1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU CÁC PHONG CÁCH TRONG ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHĂM PA

185 960 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 32,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chămpa luôn là một “bí ấn” lớn đối với các nhà nghiên cứu và nguồn cảm hứng vô tận cho những người say mê nó. Nói đến Chămpa không thể không nhắc đến những điệu múa chăm, không thể không nhắc đến những thành, tháp, đền mà người Chăm đã để lại đó là một nền vă hóa lớn của một trong ba nền văn hóa nổi bật và đang được quan tâm nhiều hiện nay ở khu vực Đông Nam Á.

Trang 1

Vương quốc Chămpa hình thành và phát triển trêndải ven biển miền trung Việt Nam và một phần cao nguyênTrường Sơn; lúc lớn mạng nhất trải dài từ Hoành Sơn, sông danh

ở phía Bắc đến sông Dinh – Hàm Tân, ở phía Tây Nam đến lưuvực Krong Pô Cô và sông Đà Rằng trên Tây Nguyên Về phíađông, họ thật sự làm chủ cả vùng ven biển đông cùng với dãy đảogần bờ cư sân chủ yếu của vương quốc này là người Chăm,trước dây còn gọi là Chàm, Chiêm, nói thiếng Malay – Chamic,giữ văn hoá truyền thống Chămpa vẫ sinh sống ở đất củ ven biểnmiền trung, hoặc đồng bằng sông Cửu Long ở miêng Nam Một

bộ phận khác không ít, khảng 2 vạn người sống ở Bình Định vàPhí Yên, tự gọi là người Chăm Hơroi,cũng nói tiếng Malayo –Chamic, nhưng không biết chữ Chăm và không bó gì với văn hoáchăm

Trang 2

Nghệ thuật điêu khắc đá chămpa có nhiều giai đoạn

và nhiều phong cách, mỗi giai đoạn và mỗi phong cách gắn vớimột giai đoạn lịch sử của người vương quốc này

Trong đề tài này nhóm chúng tôi sẽ trình bày haiquan điểm tiêu biểu của: Trần Kì Phương và Cao Xuân Phổ vềcác phong cách điêu khắc trong điêu khắc đá Chawmpa À theo ýkiến của nhóm Tuy có nhiều phong cách và mỗi phong cách cónét đẹp riêng, đặc trưng riêng., nhưng phong cách trà kiệu làphong cách đẹp nhất và nổi bật nhất

Việt nam có khoảng 70% diện tích là đồi núi vớinhiều mỏ đá, nhiều chủng loại đá khác nhau, vì thế việc sử dụng

đá vào các công trinh kiến trúc, điêu khắc là rất phổ biến Ngay

từ thời xa xưa, con người đã biết đẽo gọt đá để làm công cụ laođộng nhằm duy trì sự sống và tạo đồ trang sức làm đẹp cho bảnthân Khi xã hội ngày càng phát triển, công dụng của đá được mởrộng hơn, do tính chất tự nhiên của nó, đá không chỉ được dùnglàm trong công trình xây dựng, mà còn được dùng để tạc tượng,chạm khắc các bức phù điêu trang trí trong chùa, đền, tháp, cungđiện…

Đá tạc tượng và làm các công trình kiến trúc đượclựa chọn rất kỹ, đó có thể là khối đá nguyên sau đó được người tacắt xén, hoặc là những mảnh ghép lại với nhau tạo nên thànhkhối, từng mảnh Sau khi có được khối đá như ý, người ta vậnchuyển về xưởng chế tác tại các địa phương, và ở đây, người tabắt đầu tiến hành công việc của mình

Trang 3

Để tạc được bức tượng đá, hay trạm trổ hoa văn trên đá,nghệ nhân phải sử dụng đến búa sắt, mũi bạt (là mũi ve như cáiđục bạt của người thợ mộc), đục nhọn, đục móng, đục vuông nhỏgiấy ráp (dùng để đánh bóng) Nghề làm chạm khắc đòi hỏingười nghệ nhân phải bền bỉ, kiên nhẫn bởi chỉ một sơ xuất nhỏcũng có thể khiến tác phẩm bị biến dạng Xưa nay, chạm khắc đáđược dùng nhiều nhất trong lĩnh vực tạc tượng, đó có thể làtượng người hay tượng động vật hoặc các hoa văn trong các đềntháp.

Tượng được tạc bằng đá chủ yểu là tượng Phật, tượng LaHán, những tượng này được đặt trong các ngôi đền, chùa; tiếpđến là tượng Thần linh, đặc biệt là các vị thần của Balamon giáo(Shiva, Visnu, Brahma), tượng vũ công Sau này còn có tượngvua quan các triều đại phong kiến Bên cạnh đó còn có rất nhiềutượng động vật

Đá cũng được dùng để chạm khắc các bức phù điêu với nộidung chủ yếu kể về tích truyện, huyền thoại, truyền thuyết củaPhật và các vị thần linh, cũng có khi đó lại là các bức tranhphong thuỷ hữu tình Hầu hết các bức phù điêu đều có hoa văntrang trí cách điệu rất đẹp mắt và sinh động

Đá được dùng để xây dựng các công trình tôn giáo (như tháp, nhàthờ) và các cung điện, lăng tẩm, tường hào…

Sở dĩ đá được sử dụng đa dạng như vậy bới vì nó làmột chất liệu có độ bền cao, chịu được nhiều loại thời tiết khắcnghiệt Hơn nữa nó cũng là một chất liệu dễ tạo hình, gây cảm

Trang 4

hứng cho người sáng tác, vả lại bản thân đá đã có một sắc màu tựnhiên vừa hoang sơ, vừa sinh động nên người ta không nhất thiếtphải sơn son thếp vàng cho nó nữa Những công trình kiến trúc,những bức tượng, phù điêu…được làm nên từ đá trông rất cóhồn, chân thực, bởi nó là sản phẩm của một quá trình lao độngsáng tạo của nghệ nhân với trình độ thẩm mĩ điêu luyện.

Ngày nay đá vẫn tiếp tục được sử dụng để làm nênnhững bức tượng Phật cho các ngôi chùa, làm phù điêu và rấtnhiều công trình kiến trúc có giá trị cao, và người ta có thể thấyđược các xưởng chế tác đá này nằm rải rác trong khắp cả nước,chẳng hạn như vùng núi Kính Chú (Hải Dương), vùng núi venbiển Sầm Sơn (Thanh Hoá), núi Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng)…

Và phong cách trà kiệu là phong cách có nhiều tác phẩm nhất và

là có những tá phẩm đẹp nhiều nhất Mặc dù phong cách đồngdương đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhưngkhông vì thế mà làm mờ đi những nét đẹp gần như toàn vẹn và cókhuynh hướng cổ điển của phog cách trà kiệu

Trang 5

Chương I.

KHÁI QUÁT VỀ VƯƠNG QUỐC CHĂMPA

I Đôi nét về Lịch sử hình thành và phát triển của vương quốc

champa ( Phạm Thị Ngọc Bích: 0664007)

I.1.Lâm Ấp ( 192 – 749)

Vương quốc Chămpa hình thành và phát triển trêndải ven biển miền trung Việt Nam và một phần cao nguyênTrường Sơn; lúc lớn mạng nhất trải dài từ Hoành Sơn, sông danh

ở phía Bắc đến sông Dinh – Hàm Tân, ở phía Tây Nam đến lưuvực Krong Pô Cô và sông Đà Rằng trên Tây Nguyên Về phíađông, họ thật sự làm chủ cả vùng ven biển đông cùng với dãy đảogần bờ cư sân chủ yếu của vương quốc này là người Chăm,trước dây còn gọi là Chàm, Chiêm, nói thiếng Malay – Chamic,giữ văn hoá truyền thống Chămpa vẫ sinh sống ở đất củ ven biểnmiền trung, hoặc đồng bằng sông Cửu Long ở miêng Nam Một

bộ phận khác không ít, khảng 2 vạn người sống ở Bình Định vàPhí Yên, tự gọi là người Chăm Hơroi,cũng nói tiếng Malayo –Chamic, nhưng không biết chữ Chăm và không bó gì với vănhoác chăm Như vậy, chủ nhân của nền văn hoá Sa Huỳnh - nềnvăn hoá sắt sớm mang đậm dấu ấn văn hoá biển, Nam Đảo là tiềnthân của người Chăm, dân nói tiếng Malayo – Plynesia, của vănhóa Chăm cà của cương quốc Chămpa

Năm 111 trứơc công nguyên, nhà Hán thay thế nhàTriệu xâm lược và thống trị nhước Âu Lạc Ngoài hai quận Giao

Trang 6

Chỉ, Cửu Chân, nhà Hán lập thêm quận Nhật Nam ( là từ HoànhSơn có lẽ đến đèo Cù Mông chia là năm huyện: Tây quyrnr, chuNgô, Tỷ Cảnh , Lô Dung và Tượng Lâm1( là đất quãng Nam,Quãng Ngãi ngày nay) Không chịu được thống trị tàn bạo và bóclột dã man của nhà Hán, nhân dân ở các quận nổi dậy., cuối thế kỉthứ II, dân tượng Lâm nơi xa xôi nhất đã đath được thắng lợitrước tiên, họ noỏi dậy hiết huyện lệnh, giành quyền tự chủ vàlập nước., quốc gia mới thành lập của Tượng Lâm được thư tịch

cổ Trung Hoa gọi là Lâm Ấp, tên nước được gọi chính thức trongvăn bia là Chămpa thế kỉ III và IV Chămpa la tên của một loàihoa đẹp – hoa ngọc Lan Chămpaca Linnae, nước Lâm Ấp ( vàocuối thế kỉ II) rồi đến Chămpa thành lập và phát triển

Lương thư tức bộ sử nhà Lương (502-556) do Diêu

Tư Liêm biên soạn vào thế kỷ thứ VII cho biết một cách hệ thống

về nước Lâm Ấp thời kỳ mới thành lập

Liên Khu làm vua mấy chục năm, rồi vì không cócon, cháu ngoại là Phạm Hùng Thay, cho đén khoảng cuối thê skỉthứ III tiếp đó con là Phạm Dật nối ngôi, làm vua trong 12 năm (337- 349) Phạm văn vốn là người hầu của viên quan võ huyệnTây Quỷên, quận Nhật Nam ( có lẽ cũng là người bản xứ), sautheo Hầu Dật có tài đức được làm tướng Sau Phạm Văn làPhạm Phật, con của Phạm văn ở ngôi từ năm 349 – 361, rồi đếnPhạm Tu Đạt ( hay Phạm Hồ đạt) cháu của Phạm Phật làm vuavào cuối thế kỉ IV - đến đầu thể kỉ V Trong một khoảng thờigian dài nước Chămpa có diễn ra nhiều biến cố và có nhiều thây

