Trường hợp kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ có mức thuế GTGT khác nhau, cơ sở kinh doanh phải kê khai thuế GTGT theo từng mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hóa dịch vụ
Trang 1trách nhiệm cấp mã số thuế và Giấy chứng nhận đăng ký thuế theo chế độ quy
định
- Đối tượng thuộc diện phải đăng ký thuế: bao gồm tất cả các cơ sở kinh
doanh, kể cả các công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng trực thuộc cơ
sở kinh doanh chính phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế
- Nội dung phải đăng ký: Cơ sở kinh doanh phải đăng ký về địa điểm kinh
doanh, ngành nghề kinh doanh, lao động, tiền vốn, nơi nộp thuế, phương pháp tính và nộp thuế và các chỉ tiêu liên quan khác theo mẫu đăng ký nộp thuế
- Thời hạn đăng ký nộp thuế: Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng ký
nộp thuế chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cấp con dấu; trường hợp cơ sở chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng có hoạt động kinh doanh, cơ sở phải
đăng ký nộp thuế trước khi kinh doanh Các cơ sở đã đăng ký nộp thuế nếu có thay đổi ngành nghề kinh doanh, chuyển trụ sở kinh doanh, sáp nhập, giải thể, phá sản, hợp nhất, chia, tách hay thành lập các công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng mới v.v phải đăng ký bổ sung với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi có sự thay đổi đó
Một số trường hợp cụ thể việc đăng ký nộp thuế được quy định như sau:
- Cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh có trụ sở chính ở một địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nhưng có cơ sở hạch toán phụ thuộc ở một địa phương khác thì cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở, các cơ sở hạch toán phụ thuộc phải đăng ký nộp thuế GTGT với cơ quan thuế địa phương nơi cơ sở phụ thuộc đóng trụ sở
- Cơ sở xây dựng, lắp đặt phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế địa phương nơi đóng trụ sở, đồng thời phải đăng ký, kê khai, nộp thuế với cơ quan thuế địa phương nơi xây dựng công trình
- Cơ sở thực hiện cơ chế khoán cho tập thể, cá nhân kinh doanh theo phương thức tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh thì tập thể, cá nhân nhận khoán phải trực tiếp đăng ký, kê khai, nộp thuế GTGT với cơ quan thuế nơi kinh doanh
- Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng, nếu thực hiện đúng, đủ các điều kiện mua, bán hàng hóa, dịch vụ có đầy đủ hoá đơn, chứng từ, ghi chép hạch toán sổ kế toán đúng chế độ,
kê khai, nộp thuế GTGT đúng chế độ và tự nguyện đăng ký thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thì có thể được áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
2.5.2 Kê khai thuế GTGT
Các cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT phải lập và gửi cho cơ quan thuế tờ khai tính thuế GTGT từng tháng Thời gian gửi tờ khai của tháng cho cơ quan thuế chậm nhất là trong 10 ngày đầu tháng tiếp theo Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng mẫu tờ khai thuế và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai Trường hợp kinh doanh nhiều loại hàng hóa, dịch vụ có mức thuế GTGT khác nhau, cơ sở kinh doanh phải kê khai thuế GTGT theo từng mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hóa dịch vụ; nếu không xác định được theo từng mức thuế suất thì cơ sở kinh doanh phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất
Trang 2cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở sản xuất, kinh doanh Trong trường hợp không phát sinh doanh số bán hàng hóa, dịch vụ, thuế đầu vào, thuế đầu ra, cơ sở kinh doanh vẫn phải kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan thuế
Một số trường hợp cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế việc kê khai thuế phải nộp được quy định cụ thể như sau:
- Kê khai thuế đối với hoạt động xây dựng: trường hợp các cơ sở xây dựng,
lắp đặt có tổ chức các đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân thực hiện xây lắp các công trình ở địa phương khác (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) nơi cơ sở đóng trụ sở chính thì đơn vị xây dựng, lắp đặt hoặc cơ sở chính phải kê
khai doanh thu và thuế GTGT nộp tại địa phương nơi xây dựng công trình, hạng
mục công trình theo tỷ lệ bằng 3% trên giá thanh toán công trình, hạng mục công trình chưa có thuế GTGT Cơ sở xây dựng, lắp đặt có trách nhiệm kê khai, quyết toán thuế GTGT theo chế độ quy định với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính Số thuế GTGT đã nộp nơi xây dựng công trình được tính vào số thuế GTGT đã nộp khi cơ sở xây dựng kê khai nộp thuế GTGT tại văn phòng trụ sở chính Các cơ sở xây dựng, lắp đặt ký hợp đồng xây dựng, lắp đặt (nhà thầu chính) nhưng giao lại một phần công việc hay công trình cho cơ sở khác thực hiện (nhà thầu phụ) thì cơ sở xây dựng, lắp đặt phải đăng ký, khai báo với cơ quan thuế tại địa phương nơi có công trình xây dựng, lắp đặt về hợp đồng xây dựng, lắp đặt và hợp đồng giao thầu lại cho cơ sở khác, để các cơ sở thực hiện kê khai nộp thuế GTGT tại địa phương cho phần giá trị công trình do mình thực hiện Nếu cơ sở xây dựng, lắp đặt (nhà thầu phụ) không đăng ký, kê khai nộp thuế thì cơ sở xây dựng, lắp đặt (nhà thầu chính) phải kê khai, nộp thuế GTGT trên toàn bộ giá trị công trình theo hợp đồng Trường hợp cơ sở xây dựng, lắp đặt thực hiện thi công xây lắp những công trình, hạng mục công trình liên quan tới nhiều địa phương, không xác định được doanh thu và chi phí phát sinh của công trình ở từng địa phương thì cơ sở kinh doanh thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế GTGT ở địa phương nơi cơ sở đóng trụ sở
