lương trong Bến đò xóm Miễu…
Một vấn đề nữa mà Nguyễn Ngọc Tư luôn đề cập đến khi viết về những câu chuyện tình dang dở đó là cái nhìn cảm thông, độ lượng của nhà văn dành cho các nhân vật nam Dường như trong truyện ngắn của chị, các nhân vật nam luôn vị tha,
độ lượng, hi sinh bản thân cho người mình yêu, ta có thể thấy rõ điều này qua bảng thống kê do Nguyễn Trọng Bình nghiên cứu như sau:
Trang 32STT Tên tác
phẩm
Tên nhân vật nam chính
Hành động của nhân vật nam
1 Cuối mùa
nhan sắc
Ông chín Vũ Đứng ra nhận lấy trách nhiệm là cha đẻ của
con đào Hồng với kép Trường Khanh khi đào Hồng bị phụ bạc; yêu thương bảo boc đào Hồng đến cuối đời
2 Lý con sáo
sang sông
Phi Biết mình nghèo, khó mang lại hạnh phúc cho
người mình yêu là Út Thà, Phi đã đi dò la tin tức, tìm hiểu gia cảnh của chồng sắp cưới người yêu sau đó về khuyên người yêu yên tâm đi lấy chồng
3 Qua cầu
nhớ người
Hai Nhớ Bán hết ruộng vườn để lấy tiền bắc cầu cho
người dân trong ấp Đội Đỏ đi lại dễ dàng; đồng thời cũng mong nối lại tình phu thê với người vợ phụ bạc đã ôm đứa con chung của hai người về bên kia sông
4 Cái nhìn
khắc khoải
Ông Hai Cưu mang người đàn bà bị chồng bỏ rơi; xuôi
ngược dò la tin tức để tìm chồng cho chị ta
Nhỏ, Quách Phú Thàn
Ông Năm Nhỏ, bôn ba đi tìm đứa con riêng của vợ suốt 12 năm trời; Quách Phú Thàn đùm bọc cưu mang cô gái làm “tiếp viên” quán bia, mồ côi cha mẹ từ nhỏ tên Diễm Thương
6 Chiều vắng Tư nhớ Chung thủy chờ đợi vợ đến trọn đời dù biết
rằng vợ đã theo chồng xuất ngoại (do sự chia
rẻ của mẹ)
7 Mối tình
năm cũ
Ông Mười Cưu mang con riêng của vợ; không muốn vợ
đau khổ vì mỗi lần nhắc đến quá khứ với người chồng trước là liệt sĩ Nguyễn Thọ (cũng
Trang 33là người bạn, người đồng chí) mà chịu tiếng oan là ích kỷ, hẹp hòi và ghen với quá khứ của
vợ
8 Nước chảy
mây trôi
Thầy Nhiên Sống ngay thẳng, trung thực, trách nhiệm với
công việc; yêu và cưu mang vợ và con riêng của vợ đến nỗi bị đuổi ra khỏi ngành giáo dục
9 Giao thừa Quý Hiểu, yêu, chia sẻ và sẵn sàng chấp nhận Đậm
– cô gái bị người yêu phụ bạc có một đứa con riêng
10 Bến đò
xóm miễu
Lương Cưu mang, đùm bọc Bông – cô gái là “tiếp
viên” quán nhậu Đêm Sầu sau khi cô bị tai nạn dẫn đến liệt nửa thân dưới và không còn khả năng làm mẹ
11 Bởi yêu
thương
Sáu Tâm Vì cứu cô đào chung đoàn hát là Điệp (cũng là
vợ anh sau này) khi sàn diễn sân khấu bị sụp
đổ phải tháo khớp đôi chân nên phải từ bỏ ước
mơ làm nghệ sĩ
12 Chuyện vui
điện ảnh
Chú Sa Vì muốn có tiền để phụ giúp gia đình người
yêu (có một đứa con riêng) chú Sa nhận lời đóng phim vào vai phản diện (một tên ác ôn) nên bị mọi người trong khu phố xa lánh
13 Đời như ý Chú Đời Người đàn ông hát rong bị mù đôi mắt phải
cưu mang hai đứa con và người vợ nửa điên nửa tỉnh cuối cùng đã chết trong sự đói khát, bệnh tật
14 Hiu hiu gió
bấc
Hết Hiếu thảo với cha, nghĩa tình với hàng xóm, hi
sinh tình yêu rất đẹp của mình cho người yêu
đi lấy chồng
15 Biển người Sáu Đèo Vợ bỏ đi vì trong một lần hai vợ chồng cãi