1 tiền Hán tuhư, Q28, tờ 10b.dẫn theo sách vương quốc Chămpa, NXB ĐHQG Hà Nội,

Trang 7

đổi về ngôi vua và dòng tộc, các bia kí CHăm cổ đã xung cấp chochúng ta những cứ liệu, tuy ít ỏi nhưng lại chuẩn xác về sựchuyển biến từ nhà nước Lâm Ấp sang vương quốc Chămpa Chođến nay, chưa có một cơ sở nào để có thể đồng nhất các vị vuatrước thế kỉ thư VI mà các bia kí nói tới với các vị vua Lâm Ấp.Như từ vua Sambhuvarman (đầu htế kỉ thứ VII trở đi các vuaChămpa mà các bia kí nhắc tới đều trùng kjớp với tên các vuaLâm Ấp trong sử sách Trung Quốc: Sambhuvảman là Phạm PhạnChí hay Phạm Chí ( 595 – 629 ) Phạm Đầu Lê – Kandarpadhama( 629 - ? ); Phạm Trấn Long – Bhasadharrma ( ? – 645); Bạt-đà-la-thư-la-bạt-la – Bhadresvaravarman ( 645 - ?); Chư Cát Địa( hay Tị-kiến-đà-bạt-ma)- Vikrantavarma I ( 653 – 679), Kiến-đa-đạt-ma ( hay tỉ-kiến-đà-bạt-ma) Vikrantavarma II( khoảng 686 –

731 ) và Lư-đà-la ( hay luật-đà-la-bạt-ma II) – Rudravarman II(731 – 757) Do đó hoàn toàn có thể khẳng định rằng , chỉ từ đầuthế kỉ VII Lâm Ấp mới chuyển thành Chămpavà thủ đô l úc này

đã dời xuống phía Nam hơn – vùng trà Kiệu ( kinh đôSinhapura)

I.2 Hoàn Vương ( 758 – 859 )

Từ sau năm 749, cái tên Lâm Ấp không còn xuấthiện trong sử sách Trung Quốc nữa mãi đến năm 758, Chămpalại xuất hiện trong thư tịch cổ Trung Quốc, nhưng với một cáitên mới: Hoàn Vương Tân đương thư cho chúng ta biết: “ Saunhiên hiệu Chí Đức ( 756 – 758), Lâm Ấp đổi tên là HoànVương” Sự thay đổi tên hiệu ra Hoàn Vương của Chămpa tương

ứ với một thời kì mới khá quan trọng trong Lịch sử vương quốcChămpa: Thời kì bá quyền của các tỉnh miền Nam Bắt đầu từ

Trang 8

prathivindravaman “ là vị vua tối cao đã từng thừa hưởng toàn bộlãnh thổ Chămpa” “ sinh ra từ chủng tộc mặt trăng”( sassijavamsa) và “như là mặt trăng chói lọi trên bầu trời không

có mộu dấu vết nào” và vị vua kế tiếp, ông vua Satyavarmanđược phong tên thuỵ là Isvaraloka Niên điểm cuối cùng màchúng ta biết được về vị vua Vikrantavarman cũng như củavương triều Hoàn Vương là niên đại 854, niên đại của tấm bia PôNagar Khi vua Vikrantavarman mất do không có con, các quantrong triều đã chọn Indravarman (II), Lịch sử Chămpa đã chuyểnsang một thời kì mới - thời kì của vương triều Indrapura phíaBắc Đến đây chấm dứt cả một thời kì, kéo dài đúng 100 năm củathời kì Hoàn Vương

Tuy chỉ kéo dài 100 năm, thời kì Hoàn Vương làmột bước tiếp theo quan trọng trong quá trình hình thành và cũng

cố vương quốc Chămpa Đến thời Hoàn Vương lầ đầu tiên trongLịch sử , vương quốc Chămpa có một sự thống nhất, dù chỉ vềhình thức, duốt từ Bắc đến Nam

I.3 Indrapura ( 875 – 982)

Từ sau niên đại 854 ( niên đại tấm bia của vuaVikrantavarman III ở Pô Nagar, trở đi hầu như không có một tưliệu gì về Hoàn Vương nói riêng và về Chămpa nói chung Chỉvào năm 875, những tài liệu bia kí mới xuất hiện trở lại ởChămpa, nhưngkhông phải ở mniền Nam hay Mỹ sơn mà ở mộtđịa điểm mới: Indrapura ( khu vực Đồng Dương thuộc tỉnhQuãng Nam Đà Nẵng hiện nay Từ thời gian này trở đi ngườiTrung Quốc bỏ quên tên Hoang Vương mà dùng tên “ChiêmThành” là dùng để chỉ Chămpa Với vương triều Indrapura, vai

Trang 9

trò của cộng quốc Chămpa phía Bắc mà các bia kí thể kỉ thứ VII

ở Mỹ Sơn gọi là Campapura bắt đầu thực sự giữ bá quỳên trongLịch sử Chămpa

Quyền đối với Chắmpa của các vua chúa miền Nam chủ thực sựchấm dứt để nhượng bá quyền cho các vua chúa phía Bắc vào lúcIndravaman II lên ngôi vua (ông vua này thuộc dòng tộc Uroja,phía viên của Sambhu) việc trỗi dậy của cương triều Indrapurakhông chỉ đánh dấu sự phực hưng quyền lực trở lại đối vớiChămpa của các vua chúa Campapura phía Bắc, mà còn đánh dấu

sự thay đổi quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm

Ở giai đoạn này phật giáo gần như trỏ thành tôn giáo chính củavương triều và những vị tiếp theo sau này đều mang đậm sắc tháiphật giáo thể hiện qua các văn bia nói tới nhiều nỗi khổ đau củacon người và luân hồi nói tới “ cõi niết bàn tuyệt diệu” Năm 889Indravaman II mất và vị vua mới có tên Jaya Simhavarman lênngôi Tiếp sau đó là các vị vua Jaya Sakrivarman, Bhadavarman

II va Indravarman III ông là chắt của Lyan Vrddhaluka Vào tjờigian này Chămpa đang trong thời kì mạnh lên và đang từng bướcbắt đầu hợp nhất này thì hai nước láng giềng : Đại Việt ở phíaBắc và nhà nước Chân Lạp thống nhất ở Phía nam cũng bước vàothời hưng thịnhNăm 938 người Việt Giành được độc lập vànhanh chóng trở thành quốc gia hùng mạnh Đó là nôic lo củacủa các vua Chămpa

Vào Năm 972, một vị vua xuất hiện ở Chămpa theo

sử sách Trung Quốc gọi là Ba Mĩ Thế và sách Đại Việt sử kí toàn

Trang 10

thư của Việt Nam gọil à Phê Mĩ Thuế2 - Paramesvaravarman, từnăm 972 – 979 liên tụa cử sáu sứ bộ sang Trung Quốc - một sựkiện hiếm thấy trong Lịch sử Chămpa vì sợ sựlớn mạnh của 2nước láng giềng này nên vương quốc Chămpa tìm mọi cách quấyphá biên giói và kéo quân đánh phá Đại Việt vào năm 979

Sau khi Lê Hòan lên ngôi vua với hiệu là Lê Đại Hành và năm

980, nước đại Việt cử hai sứ thần sang chiêm thành nhưng khônghiểu tại sao vua Chăm bắt cả hai sứ thần, “Vua giận mới đóngthuyền chiến, sửa binh khí , tự làm tướng đi đánh và chếm đượcPhê-mi-thuế tại trận …”3 Sự kiện bi thảm trên đối với đấtnướcChiêm Thành xảy ra vào năm 982 Cũng sự kiện này đã đánh dấuhấm hết cho vương triều Indrapura của Chămpa

I.4.Thời kì Chiêm Thành ( 988 – 1471)

I.4.1 Thời kì Vijtya ( 988 – 1177)

Năm 988, khi vua Lê Đại Hành tiến vào kinh đôIndrapura, thò nước này trở nên hỗn loạn Theo Lịch sử TrungQuốc năm 988 ( Đoan cung năm thứ nhất), nhà cầm quyền quãngChâu lại tâu có 301 người Chiêm Thành đến quy phụ … TheoĐại Việt sử kí toàn thư chép: “ Mậu tí, năm thứ 9 (988) ( Tống,Đoang cung năm thứ I) Vua nước Chiêm Thành là Băng VươngLa- duệ ở Phật thành tự đặt hiệu là Cu-thi-lị Ha-thân-bài-mạt-la”4.Vị vua mới ở phật thanh (tức Đô Bàn ở Bình Định hiện nay)này chính là Harivarman II ma các bia kí Chămpa nói tới và cũng

là vị vua đầu tiên dời đô về phía nam ở Vijaya Sau khi dời đô về

2 , 3,4 Đại Việt Sử Toàn thư, tập 1, Sdd,tr 160, 168 – 169, 172 Dẫn theo sách Văn Hoá cổ Chămpa, Ngô Văn Doanh, NXB Văn hoá Dân Tộc, 2002.

3

Trang 11

Vijaya vào năm 1005, vua Yang Ku Pu Vijaya truyền ngooi chomột người mà G Maspero – Harivarman III vào năm 1010 ( vịvua này trị vì khoảng 10 năm) và vào năm 1020 đã truyền ngôicho G Maspero – Paramesvavarman II trong những năm này nộitình củâ vương quốc Chămpa không ổn định và chia rẽ.

I.4.2.Thời kì Panduranda

Kể từ thế kỷ thứ 11, Champa bắt đầu gặp phải baokhó khăn để đối phó chống lại những cuộc xâm lăng từ miền bắc,thí dụ vào năm 1021 và vào năm 1026 Chưa đầy 18 năm sau,viện cớ là quân Champa xâm phạm biên cương, vua Ðại Việtcầm đầu một đoàn quân hùng mạnh sang xâm chiếm Vijaya vàonăm 1044 Quân Ðại Việt đã thành công, và họ đốt phá thủ đô ÐồBàn và giết chết vua Champa trong trận chiến Ðể phản lại tư thếquá yếu hèn của các vua Champa ngự trị ở miền bắc, tiểu vươngquốc Panduranga ở miền nam vùng dậy đòi quyền độc lập Chínhthế mới có một đoàn quân viễn chinh từ thủ đô Vijaya đã đếnPanduranga để giải quyết chiến tranh nội bộ này5

Một vài năm sau, vua Champa là Rudravarman đệtam xuất quân ra miền bắc để tàn phá Thăng Long Ðể trả đủacho sự việc trên, vua Ðại Việt là Lý Thánh Tông, đem một đoànquân hùng mạnh sang xâm chiếm Vijaya Trong trận chiến này,vua Champa bị bắt đưa ra Thăng Long Năm 1069, nhằm chuộctội để được trở về quê hương an toàn, vua Champa phải chịunhường cho Ðại Việt một lãnh thổ rộng lớn ở miền bắc của

5 ) L Finot, 1903, trang 645-646.

