Nguyên tắc thiết lập thuế nhà, đất - Thuế suất thuế nhà, đất cần quy định ở mức thấp vì đây là loại thuế thu hàng năm trong suốt quá trình chiếm hữu, sử dụng tài sản của đối tượng nộp
Trang 1chẽ của các cơ quan có liên quan như: Thống kê, Nông nghiệp, Quản lý ruộng
đất, khí tượng thủy văn… Để tính toán chính xác số thuế phải nộp, ngoài việc phân hạng đất chính xác, cần quan tâm đến công tác xác định giá thóc tính thuế Muốn làm tốt công tác này, cần làm tốt công tác điều tra và dự báo giá cả thị trường để ra quyết định mức giá thu thuế cho phù hợp
2.5.3 Quản lý việc thực hiện miễn, giảm thuế
Thực hiện Nghị quyết số 15/2003/QH11, việc miễn thuế SDĐNN được áp dụng cho hầu hết các đối tượng có sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức, phần diện tích vượt hạn mức được giảm 50% cho đến năm 2010 Vì vậy, công tác quản lý miễn, giảm thuế SDĐNN trong giai đoạn này rất phức tạp Muốn làm tốt công tác này, cần nắm chắc diện tích ruộng đất của từng đối tượng được giao, kể cả phần diện tích sử ở địa phương khác Điều này đòi hỏi công quản lý thực hiện miễn, giảm phải có sự kết hợp tốt giữa các cơ quan có liên quan và chính quyền các địa phương
2.5.4 Quản lý việc thu nộp thuế
Trong tình hình thực hiện miễn, giảm thuế đến năm 2010, số thuế phải thu nộp còn rất ít, song điều đó không nghĩa là có thể coi nhẹ công tác quản lý thu nộp Để làm tốt công tác quản lý thu nộp cần nâng cao trách nhiệm của đội ngũ
ủy nhiệm thu; có chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho lực lượng này
Trang 2Chương 9 Thuế Nhμ, đất
1 Giới thiệu chung về thuế nhμ, đất
1.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế nhà, đất
Thuế nhà, đất là sắc thuế có cơ sở tính thuế là trị giá tài sản nhà và đất Nhà và đất thường luôn gắn với nhau và có cùng chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng Chính vì vậy, ở một số nước trên thế giới và ở nước ta, thuế nhà và thuế đất
được quy định trong cùng một sắc thuế Tuy nhiên, có thể thấy là cơ sở tính thuế của thuế nhà và thuế đất không phụ thuộc vào nhau
Thuế nhà là thuế tính trên trị giá nhà của các chủ sở hữu Nó động viên một phần thu nhập của chủ sở hữu nhà, một tài sản quan trọng thể hiện mức độ giàu
có và khả năng nộp thuế của các chủ thể trong xã hội
Thuế đất là thuế thu vào các chủ thể có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng
đất dùng vào mục đích xây dựng nhà ở và xây dựng công trình
Thuế nhà, đất nói chung và thuế đất nói riêng thuộc loại thuế tài sản và có tính chất trực thu Người chủ sở hữu nhà và người sử dụng đất là người nộp thuế nhà, đất và cũng chính là người chịu khoản thuế này
Thuế đất thực chất là thuế đánh vào khả năng sinh lời của đất dùng vào việc xây dựng nhà ở và xây dựng công trình Khả năng sinh lời của đất lại phụ thuộc vào vị trí của đất và những điều kiện hưởng thụ phúc lợi xã hội Những điều kiện
đó càng tốt thì khả năng sinh lời của đất càng cao Chỉ số đánh giá khả năng sinh lời của đất là giá cả quyền sử dụng đất hình thành trên thị trường bất động sản
Thuế nhà, đất được thu thường xuyên hàng năm căn cứ vào trị giá nhà và trị giá đất thể hiện ở diện tích, vị trí đất chứ không căn cứ vào kết quả sinh lời qua giao dịch thực tế của chủ sở hữu nhà và chủ sử dụng đất Nói cách khác, thuế nhà, đất được thu trong suốt quá trình chiếm giữ tài sản của các chủ thể nộp thuế chứ không phải vào thời điểm mua, bán hay chuyển nhượng nhà, đất
Thuế nhà, đất gắn liền với việc quản lý đất đai và xây dựng của chính quyền
địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở Do đó, chính quyền địa phương
đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức, triển khai thu thuế nhà,
đất Đồng thời, thuế nhà, đất thường tạo thành nguồn thu chiếm tỉ trọng lớn trong ngân sách của địa phương
Thuế đất hiện nay ở nước ta chỉ thu và các chủ thể sử dụng đất vào mục
đích xây dựng công trình để ở và các công trình kiến trúc khác Phần lớn đất đai
sử dụng cho sản xuất kinh doanh được áp dụng chế độ cho thuê đất và phải nộp tiền thuê đất, còn đất dùng vào trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản thì chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp Trong điều kiện nước ta hiện nay, để thuận tiện khi tính thuế, Pháp lệnh về thuế nhà, đất quy định lấy mức thuế sử dụng đất nông nghiệp làm căn cứ để xác định thuế đất Từ mức thuế đó nhân với một hệ
số tính thuế đất Quy định hệ số tính thuế nhằm mục đích nâng mức động viên thông qua thuế đối với đất ở, đất xây dựng công trình cao hơn mức động viên
Trang 3thông qua thuế sử dụng đất nông nghiệp Mục đích sử dụng thuế đất bên cạnh việc động viên một phần thu nhập của người sử dụng đất nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách còn thực hiện khuyến khích sử dụng tiết kiệm có hiệu quả quỹ đất
ở, đất xây dựng công trình, hạn chế việc chuyển quỹ đất sản xuất nông nghiệp sang xây dựng nhà ở
1.2 Nguyên tắc thiết lập thuế nhà, đất
- Thuế suất thuế nhà, đất cần quy định ở mức thấp vì đây là loại thuế thu
hàng năm trong suốt quá trình chiếm hữu, sử dụng tài sản của đối tượng nộp thuế, nếu quy định thuế suất cao thì chỉ sau một thời gian ngắn toàn bộ giá trị tài sản sẽ bị đánh thuế hết, điều này là bất hợp lý và gây phản ứng mạnh mẽ từ phía