- Kê khai thuế đối với hàng bán đại lý: cơ sở có hàng bán thông qua đại lý
(đại lý bán đúng giá quy định của bên chủ hàng, hưởng hoa hồng), căn cứ vào hoá đơn lập cho hàng bán qua đại lý, cơ sở phải kê khai nộp thuế hàng tháng đối với hàng hoá bán thông qua đại lý Cơ sở đại lý bán hàng theo các hình thức phải
kê khai, tính và nộp thuế GTGT đối với hàng hoá bán đại lý và tiền hoa hồng thu
được từ hoạt động đại lý Cơ sở bán đại lý đúng giá theo quy định của bên chủ hàng, hưởng hoa hồng nếu bán giá thấp hơn giá quy định của bên chủ hàng thì phải kê khai, nộp thuế theo giá bán do chủ hàng quy định Riêng đối với các trường hợp cơ sở kinh doanh làm đại lý bán hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT; cơ sở kinh doanh làm đại lý dịch vụ bưu điện, bảo hiểm,
xổ số, bán vé máy bay theo đúng giá quy định của cơ sở giao đại lý hưởng hoa hồng thì không phải kê khai và nộp thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ nhận bán đại lý và doanh thu hoa hồng đại lý được hưởng Cơ sở nhận làm đại lý thu mua theo các hình thức phải kê khai, nộp thuế GTGT cho hàng hoá thu mua đại
lý và hoa hồng được hưởng (nếu có) Trường hợp tổ chức, cá nhân ở Việt Nam làm đại lý bán hàng hóa, dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thì tổ chức, cá nhân ở Việt Nam phải kê khai nộp thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ thay
Trang 3- Kê khai thuế đối với các tổng công ty, tông ty có các cơ sở trực thuộc Việc
kê khai được quy định cụ thể cho các trường hợp sau đây:
Các cơ sở hạch toán độc lập và các cơ sở hạch toán phụ thuộc như công ty,
xí nghiệp, nhà máy, chi nhánh, cửa hàng có tư cách pháp nhân không đầy đủ, có con dấu và tài khoản tại ngân hàng trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, phát sinh doanh thu phải kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ tại địa phương nơi cơ sở kinh doanh đóng trụ sở
Trường hợp cơ sở hạch toán phụ thuộc ở khác địa phương nơi đóng trụ sở chính của văn phòng công ty, tổng công ty, không có tư cách pháp nhân, không
có con dấu và tài khoản tiền gửi tại ngân hàng trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, phát sinh doanh thu thì cơ sở hạch toán phụ thuộc phải kê khai, nộp thuế GTGT tại địa phương nơi phát sinh doanh thu theo tỷ lệ 2% trên doanh thu chưa có thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 5%, tỷ lệ 3% trên doanh thu chưa có thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng áp dụng thuế suất 10% Tổng công ty, công ty có trách nhiệm kê khai, quyết toán thuế GTGT theo chế độ quy định với cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính Số thuế GTGT cơ sở hạch toán phụ thuộc đã nộp tại địa phương được tính vào số thuế GTGT đã nộp khi công ty, tổng công ty kê khai nộp thuế GTGT tại Văn phòng trụ sở chính
Các cơ sở hạch toán phụ thuộc đóng trụ sở cùng địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nơi có trụ sở chính của đơn vị cấp trên như công ty, tổng công ty thì công ty, tổng công ty thực hiện kê khai, nộp thuế tập trung thay cho các cơ sở hạch toán phụ thuộc Nếu cơ sở hạch toán phụ thuộc là pháp nhân không đầy đủ, có con dấu, tài khoản tiền gửi ngân hàng, trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ, kê khai đầy đủ thuế GTGT đầu vào, đầu ra muốn kê khai nộp thuế riêng phải đăng ký nộp thuế, cấp mã số thuế phụ thuộc và sử dụng hóa đơn riêng Các cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc ở khác địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) nơi đóng trụ sở chính của công ty nếu không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, cơ sở không hạch toán được đầy đủ thuế đầu vào thì thực hiện kê khai, nộp thuế tập trung tại văn phòng trụ sở chính của công
ty
Đối với văn phòng tổng công ty không trực tiếp kinh doanh, không thuộc
đối tượng nộp thuế GTGT nếu bán tài sản kể cả loại chịu thuế GTGT không phải tính, kê khai, nộp thuế GTGT đối với tài sản bán ra
- Kê khai thuế đối với các hoạt động được Nhà nước trợ giá, trợ cước: cơ sở
kinh doanh bán hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT cho đối tượng và giá theo quy định của Nhà nước được Nhà nước trợ giá, trợ cước vận chuyển, khi bán hàng phải tính thuế GTGT đầu ra để kê khai, nộp thuế GTGT cho hàng hoá theo giá bán quy định của Nhà nước Khoản tiền trợ giá, trợ cước được Ngân sách cấp không phải tính thuế GTGT, cơ sở hạch toán vào thu nhập để tính thuế thu nhập doanh nghiệp
- Kê khai thuế GTGT trong trường hợp bán tài sản của các doanh nghiệp chấm dứt hoạt động Cơ sở kinh doanh khi chia tách, giải thể, phá sản, chuyển
đổi sở hữu có bán tài sản là hàng hoá chịu thuế GTGT phải tính, kê khai, nộp thuế GTGT Trường hợp bán tài sản của doanh nghiệp theo quy định tại Nghị
Trang 4định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ “về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước”, bán tài sản của các doanh nghiệp phá sản theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp thì không phải tính, kê khai, nộp thuế GTGT đối với tài sản này
- Kê khai thuế đối với hoạt động buôn chuyến: cơ sở kinh doanh buôn
chuyến phải kê khai và nộp thuế theo từng chuyến hàng với chi cục thuế nơi mua hàng, trước khi vận chuyển hàng đi (trừ các trường hợp được miễn thuế GTGT theo quy định của Chính phủ) Số thuế phải nộp đối với hàng hoá buôn chuyến tính theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng
- Kê khai nộp thuế GTGT đối với các cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp có GTGT âm (-): cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc,