Trang 34mênh
mông
nhau nên phải rong ruổi, lặn lội đi tìm vợ suốt
40 năm để nói lời xin lỗi và mong được sự tha thứ
16 Nhớ sông Ông Chín Vợ mất vì một tai nạn trên sông, một mình ở
vậy nuôi con (hai con gái)
17 Đau gì như
thể
Tư Nhớ Vợ bỏ đi, bị tiếng oan là loạn luân với con gái
nên đã bị chính quyền bắt giam sáu ngày đêm
và hàng xóm chê cười, xa lánh
18 Người năm
cũ
Nhân vật người đàn ông
Chung thủy nghĩa tình với người yêu dù hai người không đến được với nhau
19 Một dòng
xuôi mải
miết
Sáng Giữ lời hứa với mẹ, lặng lẽ hi sinh và vun bồi
hạnh phúc cho đứa em gái
20 Thương
quá rau
răm
Ông Tư Mốt Tận tụy, hết lòng hết dạ tạo mọi điều kiện tốt
nhất mong giữ chân một bác sĩ trẻ ở lại chăm sóc cho người dân ở cù lao Mút Cà Tha
21 Ngày đã
qua
Nguyên Hết lòng, hết dạ với bạn bè và dù đang mang
trong mình căn bệnh ung thư phổi quái ác
Rõ ràng, tư duy nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện một cái nhìn mang tính phản biện xã hội khá sâu sắc - một cái nhìn đa chiều đầy sáng tạo và
Trang 35mang đậm chất nhân văn Chúng tôi cho rằng đây là một trong những nét riêng rất độc đáo của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư trong quá trình phản ánh những vấn đề của hiện thực đời sống
Bên cạnh những câu chuyện tình dang dở thì những miền kí ức buồn cũng là một trong những mảng nội dung tự sự quan trọng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
như Ngày đã qua, Dòng nhớ, Nhớ sông, Qua cầu nhớ người, Hiu hiu gió bấc,
Chuyện của Điệp, Nhà cổ, Ấu thơ tươi đẹp, Một chuyện hẹn hò, Của ngày đã mất, Mối tình năm cũ, Thương quá rau răm, Người năm cũ,… Bên cạnh đó là hàng loạt
những từ mở đầu những đoạn văn mang ý nghĩa hồi tưởng về những chuyện xảy ra
trong quá khứ, trong tiềm thức như: hồi, hồi đó, hồi nhỏ, hồi còn, hồi mới vô , hồi
xưa, cái hồi, cái lần, cái bữa, ngày xưa, lúc đó, lúc nhỏ, năm đó, dạo trước, một bữa, bữa nọ, năm tuổi, sau nầy, có lần, ngay từ lúc ấy, suốt những năm tháng…, bây giờ, …năm trước, …
Đi vào những trường hợp cụ thể, dễ thấy nhất trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là những “dòng nhớ”, những dòng ký ức của những ông già Nam bộ về
một thời tuổi trẻ như ký ức về một thời chiến đấu bảo vệ quê hương làng mạc (Ngọn
đèn không tắt, Mối tình năm cũ, Nỗi buồn rất lạ, Vết chim trời…); ký ức về một lỗi
lầm nào đó mà chính họ đã vô tình gây ra (Cải ơi, Biển người mênh mông, Cánh
đồng bất tận, Làm má đâu có dễ) và đặc biệt nhất là ký ức về mối tình dang dở thời
Trang 36trai trẻ (Dòng nhớ, Chiều vắng, Cái nhìn khắc khoải, Đau gì như thể, Cuối mùa
nhan sắc, Người năm cũ)…
Trong Mối tình năm cũ, tình yêu thiêng liêng, ngọt ngào, trong trẻo và đầy
xúc động xen lẫn cả đau thương mất mát, sự mất mát không gì bù đắp nổi Hoà bình rồi, đoàn làm phim đến Mỹ Hưng để quay bộ phim về người anh hùng Nguyễn Thọ
“Trên những tấm hình đen trắng cũ kỷ hiện lên một hình người nằm cạnh cây súng