đối tượng nộp thuế do nhà, đất là loại tài sản có giá trị lớn đòi hỏi phải có một quá trình tích luỹ lâu dài mới có thể mua được; nếu quy định thuế suất cao sẽ
đồng nghĩa với việc vượt quá khả năng chi trả của đối tượng nộp thuế Đồng thời, khi xác định căn cứ tính thuế, phải tính đến hoàn cảnh của từng đối tượng nộp thuế để đảm bảo khả năng nộp thuế thực tế của họ bằng các quy định miễn giảm thuế phù hợp
- Khi xác định mức thuế, cần phân biệt các loại đất khác nhau Thực chất
thuế nhà, đất đánh vào khả năng sinh lời của đất Mỗi loại đất khác nhau có khả năng sinh lời khác nhau: đất đô thị có khả năng sinh lời cao hơn đất nông thôn,
đất đô thị lớn có khả năng sinh lời cao hơn đất đô thị nhỏ… Do vậy, mức thuế với mỗi loại đất cần khác nhau để phản ánh đúng khả năng sinh lời của đất và
đảm bảo sự đóng góp công bằng cũng như đảm bảo khả năng trả thuế phù hợp; cần có các mức thuế phân biệt cho từng loại đất như: đất nông thôn; đất đô thị;
đất ở từng loại đô thị khác nhau, loại đường phố khác nhau…
- Chỉ đánh thuế nhà, đất thuộc sự quản lý và sử dụng của tư nhân, không
đánh vào nhà đất sử dụng vì mục đích công cộng Như trên đã trình bày, thực
chất của thuế nhà, đất là đánh vào khả năng sinh lời của đất mà người sử dụng
được hưởng, vì vậy, đối với việc sử dụng của các cá nhân, đối tượng được hưởng khả năng sinh lời của nhà, đất là rõ ràng Trong khi đó, đối với đất sử dụng vào mục đích công cộng, người được hưởng khả năng sinh lợi của đất không thể xác
định rõ ràng Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, người trực tiếp quản lý loại đất này là các cơ quan hành chính, cơ quan sự nghiệp nhà nước, do đó, nếu đánh thuế vào loại đất này sẽ dẫn đến việc nhà nước sẽ thu thuế vào chính mình
- Xác định căn cứ tính thuế trên diện tích thực tế sử dụng Nguyên tắc này
xuất phát từ hai lý do cơ bản là: (1) đánh vào việc thực tế được hưởng khả năng sinh lời của đất, không bỏ sót căn cứ tính thuế và đối tượng nộp thuế; (2) khuyến
khích sử dụng quỹ đất tiết kiệm, có hiệu quả
1.3 Quá trình hình thành và phát triển của thuế nhà, đất trên thế giới
và ở Việt Nam
1.3.1 Thuế nhà, đất trên thế giới
Thuế nhà, đất đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu với nhiều hình thức và tên gọi khác nhau Tuỳ theo từng nước mà phạm vi đánh thuế, đối tượng nộp thuế và các căn cứ xác định thuế phải nộp có sự khác nhau
Trang 4Phần lớn các nước khi thu thuế đất thường không phân biệt nhiều loại đất; chẳng hạn đất nông nghiệp, đất nhà ở, đất sản xuất kinh doanh mà gộp chung lại và chỉ căn cứ vào trị giá của nó để đánh thuế Cá biệt có nước Pháp chia thuế
đất ra làm 2 loại là thuế đối với đất có công trình xây dựng và thuế đối với đất không có công trình xây dựng Đài Loan chia thuế đất làm 3 loại: Thuế đất canh tác nông nghiệp, Thuế đánh trên trị giá đất phi nông nghiệp và Thuế đánh trên trị giá đất tăng thêm
Trị giá nhà, đất làm căn cứ tính thuế thường được quy định bởi Hội đồng
định giá tài sản của các địa phương Giá này được xác định căn cứ thời giá thị trường từng địa phương, có thể là trị giá của nhà, đất hoặc trị giá tiền thuê nhà,
đất Đối với nhà, giá tính thuế căn cứ vào đơn giá xây dựng trung bình trên thị trường, tuỳ theo kết cấu nhà, trang bị nội thất, hệ thống cung cấp điện nước Đối với đất ở thành phố, giá tính thuế chủ yếu được xác định theo giá thị trường tuỳ theo vị trí là mặt phố, khu vực trung tâm buôn bán, nội thị hay vùng ngoại vi Có nước ổn định trị giá này rất lâu (Pháp), có nước xác định mỗi năm một lần (Nhật Bản), 3 năm một lần (Indonexia), 6 năm ((Thụy Điển) Thông thường, trị giá tính thuế thường thấp hơn so với giá thị trường: ở Indonexia chỉ tính bằng 20%, ở Thụy Điển 75%
Thuế suất thuế nhà đất thường do các địa phương quy định trên cơ sở khung thuế suất do Luật thông qua ở Nhật, thuế suất trần là 2,1%, thuế suất tiêu chuẩn
là 1,4%; Indonexia quy định thuế suất chung cho cả nhà và đất là 0,5% Thuế suất đối với nhà ở thông thường ở Đài Loan là từ 1,38% đến 2%, nhà để kinh doanh từ 3 – 5%; thuế đất áp dụng theo biểu luỹ tiến từng phần từ 1,5% đến 7% Thuế suất ở Thụy Điển là 1,4%, ở CHLB Đức là 0,5%
Các nước thường miễn thuế cho những nhà được sử dụng vào mục đích công cộng của Nhà nước, của lực lượng vũ trang, tổ chức giáo dục, y tế, xã hội; nhà của chính phủ dành cho người nghèo, sinh hoạt tôn giáo, thờ cúng (kể cả nhà dùng vào lợi ích công cộng, không thu tiền của tư nhân); nhà để ở có giá trị thấp Thuế được giảm đối với nhà ở mà nhà nước bán cho dân với giá hạ, nhà để sản xuất, nhà kho Đối với đất, miễn thuế đối với phần diện tích đất giao cho các trường tư đã đăng ký, đất trực tiếp dùng làm thư viện, bảo tàng khoa học, bảo tàng lịch sử của tư nhân, phòng trưng bày mỹ thuật, viện nghiên cứu khoa học,
đất xây dựng bệnh viện tư, xây dựng các cơ sở nhân đạo, đường bộ, đường xe lửa
do tư nhân xây dựng sử dụng cho lợi ích công cộng, đất đền chùa Được giảm đối với đất dùng làm thí nghiệm, thử nghiệm nông lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, đất dùng làm văn phòng cho các hiệp hội nông, lâm, ngư nghiệp, đất làm nhà kho chứa nông lâm hải sản
1.3.2 Quá trình hình thành và phát triển của thuế nhà, đất ở Việt Nam