ngoại tệ, đá quý và cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT, thực hiện đầy đủ việc mua bán hàng hoá, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán, trường hợp kê khai thuế phải nộp của tháng phát sinh giá trị gia tăng âm (-) thì không phải nộp thuế GTGT, giá trị gia tăng
âm được kết chuyển để bù trừ vào GTGT phát sinh của tháng tiếp sau để tính thuế GTGT phải nộp và quyết toán thuế cả năm nhưng không được kết chuyển phần giá trị gia tăng âm của năm quyết toán thuế sang năm sau
- Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu hàng hoá phải kê khai và nộp tờ khai thuế GTGT theo từng lần nhập khẩu cùng với việc kê khai thuế nhập khẩu với cơ quan Hải quan thu thuế nhập khẩu
2.5.3 Nộp thuế GTGT
Đối tượng nộp thuế GTGT có trách nhiệm nộp thuế GTGT đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách Nhà nước Cụ thể:
- Về số thuế phải nộp: Căn cứ số thuế phải nộp ghi trên tờ khai của cơ sở
kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tự tính, tự khai tự nộp thuế; đối với các trường hợp khác hợp khác căn cứ vào số thuế trong thông báo của cơ quan thuế Trong một kỳ tính thuế, nếu cơ sở kinh doanh có số thuế nộp thừa kỳ trước được trừ vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo, nếu kỳ trước nộp thiếu thì phải nộp đủ
số thuế kỳ trước còn thiếu
- Thời hạn nộp thuế chậm nhất không quá ngày 25 của tháng tiếp theo
Trường hợp cơ sở kinh doanh có thuế giá trị gia tăng phát sinh lớn, ổn định từ
200 triệu đồng/tháng trở lên nộp thuế theo định kỳ 5, 10 ngày một lần trong tháng Đối với cá nhân (hộ) kinh doanh nộp thuế theo mức khoán ổn định thì thời gian nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng phải nộp
Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu hàng hóa phải nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu theo từng lần nhập khẩu
- Đồng tiền nộp thuế: Thuế GTGT nộp vào ngân sách Nhà nước bằng Đồng
Việt Nam Trường hợp cơ sở kinh doanh có doanh số bán hoặc mua hàng hoá, dịch vụ thanh toán bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu hoạt động mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng ngoại tệ để xác định thuế GTGT phải nộp
Trang 5- Địa điểm nộp thuế: Cơ sở kinh doanh có thể trực tiếp nộp tiền thuế GTGT
tại Kho bạc Nhà nước Trường hợp có tài khoản tại ngân hàng, cơ sở kinh doanh
có thể làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản để nộp thuế Đối với những cá nhân (hộ) kinh doanh ở địa bàn kinh doanh xa Kho bạc hoặc kinh doanh lưu
động thì cơ quan thuế tổ chức thu thuế và nộp vào NSNN
2.5.4 Quyết toán thuế GTGT
- Đối tượng phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế: Các cơ sở kinh
doanh (trừ hộ kinh doanh vừa và nhỏ nộp thuế theo mức ấn định) phải thực hiện lập và gửi quyết toán thuế GTGT hàng năm cho cơ quan thuế nơi cơ sở đăng ký nộp thuế Năm quyết toán thuế được tính theo năm dương lịch Cơ sở phải kê khai đầy đủ, đúng các chỉ tiêu và số liệu theo mẫu quyết toán thuế, phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của số liệu kê khai
- Thời hạn cơ sở kinh doanh phải nộp quyết toán cho cơ quan thuế chậm
nhất không quá 60 ngày, kể từ ngày 31 tháng 12 của năm quyết toán thuế
Trường hợp cơ sở kinh doanh sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản,
chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước thời hạn nộp quyết toán thuế là trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày có quyết định sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước
- Trên cơ sở quyết toán thuế, trong vòng 10 ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán, cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp số thuế còn thiếu vào NSNN, nếu nộp thừa thì được trừ vào kỳ tiếp theo hoặc được hoàn thuế nếu cơ sở thuộc diện được hoàn thuế
2.6 Hoàn thuế giá trị gia tăng
Hoàn thuế GTGT là việc nhà nước trả lại số thuế GTGT mà đối tượng nộp thuế đã nộp cho NSNN trong một số trường hợp nhất định Cụ thể hơn, hoàn thuế GTGT là việc NSNN trả lại cho cơ sở kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân mua hàng hoá, dịch vụ về sử dụng số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hoá, dịch
vụ mà cơ sở kinh doanh còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế hoặc hàng hoá, dịch vụ trong trường hợp tiêu dùng của tổ chức, cá nhân đó không thuộc diện chịu thuế Nội dung cơ bản của hoàn thuế GTGT theo quy định hiện hành bao gồm:
2.6.1 Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT
Thứ nhất, cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:
- Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ
kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết Số thuế được hoàn là số thuế
đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế Trường hợp này áp dụng cho cả cơ sở kinh doanh có đầu tư mới, đầu tư chiều sâu
- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số
thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng Trường hợp trong tháng thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết bao gồm cả thuế đầu vào
Trang 6của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước thì cũng được tính vào số thuế được hoàn trong tháng
Thứ hai, đối với cơ sở kinh doanh đầu tư mới đã đăng ký kinh doanh, đăng
ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa phát sinh thuế đầu ra, nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên được xét hoàn thuế đầu vào theo từng năm Số thuế GTGT đầu vào của tài sản đầu tư được hoàn có giá trị lớn từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế từng quý
Thứ ba, đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế có dự án đầu tư của cơ sở sản xuất đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho dự án đầu tư từ 200 triệu đồng trở lên được xét hoàn thuế theo quý Cơ sở kinh doanh phải kê khai, lập hồ sơ hoàn thuế riêng cho dự án đầu tư