Trang 12

vương qúốc này Chính lãnh thổ này đã trở thành khu vực hànhchánh Ðại Việt gọi là Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chính, chạy dài từHoành Sơn (Quảng Trị) đến đèo Lao Bảo ở phía bắc của Huế Kể

từ đó, đèo Lao Bảo đã trở thành biên giới chính thức giữaChampa và Ðại Việt, Năm 1103 và 1104, vua Champa cũng dùngquân sự nhằm thu hồi lại khu Ðiạ Lý, Ma Linh và Bố Chính,nhưng không thành công 6

Trong suốt 30 năm cuối cùng của thế kỷ thứ 11 này,ngoài chiến tranh với Ðại Việt, vua Champa còn phải đối phó vớicuộc nội chiến ở Panduranga nhằm đòi độc lập Sau biến cố củaPanduranga, vua Champa cũng tìm cách đi chinh phạt vươngquốc Kampuchea vào năm 1074 và 1080 nhưng không thànhcông Hết chiến tranh với Kampuchea, vương quốc Champavướng phải bao nhiêu trở ngại khác: hết chuyện khủng hoảngchính trị, vì nội chiến, Champa phải chấp nhận làm nghĩa vụ củanước chư hầu hay yếu thế, nhằm gởi lễ vật sang triều cống TrungQuốc và Ðại Việt

Sang thế kỷ thứ 12, Champa vẫn chưa tìm thấy lốithoát Một khi đã hy sinh giúp Kampuchea để gây chiến tranhchống lại với Ðại Việt, Champa lại trở thành nạn nhân của chiếncuộc Vì rằng, vua Kampuchea, vì nghi ngờ vương quốc Champatìm cách liên kết chính trị với Ðại Việt, quyết định tuyên chiếnvới Champa vào năm 1145 Quân đội viễn chinh Kampucheasang chiếm thành Ðồ Bàn và đặt quyền cai trị ở lãnh thổ miềnbắc Champa Trước tình hình nguy ngập này, vua tiểu vương

Trang 13

quốc Panduranga quyết định nổi dậy chống cuộc xâm lăng củaKampuchea và thành công hoàn toàn trong công cuộc giải tỏa thủ

đô Vijaya ra khỏi ách thống trị ngoại lai, vào năm 1149 Lợi dụng

tư thế là một anh hùng dân tộc đánh đuổi ngoại quân Kampuchea,vua tiểu vương quốc Panduranga này tự tôn mình là vua Champa

ở Vijaya Công trình cứu quốc này đã bị kết tội như một hànhđộng chiếm ngôi không phù hợp với quy luật chính trị Champa.Chính vì thế đã xảy ra những cuộc nổi loạn của dân tộc êđê vàJarai ở Tây nguyên, cộng thêm những sự phản đối bằng bạo lựccủa nhân dân Champa trong khắp miền, kể cả khu vựcPanduranga

Khi vua Champa này qua đời, vua nối tiếp quyếtđịnh gây chiến tranh chống lại Kampuchea Với một đoàn hảiquân hùng mạnh, vua Champa xuất quân theo đường sôngMékong cho đến biển Hồ nhằm đốt phá đền Ðế Thiêng Ðế Thích

và thành công giết được vua Kampuchea trong trận chiến 7

Sự thất thủ Ðế Thiên Ðế Thích là nguyên nhânchính giải thích cho tình hình khó khăn trong nội bộ chính trịKampuchea thời đó May thay, vương quốc này thoát khỏi nộichiến cũng nhờ công lao của một ông vua đại tài tên làJayavarman đệ thất Khi lên nắm chính quyền, Jayavarman đệthất đã đánh đuổi thành công ngay quân đội Champa ra khỏiKampuchea Nhiều trận chiến đẫm máu trong cuộc đụng độ giữalực lượng hải quân của hai nước còn để lại nhiều hình ảnh trên

7 Ma Touan Lin, 1883, trang 557.

Trang 14

vách tường chạm trổ của đền Bayon và Banteay Chmar ởKampuchea8 Lợi dụng cơ hội này, vua Jayavarman đệ thất chỉhuy đoàn quân tấn công thủ đô Vijaya vào năm 1190 và bắt đượcvua Champa tại chiến trận Sau cuộc chiến thắng này, vuaKampuchea tự phong người em rể của mình lên làm vua Champa

và một hoàng tử gốc Panduranga lên làm vua ở tiểu vương quốcnày Sự nhúng tay của Kampuchea vào nội bộ Champa đã biếnvương quốc này thành hai miền nam bắc riêng biệt Vì khôngchấp nhận sự chia đôi của vương quốc Champa, vua của tiểuvương quốc Panduranga đã vùng dậy đem đoàn quân hùng mạnh

ra bắc để dẹp tan quyền cai quản Champa bởi một hoàng tử ngoạilai gốc Kampuchea Sau khi đã giết chết vua Champa gốcKampuchea, vua tiểu vương quốc Panduranga này tự xưng vươngChampa ở Vijaya và sát nhập hai miền nam bắc thành mộtChampa độc lập và chủ quyền Mặc dù, có công lao với đất nước,nhưng nhiều quan chức trong hoàng gia không hài lòng với việchoàng tử gốc Panduranga tự tôn mình lên làm vua Champa ởVijaya Ðó là nguyên nhân chính đưa đến cuộc nổi dậy của quanchức trong triều đình Champa thời đó Lợi dụng cơ hội này, vuaJayavarma đệ thất của Kampuchea quyết định xâm chiếmChampa, vào năm 1203, để trả thù cho em rể của mình bị tử trận

ở Vijaya, và biến vương quốc Champa này thành thuộc địa củamình cho tới năm 1220, năm đánh dấu sự chấm dứt vĩnh viễn của

sự xung đột giữa hai vương quốc kế cận cùng ảnh hưởng Bà LaMôn Giáo Kể từ đó, Champa và Kampuchea trở thành hai nướcláng giềng chung sống hòa bình trong tình hữu nghị anh em

Trang 15

Vào năm 1283, quân Mông Cổ tràn xuống xâmlăng Champa Trước đoàn quân hùng mạnh của Mông Cổ, vuaChampa quyết định rút quân lên vùng Tây nguyên để ẩn náu.Theo ông Marco Polo, một nhà du hành Âu Châu, vua Champachịu bỏ trống toàn bộ lãnh thổ đồng bằng cho quân Mông Cổchiếm đóng Trong suốt hai năm chờ đợi không giao chiến, vìthiếu lương thực, quân Mông Cổ tự rút lui ra khỏi Champa.

I.5 Sự vùng dậy của Chế Bồng Nga Thế kỷ thứ 14

Mặc dù đặt dưới quyền cai trị của Kampuchea trongsuốt 17 năm trường, đã từng chịu đựng trong suốt hai năm chốnglại quân Mông Cổ, đã từng đương đầu chống lại chính sách xâmlược của Ðại Việt, vương quốc Champa chưa hề trao nhường cho

ai một tấc đất của mình Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ thứ 14,Champa lại chịu mất đi một khu vực đất đai rộng lớn của mình ởmiền bắc, trong một hoàn cảnh chính trị vô cùng đặc biệt chưatừng xảy ra trong tiến trình lịch sử của vương quốc này Nguyênnhân chính, đó là vua Champa Jaya Simhavarman đệ tam (tiếngViệt gọi là Chế Mân) đề nghị dâng hiến cho Ðại Việt vào năm

1306 hai vùng Ô và Lý (lãnh thổ của Huế hôm nay) để được kếthôn với công chúa Huyền Trân của Ðại Việt9 Sự kết hôn nàyđúng là một vở bi kịch tình sử Vì rằng chưa đầy một năm chungsống với công chúa Ðại Việt, Jaya Simhavarma đệ tam từ trầntrong một khung cảnh vô cùng mờ ám, để rồi Huyền Trân tìmcách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung mà chưa ai

9 Nguyên Thê Anh, 1990, trang 42-43

Trang 16

hiểu được nguyên nhân nào để giải thích cho sự hiện của TrầnKhắc Chung trong bối cảnh lịch sử này Nhiều câu hỏi thườngđược nêu ra về cái chết đột ngột của vua Jaya Simhavarma đệtam Nguyên nhân nào giải thích cho mưu mô chạy trốn của côngchúa Huyền Trân, trong khi ai cũng biết rằng công chúa Ðại Việtnày không thể hội đủ điều kiện để xin lên giàn hỏa Nếu theotruyền thống Champa, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới đượcphép để huỷ thân trên giàn hỏa với chồng của mình.

Vì không chấp nhận vở bi kịch lịch sử này, vuaChampa kế tiếp đã từng dùng vũ lực, vào năm 1311-1312, 1317-

1318, 1326 và 1353, nhằm yêu cầu Ðại Việt trao trả cho vươngquốc này hai châu Ô và Lý, nhưng không thành công

Câu chuyện công chúa Huyền Trân và sự dâng hiếnđất đai Champa cho Ðại Việt vào đầu thế kỷ thứ 14 đã trở thànhmột biến cố chính trị quan trọng trong vương quốc này Khi đãchứng kiến tận mắt mọi tiến trình của biến cố này mà Chế BồngNga, một nhà chính trị mưu lược và là một nhà quân sự đại tài, đãxuất hiện trên bàn cờ chính trị Ðông Dương Theo sử liệu, vuaChampa Chế Bồng Nga không phải là vua Po Binthuor hay SakBingu của tiểu vương quốc Panduranga như người ta thường hiểulầm10, dường như ông lên ngôi vào năm 1360 Lợi dụng cơ hội tốtkhi triều đại mới của Nhà Minh (Trung Quốc) không muốnnhúng tay vào chính trị của Ðại Việt Kể từ năm 1361 Chế BồngNga quyết định tập trung lực lượng quân sự của mình để tấn công

10 ) E Aymonier, 1890; G Coedès, 1964, trang 127.