Trước khi ban hành Pháp lệnh Thuế nhà đất, ở nước ta áp dụng thuế thổ trạch Thuế thổ trạch được áp dụng tại miền Bắc Việt Nam (vùng giải phóng) kể
từ 1955 theo Điều lệ tạm thời về thuế thổ trạch do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 12/ 01/1956, thu vào nhà, đất ở các thành phố và thị trấn thuộc diện được phép thu thuế
Đối tượng nộp thuế là người có nhà, đất hoặc người nhận cầm nhà, đất Trường hợp người có nhà, đất hoặc người nhận cầm nhà, đất không ở địa phương
Trang 5hoặc có sự tranh chấp giữa người có nhà, đất, người nhận cầm nhà, đất, người thuê nhà, đất mà chưa được giải quyết thì thuế thổ trạch do người quản lý hay người sử dụng nhà, đất nộp
Thuế thổ trạch được miễn cho: nhà, đất của Nhà nước; nhà, đất của tư nhân
sử dụng cho lợi ích công cộng không có lợi tức; nhà, đất của các tổ chức tôn giáo dùng vào việc thờ cúng được ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chuẩn y miễn thuế; nhà làm bằng tre, nứa, lá hay bằng những vật liệu rẻ tiền khác
Thuế suất thuế thổ trạch được quy định như sau:
- Đối với đất có cất nhà, thuế thổ trạch gồm 2 phần: một phần thu về nhà, một phần thu về đất:
Về phần thuế nhà, mức thuế cả năm bằng 0,8% giá nhà tiêu chuẩn
Về phần thuế đất, mức thuế cả năm bằng 1,2% giá đất tiêu chuẩn
- Đối với đất không cất nhà, mức thuế cả năm bằng 1,2% giá đất tiêu chuẩn
- Đối với đất có cất nhà, trong trường hợp đặc biệt, ở địa phương nào không phân tách được rõ giá đất và giá nhà thì thuế căn cứ vào giá nhà, đất gộp lại, thuế cả năm bằng 1,2% giá nhà, đất tiêu chuẩn Nếu không tìm được giá nhà, đất tiêu chuẩn thì thuế căn cứ vào giá thuê nhà, đất Thuế cả năm bằng 15% giá thuê nhà,
đất tiêu chuẩn
Giá nhà tiêu chuẩn được xác định căn cứ vào giá mua bán nhà nói chung ở
địa phương và giá tiền xây dựng nhà, có phân theo từng loại, hạng Giá đất tiêu chuẩn được xác định căn cứ vào vị trí của đất và giá mua bán đất nói chung ở địa phương, có phân theo từng loại, hạng Giá nhà, đất tiêu chuẩn được xác định căn
cứ vào khu vực xây dựng nhà, hiện trạng nhà và giá mua nhà, đất nói chung ở địa phương Giá nhà, đất và giá cho thuê nhà, đất được xác định mỗi năm một lần Kết quả định giá trước khi công bố phải được ủy ban hành chính tỉnh, thành phố duyệt y và Bộ Tài chính thông qua
Về phương pháp thu thuế, thuế thổ trạch tính cho cả năm nhưng thu làm 2
kỳ, kỳ đầu thu vào tháng năm, kỳ sau thu vào tháng mười một
Về thủ tục khai báo và nộp thuế: trong thời hạn một tháng sau khi có thông cáo về việc định giá nhà đất của ủy ban hành chính tỉnh, thành phố, người nộp thuế phải khai báo cho cơ quan thuế (theo mẫu in sẵn) về nơi có nhà, đất; hiện trạng nhà, số gian và diện tích trường hợp thay đổi địa chỉ, chuyển nhượng cho người khác, làm thêm hoặc sửa sang lại làm thay đổi giá nhà, đất thì trong thời hạn 10 ngày kể từ khi hoàn thành các việc đó phải khai báo cho cơ quan thuế biết, kể cả các trường hợp được miễn thuế
Hàng năm, căn cứ vào kết quả định giá nhà, đất, căn cứ vào sự khai báo của người nộp thuế và sau khi đã kiểm tra lại, cơ quan thuế lập sổ thuế, gửi thông báo cho người nộp thuế
ở miền Nam Việt Nam, thời kỳ chưa giải phóng áp dụng thuế thổ trạch để thu vào nhà đất Thuế thổ trạch ở miền Nam Việt Nam ban hành năm 1972 đánh vào tất cả các loại nhà, vật kiến trúc và đất tọa lạc trong phạm vi đô thành, thị xã, tỉnh lị, các thị tứ khác (kể cả nhà xưởng, hãng, nhà máy, ) Ranh giới các thị tứ thuộc phạm vi đánh thuế thổ trạch do tỉnh trưởng ấn định sau khi tham khảo
Trang 6kiến của Hội đồng tỉnh Như vậy, các loại đất tọa lạc trong ranh giới của đô thành, thị xã, tỉnh lị, quận lị và các khu thị tứ đều thuộc phạm vi đánh thuế thổ trạch, dù là ruộng hay vườn
Cơ sở tính thuế là trị giá bất động sản chịu thuế (bao gồm cả trị giá đất và nhà, vật kiến trúc gắn liền với đất) ấn định theo thời giá ngày 01/01 của năm tính thuế
Thuế suất tối đa 1,5% trị giá đất, 1% trị giá nhà và vật kiến trúc Thuế suất tối thiểu do Bộ Nội vụ ấn định hàng năm cho mỗi địa phương nhưng không thấp hơn 0,5 % trị giá đất hoặc trị giá nhà và vật kiến trúc
Thuế thổ trạch được miễn vĩnh viễn cho bất động sản không sinh lợi; bất
động sản thuộc sở hữu của các tổ chức tôn giáo, đoàn thể, dùng để thờ cúng, để làm trường học miễn phí, làm công tác xã hội, từ thiện, dùng cho nghiên cứu, thử nghiệm, giáo dục, cứu tế, đất chôn cất, nhà ở thuộc cơ quan ngoại giao, nhà của phế binh từ 60% trở lên, chỉ có một nhà duy nhất tự đứng tên và cư ngụ tối đa 150m2 (kể cả lầu) Thuế được miễn có thời hạn đối với nhà mới hoàn thành xây cất, nhà bị hư hỏng nặng
Kể từ sau giải phóng miền Nam, đặc biệt là từ thời kỳ tiến hành công cuộc
đổi mới và cải cách thuế 1990, chính sách quản lý đất đai đã có những thay đổi căn bản so với trước nên đã chi phối các nội dung của chính sách thuế đánh vào
đất đai
Theo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và Luật đất đai hiện hành thì đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền
sử dụng đất Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh
Điều 79 của Luật đất đai có quy định về nghĩa vụ của người sử dụng đất trong đó có nghĩa vụ “Nộp thuế sử dụng đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất; lệ phí địa chính theo quy định của pháp luật;”