đã gãy Một vuông ngực vỡ toác Đôi mắt và đôi tay bị bọn ác ôn băm nát Cái lồng ngực từng chứa một trái tim đỏ thắm, đôi mắt đã từng nhìn người yêu chan chứa, đôi tay đã từng ấp yêu một đôi tay…dì Thấm run rẫy nhìn những bức hình hức lên một tiếng rồi rũ xuống như tàu chuối héo” [33,tr.81-82] Chiến tranh đã lùi xa, nhưng kí ức về những nỗi đau thương nhức nhối kia thì mãi vẫn còn đó
Nếu như trong Mối tình năm cũ, Ngọn đèn không tắt… là hình ảnh ông già Nam bộ luôn sống với những kỷ niệm của một thời chiến đấu thì trong Biển người
mênh mông, người đọc lại bắt gặp hình ảnh một ông già Nam bộ khác, cả đời không
sao quên được hình ảnh người vợ cũ mặc cho người đó có bỏ ông mà đi vì cuộc sống nghèo khổ quá Ông luôn mang theo bên mình một con bìm bịp trong hành trình đi tìm vợ suốt bốn mươi năm ròng, hình ảnh con bìm bịp luôn gợi cho ông nhớ
đã từng có một thời ông sống hạnh phúc với người vợ trên những chiếc ghe xuôi ngược qua các miền sông nước
Hay trong Chiều vắng người đọc lại bắt gặp hình ảnh cậu Tư Nhớ – lúc nào
cũng giữ những hình ảnh đẹp về vợ mình, giữ lại bên mình những vật quen thuộc của vợ dù vợ đã theo chồng khác: “Dì nhìn chiếc quai nón bằng vải nhung đã phai màu treo ở đầu giường, cái áo bà ba màu bông cà bọc trong niloong treo trên vách cùng với chiếc cặp đỏ bằng nỉ (hôm chị Thu Lê theo chồng, nó chỉ vừa đủ ba bộ đồ với cái khăn tắm, dì Út lén má xếp dùm)” [36,tr.47] Cậu ở vậy chờ dì, nghe bảo lúc nào dì chết dì sẽ về nằm trên đất quên nhà Vì vậy, câu Tư Nhớ xin vào đội đưa ma
để sau này tiễn đưa người vợ cũ một đoạn đường cuối cùng, thật sự cảm động nhưng sao cứ nghẹn ngào, day dứt khôn nguôi
Trang 37Không chỉ đề cập đến những miền ký ức của những bậc cao niên, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư còn ghi lại những dòng ký ức của những thanh niên, trai
trẻ Đó là những Tươi trong Ngọn đèn không tắt, Kiên trong Cỏ xanh, Dịu trong Sầu
trên đỉnh Puvan, Xuyến trong Duyên phận so le, của nhân vật xưng “tôi trong Một dòng xuôi mải miết…
Trong Sầu trên đỉnh Puvan, người đọc bắt gặp hình ảnh của một cô Dịu làm
nghề gái gọi Nhưng trong sâu thẳm trong tâm hồn cô vẫn luôn nhớ về đứa con trai
mà cô đứt ruột đẻ ra dù đứa con ấy không phải sản phẩm của tình yêu mà đó chỉ là
do bị một tên tây cưỡng hiếp khi cô đi xuất khẩu lao động Cô vẫn nhớ người chồng
cũ - người cô thương yêu hết lòng và cũng hết lòng thương yêu cô Chỉ vì nhà quá nghèo mà cô với chồng phải giả vờ chia tay để cô có thể đi xuất khẩu lao động, họ hứa với nhau khi nào hết thời gian làm việc sẽ về lại với nhau nhưng lời hứa không thực hiện được vì Dịu đã mang trong mình giọt máu của người khác
Không giống như Dịu, ký ức cuộc đời là một kỷ niệm đau buồn về những tháng ngày dằn vặt trong đau khổ vì không giữ được lời hứa với chồng thì ký ức của
Phi trong Biển người mênh mông là hình ảnh bà ngoại lúc nào cũng yêu thương lo
lắng và nhất là bao giờ cũng nhắc nhở anh phải nhớ cắt tóc khi nó đã ra dài
Cuối cùng, nói về những miền ký ức trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư, có
