1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về phong cách khẩu ngữ trong tiểu thuyết phố ba nhà của bùi anh tấn

96 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 745,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cập đến sự nghiệp sáng tác của ông “ chỉ trong vòng 10 năm, bùi Anh Tấn đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn, 2 kịch bản truyền hình và hơn chục cuốn tiểu thuyết” mà ông còn nhấn mạnh phong c

Trang 1

- -

NGUYỄN THỊ NGÂN

Tìm hiểu về phong cách khẩu ngữ trong tiểu

thuyết Phố Ba Nhà của Bùi Anh Tấn

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Th.S Tạ Thị Toàn Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này

Đà Nẵng, Ngày 08 tháng 05 năm 2012

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Ngân

Trang 3

đã cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng mang đậm dấu ấn khẩu ngữ

Có thể kể tên những tác phẩm tiêu biểu như: Sắc và giới, Thế giới

không đàn ông, Bước chân hoàn vũ, Cô đơn, Một thế giới không có đàn bà, Hành trình của sói, Ô xúc sắc, Những tác phẩm của ông đã

đem đến cho độc giả một cảm nhận hết sức mới mẻ và ấn tượng bởi lối dùng từ không chỉ chính xác, mà còn mang tính hàm xúc cao Tính hàm xúc đó chính là sự súc tích nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa

có thể miêu tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý ở ngoài lời với những nét độc đáo riêng biệt: rất chất phác, trơn tuột, tự nhiên theo ngôn ngữ đại chúng

Một đặc điểm quan trọng không thể không nhắc tới đó là tính hình tượng Điểm này đã được Bùi Anh Tấn vận dụng một cách triệt

để qua lớp từ khẩu ngữ thông dụng Đó là những ngôn ngữ đơn giản thường ngày nhưng lại rất giàu hình ảnh, đường nét, màu sắc, âm thanh, nhạc điệu…, có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ, tác động sâu xa vào trí tưởng tượng và cảm nghĩ của người đọc Đây chính là kết quả của khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén, vốn sống phong phú

và trình độ sử dụng ngôn ngữ rất điêu luyện của người nghệ sĩ

Trang 4

Do đó không phải ngẫu nhiên Bùi Anh Tấn lại cho người đọc cảm thấy rằng dường như những lớp từ khẩu ngữ này đã giúp nhà văn phát huy hết giá trị của nó Đặc biệt là đem lại sự gần gũi quen thuộc với quần chúng, giúp người đọc hình dung lại bối cảnh sinh hoạt đầy hiện thực sống động giống như chính mình mắt thấy tai nghe hoặc đang được đóng một vai trong đó vậy

Như vậy việc tìm hiểu và nghiên cứu giọng điệu khẩu ngữ trong văn ông là đề tài có ý nghĩa và sẽ hấp dẫn đối với những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu văn học và ngôn ngữ Tuy nhiên việc nghiên cứu văn của Bùi Anh Tấn dưới góc độ ngôn ngữ lâu nay vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng

Xuất phát từ những điều đó, chúng tôi xin mạnh dạn chọn vấn

đề “Tìm hiểu về phong cách khẩu ngữ trong tiểu thuyết Phố Ba

Nhà của Bùi Anh Tấn” làm đề tài nghiên cứu khóa luận của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu khóa luận: Phong cách khẩu ngữ trong

tiểu thuyết Phố Ba Nhà của Bùi Anh Tấn

Phạm vi nghiên cứu khóa luận: tiểu thuyết Phố Ba Nhà của

Bùi Anh Tấn (in năm 2007, Nxb Công an nhân dân)

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Cùng có thiên hướng vận dụng giọng điệu khẩu ngữ vào văn chương như Bùi Anh Tấn còn có khá nhiều gương mặt tiêu biểu như: Hồ Biểu Chánh, Nam Cao, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản,

Trang 5

Tuy nhiên Bùi Anh Tuấn vẫn còn là một trong những nhà văn khá mới mẻ đối với công chúng Ông chỉ thực sự bước vào sự nghiệp sáng tác từ những năm đầu thập niên 90 Do đó từ khi xuất hiện đến nay, chúng ta chỉ biết về Bùi Anh Tấn cũng như những sáng tác của ông qua báo đài và internet, tiêu biểu là:

Báo đẹp trong chuyên mục “ Chung quanh chuyện sáng tác”,

Bùi Anh Tấn đã chia sẻ về quan điểm sáng tác của mình : “ Khi cầm

bút, tôi thích khai phá những vùng đất mới Cái mới thường khó khăn nhưng kích thích tôi Với tôi, cầm bút đã là sự phiêu lưu Tôi là người vô thần nhưng khi đặt bút viết câu chuyện này thì tô đặt vấn

đề vô thần hay hữu thần qua một bên và tôi chỉ tâm niệm rằng mình

là một nhà văn ” [trang 2, số ra tháng 2 năm 2007]

Trên Báo văn nghệ trẻ, số ra tháng 2 năm 2011 cũng đã dành khá nhiều trang viết với các tiêu đề như: “Nhà văn của người đồng

tính”; “ Văn học đồng tính: Những kẻ lạc loài từ truyện ngắn Xuân Diệu đến tiểu thuyết Bùi Anh Tấn” Ngoài ra còn có nhiều

bài phỏng vấn Bùi Anh Tấn với các bút danh như Di Li, Nguyễn

Quốc Vinh, Hầu hết các bài viết đều ghi nhận đóng góp của ông trong việc ông không chỉ mạnh dạn khai thác đề tài mới lạ mà còn

ấn tượng bởi lối kể chuyện hết sức mộc mạc, tự nhiên, thậm chí là thô tục

Mới đây nhất, ngày 26 tháng 11 năm 2011, Báo Khoa học đời

sống online cũng dành một trang viết về ông với nhan đề: “ Nhà văn Bùi Anh Tấn: Viết nhọc lòng và mệt mỏi lắm!”, không chỉ đề

Trang 6

cập đến sự nghiệp sáng tác của ông “ chỉ trong vòng 10 năm, bùi

Anh Tấn đã cho ra đời 3 tập truyện ngắn, 2 kịch bản truyền hình và hơn chục cuốn tiểu thuyết” mà ông còn nhấn mạnh phong cách sáng

tác của mình : “ Sáng tạo là một quá trình hoạt động của con người

tạo ra những giá trị tinh thần và không bắt buộc phải thế này, thế kia trong sáng tạo cá nhân Với tôi viết và viết, tôi không đặt ra cho mình phải viết chuyện về cái này, đề tài kia Tôi viết khi tôi yêu thích điều đó, hiểu sâu sắc về nó và muốn được trình bày dưới ngòi bút chủ quan của mình với bạn đọc” Từ đó nhà văn đã cho ta thấy được

văn phong rất tự do, tự nhiên như việc sử dụng giọng điệu khẩu ngữ

là một nét đặc trưng tất yếu trong tác phẩm của ông

Trên trang nhất báo An ninh Thế giới cuối tháng thứ 2 tuần đầu hàng tháng, số ra tháng 10 năm 2009, với chuyên mục “ Nhà

văn Bùi Anh Tấn: Tôi đã chán chủ đề đồng tính”, nhà văn không

chỉ tiết lộ về đề tài sáng tác sắp tới của mình mà còn bật mí thêm với phóng viên Bình Nguyên những điểm mới trong sáng tác của Bùi Anh Tấn

Với khóa luận này chúng tôi sẽ đi tìm hiểu dưới góc độ vận dụng cách nói khẩu ngữ điêu luyện của Bùi Anh Tấn để từ đó nắm được vai trò, ý nghĩa, công dụng của khẩu ngữ trong ngôn ngữ văn chương Thực chất đề tài này vốn đã quen thuộc đối với những nhà nghiên cứu nổi tiếng:

Định nghĩa về khẩu ngữ, nhóm Võ Bình – Lê Anh Hiền – Cù

Đình Tú – Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng việt,

Trang 7

NXB Giáo dục quan niệm: “ Khẩu ngữ còn gọi là ngôn ngữ hồn nhiên, ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ thân mật, là thứ ngôn ngữ thông thường trong cuộc sống hằng ngày” [ 2, trang 54]

Cù Đình Tú, Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt,

NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp xác định: “ Phong cách khẩu ngữ tự nhiên còn gọi là phong cách khẩu ngữ sinh hoạt, phong cách khẩu ngữ hàng ngày vì nó được dùng trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi cá nhân : một mẩu tâm sự, một câu hỏi thăm người thân hay bạn bè, một lời đàm tiếu về cách thức ăn ở, một thái độ trước những biến đổi đột ngột của thời tiết, một phản ứng tức thì trước tin “sốt dẻo” trong cuộc sống hàng ngày, tất cả đều được diễn đạt bằng phong cách khẩu ngữ tự nhiên” [19, tr ang 92-93]