Cũng theo Luật đất đai, căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất được phân thành các loại: đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư nông thôn;
đất đô thị; đất chuyên dùng; đất chưa sử dụng Trong các loại đất trên, đất của khu dân cư nông thôn và đất đô thị là đối tượng phải chịu thuế đất hoặc tiền thuê
đất theo các quy định về thuế hiện hành Hai loại đất này có mục đích chủ yếu là
để làm nhà ở, làm trụ sở hoạt động, làm mặt bằng, địa điểm sản xuất, kinh doanh Trong trường hợp các tổ chức, cá nhân được giao đất thì khi được giao
phải nộp tiền sử dụng đất (trừ các trường hợp theo quy định được miễn), sau đó,
hàng năm phải nộp thuế đất Còn trong trường hợp thuê đất thì tổ chức và cá nhân chỉ phải nộp tiền thuê đất theo hợp đồng thuê đất đã ký với Nhà nước
Trong cải cách thuế bước 1 năm 1990, thuế nhà đất đã được nghiên cứu và ban hành thay cho thuế thổ trạch đang áp dụng trước đó Pháp lệnh đầu tiên về thuế nhà, đất được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 29/6/1991 Trong Pháp lệnh 1991 có quy định cả thuế nhà và thuế đất Một năm sau đó, Pháp lệnh mới
đã thay thế Pháp lệnh này
Trang 72 Những nội dung cơ bản của chính sách thuế nhà, đất hiện hành ở Việt Nam
Thuế nhà, đất hiện hành được áp dụng theo Pháp lệnh về thuế nhà, đất do chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký ngày 31/7/1992, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1992 Ngày 19/5/1994, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh về thuế nhà đất 1992 (sửa Điều 7 và khoản 3 Điều 15), hiệu lực thi hành từ 01/01/1994
Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đang có hiệu lực gồm:
- Nghị định 94-CP ngày 25/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về thuế nhà, đất
- Thông tư số 83/TC/TCT ngày 7/10/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 94-CP ngày 25/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về thuế nhà, đất
Dưới đây là những nội dung cơ bản của thuế nhà, đất theo quy định tại các văn bản nêu trên
2.1 Phạm vi áp dụng
Pháp lệnh về thuế nhà, đất năm 1992 quy định: “trong điều kiện hiện nay, tạm thời chưa thu thuế nhà và chưa quy định về thuế nhà” Vì vậy, những nội dung trong các quy định về thuế nhà đất hiện nay là thuế đất
2.1.1 Đối tượng chịu thuế đất
Đối tượng chịu thuế đất là đất ở, đất xây dựng công trình (không phân biệt
đất có giấy phép hay không có giấy phép sử dụng)
a) Đất ở là đất thuộc khu dân cư ở các thành thị và nông thôn bao gồm: đất
đã xây cất nhà (kể cả mặt sông, hồ, ao, kênh rạch làm nhà nổi cố định), đất làm vườn, làm ao, làm đường đi, làm sân, hay bỏ trống quanh nhà, trừ diện tích đất
đã nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp; kể cả đất đã được cấp giấy phép, nhưng chưa xây dựng nhà ở
b) Đất xây dựng công trình, là đất xây dựng các công trình công nghiệp, khoa học kỹ thuật, giao thông, thuỷ lợi, nuôi trồng thuỷ sản, văn hoá, xã hội, dịch vụ, quốc phòng, an ninh và các khoảnh đất phụ thuộc (diện tích ao hồ, trồng cây, bao quanh công trình kiến trúc), không phân biệt công trình đã xây dựng xong đang sử dụng, đang xây dựng, hoặc đất đã được cấp giấy phép nhưng chưa xây dựng, hoặc dùng làm bãi chứa vật tư, hàng hoá
2.1.2 Đối tượng không chịu thuế đất
Không thu thuế đất ở, đất xây dựng công trình đối với:
a) Đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận chuyên sử dụng vì mục đích công cộng, phúc lợi xã hội hoặc từ thiện chung không vì mục đích kinh doanh hoặc không dùng để ở, như: đất làm đường xá, cầu cống, công viên, sân vận động, đê diều, công trình thuỷ lợi, trường học (bao gồm cả nhà trẻ, nhà mẫu giáo), bệnh viện (bao gồm cả bệnh xá, trạm xá, trạm y tế, phòng khám ), nghĩa trang, nghĩa địa
Trang 8b) Đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận chuyên dùng vào việc thờ cúng chung của các tôn giáo, của các tổ chức mà không vì mục đích kinh, hoặc không dùng để ở, như: các di tích lịch sử, đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ chung (kể cả nhà thờ họ) Riêng đền, miếu, nhà thờ tư vẫn phải nộp thuế đất Trường hợp sử dụng đất thuộc diện không chịu thuế nêu trên vào mục đích kinh doanh hoặc để ở, thì tổ chức quản lý đất phải nộp thuế đất phần diện tích
đất sử dụng vào kinh doanh hoặc để ở
2.1.3 Đối tượng tạm thời chưa chịu thuế đất
Hiện nay, Nhà nước tạm thời miễn thuế đất đối với các trường hợp sau: a) Đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước, tổ chức xã hội, công trình văn hoá, đất chuyên dùng vào mục đích quốc phòng và an ninh
Đất thuộc diện tạm miễn thuế nếu sử dụng vào mục đích kinh doanh, hoặc
để ở thì phải nộp thuế đất
b) Đất ở thuộc vùng cao, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa thuộc diện được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp (theo Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định); vùng định canh, định cư
Đất ở đối với đồng bào xây dựng vùng kinh tế mới được miễn thuế đất trong
5 năm đầu kể từ ngày đến ở, từ năm thứ 6 trở đi phải nộp thuế đất
c) Đất ở của gia đình thương binh hạng 1/4, hạng 2/4; hộ gia đình liệt sĩ có người được hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước; đất xây nhà tình nghĩa cho các
đối tượng chính sách xã hội, đất ở của người tàn tật, sống độc thân, người chưa