Trang 17

Ðại Việt Bao lần xuất trận của Chế Bồng Nga là bao lần thắng.Năm 1361, đoàn quân của ngài đập phá tan tành hải cảng Di Lý;năm 1362 và 1365, chiếm toàn diện khu vực Hoa; năm 1368, dậptan đoàn quân Ðại Việt ở Chiêm Ðộng; và năm 1370, Chế BồngNga làm chủ đồng bằng sông Hồng, tiến quân chiếm thủ đôThăng Long Năm 1376, Chế Bồng Nga lại sang tàn phá khu vựcHoa một lần nữa Năm 1377, ngài đánh tan đoàn quân Ðại Việtsang quấy nhiễu thủ đô Vijaya và giết chết vua Ðại Việt là TrầnDuệ Tôn tại chiến trường Lợi dụng cơ hội này, Chế Bồng Ngaxuất quân lần thứ hai để chiếm đồng bằng sông Hồng, đập tan tất

cả đoàn quân Ðại Việt trên đường tiến quân của mình, sau đó kéoquân thẳng về Hà Nội để đốt phá thành Thăng Long lần thứ hai

Ba năm sau, tức là năm 1380, ngài sang đánh Nghệ An, DiênChâu và Thanh Hoá Năm 1382, Chế Bồng Nga trở lại ThanhHoá và năm 1383, đem đoàn quân chiếm đóng đồng bằng sôngHồng một lần nữa Sáu năm sau, tức là năm 1389, ngài xuất quân

ra Thanh Hoá một lần nữa Tiếc rằng, cũng vì một ông quantrong triều đình Champa bán nước nhận làm mật vụ cho Ðại Việt

mà Chế Bồng Nga đã bị một trận phục kích và ông bị tử trận ởhải phận Ðại Việt vào năm 139011

Sau ngày tử trận của Chế Bồng Nga, La Khải, mộtông tướng thân cận của ngài, lên ngôi thay thế, lấy tên là JayaSimhavarman Sri Harijatti12 Trong suốt thời gian cai trị vươngquốc này cho đến năm 1400, Champa phải trao trả lại cho Ðại

11 Nguyên Thế Anh, 1990, trang 51-59.

12 L Finot, 1928, trang 291

Trang 18

Việt tất cả đất đai bị mất từ Hoành Sơn đến Huế mà Chế BồngNga đã thâu hồi lại được.

Trong cuốn sách “Lịch Sử Champa” của G.Maspéro, ông ta đã nêu lên ý kiến rằng những năm trị vì của ChếBồng Nga là thời “vàng son” của Champa13 Ðứng trên phươngdiện lịch sử mà nói, trong suốt 30 năm với “trăm trận trăm thắng”của vua Chế Bông Nga chỉ nói lên khung cảnh vàng son của mộtthời kỳ lịch sử mà thôi Vì rằng, thời vàng son của Chế Bồng Ngachỉ là tiếng chuông báo hiệu cho sự suy tàn dần dần của nền vănminh Bà La Môn Giáo ở Champa vào cuối thế kỷ thứ 14 Ai cũngbiết rằng, từ thế kỷ thứ 14, nền văn minh Champa không còn giữtrạng thái nguyên thủy của nó nữa Sự biến dạng này xuất phát từ

sự phai tàn của nền văn hóa Phạn ngữ, của triết lý Bà Là MônGiáo hay Phật Giáo Ðại Thừa mà Champa đã dựa vào từ mấychục thế kỷ qua, để xây dựng nền tảng cơ bản của tổ chức xã hộihay chính trị của vương quốc mình Bia đá Phạn ngữ viết vàonăm 1256 là tư liệu cuối cùng của nền văn minh Phạn ngữ ởChampa Sự phai tàn này cũng xuất phát từ một nguyên nhânkhác không kém quan trọng, đó là sự bành trướng Hồi Giáo ở Ấn

Ðộ vào cuối thế kỷ thứ 12 đã cắt đứt sự liên hệ của Ấn Ðộ vớicác nước Ðông Dương, đã làm trì hoãn sự phát triển của văn hóa

Ấn Ðộ ra bên ngoài; văn hoá mà Champa đã thu thập để dùnglàm cơ sở cho nền văn minh của mình Sự suy tàn của nền vănminh Champa còn có một yếu tố khác, đó là sự bại vong trongnhiều chiến trận quân sự vào thế kỷ thứ 13 đã làm phai nhạt đi

Trang 19

niềm tin của quần chúng vào cơ cấu huyền bí của Ấn Ðộ Giáo màChampa vẫn tin rằng cơ cấu này xuất phát từ ý muốn của cácÐấng thiêng liêng Vì bằng chứng rõ rệt là những cơ cấu huyền bínày đã không còn sức mạnh để chống lại với quân xâm lượcKampuchea, Trung Quốc hay Ðại Việt Chính vì thế, dân tộcChampa bắt đầu xa lánh dần dần các thần thánh thiêng liêng dunhập từ Ấn Ðộ Sự khủng hoảng tinh thần của nhân dân đối vớitriết lý Ấn Ðộ Giáo trong vương quốc Champa bị ảnh hưởngnặng nề của Bà La Môn Giáo này cũng là nguyên nhân chính đãđưa Champa, trong suốt thế kỷ thứ 13, đến con đường suy yếutrên mọi lãnh vực14 Những yếu tố vừa nói trên đã chứng minhrằng trang sử vàng son mà vua Chế Bồng Nga để lại chỉ là mộttrang sử tạm bợ không có định hướng tương lai.

I.6 Từ đầu thế kỷ 15 đến năm 1471: Sự suy vong của Champa theo Bà La Môn Giáo

Khi đã từ trần, vua Jaya Simhavarman Sri Harijatti

để lại ngai vàng cho đứa con của mình Chưa đầy vài năm sau,Ðại Việt gởi quân sang xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ mà vua ChếBồng Nga đã thâu phục lại được, tức là tiểu vương quốcAmaravati (Quảng Nam, Quảng Ngãi) Lợi dụng cơ hội chiếntranh giữa nhà Minh của Trung Quốc và Ðại Việt, cũng như lợidụng phong trào nội chiến của Lê Lợi ở Ðại Việt để thành lậpmột vương triều mới của nhà Lê, Champa không ngần ngại tấncông Ðại Việt để thu hồi lại đất đai Amaravati bị mất Sau cuộc

14 P-B Lafont, 1991, trang 15.

Trang 20

thành công này, chiến tranh giữa hai nước thật sự bùng nổ kể từnăm 1445 cho đến ngày thất thủ thành Ðồ Bàn vào năm 1471.

Kể từ năm 1445, vương quốc Champa càng ngàycàng đi đến con đường suy vong, vừa quân sự lẫn chính trị15 Sựsuy tàn của Champa là vì phải đối đầu liên tục chống lại sự xâmlăng của láng giềng miền bắc, cộng thêm vào đó, là phải đối phóvới bao nhiêu chiến tranh nội bộ của mình: chỉ trong khoảng thờigian chưa đầy 30 năm, 5 vị vua Champa tiếp nối nhau để lên ngôi

ở thủ đô Vijaya (Bình Ðịnh) Viện cớ là quân Champa quấynhiễu ở biên giới, Ðại Việt quyết định với bất cứ giá nào là phảixâm chiếm thành Ðồ Bàn Sau khi đã chuẩn bị kỹ lưỡng, vua LêThánh Tông dẫn một đoàn thủy quân và lục quân hùng mạnhsang xâm chiếm Champa Khi đã chiếm được thành Ðồ Bàn, LêThánh Tông ra lệnh phá hủy thủ đô này, ông ta đã ra lệnh chémđầu công khai hơn bốn chục ngàn quân Champa, và bắt đưa vềThăng Long hơn ba chục ngàn tù binh Sau cùng, Lê Thánh Tôngkhông ngần ngại ra lệnh tàn phá tiểu cường quốc Vijaya thành trobụi để xóa bỏ hoàn toàn những vết tích của Champa còn sót lạitrong khu vực này

Theo quan điểm của giáo sư Lafont16, sự thất thủthành Ðồ Bàn vào năm 1471 chỉ là kết quả của một sự xung đột

vô cùng dài hạn, có nghĩa là trong suốt 5 thế kỷ, giữa nền vănminh Champa chịu ảnh hưởng Ấn Ðộ Giáo và nền văn minh ÐạiViệt chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc Sự xung đột giữa hai

15 Nguyên Thê Anh, 1990, trang 76-77.

Trang 21

quốc gia này bắt đầu kể từ cuối thế kỷ thứ 10, không ngoài lý do

là đấu tranh đế bảo tồn cho sự sống còn của mình Tiếc thay,trong tiến trình của lịch sử, Champa là nạn nhân không may mắn.Trước sự tăng dân số cao độ ở Ðại Việt, Champa phải chịu mấtdần đất đai của mình cho Ðại Việt để lui dần về cố thủ ở phươngnam Hay nói một cách khác hơn, năm 1471 là năm đánh dấu sựthành công rực rỡ của nền văn minh Trung quốc chống lại một xãhội mang nặng văn hóa Ấn Ðộ Giáo, một văn hóa đã có một thờivàng son gây bao ảnh hưởng lớn mạnh, nhất là từ thế kỷ thứ 4,trong nhiều quốc gia ở bán đảo Ðông Dương

Sau khi tàn phá thành Ðồ Bàn, quân Ðại Việt tiếnđến núi Thạch Bi (tỉnh Phú Yên), nơi mà vua Lê Thánh Tông đã

ra lệnh cho đục trên bia đá để phân chia biên giới mới giữaChampa và Ðại Việt Trên thực tế, biên giới thật sự giữa hai nướcvào năm 1471 chỉ ở đèo Cù Mông, phía nam Bình Ðịnh Vì khuvực núi Thạch Bi (Phú Yên) chỉ là một vùng “No Man's land”(đất không ai định cư) giữa Champa và Ðại Việt17

Sau ngày thất thủ thành Ðồ Bàn, ai cũng nghĩ rằngÐại Việt sẽ tiến quân để xâm chiếm toàn vẹn lãnh thổ Champa ởmiền nam Ðó là một lý thuyết mà nhiều sử gia đã từng lầm lẫn

từ hơn một phần ba thế kỷ vừa qua, vì họ đã cho rằng vươngquốc Champa không còn nữa sau ngày sụp đổ thủ đô Vijaya vàonăm 1471 Chính quốc sử Ðại Việt đã lên tiếng phản lại sự sailầm này18 Bởi rằng, khi đã làm chủ tình hình ở Vijaya, chính vua