lẽ buồn và xót xa hơn cả là miền ký ức của những đứa trẻ thơ Đây là một điểm nhấn khá quan trọng trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Đó là trường hợp của
San trong Bởi yêu thương, Điệp trong Chuyện của Điệp , Phi lúc nhỏ trong Biển
người mênh mông; của Nương và Điền trong Cánh đồng bất tận; của thằng Sói và
Nhiên (nhân vật kể chuyện xưng “tôi”) trong Ấu thơ tươi đẹp; của thằng Củi trong Sầu trên đỉnh Puvan; của Mỹ Ái trong Gió lẻ… Có thể nói, hầu hết trong
những miền ký ức của những đứa trẻ này đều giống nhau một điểm đó là nỗi hụt hẩng vì bị người thân (cha hoặc mẹ) bỏ rơi
Trong Cánh đồng bất tận, hình ảnh người mẹ trẻ đẹp một thời lúc nào cũng
in đậm trong cuộc sống du mục bên bầy vịt cùng với người cha lạnh lùng của hai chị em Nương và Điền Đặc biệt là với Nương, cô bé không chỉ nhớ mẹ qua những
Trang 38cử chỉ vỗ về yêu thương mà còn là nỗi đau vô bờ bến khi trong một lần phải vô tình chứng kiến cảnh mẹ mình ngoại tình với người đàn ông có chiếc ghe bầu bán vải ngay tại nhà Tưởng như vậy sẽ được người cha yêu thương hơn nhưng cha lại càng nhẫn tâm khi chỉ biết có oán thù những người phụ nữ mà bỏ rơi con cái Đôi khi những đứa trẻ này chỉ thèm một tiếng chửi mắng của người cha để thấy mình được quan tâm cũng không có, them người thân để yêu thương lại càng không: “Có lần đi qua xóm, trong một buổi chiều, chúng tôi gặp những ông già ngồi chơi với cháu, thằng Điền đứng tần ngần bên hàng rào dâm bụt, bảo, “Phải chi ông ấy là ông nội mình, thương đỡ chơi, hen Hai.” [33,tr.188] Giọng điệu nghe có vẻ tưng tửng nhưng ẩn chứa trong đó là cả một nỗi đau “bất tận”
Cũng là cảm giác hụt hẫng khi bị bỏ rơi, trong Ấu thơ tươi đẹp, người đọc lại
bắt gặp những miền ký ức của hai đứa trẻ cùng cảnh ngộ Cha mẹ ly dị, mỗi người đều có cuộc sống riêng, mỗi dịp hè đến chúng được người này đưa về ở với người kia Ký ức tuổi thơ của hai đứa trẻ không có gì ngoài những chuyến đi và mỗi lần
về bên cha hoặc bên mẹ và phải chứng kiến những điều mà lẽ ra ở tuổi của chúng không nên chứng kiến: “Thằng nhỏ Sói này giống hệt em, hồi trước Dù nhà của cha
em không có chó, nhưng mỗi lần về là có thêm một người phụ nữ bước lại vuốt tóc
em, “Nhiên phải hôn nè? Nhiên năm nay bao nhiêu tuổi? Nhiên thích ăn gì cô chở đi?” [35,tr.60]
Khi khai thác nội dung về những miền kí ức thẳm sâu của con người, Nguyễn Ngọc Tư có phần giống với Thạch Lam khi mà cả hai nhà văn đều dành một tình cảm ưu ái đặc biệt cho những đứa trẻ, đều giống nhau ở điểm là tập trung vào nỗi hụt hẫng của chúng khi bị cha mẹ bỏ rơi Tuy vậy, nếu như Thạch Lam cho
Hai đứa trẻ của mình có những kí ức về những ngày tháng hạnh phúc ở thủ đô Hà
Nội thì Nguyễn Ngọc Tư lại cho những đứa trẻ của mình có những mảng kí ức thật buồn: kí ức về những ngày tháng bị mẹ đánh đập, kí ức về sự ngoại tình của mẹ, về
sự trả thù đáng sợ của người cha… Dường như Nguyễn Ngọc Tư muốn gửi cho người đọc một thông điệp, đó là hãy cho những đứa trẻ có kí ức tuổi thơ thật đẹp,