đến tuổi thành niên và người già cô đơn không nơi nương tựa không có khả năng nộp thuế Những đối tượng này chỉ được miễn thuế một nơi ở duy nhất do chính
họ đứng tên Diện tích đất ở được miễn thuế căn cứ vào diện tích đất thực tế sử dụng của hộ để làm nhà ở, công trình phụ, chuồng trại chăn nuôi, đường đi, sân phơi nhưng không được quá mức quy định về hạn mức sử dụng trong Luật đất
đai
2.1.4 Đối tượng nộp thuế đất
Đối tượng nộp thuế đất là tất cả các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng hoặc trực tiếp sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình, bao gồm:
- Đất được uỷ quyền quản lý, thì tổ chức cá nhân uỷ quyền phải nộp thuế;
- Đất bị tịch thu để xử lý theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền khi giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng thì tổ chức, cá nhân quản lý đất này phải nộp thuế;
- Cán bộ công nhân viên chức, quân nhân (gọi chung là CBCNVC) mua nhà
đất (hoá giá) mua nhà đất (hoá giá) từ các nguồn hoặc được cơ quan, xí nghiệp,
đơn vị cấp đất (phân phối, trả tiền đến bù thiệt hại đất ) để tự làm nhà ở, nay nhà này thuộc sở hữu riêng của CBCNVC thì CBCNVC này phải nộp thuế đất
- Các tổ chức, cá nhân có nhà đất cho thuê (kể cả nhà đất của các cơ quan,
xí nghiệp và cơ quan quản lý nhà đất phân phối hoặc cho CBCNVC thuê) thì tổ chức, cá nhân cho thuê nhà đất phải nộp thuế đất, còn người đi thuê hoặc người
được phân phối nhà đất không phải nộp thuế đất, mà chỉ trả tiền thuê cho chủ cho thuê Cụ thể:
Trang 9+ Tổ chức, cá nhân cho tổ chức, cá nhân trong nước hay nước ngoài thuê nhà, đất (kể cả nhà trọ, nhà khách, nhà nghỉ, khách sạn) thì tổ chức, cá nhân cho thuê phải nộp thuế đất
+ Công ty, xí nghiệp quản lý nhà, đất cho thuê nhà đất, thì công ty, xí nghiệp này là đơn vị phải nộp thuế đất
+ Cơ quan, xí nghiệp, đơn vị lực lượng quốc phòng an ninh quản lý quỹ nhà
đất cho CBCNVC thuê, thì các tổ chức này là đơn vị phải nộp thuế đất
- Trong trường hợp còn có sự tranh chấp hoặc chưa xác định được quyền sử dụng đất, kể cả trường hợp lấn chiếm trái phép (bao gồm cả phần diện tích đất lấn chiếm thêm ngoài khuôn viên của tổ chức, cá nhân quản lý cho thuê đã nộp thuế đất), thì tổ chức, cá nhân đang trực tiếp sử dụng đất phải nộp thuế đất Việc nộp thuế đất trong trường hợp này không có nghĩa là thừa nhận tính hợp pháp về quyền sử dụng đất
- Trường hợp bên Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh được Nhà nước cho góp vốn pháp định bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 7 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì tổ chức hoặc người đại diện cho bên Việt Nam dùng đất để góp vốn theo hợp đồng đã ký kết là đối tượng nộp thuế
đất
Đối với các hình thức đầu tư nước ngoài hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thuê đất đã nộp tiền thuê vào NSNN do cơ quan thuế thu theo chế độ Nhà nước quy định, thì không phải nộp thuế đất nữa
- Cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, người nước ngoài sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình phải nộp thuế đất theo quy định của Pháp lệnh về thuế nhà
đất, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy
Định suất thuế sử dụng đất NN quy định - 10.000m 2
x
Hệ số tính thuế đất theo khu vực vμ
vị trí
x
Hệ số phân bổ thuế đất (nếu có)
x
Giá thóc thuế SDĐNN
2.2.2 Căn cứ tính thuế
2.2.2.1 Diện tích đất tính thuế
Diện tích đất tính thuế là toàn bộ diện tích đất của tổ chức, cá nhân quản lý
sử dụng, bao gồm: diện tích mặt đất xây nhà ở, xây công trình, diện tích đường
đi lại, diện tích sân, diện tích bao quanh nhà, bao quanh công trình, diện tích ao
hồ và các diện tích để trống trong phạm vi đất được phép sử dụng theo giấy cấp
đất của cơ quan có thẩm quyền Trường hợp chưa có giấy cấp đất thì theo diện tích thực tế sử dụng
Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng nông thôn:
Diện tích đất tính thuế là toàn bộ diện tích đất thực tế quản lý sử dụng của tổ chức, cá nhân không thuộc diện nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp bao gồm: Diện tích mặt đất xây nhà ở, xây công trình (chuồng trại, chăn nuôi, bếp, sân, bể nước ), đất làm đường đi, diện tích đất để trống
Trang 10Xác định diện tích đất tính thuế ở nông thôn phải căn cứ vào sổ địa chính Nhà nước ở những nơi chưa có sổ địa chính thì trên cơ sở tờ khai nộp thuế đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp và ý kiến của cán bộ địa chính, được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận
Trường hợp hộ nộp thuế không kê khai hoặc kê khai không đúng thực tế thì cơ quan thuế phối hợp với cơ quan địa chính có sự tham gia của Uỷ ban nhân dân xã kiểm tra, xác định đúng diện tích đất chịu thuế
2.2.2.2 Hệ số tính thuế đất theo khu vực, vị trí
Hệ số tính thuế theo vị trí đất thể hiện số lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp Căn cứ để xác định hệ số là khu vực và vị trí đất
• Đối với khu vực đô thị:
Hệ số tính thuế đất ở đô thị được quy định căn cứ vào loại đô thị, loại đường phố và vị trí đất
Loại đô thị:
Việc phân loại đô thị được vận dụng bảng phân loại đô thị theo quy định hiện hành của Chính phủ Đối với các đô thị mới hình thành, chưa có tên trong bảng danh mục xếp hạng đô thị, thì tạm thời sắp xếp như sau:
+ Các đô thị nơi có trụ sở UBND tỉnh xếp vào đô thị loại IV;
+ Các đô thị khác (trừ thị trấn) xếp vào đô thị loại V;
+ Thị trấn
Loại đường phố hoặc khu phố:
Trong mỗi loại đô thị được chia thành các loại đường phố (hoặc khu vực)
(xem phụ lục)
Tuỳ tình hình cụ thể, ở mỗi đô thị có thể phân số loại đường phố ít hơn mức
trong Bảng phân bổ các bậc thuế đất đô thị (phụ lục số 1), nhưng phải xếp từ loại
đường phố bậc cao trở xuống theo thứ tự 1, 2 v.v Riêng đối với thị xã, thị trấn thuộc các tỉnh miền núi, hải đảo phía bắc và Tây Nguyên quá nhỏ, những thị trấn mới hình thành điều kiện sinh hoạt kém so với các thị trấn khác trong địa phương
có thể xếp loại đường phố từ bậc 2
Căn cứ để phân loại đường phố dựa vào vị trí của đất ở, đất xây dựng công trình từng khu vực (là trung tâm, cận trung tâm hay ven đô) các điều kiện thuận lợi trong SXKD, trong sinh hoạt… Cục thuế phối hợp với Sở xây dựng, cơ quan quản lý ruộng đất cùng cấp để phân các đường phố trong đô thị ra các loại khác nhau, trình UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định
Vị trí đất:
Căn cứ vào loại đường phố đã được UBND tỉnh, thành phố quyết định, Chi cục thuế thực hiện phân loại vị trí đất cụ thể trong từng loại đường phố để xếp mức thuế đất trình UBND quận, huyện hoặc cấp tương đương quyết định
Mỗi loại đường phố được xếp tối đa theo 4 vị trí đất, cụ thể như sau:
Vị trí 1: áp dụng đối với đất ở mặt tiền
Vị trí 2: áp dụng đối với đất trong ngõ, hẻm của đường phố có điều kiện sinh hoạt thuận lợi (xe ô-tô hoặc xe ba bánh vào tận nơi v.v )
Trang 11Vị trí 3: áp dụng đối với đất của những hộ độc lập nhưng phải đi qua nhà mặt tiền, đất ở trong hẻm của đường phố có điều kiện sinh hoạt kém hơn vị trí 2 (ô-tô hoặc xe 3 bánh không vào được )
Vị trí 4: áp dụng đối với đất trong ngõ, trong hẻm của các ngõ, các hẻm thuộc vị trí 2, vị trí 3 nêu trên và các vị trí còn lại khác mà điều kiện sinh hoạt rất kém
Trong mỗi loại đường phố, không nhất thiết phải xếp đủ 4 vị trí đất, mà phải văn cứ cụ thể vào từng đường phố để xếp, có thể xếp ít vị trí hơn, nhưng phải xếp
từ vị trí 1 tương ứng với bậc thuế cao nhất trở xuống Trong cùng vị trí đất nhưng
do điều kiện thuận lợi có khác nhau thì có thể được hạ thấp mức thuế đất tối đa bằng 2 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định trong biểu đối với lô đất
có điều kiện thấp hơn
Ví dụ: 2 lô đất được xếp cùng vị trí số 1 của đường phố loại 1, thuộc đô thị loại I, theo quy định phải chịu mức thuế đất bằng 32 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp, nhưng trong đó có một lô đất ở vị trí mức độ thuận tiện không bằng lô kia, thì có thể áp dụng mức thuế đất bằng 31 lần hoặc 30 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp
Đối với lô đất giáp ranh giữa các loại đường phố, đất góc của 2 loại đường phố, đất giáp ranh giữa vị trí mà có những bậc thuế cao thấp khác nhau, thì căn
cứ vào mức độ thuận tiện của vị trí đất, chi cục trưởng chi cục thuế được điều chỉnh và xếp vào bậc thuế phù hợp
Hệ số tính thuế đất theo khu vực và vị trí áp dụng đối với 6 loại đô thị (kể cả
thị trấn) và 4 vị trí đất của từng loại đường phố được quy định trong Bảng phân
bổ các bậc thuế đất đô thị theo vị trí của từng loại đường phố (Phụ lục)
Mức thuế sử dụng đất nông nghiệp làm căn cứ tính thuế đất thuộc vùng đô thị là mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong vùng được áp dụng như sau:
- Đối với thành phố trực thuộc Trung ương; thành phố, thị xã nơi có trụ sở UBND cấp tỉnh đóng thì áp dụng mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đó
- Các thị xã, thị trấn khác áp dụng mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất trong huyện, trong thị xã đó
Riêng đối với thị xã, thị trấn miền núi, hải đảo quá nhỏ, mới hình thành,
điều kiện sinh hoạt kém so với các thị trấn khác, có thể áp dụng mức thuế sử dụng đất nông nghiệp cao nhất ở tại khu vực thị xã, thị trấn đó
• Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng ven đô thị, ven đầu mối giao thông và ven trục giao thông chính:
Phạm vi các loại đất này:
- Đất khu dân cư ở các vùng ven đô thị bao gồm các xã hoặc thôn (ấp) tiếp giáp với nội thành phố, nội thị xã
- Đất khu dân cư ven đầu mối giao thông và trục đường giao thông chính không nằm trong đô thị bao gồm: đất ven ngã ba, ngã tư trục đường giao
Trang 12thông, bến phà, bến cảng, sân bay do Trung ương và tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương quản lý
- Đất khu thương mại, khu du lịch không nằm trong đô thị là toàn bộ diện tích nằm trong khu thương mại, khu du lịch và khu dân cư gắn với khu thương mại, khu du lịch theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Đất khu công nghiệp không nằm trong đô thị là đất có nhà máy, xí nghiệp
và khu dân cư gắn với khu công nghiệp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hệ số tính thuế đất được quy định như sau:
+ Đối với đất khu dân cư, đất xây dựng công trình vùng ven đô thị loại I, là diện tích đất của toàn bộ xã ngoại thành có mặt tiếp giáp trực tiếp với đất nội thành Mức thuế đất bằng 2,5 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng
đất cao nhất trong xã