17 Po Dharma, 1989, trang 131-132

18 Nguyên Thê Anh, 1990, trang 84

Trang 22

Lê Thánh Tông quyết định phong vương cho Bố Trì Trì, một vịtướng từng tham chiến ở Vijaya vào năm 1471, và giao cho BốTrì Trì quyền cai trị trên lãnh thổ Champa còn lại, đó là tiểuvương quốc Panduranga (Phan Rang và Phan Ri) và Kauthara(Nha Trang và Phú Yên) Chính vì thế, Champa vẫn còn là mộtvương quốc độc lập, nhưng độc lập trong hệ thống chư hầu củaÐại Việt Nhiều nhà sử học rất ngạc nhiên về ân huệ của Ðại Việtdành cho Champa trong biến cố này Thật ra, Ðại Việt đã có mộtmưu đồ lớn trong cuộc xâm chiếm này Vì rằng, sau ngày chiếmđóng Vijaya, vua Lê Thánh Tông đã gởi đến khu vực này hàngngàn quân điền vừa phát hoang để khai thác kinh tế vừa phòngthủ để chống lại sự nổi dậy của Champa chinh phục trở lại đất đaicủa mình bị mất Vua Lê Thánh Tông cũng còn áp dụng chínhsách đồng hóa dân tộc Champa còn sống trong vùng bị chiếmđóng bằng cách là đưa hàng ngàn người gốc Việt là những thànhphần trộm cướp hay vi phạm luật pháp sang sống trà trộn với dântộc Champa Chính thành phần trộm cướp và phạm pháp này mới

có đủ sức tung hoành cướp bóc và đồng hóa dân Champa còn sótlại Nếu hôm nay không còn ai, từ Quảng Trị cho đến Nha Trang,dám nhận diện mình là dân tộc Champa nữa, thì dữ kiện này chỉ

là kết quả của chính sách Việt Nam hóa do vua Lê Thánh Tôngtạo nên Ðứng trên phương diện lịch sử mà nói, vào giữa thế kỷthứ 15, đúng ra Ðại Việt không đủ nhân lực và vật lực để giảiquyết hai vấn đề cùng một lúc, đó là vừa phòng thủ đất đaiChampa đã lọt vào tay mình và vừa áp dụng chính sách Việt Namhóa dân tộc Champa hiện còn sống trên vùng bị chiếm đóng.Chính vì thế, Ðại Việt chỉ tìm cách xâm chiếm lãnh thổ Champa

Trang 23

gần biên giới mình hơn để tiện việc cai quản, nhất là để áp dụngchương trình Việt Nam hóa, biến dân tộc Champa thành dân Việtmột cách dễ dàng hơn.

I.7 Sự thất thủ Kauthara 1471-1653

Ðại Việt đã quyết định dành cho Bố Trì Trì quyền caitrị trên lãnh thổ Champa còn lại ở miền nam, tức là vùngKauthara, Panduranga và vùng Cao Nguyên ở phía tây củaPanduranga Khi đã nhận ân huệ này, Bố Trì Trì cũng tìm cáchxin Trung Quốc chính thức hóa vương chức của mình Tiếc rằng,ông ta chỉ nhận sự trả lời của Trung Quốc sau một thời gian ngắn,trước khi ông ta đã từ trần

Theo sử liệu của trung Quốc19, tiếp theo Bố Trí Trì,

có hai vị vua kế tiếp nối ngôi, nhưng sử liệu này không cho biếttên tuổi và năm tháng nhậm chức của họ Nếu theo biên niên sửPanduranga, vị vua kế vị Bố Trì Trì có thể là Po Kabih (1494-1530), Po Karutdrak (1530-1536), Po Maha Sarak (1536-1541),

Po Kunarai (1541-1553), Po At (1553-1579)20

Vương quốc ở miền nam dưới quyền cai trị Bố TrìTrì và những ông vua nối tiếp, vẫn còn mang tên là Champatrong những sử liệu viết bằng tiếng Chăm và Việt Nhưng vươngquốc Champa này đã bắt đầu lánh xa dần với truyền thống củaChampa theo Ấn Ðộ Giáo ở miền bắc Mọi cơ cấu tổ chức hànhchánh, chính trị và xã hội của Vương Quốc này đều dựa trên nền

19 J Boisselier, 1963, trang 373

20 Po Dharma, 1978, trang 58-59

Trang 24

tảng cơ bản riêng biệt của tập t-uc và tín ngưỡng của địa phươngmình21 Qua sử liệu còn để lại, nền văn minh của vương quốcChampa “mới” này chỉ là một sự tổng hợp của ba truyền thốngtín ngưỡng khác biệt, đó là di sản văn hóa cổ truyền địa phươngcủa Panduranga và Kauthara, một số ảnh hưởng còn dư lại củatín ngưỡng Bà La Môn Giáo, và nhất là từ thế kỷ thứ 17, một sốtín ngưỡng Hồi Giáo vừa mới du nhập vào ở các hải cảng vùngPanduranga và Kauthara.

Qua ngày từ trần của Lê Thánh Tông vào năm

1497, Ðại Việt lại rơi vào nội chiến giữa chúa Trịnh cai trị miềnbắc và chúa Nguyễn, tự xưng vương và đặt thủ đô của mình ởgần khu vực Huế bây giờ Chính chúa Nguyễn mới là tác giảchính thức của chính sách “Nam Tiến” chủ yếu để di chuyển tối

đa biên giới của mình về miền nam của Champa22 Ngược lại, vớinhững gì mà nhiều nhà nghiên cứu thường nêu ra, cuộc “NamTiến” của chúa Nguyễn đã gặp một sức kháng cự mãnh liệt củacác nhà lãnh đạo Champa “mới” này Ngoài chính sách đươngđầu chống lại “Nam Tiến” của chúa Nguyễn, vương quốcChampa cũng mấy lần áp dụng chính sách “Bắc Tiến”, thí dụ vàonăm 1578, cho tới Phú Yên để thu hồi lại một thành lũy đã rơivào tay nhà Nguyễn 23

Vào cuối thế kỷ thứ 16, Champa “mới” bao gồm mộtdải đất chạy dài từ biên giới Saigon đến đèo Cù Mông (phía namBình Ðịnh) vẫn còn đủ điều kiện để nuôi dưỡng một đoàn quân

21 P-B Lafont, 1991, trang 16-17

22 Nguyên Thê Anh, 1989, trang 123

Trang 25

khá hùng mạnh Chính vì thế, vào năm 1594, vua Champa,(dường như đã theo Hồi Giáo), đã gởi một đoàn quân sang giúpvua Johor, một tiểu vương quốc ở miền nam bán đảo Mã Lai, đểchống lại thực dân Bồ Ðào Nha ở Malaka Chính nhờ quân lựchùng mạnh này, Po Nit (1603-1613) đã quyết định xuất trận tiếnđánh Quảng Nam, một khu vực hành chánh nằm trong lãnh thổcủa nhà Nguyễn Trước hành động này, chúa Nguyễn cũng xuấtquân để chinh phạt Champa Thừa cơ hội chiến thắng, chúaNguyễn xâm chiếm khu vực Phú Yên và dời biên giới phía namcủa mình đến Cap Varella, ở phía bắc Nha Trang Sau đó, chúaNguyễn biến đổi lãnh thổ này thành Dinh Trấn Biên24 và đưa hơn

ba chục ngàn tù binh của nhà Trịnh sang khu vực này để pháthoang khai triển kinh tế

Dẫu thất bại, Champa “mới” vẫn giữ nguyên đượctruyền thống bất khuất của Champa, đó là truyền thống đấu tranh

để bảo vệ quyền độc lập, và nhất là sự sống còn của quốc gia này.Chính vì thế, vương quốc Champa không ngần ngại tiến quânchống lại sự xâm lược của nhà Nguyễn ở Dinh Trấn Biên (PhúYên) vào năm 1620 Vào khoảng ba chục năm sau, tức là năm

1653, vua Champa là Po Nraop chuẩn bị lực lượng quân sự củamình để tuyên chiến với chúa Nguyễn, thu phục lại khu vực PhúYên bị rơi vào tay của Nguyễn vào năm 1611 Trước tình thếnày, chúa Nguyễn đã gởi một đoàn quân hùng mạnh sang tấncông Champa, tiến đến sông Phan Rang, bắt được vua Po Nraop

và cưỡng bách vua này ngồi trong rọ bằng sắt để đưa về Huế Vì

24 DNNTC, 1964, trang 7.

Trang 26

không chịu để cho nhà Nguyễn hành xử mình, Po Nraop quyếtđịnh tự hủy thân để nêu cao tinh thần bất khuất của mình25 Nhân

cơ hội này, chúa Nguyễn cũng xâm chiếm vùng Nha Trang vàdời biên giới của mình đến khu vực Cam-ranh 26 Thế là tiểuvương quốc Kauthara lại rơi vào tay nhà Nguyễn vào năm 1653

và khu vực này bị biến đổi thành Dinh Thái Khang và DiênKhánh trong hệ thống hành chánh nhà Nguyễn 27

Kauthara thất thủ, đền thiêng liêng của Po Ina Nagar “Bà MẹVương Quốc” ở Nha Trang lọt vào vòng kiểm soát của nhàNguyễn Chính vì thế, vua Champa quyết định rước Po Ina Nagar

về Phan Rang để được thờ phụng trong một cái đền ở Mông Ðứcgần làng Hữu Ðức bây giờ

Kể từ năm 1653, đất đai Champa tự thu hẹp lạitrong lãnh địa của tiểu vương quốc Panduranga, mà nhà sử họcthường gọi là vương quốc Panduranga-Champa

I.8 Sự suy yếu của Panduranga - Thời kỳ 1653-1771

Năm năm sau ngày thất thủ Kauthara (Nha Trang),tức là năm 1658, chúa Nguyễn, lợi dụng sự khủng hoảng chính trịtrong nội bộ Kampuchea, dùng vũ lực để xâm chiếm khu vựcSaigon-Biên Hoà Sự hiện diện của quân đội nhà Nguyễn ởSaigon đã đưa Panduranga vào địa thế mới, đó là, vương quốcnày đã trở thành êtrái độnê một khu vực nằm ngay chính giữa

25 J Tissanier, 1663, trang 176.

26 H Chappoullié, 1943, trang 9.

27 DNNTC, 1964, trang 60-61; PBTL (quyển 1), trang 83; LTHCLC (Quyển 1), trang 112.

Trang 27

110-lãnh thổ mà nhà Nguyễn đã làm chủ đất đai: Biên Hoà ở phíanam và Nha Trang ở phía bắc Bị kìm kẹp và bị bao vây,Panduranga-Champa đã mất đi toàn diện những địa thế quân sựtrọng yếu của mình 28.