Tiếp bước các công trình nghiên cứu trước, trong luận văn này chúng tôi xin mạnh dạn tìm hiểu tiếp về ngôn ngữ khẩu ngữ nhưng

trong phạm vi, giới hạn nhất định, tức trong tiểu thuyết Phố Ba Nhà của Bùi Anh Tấn Từ khi hoàn thành cho đến nay Phố Ba Nhà của

Bùi Anh Tấn luôn được công chúng quan tâm Tuy nhiên vẫn chưa

có công trình nghiên cứu cụ thể về ông cũng như về tính khẩu ngữ

trong tiểu thuyết Phố Ba Nhà của ông

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi xin được đi tìm hiểu và cố

gắng tập trung khảo sát một cách hệ thống Phong cách khẩu ngữ

trong tiểu thuyết Phố Ba Nhà của Bùi Anh Tấn

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Đây là đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành ngôn ngữ nên trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học nói chung như:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, chứng minh

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp tổng hợp, khái quát

5 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận được chúng tôi triển khai qua 3 chương sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận xung quanh đề tài

Chương 2: Đặc điểm phong cách khẩu ngữ thể hiện trong

tiểu thuyết Phố Ba Nhà

Chương 3: Vai trò, tác dụng của ngôn ngữ khấu ngữ trong

tiểu thuyết Phố Ba Nhà

Trang 9

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN XUNG QUANH ĐỀ

Cù Đình Tú đã định nghĩa trong Phong cách chức năng ngôn

ngữ thực chất phong cách ngôn ngữ “ là dạng tồn tại của ngôn ngữ

dân tộc biểu thị quy luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện tùy thuộc vào tổng hợp các nhân tố ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp, đối tượng tham gia giao tiếp” [20, trang 69]

Trong cuộc sống ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng Con người đổi mới kinh nghiệm với nhau qua ngôn ngữ Vì vậy ngôn ngữ trong giao tiếp mang màu sắc cá nhân nên chúng ta dễ nhận thấy phong cách ngôn ngữ đã được cụ thể hóa, có biến thể đa dạng của cái riêng Phong cách khẩu ngữ hay gọi là phong cách lời nói thường ngày nó có độ lệch chuẩn so với chuẩn mực ngôn ngữ Nếu như chuẩn mực là cái đúng có tính chất chung, tính bình thường được mọi người chấp nhận trong giai đoạn lịch sử nhất định cái đúng này thể hiện ở phạm vi ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Nhưng đến

Trang 10

chuẩn mực phong cách nó lại là toàn bộ những quy định chỉ rõ tính hợp lý, tính đúng chỗ của việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, tức là sử dụng phù hợp với yêu cầu của phong cách ngôn ngữ Ví dụ

người miền Bắc hay dùng hai từ khẩu ngữ: nhớn -> lớn, giời ->

trời

Phong cách ngôn ngữ mang màu sắc phong cách thể hiện sắc thái tu từ và sắc thái biểu cảm Biểu hiện của một tín hiệu ngôn ngữ gồm hai phần: thông tin bổ sung và thông tin ngôn ngữ Trong đó sắc thái tu từ là phần biểu hiện nội dung, nó bổ sung của hiển ngôn Phần nội dung thường biểu hiện những điểm chính như: một mặt chỉ

ra tác động, tình cảm của người nói đối với đối tượng, một mặt chỉ

rõ phong cách chức năng của tín hiệu ngôn ngữ Ta có hai ví dụ:

trong giáo trình Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt đã đưa

ra định nghĩa: “ Sắc thái tu từ là phần nội dung biểu hiện bổ sung

của tín hiệu ngôn ngữ: phần nội dung biểu hiện bổ sung này một mặt chỉ rõ thái độ đánh giá tình cảm với đối tượng được nói đến,

Trang 11

một mặt chỉ rõ chức năng phong cách của tín hiệu ngôn ngữ” [19,

trang 19]

1.1.2 Phân loại phong cách

Việc phân loại các phong cách chức năng là một vấn đề luôn được giới nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là từ khi có các giáo trình

về phong cách học Hiện nay có nhiều tranh cãi về cách phân loại

phong cách chức năng tiếng Việt Cụ thể là trong quyển Giáo trình

Việt ngữ tập III của Ðinh Trọng Lạc xuất bản năm 1964 Từ đó đến

nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại các phong cách chức năng tiếng việt Dưới đây là phần khảo sát của chúng tôi qua hai quan điểm về cách phân loại qua hai bộ giáo trình

Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của giáo sư Cù Ðình Tú

và Phong cách học tiếng Việt của giáo sư Ðinh Trọng Lạc (chủ biên)

và Nguyễn Thái Hoà

Theo GS Cù Ðình Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa phong cách khẩu ngữ tự nhiên và phong cách ngôn ngữ gọt giũa Sau đó, trên cơ sở chức năng giao tiếp của xã hội mà chia tiếp phong cách ngôn ngữ gọt giũa thành : phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách hành chính, phong cách ngôn ngữ văn chương được khảo sát riêng không nằm trong phong cách ngôn ngữ gọt giũa Sơ đồ phong cách tiếng Việt được biểu hiện cụ thể như sau :

Tiếng Việt toàn dân Phong cách khẩu ngữ tự Phong cách ngôn ngữ gọt giũa

Trang 12

nhiên

Phong cách khoa học

Phong cách chính luận

Phong cách hành chính

Phong cách ngôn ngữ văn chương

Trong công trình nghiên cứu “ Tu từ học tập 3”, Đinh Trọng Lạc

đưa ra cách phân chia dựa vào sự đối lập giữa khẩu ngữ và ngôn ngữ văn học Không đồng nhất quan điểm với G.S Cù Đình Tú, GS Ðinh Trọng Lạc lại phân loại phong cách chức năng tiếng Việt ra làm 5 loại sau:

Trong công trình nghiên cứu “ Tu từ học tiếng Việt hiện đại”

lại dựa theo hướng phân loại dựa vào chức năng giao tiếp của Vinogradov thì chức năng trình bày dựa đi liền với nó, phong cách trình bày vì vậy mà ngôn ngữ được gọt giũa trong khi đó phong cách

Trang 13

khẩu ngữ lại thể hiện tính tự do Còn chức năng biểu hiện đi liền với phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Dựa theo tiêu chí chức năng xã hội của ngôn ngữ nhóm tác giả

Võ Bình lại có cách phân chia phong cách ngôn ngữ chức năng thành 3 loại chính:

Trong công trình nghiên cứu phong cách Phong cách học của

Đinh Trọng Lạc, ông phân chia phong cách ngôn ngữ bao gồm: phong cách hành chính – công vụ, phong cách khoa học, phong cách báo chí – công luận, phong cách chính luận, phong cách sinh hoạt hàng ngày

Trong tất cả phong cách ngôn ngữ này đều tồn tại dưới hai dạng nói và viết Qua một số công trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy ở mỗi cách phân chia lại có những ưu và khuyết điểm khác nhau nhưng tựu chung phong cách ngôn ngữ khẩu ngữ được phân chia, chúng tôi đồng ý với cách phân chia của Đinh Trọng Lạc Trên

Trang 14

thực tế thì vấn đề này vẫn chưa có tiếng nói chung cả về số lượng các phong cách và cả về thuật ngữ Tuy nhiên trong khóa luận này chúng tôi xin trình bày bảng phân loại PCNNCNTV theo giáo trình

Phong cách học tiếng Việt của Bùi Trọng Ngoãn Bảng phân loại

này đã được nhiều người chấp nhận ( phong cách sinh hoạt, phong cách hành chính - công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí- chính luận, phong cách nghệ thuật):

Tiếng việt

viết nói viết nói viết nói viết nói viết nói viết nói

1.2 Các loại phong cách

1.2.1 Phong cách ngôn ngữ hành chính – công vụ

Theo Giáo trình Phong cách học tiếng Việt của T.S Bùi Trọng

Ngoãn thì phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính – công vụ là khuôn mẫu ngôn ngữ được sử dụng trong các quan hệ hành chính – công vụ, liên quan tới các vấn đề thuộc về sự vận hành xã hội và có giá trị pháp lí Dựa vào phạm vi biểu đạt và các đặc điểm về ngôn ngữ người ta chia phong cách này thành các kiểu dạng : văn bản văn thư, văn bản pháp quyền, văn bản ngoại giao, văn bản quân sự, văn bản kinh tế, thương mại Phong cách chức năng ngôn ngữ hành chính- công vụ có những đặc trưng nổi bật:

PCSH PCHC- CV PCKH PCCL PCBC – CL PCCNNT

Trang 15

Tính công vụ hay tính nghiêm túc, khách quan

Tính minh xác (hay tính phi biểu cảm)

Tính khuôn mẫu (tính khuôn mẫu đồng loạt)

Về đặc điểm ngữ âm: bắt buộc phải sử dụng hệ thống âm chuẩn, kiểu chữ chân phương dễ đọc, cách viết các chữ số, bảng biểu diễn, hạng mục đều tuân theo những quy định chặt chẽ

Đặc điểm từ vựng: các từ hành chính và các khuôn sáo hành chính xuất hiện với tần số cao, từ dùng phải chính xác, nghiêm túc,

rõ ràng và phải được lựa chọn khắt khe, không dùng từ địa phương, tiếng lóng, biệt ngữ, khẩu ngữ, từ thông tục

Về đặc điểm ngữ pháp: thường sử dụng những câu tường thuật, câu cầu khiến, câu hành chính, ít dùng câu hỏi, câu cảm thán

Do yêu cầu ngắn gọn nên phong cách này cho phép viết tắt, nói tắt theo các tên gọi các công ti, tổ chức và chức danh

1.2.2 Phong cách chức năng ngôn ngữ khoa học

Phong cách chức năng ngôn ngữ khoa học là khuôn mẫu ngôn ngữ được sử dụng để trình bày, kiến giải, tranh biện…những vấn đề nghiên cứu và phổ biến khoa học, gắn liền với tư duy loogic và mang tính trí tuệ

Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ chức năng khoa học: tính trí tuệ hay tính logic cao, tính trừu tượng khái quát, tính chính xác khách quan

Về ngữ âm: yêu cầu chặt chẽ về ngữ âm chính tả

Trang 16

Về từ vựng: sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành, các danh từ

và nhiều từ ngữ khoa học

Đặc điểm ngữ pháp: sử dụng cú pháp chuẩn, chặt chẽ vả rõ nghĩa, bên cạnh đó còn dùng nhiều câu phức và các phương tiện liên kết câu

Văn bản khoa học luôn đòi hỏi tính quy phạm cao độ trên hai phương diện kết cấu văn bản và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong văn bản

1.2.3 Phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí – công luận

Là khuôn mẫu ngôn ngữ của các hoạt động thông tin đại chúng như báo chí, cổ động, quảng cáo, thông báo

Các đặc trưng của PCNNN báo chí – công luận: tính thời sự Tính hấp dẫn, tính ngắn gọn, tính chiến đấu mạnh mẽ

Đặc điểm ngữ âm: ở dạng nói phải phát âm chuẩn xác, dễ nghe, phù hợp với ngữ điệu nội dung Ở dạng viết phải đúng chính

tả

Đặc điểm từ vựng: yêu cần sử dụng từ toàn dân, những từ có tính thông dụng cao, những từ giàu sắc thái biểu cảm và một lớp từ ngữ thuộc nghề báo

Đặc điểm ngữ pháp: thường dùng câu khuyết chủ ngữ, những câu với kết cấu đảo chủ vị Đối với văn bản cổ động hay quảng cáo thiên về sử dụng những câu văn ngắn, những câu đặc biệt

1.2.4 Phong cách chức năng ngôn ngữ chính luận

Trang 17

Là khuôn mẫu ngôn ngữ trong các văn bản bàn bạc, thảo luận, nêu kiến giải, nêu quan điểm…về các vấn đề chính trị xã hội liên quan đến đời sống cộng đồng và việc nước nhằm tuyên truyền, giáo dục, động viên

Đặc trưng: tính hàm súc, tính hùng biện hay tính thuyết phục mạnh mẽ, tính thẩm mĩ cao, tính đại chúng

Đặc điểm ngữ âm: luôn yêu cầu cao về chính âm, chính tả Đặc điểm từ vựng: sử dụng rộng rãi lớp từ ngữ chính trị

Đặc điểm ngữ pháp: dùng các kiểu cấu trúc có tính khẳng định cao, các kiểu câu cầu khiến, cảm thán, nghi vấn có giá trị tu từ

1.2.5 Phong cách chức năng ngôn ngữ nghệ thuật

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật hay còn gọi là phong cách ngôn ngữ văn học, phong cách ngôn ngữ văn chương là phong cách ngôn ngữ được sử dụng trong các loại hình văn chương được xây dựng trên cơ sở tư duy hình tượng