Thứ tư, cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách,
giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước có thuế GTGT nộp thừa, số thuế GTGT đầu vào chưa đuợc khấu trừ hết
Thứ năm, cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Thứ sáu, hoàn thuế GTGT đã trả đối với các dự án sử dụng vốn ODA được
Các chủ dự án sử dụng nguồn vốn ODA thuộc đối tượng được hoàn thuế, phải ghi tăng vốn ngân sách cấp cho dự án số tiền thuế GTGT đã được hoàn Khi tính kế hoạch vốn đối ứng hàng năm cho dự án không phải tính kế hoạch vốn đối ứng để nộp thuế GTGT
Trường hợp các chủ dự án được NSNN bố trí vốn đối ứng để thanh toán cho nhà thầu theo giá có thuế GTGT, thì các nhà thầu khi bán hàng hóa, dịch vụ cho
dự án phải tính thuế và kê khai nộp thuế GTGT theo quy định
Thứ bảy, tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không
hoàn lại của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ thì được hoàn lại tiền thuế GTGT đã trả ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng
Trang 7Các cơ sở kinh doanh, tổ chức thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT theo quy định trong các trường hợp nói trên phải là đối tượng đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (giấy phép đầu tư), có con dấu, lưu giữ sổ sách, chứng
từ kế toán theo chế độ quy định và có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
Thứ tám, đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo Pháp lệnh
về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam được hoàn lại
số thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT
2.6.2 Trách nhiệm của các đối tượng liên quan đến việc hoàn thuế
- Đối tượng nộp thuế: có trách nhiệm lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế
theo quy định gửi cơ quan thuế; đảm bảo tính chính xác, trung thực và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số liệu kê khai; lưu giữ đầy đủ tại cơ sở các hồ sơ khác liên quan đến hoàn thuế, khấu trừ thuế; cung cấp đầy đủ hoá đơn, chứng từ
và hồ sơ có liên quan làm cơ sở xác định số thuế GTGT được hoàn khi cơ quan thuế yêu cầu thanh tra hoàn thuế tại cơ sở
- Cơ quan thuế: thực hiện tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế, kiểm tra hồ sơ hoàn
thuế, quản lý chặt chẽ việc hoàn thuế Thông báo bằng văn bản và gửi trả hồ sơ cho cơ sở kinh doanh không thuộc đối tượng được hoàn thuế; yêu cầu cơ sở kinh doanh bổ sung hồ sơ hoặc lập lại hồ sơ trong trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc
đối tượng được hoàn thuế nhưng hồ sơ chưa lập đầy đủ, đúng quy định Kiểm tra
số liệu, xác định số thuế được hoàn của các đối tượng được hoàn thuế Ra quyết
định hoàn thuế cho đối tượng được hoàn thuế Thực hiện kiểm tra, thanh tra hoàn thuế tại cơ sở đối với các trường hợp phát hiện hồ sơ có dấu hiệu nghi vấn, đối tượng hoàn thuế vi phạm quy định của Luật thuế
- Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước các cấp: Trong thời gian tối đa là 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoàn thuế của cơ quan thuế, Kho bạc Nhà nước các cấp thực hịên việc chi hoàn thuế cho các đối tượng
2.6.3 Thẩm quyền giải quyết hoàn thuế
Cục trưởng cục thuế xem xét, ra quyết định hoàn thuế cho các đối tượng
được hoàn thuế GTGT thuộc quyền quản lý của cục thuế Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính ra quyết định hoàn thuế cho các đối tượng và trường hợp đặc biệt khác
2.6.4 Thời hạn giải quyết hoàn thuế
- Thời hạn giải quyết hoàn thuế đối với đối tượng áp dụng hoàn thuế trước kiểm tra sau tối đa là 15 ngày (03 ngày đối với các dự án sử dụng vốn ODA) kể
từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định
- Thời hạn giải quyết hoàn thuế đối với đối tượng áp dụng kiểm tra, thanh tra tại cơ sở trước khi hoàn thuế tối đa là 60 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ
hồ sơ theo quy định
2.7 Tổ chức quản lý thu thuế GTGT
Thuế GTGT là một sắc thuế tiên tiến, chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu thuế, song nó cũng đòi hỏi công tác quản lý phải hết sức chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến thất thu lớn hoặc thậm chí bị thất thoát ngân sách Nhà nước qua hoàn thuế Trọng tâm của công tác quản lý thuế GTGT bao gồm quản lý đối tượng nộp thuế, quản lý hoá đơn chứng từ và quản lý công tác hoàn thuế GTGT
Trang 82.7.1 Quản lý đối tượng nộp thuế
Đây là khâu đầu tiên, quan trọng nhằm đưa các cơ sở sản xuất kinh doanh vào diện quản lý của cơ quan thuế Thực hiện quản lý tốt khâu này vừa góp phần tránh được thất thu thuế do không bao quát hết số đối tượng nộp thuế, đông thời
đảm bảo sự đóng góp công bằng giữa các cơ sở kinh doanh Trong điều kiện hiện nay, môi trường kinh doanh ngày một được cải thiện, nhiều cơ sở kinh doanh mới được thành lập, lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngày một đa dạng do đó công tác quản lý đối tượng nộp thuế cần được chú trọng và tăng cường trên tất cả các phương diện như như quản lý về số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh, quy mô, ngành nghề, địa bàn, phương pháp nộp thuế GTGT,… Để quản lý tốt đối tượng nộp thuế GTGT, trước hết, cần có sự cố gắng nỗ lực của cơ quan quản lý thu thuế Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan cấp giấy phép đăng ký kinh doanh với cơ quan thuế để có thể nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động của các cơ sở kinh doanh từ đó có biện pháp quản lý thích hợp, phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật của các cơ sở kinh doanh
2.7.2 Quản lý hoá đơn chứng từ