Chưa đầy 40 năm làm chủ Biên Hòa, chúa Nguyễnquyết định tiếp tục áp dụng chính sách “Nam Tiến” của mình Ðểtrả đủa cuộc tấn công của vua Po Saot nhằm thu hồi lại vùngthánh địa Kauthara (Nha Trang) vào năm 1692, chúa Nguyễn đưamột đoàn quân hùng mạnh để thanh toán vương quốc này Saukhi thắng trận, nhà Nguyễn đổi danh xưng Chiêm Thành(Campapura) thành Trấn Thuận Thành, đặt dưới quyền cai trị củamột ông Tham Mưu của quân viễn chinh nhà Nguyễn Một nămsau, nhà Nguyễn xóa bỏ Trấn Thuận Thành để thành lập PhủBình Thuận và giao quyền quản trị phủ này cho em của vua PoSaot29 Cuối năm 1692, Panduranga-Champa đã biến mất trên bản

đồ Ðông Dương với tính cách là một quốc gia chủ quyền

Vì không chấp nhận sự hiện diện quân nhà Nguyễntrên lãnh thổ mình và vì không chấp nhận nhà Nguyễn tự xóa bỏvương quốc này trên bản đồ, toàn bộ nhân dân Panduranga-Champa vùng dậy đánh đuổi quân xâm lược trong suốt hai nămtrường, từ 1693-1694 Vì không thể kháng cự lại sự vùng dậy củatoàn bộ nhân dân của vương quốc này, chúa Nguyễn quyết địnhgiao trả lại quyền độc lập cho Panduranga-Champa, nhưng độclập dưới sự bảo trợ chính trị và quân sự của mình Kể từ đó, danh

28 Po Dharma, 1989, trang 133

29 ) DNTLCB, quyển I, trang 147-151

Trang 28

xưng Thuận Thành đã trở thành thông lệ trong văn bản nhàNguyễn để gọi Panduranga-Champa Khi đã thu hồi độc lập, nhàNguyễn phong vương cho Po Saktiraydaputih, em của vua PoSaot và cũng là một tù binh của nhà Nguyễn trong trận chiến vàonăm 169230.

Mặc dù giao trả quyền độc lập cho Champa, nhà Nguyễn quyết định giữ quyền cai trị trực tiếp củamình trên cộng đồng Việt kiều sống trong lãnh thổ Champa.Chính sách này nhằm kiểm soát chặt chẽ mọi biến cố xảy ra ởPanduranga-Champa và nhằm điều động Việt kiều này, khi cầnthiết, để gây chiến tranh chống lại vương quốc Champa Ðể ápdụng chính sách này, nhà Nguyễn thành lập một phủ Bình Thuậnrất là đặc biệt trong lãnh thổ Panduranga-Champa vào năm 1697.Theo tư liệu hoàng gia Panduranga viết bằng tiếng Chăm vàHán31, kể từ năm 1702, tất cả Việt kiều sống trong Panduranga-Champa không trực thuộc quyền quản trị của vương quốc này,nhưng trực thuộc phủ Bình Thuận của nhà Nguyễn Phủ BìnhThuận này là một cơ quan đại diện cho nhà Nguyễn, có vai trò đểgiải quyết với chính quyền Panduranga-Champa mọi vấn đề liênquan đến quyền lợi Việt kiều sống ở vương quốc này 32

Sự hiện diện của Việt kiều núp sau cái bóng hìnhcủa phủ Bình Thuận là nguyên nhân chính yếu đưa đến xự xungđột hàng ngày giữa đồng bào Panduranga-Champa và cộng đồng

30 Po Dharma, 1978, trang 137.

31 Archives du Panduranga, 1984

32 Po Dharma, 1987 (I), trang 69-70.

Trang 29

Việt kiều Và xự xung đột này thường xảy ra chung quanh vấn đềkhủng hoảng đất đai Vì rằng Việt kiều càng ngày càng mở rộnglãnh thổ của mình, hoặc qua các cuộc mua bán ruộng đất một khidân tộc Champa bị thiếu nợ, hoặc qua các cuộc chiếm đất bất hợp

lệ trong những khu vực hoang vắng Kể từ đó, Champa không còn biên giới cố định, vì lãnh thổ có một hìnhdạng như vết dầu loan, nằm xen kẻ trong biên giới của đất đaithuộc phủ Bình Thuận của nhà Nguyễn33

Panduranga-I.9 Những ngày cuối cùng của Champa - Thời kỳ 1771-1832

Năm 1771 đánh dấu cuộc vùng dậy của Tây Sơnchống lại chế độ bạo tàn của nhà Nguyễn Công trình đấu tranhcủa Tây Sơn bắt đầu lan rộng trong khắp nước Trước tình thếnày, nhà Nguyễn từ bỏ thủ đô mình để lui về ẩn náu ở khu vựcđồng bằng sông Mékong, chờ đợi thời cơ khôi phục lại đất nước

34 Kể từ ngày ấy Tây sơn làm chủ miền bắc, còn hoàng tửNguyễn Ánh của nhà Nguyễn làm chủ miền nam Thế làPanduranga-Champa, vì địa thế của mình, một lần nữa trở thànhnạn nhân của chiến tranh giữa người Việt với người Việt, mộtcuộc chiến tranh chẳng có gì liên hệ với vương quốc Champa.Theo sử liệu của Việt Nam35, mục tiêu tiên quyết của NguyễnÁnh và Tây Sơn là phải chiếm cho kỳ được Panduranga-Champa

để làm nhịp cầu tiến quân chống phá thành Saigon do NguyễnÁnh trấn giữ hay chống phá Nha Trang dưới sự kiểm soát củaTây Sơn Làm chủ Panduranga-Champa tức là làm chủ tình hình

33 DNTLCB, quyển I, trang 209

34 HLNTC, quyển I, 1985.

35 DNCBLT, 1970

Trang 30

quân sự trong sự xung đột này Chính vì thế, kể từ năm 1771vương quốc Panduranga-Champa đã trở thành một bãi chiếntrường khủng khiếp giữa quân Tây Sơn và lực lượng NguyễnÁnh Trước biến cố này, sự sống còn của Panduranga-Champachỉ là một giấc mơ huyền ảo và nó tùy thuộc hoàn toàn vào kếtquả của chiến tranh giữa người Việt Nam hơn là tuỳ thuộc vào ýmuốn của mình.

Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại tàn quân TâySơn, làm chủ toàn diện lãnh thổ Việt Nam, sau đó lên ngôi lấydanh hiệu là Gia Long Khi chiến tranh đã chấm dứt, Gia Longquyết định trao trả lại cho vương quốc Panduranga-Champa,không phải là quyền độc lập, nhưng là quyền tự trị dưới sự bảo

hộ của triều đình Huế Sau đó, Gia Long phong tước cho ong PoSoang Nhung Ceng, một tướng tài gốc người Chăm (tổ tiên bàThềm ở Phan Rí), đã từng tham gia với Nguyễn Ánh để chốngTây Sơn, quyền cai trị vương quốc này Mặc dù là một vươngquốc tự trị, nhưng Po Saong Nhung Ceng có quyền tuyệt đối trênnhân dân của Panduranga, có quyền thành lập quân đội riêng vàquyết định thuế má riêng trong lãnh thổ của mình

Thành hình trong qui chế thuộc địa Việt Nam, nếuGia Long quyết định cho tái lập lại vương quốc Panduranga-Champa, đó là để tỏ bày sự cám ơn của mình đối với tướngSaong Nhung Ceng đã có công trong công trình đánh đuổi TâySơn hơn là bày tỏ ý muốn của mình để vương qưốc Champa nàyđược phục hồi lại36 Dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, Panduranga-

Trang 31

Champa cũng là một vương quốc tự trị dưới sự bảo trợ của GiaLong, và nhất là dưới sự che chở tối đa của ông Lê Văn Duyệt,Tổng Trấn Gia Ðịnh Thành.

Năm 1802, Gia Long từ trần Minh Mệnh kế tiếp chamình để cai trị toàn vẹn Việt Nam Sau ngày lên ngôi, MinhMệnh xóa bỏ tất cả chính sách liên quan đến Panduranga-Champa do Gia Long để lại, và quyền kiểm soát của Lê VănDuyệt trên vương quốc này Vấn đề này đã dẫn đến sự xung độtgiữa Minh Mệnh và Tổng Trấn Gia Ðịnh Thành Kể từ ngày ấy,Panduranaga-Champa lại trở thành nạn nhân lần thứ hai trongbiến cố chính trị giữa người Việt Nam Khi Po Saong NhungCeng đã từ trần ở Champa (chứ không phải ông vua này là ngườichạy sang Kampuchea lánh nạn như người ta thường hiểu lầm),Minh Mệnh tự phong tước cho một người Chăm kề cận của mìnhlên ngôi Lê văn Duyệt phản đối lại Minh Mệnh, tự quyết địnhcho con của Po Saong Nhung Ceng lên làm vua Panduranga-Champa, để trấn giữ trọn vẹn quyền kiểm soát chính trị và hànhchánh của vương quốc này37 Nhiều sử liệu cũng nêu lên rằng,năm 1832 là năm đánh dấu một khúc quanh lịch sử lớn lao trongchính sách bang giao giữa Panduranga-Champa và triều đìnhHuế Nếu từ năm 1822 đến 1828, vương quốc này trực thuộcdưới quyền kiểm soát của triều đình Huế, nhưng sau năm 1828,Panduranga-Champa đã trở thành một vương quốc đặt dướiquyền cai trị của Gia Ðịnh Thành38 Chính vì thế, sự sống còn của

37 DNTLCB , quyển VI, , trang 90

38 Po Dharma, 1987 (I), trang 110.

Trang 32

Panduranga-Champa hôm nay tùy thuộc hẳn vào tư thế mạnh hayyếu của Lê Văn Duyệt đối với Minh Mệnh.