+ Đối với đất khu dân cư, đất xây dựng công trình thuộc vùng ven của đô thị loại II, loại III, loại IV và loại V là toàn bộ diện tích của thôn, ấp có mặt tiếp giáp trực tiếp với đất nội thị, mức thuế đất bằng 2 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong thôn, ấp
+ Đối với ven đầu mối giao thông, trục đường giao thông chính, đất khu thương mại, khu du lịch không nằm trong đô thị, mức thuế đất bằng 1,5 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp của hạng đất cao nhất trong vùng
• Đối với đất ở vùng nông thôn:
Đối với đất ở, đất xây dựng công trình thuộc vùng nông thôn đồng bằng, trung du, miền núi, mức thuế đất bằng 1 lần mức thuế sử dụng đất nông nghiệp ghi thu bình quân trong xã
2.2.2.3 Hệ số phân bổ thuế đất cho các lô đất đặc biệt
- Đối với đất xây dựng nhà nhiều tầng do một tổ chức hoặc cá nhân quản lý
sử dụng thì tổ chức hoặc cá nhân đó phải nộp thuế cho toàn bộ diện tích đất trong khuôn viên Trường hợp tổ chức hoặc cá nhân này cho một tổ chức hoặc cá nhân khác thuê, thì người thuê không phải nộp thuế đất
- Trong một khoảnh đất có nhiều tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng, nguyên tắc là: Tổng diện tích đất chịu thuế của các tổ chức cá nhân này phải bằng tổng diện tích đất của khoảnh đất đó Do vậy, mỗi tổ chức, cá nhân ngoài việc phải kê khai diện tích đất thực tế sử dụng (bao gồm diện tích mặt đất, nhà ở, công trình phụ, trồng rau kể cả diện tích đất lấn chiếm riêng) còn phải kê khai thêm phần diện tích đất sử dụng chung như: đất làm đường đi chung, sân chung, đất xây các công trình sử dụng chung (xây trạm bơm nước, ) kể cả diện tích bỏ trống
Việc phân chia phần diện tích đất sử dụng chung do các tổ chức, cá nhân trong khu tập thể tự thoả thuận phân bổ Trường hợp không tự thoả thuận được thì cơ quan thuế sẽ căn cứ vào tình hình thực tế sử dụng để phân bổ số thuế phải nộp cho từng tổ chức, cá nhân
- Đối với đất ở do nhiều tổ chức, cá nhân quản lý nhưng không thuộc một khoảnh, thì các tổ chức cá nhân này phải nộp thuế đất phần diện tích đất thực tế
Trang 13sử dụng (kể cả diện tích lấn chiếm thêm để xây nhà, trồng rau, làm công trình phụ v.v )
- Đối với đất xây nhà nhiều tầng, do nhiều tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng
ở các tầng khác nhau, thì từ tầng 5 (lầu 4) trở lên không phải nộp thuế đất Từ tầng 4 (lầu 3) trở xuống, việc phân bổ phần diện tích đất sử dụng chung cũng xác
định như trên
Riêng hệ số phân bổ thuế đất cho các tầng (lầu) đối với phần diện tích đất xây nhà nhiều tầng (lầu) như sau:
Hệ số phân bổ cho các tầng Nhà
2.2.2.4 Giá thóc tính thuế đất
Thuế đất thu bằng tiền theo giá thóc thuế sử dụng đất nông nghiệp của vụ cuối năm liền trước năm thu thuế, ủy ban nhân tỉnh quy định và báo cáo cho Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) biết
2.3 Miễn, giảm thuế đất
Thuế đất được xét giảm, miễn cho các đối tượng nộp thuế có khó khăn về kinh tế do bị thiên tai, tai nạn bất ngờ Nếu giá trị thiệt hại về tài sản từ 20% đến 50% tổng giá trị tài sản (tài sản cố định, tài sản lưu động có trên lô đất chịu thuế) thì được xét giảm thuế đất 50%, nếu giá trị thiệt hại trên 50% thì được xét miễn thuế đất
2.3.1 Thủ tục xét giảm thuế, miễn thuế đất
Tổ chức cá nhân thuộc diện được tạm miễn thuế đất phải kê khai tổng diện tích đất thực tế quản lý sử dụng, diện tích đất sử dụng theo từng mục đích (trụ sở,
ở, kinh doanh v.v ), gửi kèm theo đơn đề nghị, giải trình lý do giảm hoặc miễn thuế có xác nhận của UBND phường, xã nơi có đất chịu thuế hoặc của cơ quan quản lý cấp trên (nếu là tổ chức) gửi đến chi cục thuế trực tiếp thu thuế, chi cục thuế căn cứ vào tờ khai có xác nhận của các cơ quan trên, thực hiện kiểm tra, tính toán số thuế được miễn và số thuế còn phải nộp
Chi cục thuế căn cứ tờ khai, đơn đề nghị giảm miễn thuế kiểm tra, xác minh, kiến nghị mức giảm, miễn thuế cho từng trường hợp trình UBND huyện, quận và cấp tương đương quyết định
2.3.2 Thẩm quyền xét giảm thuế, miễn thuế
Thẩm quyền xét giảm thuế, miễn thuế do UBND huyện, quận và cấp tương
đương quyết định theo đề nghị của chi cục trưởng chi cục thuế Riêng việc xét giảm, miễn thuế đất đối với xí nghiệp quốc doanh Trung ương, xí nghiệp quốc doanh tỉnh, thành phố quản lý do cục trưởng cục thuế tỉnh, thành phố quyết định theo đề nghị của chi cục trưởng chi cục thuế
2.4 Thủ tục kê khai, thu nộp thuế đất
2.4.1 Kê khai nộp thuế đất
Trang 14Tổ chức cá nhân đang trực tiếp sử dụng đất có trách nhiệm kê khai tình trạng đất với cơ quan thuế, theo mẫu thống nhất do Bộ Tài chính phát hành
Tờ khai được lập thành 2 bản gửi cho chi cục thuế nơi có đất chịu thuế vào tháng 1 hàng năm
Chi cục thuế có trách nhiệm tổ chức thu hồi tờ khai nhanh chóng, thuận tiện
và tính số thuế phải nộp cho từng tờ khai Sau khi được thủ trưởng cơ quan thuế phê duyệt mức thuế phải nộp, một bản tờ khai được gửi cho người kê khai nộp thuế và coi là thông báo nộp thuế lần 1, 1 bản lưu tại cơ quan thuế làm căn cứ lập
sổ thuế
Đối tượng nộp thuế đất phải chủ động liên hệ với chi cục thuế quận, huyện
để nhận tờ khai và kê khai nộp thuế đất
Đối với một số trường hợp cụ thể, việc kê khai được thực hiện như sau:
- Một số tổ chức hoặc cá nhân đang trực tiếp có quyền sử dụng đất ở nhiều
địa điểm khác nhau, thì phải lập tờ khai riêng cho từng lô đất ở từng địa điểm