Hoá đơn chứng từ là căn cứ quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa
vụ thuế GTGT Đặc thù của sắc thuế này là việc khấu trừ thuế và hoàn thuế mà hiệu quả của việc thực hiện nó phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý hoá đơn chứng từ làm cơ sở xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, số thuế GTGT phải nộp và số thuế GTGT được hoàn Nếu công tác quản lý hoá đơn, chứng từ không tốt sẽ có hậu quả không nhỏ, mà nổi cộm nhất là vấn đề trốn lậu thuế gây thất thoát lớn cho NSNN Để quản lý tốt hoá đơn chứng từ, về phía cơ quan quản lý cần có quy định chặt chẽ rõ ràng chặt chẽ từ khâu in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn; quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm Ngoài ra, để công tác quản lý hoá đơn chứng từ có hiệu quả, cần tăng cường công tác thanh kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc cấp phát và sử dụng hoá
đơn chứng từ, thực hiện xử lý nghiêm minh và có hình phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm Hơn nữa, cần có biện pháp thích hợp khuyến khích các
đối tượng tiêu dùng, đặc biệt là dân cư khi mua hàng phải lấy hoá đơn
2.7.3 Quản lý công tác hoàn thuế GTGT
Hoàn thuế GTGT là một trong những nội dung rất quan trọng của Luật thuế GTGT, góp phần phát huy tác dụng tích cực của sắc thuế này trong việc khuyến khích và thúc đẩy các cơ sở kinh doanh xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giải quyết khó khăn về vốn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh Khâu hoàn thuế GTGT là một khâu rất dễ xẩy ra các gian lận để chiếm
đoạt Do vậy, công tác hoàn thuế phải được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo vừa hoàn thuế đúng, kịp thời cho các đối tượng được hoàn, vừa phải kiểm tra kiểm soát, phát hiện và ngăn ngừa sự chiếm đoạt tiền thuế của NSNN Để thực hiện tốt việc hoàn thuế GTGT, trước hết, cần có quy trình hoàn thuế rõ ràng, cụ thể; tăng cường phối kết hợp kiểm tra thanh tra trong nội bộ ngành thuế, nâng cao trình độ trách nhiệm của cán bộ làm công tác hoàn thuế Ngoài ra, cần chủ động chuyển dần sang áp dụng các công nghệ hiện đại, ứng dụng tin học trong quản lý thuế
Trang 9Chương 5 Thuế thu nhập doanh nghiệp
1 Giới thiệu chung về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.1 Khái niệm, đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là thuế tính trên thu nhập chịu thuế
của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế
Thuế thu nhập doanh nghiệp (một số nước gọi là thuế thu nhập công ty) ra
đời bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau đây:
- Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội
- Thuế TNDN là một trong các nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước và có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, đầu tư gia tăng, thu nhập của các doanh nghiệp và của các nhà
đầu tư tăng lên làm cho khả năng huy động nguồn tài chính cho nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng ổn định và vững chắc
- Xuất phát từ yêu cầu phải quản lý các hoạt động đầu tư và kinh doanh trong từng thời kỳ nhất định, thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, sử dụng thuế suất và các ưu đãi thuế TNDN, nhà nước thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô
Thuế thu nhập doanh nghiệp có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đồng thời cũng là “người” chịu thuế
Thứ hai, thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư Thuế GTGT, thuế TTĐB là một số tiền cộng thêm vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ, người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ là người tập hợp thuế và nộp vào kho bạc, bởi vậy, nó chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng hàng hóa Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế TNDN
Thứ ba, thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế thu nhập cá nhân Thu nhập
mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên doanh, liên kết…là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN Do vậy, thuế TNDN cũng có thể coi là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân
ở các nước tuy có sự khác nhau về phạm vi bao quát, đối tượng áp dụng, các mức thuế suất hoặc các ưu đãi thuế TNDN, nhưng trong cách thiết lập thuế TNDN đều quán triệt các nguyên tắc cơ bản nhất định
1.2 Nguyên tắc thiết lập thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 10Thứ nhất, thuế TNDN phải bao quát được mọi khoản thu nhập phát sinh trong hoạt động của các doanh nghiệp Việc bỏ sót nguồn thu không chỉ làm ảnh
hưởng tới thu NSNN mà còn vi phạm nguyên tắc công bằng khi đánh thuế Tuy nhiên, khi thiết kế thuế TNDN, tùy vào mục đích điều tiết hoặc các mục đích khác trong quản lý của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định, theo quy định của pháp luật có những khoản thu nhập không trong phạm vi điều tiết của thuế TNDN, hoặc tạm thời chưa nằm trong phạm vi điều tiết của thuế TNDN
Thứ hai, thống nhất cách xác định thu nhập chịu thuế Để xác định chính
xác thu nhập chịu thuế và đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế TNDN cần có sự thống nhất trong cách xác định thu nhập chịu thuế Một số nhà kinh tế đưa ra quan điểm đánh thuế TNDN đối với toàn bộ thu nhập của các nhà
đầu tư đó là thu nhập bằng tiền mặt và cả phần lãi vốn đầu tư, dù lãi đó đang ở dạng tiềm ẩn (có thể nhận được trong tương lai - theo định nghĩa thu nhập hoàn chỉnh của Haig - Simons) Về phương diện lý thuyết thì quan điểm này có thể chấp nhận và đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp, giữa các nhà đầu tư Nhưng trên thực tế thì lại khác, để có được thu nhập giống nhau thì mỗi chủ thể tạo ra thu nhập lại có chi phí khách quan khác nhau (chẳng hạn chi phí tiền lương, chi phí quản lý, chi phí khắc phục rủi ro…), hoặc khó có thể xác định