Năm 1832, Lê Văn Duyệt từ trần Tức tốc, MinhMệnh quyết định chiếm đóng Panduranga-Champa, cho lệnhtrừng trị thẳng tay tất cả quan chức nào trong vương quốc đã theo

Lê Văn Duyệt39, Minh Mệnh đã áp dụng chính sách tàn bạochống lại nhân dân Champa vì tội không chịu phục tùng triềuđình Huế Sau cuộc trừng phạt này, Minh Mệnh cho lệnh xóa bỏPanduranga-Champa trên bản đồ Ðông Dương, chia lại đất đainày thành hai huyện An Phước và Hòa Ða trực thuộc tỉnh BìnhThuận40

Thế là, vương quốc Panduranga-Champa hoàn tàn bị diệt vongvào năm 1832

10 Sự vùng dậy cuối cùng 1832-1835

Những chính sách tàn bạo của một số quan chứcMinh Mệnh nhằm trừng trị thẳng tay nhân dân Champa vì tộitheo Lê Văn Duyệt là nguyên nhân chính yếu giải thích cho sựvùng dậy của dân tộc Champa vào năm 1833 Ðói khát, tù đày,

xử trảm không cần lý do, không cần xét xử, tập trung người dânChampa vào lao dịch trong những nông trường kinh tế, đốt cháylàng xã thành tro bụi, v.v là sự việc diễn ra hàng ngày sau ngàymất nước41 Không thể kham nổi những sự khốn khổ này, KatipSumat, một nhà lãnh đạo tinh thần Hồi Giáo, kêu gọi quần chúng

39 CM 29 (1).

40 MMCY, quyển VI, 1974, trang 143-144

Trang 33

nổi dậy, thành lập một mật trận kháng chiến Hồi Giáo, dùngchiến tranh tử vì đạo (Jihâd) chống lại Minh Mệnh để dành độclập Champa Phong trào kháng chiến của Katip Sumat đã trởthành một mối đe dọa lớn cho Minh Mệnh trong khu vực này42.Chính thế, ngoài đoàn quân hùng mạnh của triều đình Huế, MinhMệnh kêu gọi tất cả Việt kiều sống ở đây góp sức để đánh phátoàn diện lực lượng Katip Sumat vào năm 183443.

Nếu sử liệu Việt Nam ít nói đến cuộc nổi dậy củaKatip Sumat, thì sử liệu này không bỏ lỡ cơ hội viết về biến cố1834-1835, biến cố mà triều đình Huế coi đó là một cơ cấu cáchmạng mới mang hình thức “Mật Trận Giải Phóng” hơn là hìnhthức nổi loạn Ðúng vậy, Ja Thak Wa, người làng Văn Lâm(Ninh Thuận), là một quan chức lớn trong triều Champa thờitrước, là người đứng ra thành lập Mật Trận Giải Phóng, và thànhlập chính phủ lâm thời để điều hành công cuộc cách mạng giảiphóng Champa Lấy khu Ðồng Nai, nơi mà dân Việt không dámxâm nhập, để làm mật khu Ông ta đứng ra đề nghị một ônghoàng tử gốc Raglai, dòng Po Romé, lên ngôi của vương quốc.Ông kêu gọi toàn dân Champa, cả anh em cao nguyên và ngườiChăm cùng đứng dậy chống lại quân xâm lược Minh Mệnh Saukhi chiếm đóng khu vực Phan rang, ông cho lệnh tiến đánh khuvực Phú Yên và Bình Ðịnh Tiếc thay, ông bị tử trận ở làng HữuÐức (Phan Rang) vào năm 1835 Phong trào của Ja Thak Wa

42 DNTLCB, quyển XVI, trang 70-120

43 CM 24(5), trang 169-168 et CM 32 (6), trang 105-104

Trang 34

được coi như là cuộc nổi dậy cuối cùng sau ngày mất nước củavương quốc Champa vào năm 183244.

Sau cái chết của Ja Thak Wa, Minh Mệnh phátđộng một chính sách vô cùng tàn bạo để trừng trị những ai dínhdáng vào cuộc cách mạng này: trưng thu ruộng đất, theo dõi vàbắt bớ, tập trung cải tạo và tù đày tối đa, cấm phân phối lươngthực, thiêu đốt làng xã cho đến quật cả mồ mã những gia đìnhtheo cách mạng 45 Sau cùng, để kiểm soát sự tập trung của dântộc Champa, Minh Mệnh cho lệnh dời hết tất cả làng xã Champa

đi chổ khác để thành lập làng xã người Việt Chương trình dờilàng xã người Champa là một chính sách nhằm phá hủy toàn bộ

cơ cấu tổ chức cổ truyền của xã hội và gia đình người dânChampa thời đó 46. 

Sự diệt vong của Champa có một nguyên nhân chínhyếu, đó là vương quốc này đã trở thành một nạn nhân của chínhsách Nam Tiến Việt Nam Sau ngày diệt vong, vương quốc nàychỉ để lại sau lưng mình mốt số di tích lịch sử, hai cộng đồngnhân chủng xuất thân từ dân tộc Champa thời trước Cộng đồngđầu tiên gồm vào khoảng 300.000 anh em Tây nguyên ở miềntrung Việt Nam Nhóm thứ hai vào khoảng 100.000 người Chăm

ở vùng Phan Rang, Phan Rí, 30.000 ở khu vực Châu Ðốc và TâyNinh, hơn 150.000 lánh nạn ở Kampuchea47

44 CAM 30(17), trang 51

45 CHCPI-CAM 1, trang 8.

46 Po Dharma, 1987 (I), trang 163

47 Po Dharma, 1987 (I), trang 163

Trang 35

+ Chú thích: CAM : Sách của Viện Viễn Ðông Pháp, Paris; CHCPI : Sách của Trung Tâm Lịch Sử và Nền Văn Minh Bán Ðảo Ðông Dương, Sorbonne; CM : Sách của Siociété Asiatique

de Paris)

II Giới thiệu về điêu khắc đá Chămpa và các phong cách

điêu khắc đá chămpa (Nguyễn Khoa Đăng: 0664019)

II.1.Giới thiệu về Điêu khắc đá - một loại hình nghệ thuật độc đáo

Việt nam có khoảng 70% diện tích là đồi núi vớinhiều mỏ đá, nhiều chủng loại đá khác nhau, vì thế việc sử dụng

đá vào các công trinh kiến trúc, điêu khắc là rất phổ biến Ngay

từ thời xa xưa, con người đã biết đẽo gọt đá để làm công cụ laođộng nhằm duy trì sự sống và tạo đồ trang sức làm đẹp cho bảnthân Khi xã hội ngày càng phát triển, công dụng của đá được mởrộng hơn, do tính chất tự nhiên của nó, đá không chỉ được dùnglàm trong công trình xây dựng, mà còn được dùng để tạc tượng,chạm khắc các bức phù điêu trang trí trong chùa, đền, tháp, cungđiện…

Đá tạc tượng và làm các công trình kiến trúc đượclựa chọn rất kỹ, đó có thể là khối đá nguyên sau đó được người tacắt xén, hoặc là những mảnh ghép lại với nhau tạo nên thànhkhối, từng mảnh Sau khi có được khối đá như ý, người ta vậnchuyển về xưởng chế tác tại các địa phương, và ở đây, người tabắt đầu tiến hành công việc của mình

Để tạc được bức tượng đá, hay trạm trổ hoa văn trên

đá, nghệ nhân phải sử dụng đến búa sắt, mũi bạt (là mũi ve như

Trang 36

cái đục bạt của người thợ mộc), đục nhọn, đục móng, đục vuôngnhỏ giấy ráp (dùng để đánh bóng) Nghề làm chạm khắc đòi hỏingười nghệ nhân phải bền bỉ, kiên nhẫn bởi chỉ một sơ xuất nhỏcũng có thể khiến tác phẩm bị biến dạng Xưa nay, chạm khắc đáđược dùng nhiều nhất trong lĩnh vực tạc tượng, đó có thể làtượng người hay tượng động vật hoặc các hoa văn trong các đềntháp.

Tượng được tạc bằng đá chủ yểu là tượng Phật, tượng La Hán,những tượng này được đặt trong các ngôi đền, chùa; tiếp đến làtượng Thần linh, đặc biệt là các vị thần của Balamon giáo (Shiva,Visnu, Brahma), tượng vũ công Sau này còn có tượng vua quancác triều đại phong kiến Bên cạnh đó còn có rất nhiều tượngđộng vật

Đá cũng được dùng để chạm khắc các bức phù điêuvới nội dung chủ yếu kể về tích truyện, huyền thoại, truyềnthuyết của Phật và các vị thần linh, cũng có khi đó lại là các bứctranh phong thuỷ hữu tình Hầu hết các bức phù điêu đều có hoavăn trang trí cách điệu rất đẹp mắt và sinh động

Đá được dùng để xây dựng các công trình tôn giáo(như tháp, nhà thờ) và các cung điện, lăng tẩm, tường hào…

Sở dĩ đá được sử dụng đa dạng nhưn vậy bới vì nó là một chấtliệu có độ bền cao, chịu được nhiều loại thời tiết khắc nghiệt.Hơn nữa nó cũng là một chất liệu dễ tạo hình, gây cảm hứng chongười sáng tác, vả lại bản thân đá đã có một sắc màu tự nhiênvừa hoang sơ, vừa sinh động nên người ta không nhất thiết phảisơn son thếp vàng cho nó nữa Những công trình kiến trúc, nhữngbức tượng, phù điêu…được làm nên từ đá trông rất có hồn, chân

Trang 37

thực, bởi nó là sản phẩm của một quá trình lao động sáng tạo củanghệ nhân với trình độ thẩm mĩ điêu luyện.