- Tổ chức, cá nhân cho thuê nhà đất (kể cả trường hợp nhà đất do cơ quan phân phối cho cán bộ công nhân viên) thì tổ chức, cá nhân đó phải kể khai toàn
bộ diện tích đất trong khuôn viên cho thuê
- Tổ chức, cá nhân chiếm dụng đất ở, đất xây dựng công trình (bao gồm cả trường hợp lấn chiếm đất ra ngoài khuôn viên của chủ cho thuê hoặc chủ phân phối nhà) thì người đang trực tiếp sử dụng đất phải kê khai nộp thuế đất Việc kê khai nộp thuế đất này không có nghĩa là thừa nhận tính hợp pháp về quyền sử dụng đất
- Đối với đất xây dựng nhà nhiều tầng hoặc đất trong khu tập thể do nhiều tổ chức, cá nhân quản lý sử dụng, thì từng tổ chức, cá nhân phải tự kê khai nộp thuế Tờ khai phải ghi rõ phần diện tích được quyển sử dụng, diện tích lấn chiếm thêm, và phần diện tích đất sử dụng chung được phân bổ Riêng đối với nhà ở từ tầng 4 (lầu3) trở xuống ngoài việc phải kê khai như trên, còn phải ghi rõ ở tầng nào (để áp dụng hệ số phân bổ giữa các tầng)
- Những đối tượng không phải nộp thuế đất chỉ phải kê khai nộp thuế phần diện tích đất sử dụng để kinh doanh hoặc để ở mà theo quy định phải nộp thuế
đất
2.4.2 Tổ chức quản lý thu nộp thuế
- Chi cục thuế căn cứ vào tờ khai đã được kiểm tra, tính thuế, chậm nhất hết quý I hàng năm phải lập xong sổ thuế của từng phường, xã (hoặc thôn, xóm, ấp, bản ) và phải được chi cục trưởng ký duyệt
- Căn cứ vào sổ thuế phải nộp ghi trong thông báo, đối tượng nộp thuế phải chủ động thực hiện việc nộp thuế tại nơi thu tiền thuế (theo hướng dẫn của chi cục thuế) Số thuế cả năm nộp làm 2 kỳ Kỳ đầu nộp 50% số thuế phải nộp cả năm và nộp chậm nhất là ngày 30 tháng 4 Kỳ thứ 2 nộp hết số thuế còn lại,
Trang 15chậm nhất là ngày 31 tháng 10 Đối với trường hợp người nộp thuế tự nguyện nộp 1 lần thì thu vào kỳ đầu
- Riêng đất ở thuộc vùng nông thôn nộp thuế một lần, thời hạn nộp chậm nhất ngày 31 tháng 10
- Khi thu nhận tiền thuế đất, người thu thuế (kho bạc, thuế vụ, hay uỷ nhiệm thu) phải sử dụng biên lai thuế nhà đất do Bộ Tài chính phát hành Biên lai thu thuế ghi thành 3 liên: liên 1 chuyển cho cơ quan thuế, liên 2 cấp cho người nộp thuế, liên 3 lưu tại người thu thuế
- Đối với các xí nghiệp quốc doanh và tổ chức kinh tế khác, có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng đang thực hiện chế độ tự nộp thuế do Bộ Tài chính quy
định, thì có thể đến kỳ hạn nộp thuế do chi cục thuế thông báo, chủ động làm giấy nộp tiền thuế đất vào Kho bạc Nhà nước
- Thuế đất nộp vào kho bạc quận, huyện nơi có đất chịu thuế, ghi vào mục
23 theo chương, loại, khoản, hạng tương ứng với từng đối tượng nộp thuế của mục lục NSNN quy định Số tiền thuế đất đối với đất dùng vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã nộp vào Ngân sách Nhà nước được coi là yếu tố chi phí, được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
- Cục thuế có thể thoả thuận và quyết định uỷ nhiệm thu thuế đất đến các xã, thôn Uỷ nhiệm thu phải thanh toán kịp thời tiền thuế đã thu theo đúng chế
độ uỷ nhiệm thu Nghiêm cấm việc chiếm dụng xâm tiêu tiền thuế Uỷ nhiệm thu thuế đất được trích thù lao từ 5% đến 8% trên số thuế thực thu nộp vào kho bạc Nhà nước Trong đó, ở nội thành thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh: 5%; các nơi khác: 8% và được trích trước khi nộp tiền thuế vào Kho bạc Nhà nước
2.5 Tổ chức quản lý thuế đất
2.5.1 Quản lý đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế đất là các tổ chức, cá nhân sử dụng đất để làm nhà ở và xây dựng công trình, trong đó chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất để
ở Như vậy, đối tượng nộp thuế đất có phạm vi rất rộng và tính chất rất phức tạp vì nó liên quan đến hầu hết mọi tầng lớp xã hội, các khu dân cư lại rất phức tạp,
có khu ổn định, có khu thường xuyên thay đổi chỗ ở, dẫn đến việc quản lý hộ khẩu rất khó khăn Với đặc điểm ấy tình trạng bỏ sót hộ, tính thừa số hộ, tính trùng hộ nộp thuế dễ xảy ra Vì vậy, công tác quản lý đối tượng nộp thuế cần có
sự phối hợp đồng bộ giữa đội thuế xã, phường, uỷ nhiệm thu, uỷ ban nhân dân xã, phường, các thôn, xóm, các tổ dân phố và công an để nắm được các đối tượng có sử dụng đất đưa vào diện quản lý thu thuế Ngoài ra, cần thường xuyên tuyên truyền, giải thích chính sách cho nhân dân hiểu và thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước Đồng thời, về lâu dài, Nhà nước cần khẩn trương chỉ đạo các cấp chính quyền và các cơ quan quản lý Nhà nước hoàn thành việc cấp giấy chứng
Trang 16nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghiêm việc quản lý chính chủ về quyền sử dụng đất
2.5.3 Quản lý căn cứ tính thuế
Quản lý căn cứ tính thuế đất là một công việc khó khăn, phức tạp vì trên thực tế, tính chất các diện tích chịu thuế đất rất đa dạng, có diện tích được cấp quyền sử dụng, có diện tích đất không được cấp quyền sử dụng, có diện tích đất
do dân lấn chiếm, có diện tích đất dân tự động chuyển từ đất nông nghiệp sang
đất làm nhà ở, tự nhượng bán cho nhau không thực hiện các thủ tục pháp lý… Thực tế này đã làm cho diện tích chịu thuế đất luôn luôn biến động, phức tạp trong quản lý Vì vậy, trong khi Nhà nước chưa thực hiện xong việc cấp quyền sử dụng đất, để quản lý chặt chẽ căn cứ tính thuế cần tăng cường kiểm tra, đo đạc, phân vùng theo khu vực và tăng cường trách nhiệm của uỷ nhiệm thu