được chính xác số thu nhập sẽ nhận được trong tương lai Nên nếu dựa vào thu nhập hoàn chỉnh để làm cơ sở đánh thuế thì nguyên tắc công bằng không được
đảm bảo và không khả thi Do đó thu nhập chịu thuế phải được xác định trong các trường hợp cụ thể:
- Xác định nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo nguyên tắc cơ sở thường trú và nguồn phát sinh thu nhập Theo đó, sẽ xác định được doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế ở nước nào và doanh thu để tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp Theo nguyên tắc cơ sở thường trú, một doanh nghiệp được coi là cơ sở thường trú của nước nào thì bị đánh thuế trên mọi khoản thu nhập, bất kể thu nhập đó phát sinh ở trong nước hay ở nước ngoài Theo nguyên tắc nguồn phát sinh thu nhập, một doanh nghiệp bị đánh thuế vào khoản thu nhập nếu khoản thu nhập đó phát sinh tại nước đánh thuế, bất kể doanh nghiệp đó có phải là cơ sở thường trú của nước đó hay không
- Thu nhập phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp phải là thu nhập bằng tiền hoặc tính ra được bằng tiền và ghi nhận trong kỳ tính thuế
- Thu nhập chịu thuế TNDN được xác định trên cơ sở doanh thu của doanh nghiệp và các khoản chi phí gắn liền với quá trình tạo ra doanh thu Tuỳ theo
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước trong từng thời kỳ nhất định mà các khoản chi phí miễn trừ được pháp luật quy định khác nhau
Thứ ba, nguyên tắc khấu trừ chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế
Thuế TNDN thực chất điều tiết vào lợi nhuận của doanh nghiệp, trong khi
đó, lợi nhuận của doanh nghiệp bị phụ thuộc vào doanh thu từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các khoản chi phí Pháp luật của mỗi nước quy
định các khoản chi phí được khấu trừ để xác định thu nhập chịu thuế có khác nhau, nhưng thông thường phải là chi phí hợp lý và khi khấu trừ phải quán triệt các nguyên tắc sau:
Trang 11- Các khoản chi phí được khấu trừ phải là những khoản chi phí có liên quan tới việc tạo ra thu nhập của doanh nghiệp
- Đó là các khoản chi phí thực sự có chi ra và có căn cứ hợp pháp
- Là các khoản chi phí có mức trả hợp lý: phù hợp với giá cả thị trường hoặc các định mức kinh tế, kỹ thuật
- Khoản chi đó phải có tính thu nhập hơn là tính vốn
Tuy nhiên, trên thực tế trong những trường hợp cụ thể việc xác định các khoản chi phí được khấu trừ còn tùy thuộc vào tính chất phát sinh thu nhập và chi phí có liên quan
Thứ tư, quy định thời gian để xác định thu nhập chịu thuế
Do tính chất phức tạp của các khoản thu nhập phát sinh và thời gian nhận
được các khoản thu nhập, có những khoản thu nhập doanh nghiệp nhận được trong một năm, nhưng cũng có những khoản thu nhập nhận được trong nhiều năm, nên việc quy định thời gian để xác định doanh thu và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp có tính ước định để sao cho cách tính toán đơn giản, đảm bảo công bằng giữa đối tượng nộp thuế, đảm bảo nguồn thu cho NSNN và đảm bảo tính khả thi của việc đánh thuế Trong thực tiễn các nước có quy định khác nhau
về thời gian xác định doanh thu làm cơ sở tính thuế, nhưng thông thường là năm tài chính (12 tháng)
Thứ năm, xác định thuế suất thuế TNDN hợp lý
Thuế TNDN bị chi phối trực tiếp bởi các chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước, do đó, trong khi thiết kế nên có thuế suất phổ thông, có các mức thuế suất
ưu đãi và các trường hợp miễn, giảm thuế Quy định như vậy là cần thiết để khuyến khích các nhà đầu tư trong các ngành nghề kinh doanh hoặc các lĩnh vực nhất định, nhưng không nên quá phức tạp, vừa làm giảm cơ sở tính thuế, vừa tạo
điều kiện để đối tượng nộp thuế có thể tránh thuế và chi phí quản lý thuế tốn kém
1.3 Quá trình hình thành, phát triển thuế TNDN trên thế giới và ở Việt Nam
Thuế TNDN (ở một số nước gọi là thuế thu nhập công ty, thuế công ty, hoặc thuế lợi tức), đã được áp dụng từ lâu ở nhiều nước trên thế giới Các nước áp dụng thuế TNDN sớm vào khoảng giữa và cuối thế kỷ 19 như: Anh, Nhật; một
số nước khác áp dụng vào khoảng đầu thế kỷ 20 như: Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô
cũ, Trung Quốc… Mỗi nước khi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp đều có những hoàn cảnh riêng, nhưng tựu trung xuất phát từ các lý do chủ yếu như: do nhu cầu tăng chi của NSNN khi nhà nước có những cải cách nhất định; do xu hướng đòi hỏi sự bình đẳng, dân chủ của công dân trong khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và nền kinh tế ở nước đó phát triển đến một mức độ nhất
định Thuế TNDN ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN ở các nước áp dụng thuế TNDN, ví dụ ở Nhật, thuế thu nhập công ty năm 2000 chiếm
tỷ trọng 19,6% trong tổng thu NSNN, đã có thời kỳ lên tới 30% tổng thu NSNN;
ở Pháp thuế thu nhập công ty năm 2001 chiếm khoảng 20% tổng số thu từ thuế;
ở các nước Thụy Điển, Canada, Mỹ, thuế thu nhập công ty thông thường chiếm khoảng từ 20% đến 25% tổng số thu từ thuế và tương đối ổn định
Trang 12ở Việt Nam, thuế TNDN có xuất xứ từ khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng
đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ 1953 đến trước 1/1/1990 Chế độ trích nộp lợi nhuận được áp dụng đối với tất cả các xí nghiệp quốc doanh