Ngày nay đá vẫn tiếp tục được sử dụng để làm nênnhững bức tượng Phật cho các ngôi chùa, làm phù điêu và rấtnhiều công trình kiến trúc có giá trị cao, và người ta có thể thấyđược các xưởng chế tác đá này nằm rải rác trong khắp cả nước,chẳng hạn như vùng núi Kính Chú (Hải Dương), vùng núi venbiển Sầm Sơn (Thanh Hoá), núi Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng)…II.2 Các phong cách điêu khắc đá Chămpa

Champa là một vương quốc cổ đã tồn tại trong lịch

sử Việt Nam trong khoảng thời gian cuối thế kỷ II đến thế kỷXVI sau công nguyên Vương quốc Champa hình thành ở NamTrung Bộ, chia thành một số khu vực tự nhiên ứng với các dảiđđồng bằng ven biển là: Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình

Định), Kauthara (Nha Trang) và Paduranaga (Phan Rang) Trong

quá trình tồn tại, phát triển cho đến lúc diệt vong, vương quốcChampa trải qua nhiều biến chuyển và đạt được những thành tựu

về kinh tế, văn hóa, xã hội Đặc biệt, họ đã để lại một nền nghệthuật kiến trúc và điêu khắc độc đáo có giá trị to lớn đối với nhânloại

Thế kỷ II là thời kỳ sơ khai của vương quốc màngười Trung Hoa gọi là Lâm Ấp Đến thế kỷ VII - VIII nghệthuật kiến trúc, điêu khắc Champa mới trở nên rực rỡ cùng phongtrào Phật giáo hóa và Ấn Độ giáo hóa lan rộng khắp Đông Nam

Á Điêu khắc đã trở thành một trong những bằng chứng về đỉnhcao của văn minh Champa

Trang 38

Nghệ thuật điêu khắc Champa rất đa dạng về hìnhthức thể hiện, phong phú về nội dung Tháp Champa xây bằnggạch không vữa, thường có một cổng, một tháp phụ, mái hìnhcon thuyền, một tháp chính ở trung tâm khối vuốt lên cao nở ra ởnhiều góc và các mũi vòm Trên đó thường gắn các phù điêuchạm khắc hình thần Siva hay các tiên nữ Apsara Cửa chínhquay về phía Nam hoặc Đông Nam Trong lòng tháp đặt biểutượng thờ Linga và Yoni (dương vật và âm vật) Điêu khắc tượngtròn được bố trí hài hòa với xung quanh kiến trúc và tuỳ theochức năng tháp mà đục đẽo các tượng thần Người ta thường chianghệ thuật Champa làm sáu giai đoạn chính:

+ Mỹ Sơn E1(48) (nửa đđầu thế kỷ VIII)

+ Hồ Lai (nửa đầu thế kỷ IX)

+ Đồng Dương (cuối thế kỷ IX)

+ Trà Kiệu (cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X)

48 Trong nghiên cứu, phân loại nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Champa, các nhà nghiên cứu thường sử dụng cách phân loại theo các ký hiệu E 1, A 1… - được lấy theo ký hiệu của

Henri Partmentier trong Thống kê khảo tả các di tích Chàm ở Trung Kỳ, Inventaire

Trang 39

đó đã được các nghệ sĩ kiến trúc, điêu khắc bậc thầy thuở trướcghi giữ lại trên các đền, chùa, tháp Họ đã để lại một kho tàng vôcùng quý giá.

Những ngọn tháp Chăm cổ bằng gạch uy nghi, hùng

vĩ, nhưng không kém phần duyên dáng, xây bằng một thứ đất sétluyện riêng không cần chất kết dính Và loại gạch đó đã đảm bảocho nhát đục của nhà điêu khắc len lách vào những chi tiết tinh tếnhất mà gạch vẫn không bị rạn vỡ, hình tượng rất mực trungthành với người sáng tạo ra nó Cũng ít nơi ở Đông Nam Á cónhững tác phẩm đầy sức sống, biểu hiện nội tâm mãnh liệt, yêuđời, yêu cuộc sống như trên đất Champa cổ

Nghệ thuật Chăm, tuy tiếp nhận sâu sắc ảnh hưởngcủa nghệ thuật Ấn Độ, song trong quá trình tiến triển, tính bảnđịa ngày càng đậm nét và tính dân tộc ngày càng được khẳngđịnh, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo có sức hấp dẫn Ấn Độ, xứ sởcủa “thầy tu và vũ nữ” (Engels), của khắc kỷ và khoái lạc Điêukhắc Chăm cũng theo quỹ đạo đó nhưng đặc biệt làm nỗi bật sứcsống mãnh liệt của con người với những nội tâm lúc bay bổng,lúc sảng khoái, lúc trầm tĩnh ưu tư, lúc trăn trở day dứt… Toàn

bộ nghệ thuật điêu khắc Chăm không chỉ là những thần, nhữngngười mà đến những động vật thần thoại cũng đều run rẩy, sốngđộng dưới nhát đục đẽo tài hoa điêu luyện của người nghệ sỹđiêu khắc Champa Những tác phẩm điêu khắc tiêu biểu như tấm

lá nhĩ Siva múa ở Bích La, chân dung của Siva ở Tháp Mẫm,những tượng voi, tượng sư tử… Mỗi một tác phẩm đều biểu lộ sựtràn trề hoặc kín đáo một tâm tư, tư tưởng tha thiết với cuộc sống

mà nổi bật là cái khoáng đạt, rộng mở của tâm hồn con người

Trang 40

Trong nghệ thuật điêu khắc Champa chúng ta còn

có thể bắt gặp những đường nét, những tinh thần, ý tưởng phongcách nghệ thuật khác nhau trong khu vực như nghệ thuật Khmer,nghệ thuật Mã Lai( java)…

Điêu khắc đá Chăm pa được thực hiện bằng đá sathạch Thường là loại thuộc dạng trầm tích, có kiến trúc cơ bảncủa các hạt dạng “Pơ xa mít”, loại đá này trong chuyên môn địachất gọi chung là “cái kết” Đá sa thạch được các nghệ nhânChăm pa sử dụng có các loại màu hồng nhạt, đỏ tím, phớt xám

Có thể nói đá là chất liệu chủ yếu trong điêu khắc Chăm pa Vì

đá sa thạch là nguyên liệu có sẵn tại địa bà cư trú của cư dânChăm pa, đặc biệt là vùng Quảng Nam- Đà Nẵng, và có lẻ nhữngđiêu khắc với chất liệu đá sa thạch giai đoạn đầu là nền tảng choviệc điêu khắc đá rất phát triển, các giai đoạn sau đã bảo lưu điềunày như một truyền thống Bên cạnh đó đá sa thạch còn có nhiềuthuận lợi cho điêu khắc, nhất là lúc đá còn mềm , người ta có thểgọt, vạch khắc những chi tiết một cách đơn giản, nhẹ nhàng (loại

đá này chỉ trở nên cứng khi nó được lấy khỏi gốc của nó và đểcho khô), nên được các nghệ nhân Chăm pa ưa chuộng sử dụngtrong điêu khắc

Ngoài ra còn có một số loại đá khác như đá màuxanh rêu, hoặc xanh đen ở một số điêu khắc thuộc “phong cáchBình Định”, một số điêu khắc ở tháp Po Klaun Garai thuộc loại

Ngày đăng: 13/08/2014, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cao Xuân Phổ, Người Chàm và điêu khắc Chàm, NXB KHXH, Hà Nội, 1988 Khác
3. Ngô Văn Doanh, Văn hóa Champa, NXB VHTT, Hà Nội, 1994 Khác
4. Điêu khắc Champa, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội , 2003 Khác
1. Sưu tầm hiện vật Chămpa, tài vải tàng Lịch sử Việt Nam Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.Hồ Chí Minh, XB năm 1994 Khác
2. Ảnh đi điền dã tại bảo tàng thành phố Hồ chí Minh 3. Huỳnh thị Được, Điêu Khắc Chăm và thần thoại ẤnĐộ, NXB Đà Nẵng, năm 2005 Khác
4. Ðại Nam Nhất Thống Chí (DNNTC) + quyển 10-11 (Tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà), Saigon, 1964.+ quyển 12 (Tỉnh Ninh Thuận, Phụ Ðạo Phan rang), Saigon, 1965 Khác
5. Ðại Nam Thực Lục Chính Biên (DNTLCB), Hanoi Khác
6. Ðại Nam Thực Lục Tiền Biên (DNTLTB), quyển 1, Hanoi, 1962 Khác
7. Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện: Nhà Tây Sơn (DNCBLT), Huế (Viện Ðại Học Huế), 1970 8. Hoàng Lê Nhất Thống Chí (HLNTC), dịch và chúthích bởi Phan Thanh Thuy, Paris (Public. de l'EFEO)1985 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình đầu người có đồ đội  đầu nhiều tầng, chân mày  đã  có cách xa hơn những  phong cách trước, miệng  hơi rộng - TÌM HIỂU CÁC PHONG CÁCH TRONG ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHĂM PA
nh đầu người có đồ đội đầu nhiều tầng, chân mày đã có cách xa hơn những phong cách trước, miệng hơi rộng (Trang 87)
Hình tượng quen thuộc mà chúng ta thường bắt gặp. Theo  truyền  thuyết Chămpa, tiên  nữ Apsara là vũ nữ chuyên  mỳa hỏt trờn cừi trời do thần Indra (thần sấm sột) cai quản - TÌM HIỂU CÁC PHONG CÁCH TRONG ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHĂM PA
Hình t ượng quen thuộc mà chúng ta thường bắt gặp. Theo truyền thuyết Chămpa, tiên nữ Apsara là vũ nữ chuyên mỳa hỏt trờn cừi trời do thần Indra (thần sấm sột) cai quản (Trang 126)
Hình tượng tu sĩ Phật giáo ở điêu khắc Chăm pa  thường được thể hiện với dạng: y phục là kiểu áo cà sa giống như  của Phật; thường gắn với mô tip cánh sen - TÌM HIỂU CÁC PHONG CÁCH TRONG ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHĂM PA
Hình t ượng tu sĩ Phật giáo ở điêu khắc Chăm pa thường được thể hiện với dạng: y phục là kiểu áo cà sa giống như của Phật; thường gắn với mô tip cánh sen (Trang 139)
Hình tượng thể hiện trên bức phù điêu này là hai  người cưỡi ngựa đánh cầu. - TÌM HIỂU CÁC PHONG CÁCH TRONG ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHĂM PA
Hình t ượng thể hiện trên bức phù điêu này là hai người cưỡi ngựa đánh cầu (Trang 146)
Hình tượng thể hiện là một người đang ngồi thổi sáo  một cách say sưa. Hình người thổi sáo này cùng với hình người  thổi sáo trên bệ Mỹ Sơn E1, cho chúng ta thấy rằng sáo cũng là  một nhạc cụ phổ biến và mang tính cổ truyền ở Chăm pa - TÌM HIỂU CÁC PHONG CÁCH TRONG ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHĂM PA
Hình t ượng thể hiện là một người đang ngồi thổi sáo một cách say sưa. Hình người thổi sáo này cùng với hình người thổi sáo trên bệ Mỹ Sơn E1, cho chúng ta thấy rằng sáo cũng là một nhạc cụ phổ biến và mang tính cổ truyền ở Chăm pa (Trang 147)
Sơ đồ bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng - TÌM HIỂU CÁC PHONG CÁCH TRONG ĐIÊU KHẮC ĐÁ CHĂM PA
Sơ đồ b ảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng (Trang 167)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w