và xí nghiệp công tư hợp doanh, có sự phân biệt mức thuế suất áp dụng đối với xí nghiệp thuộc các ngành sản xuất hoặc dịch vụ khác nhau Ví dụ, ngành công nghiệp nặng, khai thác mỏ, sản xuất, xây dựng, vận tải thuế suất 40% trên lợi nhuận thực hiện; các xí nghiệp thuộc ngành kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu và dịch vụ áp dụng thuế suất là 60% trên lợi nhuận thực hiện Thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với mọi đối tượng ngoài quốc doanh có hoạt động sản xuất kinh doanh công thương nghiệp, dịch vụ, thuế suất phân biệt theo tính chất ngành nghề kinh doanh và hình thức sở hữu
Từ 1/1/1990 đến trước ngày 1/1/1999 thuế lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế thay cho chế độ trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Cơ sở tính thuế lợi tức là lợi tức doanh nghiệp và thuế suất Mức thuế suất phổ thông là 30%, 40%, 50%; từ năm 1993 các mức thuế suất được giảm tương ứng là 25%, 35%, 45% trên lợi tức đạt được Ngoài
ra, đối tượng nộp thuế còn phải nộp thuế lợi tức bổ sung khi có lợi tức do lợi thế khách quan, hoặc có lợi tức được chia do góp vốn vượt mức nhà nước quy định Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng thuế lợi tức theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với mức thuế suất phổ thông thấp hơn so với các doanh nghiệp trong nước
Từ 1/1/1999 cho tới trước ngày 1/1/2004 thuế TNDN được áp dụng thống nhất đối với các đối tượng kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thay cho thuế lợi tức, mức thuế suất phổ thông đối với các doanh nghiệp trong nước là 32%; đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 25% Sau 5 năm thực hiện, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ ba đã thông qua Luật thuế TNDN (sửa đổi) và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2004 áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau kể cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Qua các thời kỳ, theo pháp luật thuế lợi tức, thuế TNDN thì các nội dung cụ thể về phạm vi đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, hệ thống thuế suất, chế
độ miễn giảm thuế và các vấn đề quản lý thuế được quy định khác nhau, nhưng
có một số nguyên tắc chung để xác định cơ sở tính thuế, các ưu đãi thuế, về cơ bản, được quan niệm thống nhất Do vậy, thuế TNDN ngày càng được hoàn thiện phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế Tỷ trọng thuế TNDN ở Việt Nam trong tổng số thu thuế và phí trong nước ngày càng tăng trong những năm gần đây, năm 1999 chiếm 19,7%; năm 2000 chiếm 25,8%; năm 2001 chiếm 26,1%; năm
2002 chiếm 28,5% Những con số trên cho thấy rõ hơn sự cần thiết của thuế TNDN trong hệ thống thuế
Thuế TNDN hiện hành ở Việt Nam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Luật thuế TNDN số 09/2003/QH 11 ngày 17/6/2003
Trang 13- Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNDN
- Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/QĐ-BTC ngày 22/12/2003 của Chính phủ
- Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính về ban hành Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định
- Thông tư số 88/2004/TT-BTC ngày 1/9/2004 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 128/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính
2 Nội dung cơ bản của thuế TNDN hiện hμnh ở Việt Nam 2.1 Đối tượng nộp thuế
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế, trừ đối tượng sau đây:
- Các hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ chức kinh tế tập thể có thu nhập từ hoạt động chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản
- Hộ gia đình, cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao không quá mức Chính phủ quy định từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
2.2 Đối tượng chịu thuế
Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập chịu thuế của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác (tính theo năm dương lịch hoặc năm tài chính)
TNCT khác trong
kỳ tính thuế
2.3.1 Doanh thu tính thu nhập chịu thuế
Là toàn bộ số tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ sau khi đã trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại, nhưng bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng
Nếu cơ sở nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thì doanh thu không bao gồm thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra
Nếu cơ sở nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu gồm cả thuế GTGT đầu ra của hàng hóa, dịch vụ
Việc xác định doanh thu của các hoạt động giao dịch dựa trên các cơ sở sau
đây:
Trang 14+ Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản thu đã hoặc sẽ thu được
+ Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp
lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi đã trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại
+ Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo
tỷ lệ lãi suất hiện hành
+ Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ và cộng vào các khoản thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch
vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ và cộng vào các khoản thu thêm
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau đây:
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
+ Xác định chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Doanh thu của một số ngành đặc thù được quy định như sau:
+ Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp được xác định theo giá bán trả tiền một lần, không bao gồm lãi trả chậm Trường hợp việc thanh toán theo hợp đồng mua bán trả góp kéo dài nhiều kỳ thì doanh thu để tính TNCT là
số tiền phải thu của người mua trong kỳ tính thuế, không bao gồm lãi trả chậm Việc xác định doanh thu, chi phí trong trường hợp này thực hiện theo nguyên tắc chi phí phải phù hợp với doanh thu
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng, trang bị, thưởng cho người lao động doanh thu để tính TNCT được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi, biếu, tặng
+ Đối với sản phẩm tự dùng, doanh thu để tính TNCT là chi phí để sản xuất
ra sản phẩm đó
+ Đối với gia công hàng hoá, doanh thu để tính TNCT là tiền thu về gia công, bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, VLP, động lực, và các chi phí khác phục
Trang 15+ Đối với cơ sở kinh doanh nhận làm đại lý, ký gửi bán hàng theo đúng giá quy định của cơ sở kinh doanh giao đại lý, ký gửi là tiền hoa hồng được hưởng + Đối với hoạt động cho thuê nhà, thuê tài sản, doanh thu để tính TNCT là
số tiền thu từng kỳ theo hợp đồng Trường hợp bên thuê trả trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định phù hợp với việc xác định chi phí của cơ sở kinh doanh Tuỳ theo điều kiện về việc xác định chi phí hợp lý, cơ sở kinh doanh có thể lựa chọn một trong hai phương pháp xác định doanh thu như sau:
Doanh thu trả trước
- Số tiền thuê xác định theo từng năm =
Số năm trả trước
- Số tiền thuê trả trước cho nhiều năm
Riêng cơ sở kinh doanh và cá nhân chưa thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ theo chế độ quy định, có hoạt động cho thuê tài sản mà bên thuê trả trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền thuê thu được
Trường hợp cơ sở kinh doanh trong thời gian ưu đãi thuế lựa chọn phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền thuê bên thuê trả trước cho nhiều năm thì phần thu nhập được giảm thuế được xác định như sau:
Tổng thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế được
miễn, giảm thuế = Số năm bên thuê trả trước x
Số năm được miễn, giảm thuế
+ Doanh thu từ hoạt động cho vay, thu lãi tiền gửi, thu nghiệp vụ cho thuê tài chính là số lãi phải thu trong kỳ được xác định như sau:
- Số lãi phải thu của các khoản nợ quá hạn không đưa vào doanh thu, tổ chức tín dụng theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán, khi thu được thì hạch toán vào thu nghiệp vụ
- Số lãi phải thu của các khoản cho vay trong hạn đã đưa vào doanh thu nhưng sau 90 ngày khách hàng chưa thanh toán, hoặc chưa đến 90 ngày nhưng
đã xác định là không thu được số lãi thì được loại trừ khỏi doanh thu để tính thu nhập chịu thuế Khoản doanh thu được giảm này tổ chức tín dụng theo dõi ngoại bảng, khi thu được thì hạch toán vào thu nghiệp vụ
+ Doanh thu vận tải hàng không là toàn bộ số tiền doanh nghiệp vận tải hàng không được hưởng từ việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá sau khi đã hoàn thành dịch vụ vận chuyển, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
+ Doanh thu bán điện là số tiền ghi trên hoá đơn GTGT Thời điểm xác
định doanh thu để tính TNCT căn cứ vào ngày cuối cùng ghi chỉ số công tơ trên hoá đơn tính tiền điện, không phân biệt đầu tháng hay cuối tháng Ngày cuối cùng ghi chỉ số công tơ thuộc tháng nào thì tính vào doanh thu của tháng đó Đối với các dịch vụ có hoạt động xuất hoá đơn tương tự như nước, bưu điện thì cũng xác định như trên
+ Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm, doanh thu để tính TNCT là số tiền phải thu về phí bảo hiểm gốc, phí đại lý giám định, phí nhận tái bảo hiểm, thu hoa hồng tái bảo hiểm và các khoản khác
+ Đối với hợp đồng hợp tác kinh doanh theo hình thức chia sản phẩm, doanh thu để tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định như sau:
Trang 16- Giá bán hàng hoá ghi trong hoá đơn bán hàng đối với hàng hoá bán tại thị trường Việt Nam
- Giá FOB tại các cửa khẩu xuất khẩu hàng hoá đối với hàng hoá xuất khẩu + Trường hợp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có doanh thu bằng ngoại
tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do NHNN Việt Nam công bố tại thời
điểm phát sinh doanh thu ngoại tệ
2.3.2 Những khoản chi phí hợp lý để tính thu nhập chịu thuế
Các khoản chi phí phải liên quan đến việc tạo ra doanh thu, được xác định
đồng thời với doanh thu theo nguyên tắc phù hợp
1 Khấu hao tài sản cố định
a/ TSCĐ được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN,
về nguyên tắc phải đảm bảo 3 điều kiện sau:
+ TSCĐ phải có đầy đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp chứng minh TSCĐ đó thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh
+ TSCĐ sử dụng vào sản xuất kinh doanh
+ TSCĐ phải được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của cơ
sở kinh doanh theo chế độ quản lý và hạch toán kế toán hiện hành
b/ Mức trích khấu hao được xác định theo Chế độ quản lý, trích khấu hao
TSCĐ ban hành kèm theo quyết định số 206/2003/QĐ- BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Theo Chế độ này, TSCĐ của doanh nghiệp phải
được tính khấu hao theo một trong 3 phương pháp sau:
+ Phương pháp đường thẳng Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh
tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác
định theo phương pháp đường thẳng để đổi mới công nghệ (Khi thực hiện khấu hao nhanh phải đảm bảo có lãi) Các loại tài sản cố định được trích khấu hao
nhanh là: máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm; thiết bị và phương tiện vận tải; dụng cụ quản lý; súc vật, vường cây lâu năm
Phương pháp xác định chi phí khấu hao theo phương pháp đường thẳng như sau:
Nguyên giá tμi sản cố định Mức trích khấu hao mỗi
năm = Số năm sử dụng tμi sản cố định
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh (với hai điều
kiện kèm theo cần thoả mãn đồng thời là: (1) là TSCĐ đầu tư mới, chưa qua sử dụng; (2) là các loại máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm) Phương pháp này được áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh
Nội dung phương pháp này như sau:
Mức trích khấu hao tμi sản
cố định hμng năm =
Giá trị còn lại của tμi sản
Tỷ lệ khấu hao nhanh