Đặc trưng: tính hình tượng, tính thẩm mĩ, tính tổng hợp, tính

cá thể hay tính riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn

Đặc điểm ngữ âm: là minh chứng tiêu biểu cho sự tận dụng mọi tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt

Đặc điểm từ vựng: sử dụng toàn bộ vốn từ tiếng Việt

Đặc điểm ngữ pháp: tận dụng mọi kiểu câu của tiếng Việt

1.2.6 Phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày

Phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày hay còn gọi là phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phong cách khẩu ngữ là phong

Trang 18

cách ngôn ngữ giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày, phong cách này tồn tại trong cộng đồng với tính cách là một kiểu nói năng phổ thông, phổ biến nhất Nó được hình thành từ thói quen ngôn ngữ của một dân tộc thông qua con đường tiếp xúc từ nhiên giữa mọi người trong gia đình, trong cộng đồng xã hội

Phong cách khẩu ngữ được chia làm hai dạng: phong cách khẩu ngữ văn hoá và phong cách khẩu ngữ thông tục Ở mỗi dạng này lại có sự thể hiện riêng cả về đặc trưng cũng như về đặc điểm ngôn ngữ Về góc độ đặc trưng phong cách khẩu ngữ có 3 điểm nổi bật sau :

Thứ nhất là tính cá thể được thể hiện ở chỗ khi giao tiếp, người nói bao giờ cũng thể hiện vẻ riêng về thói quen ngôn ngữ của mình khi trao đổi, chuyện trò, tâm sự với người khác Ngôn ngữ là công

cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng ở mọi người

có sự vận dụng và thể hiện không giống nhau do nhiều nguyên nhân như: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách, trình độ học vấn, văn hoá Ðặc trưng này khiến cho sự thể hiện của phong cách khẩu ngữ cực kì phong phú, phức tạp, đa dạng

Đặc trưng thứ hai là tính cụ thể: đó là những cách nói trừu tượng, chung chung tỏ ra không thích hợp Ðiều này do giao tiếp ở đây thường là giao tiếp hội thoại, sự tiếp nhận và phản hồi thông tin, tình cảm cần phải tức thời và ngắn gọn Ðặc trưng này đã giúp cho

sự giao tiếp trong sinh hoaüt hàng ngày trở nên nhanh chóng, dễ

Trang 19

dàng, ngay trong trường hợp phải đề cập đến những vấn đề trừu tượng

Cuối cùng là tính cảm xúc: đặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể Khi giao tiếp ở phong cách khẩu ngữ người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, tình cảm của mình đối với đối tượng được nói đến Những cách diễn đạt đầy màu sắc tình cảm đã nảy sinh trực tiếp từ những tình huống cụ thể trong thực tế đời sống muôn màu muôn vẻ Chính thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện bổ sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội dung cơ bản và nhất là mục đích, ý nghĩa của lời nói

Ngữ âm: âm sắc mang tính cá thể và phát âm theo tập quán địa phương

Từ vựng: thiên về đung những từ ngữ có hình ảnh, có tính cụ thể và giàu sắc thái biểu cảm Thường dùng các thán từ, tình thái từ, quán ngữ, thành ngữ, những từ tượng thanh tượng hình, từ địa phương, từ thông tụng, tiếng lóng

Ngữ pháp: xuất hiện hiện tượng vi phạm logic khách quan, có hiện tượng tỉnh lược và có yếu tố dư, những hiện tượng iếc hóa, nói láy, nói tắt, ưa cách nói ví von, khoa trương và ưa dùng các cách diễn đạt tu từ

1.3 Phong cách khẩu ngữ trong tác phẩm nghệ thuật

Đưa từ khẩu ngữ vào tác phẩm văn chương, đó là một sự thay đổi lớn về quan niệm sáng tác Chính sự xuất hiện của từ khẩu ngữ với tần số không nhỏ đã làm cho tiểu thuyết Bùi Anh Tấn nói riêng,

Trang 20

các tác phẩm văn chương khác nói chung có sự gần gũi, quen thuộc với công chúng bình dân Người đọc có cảm giác như nghe được cả tiếng nói của mình, được chia sẻ, được cảm thông Nhìn chung phong cách khẩu ngữ trong các tác phẩm văn chương thường xuất

hiện ở những đặc điểm sau:

Về mặt ngữ âm : Khi nói năng ở phong cách này người ta không có ý thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm mà nói năng thoải mái, không những trong phát âm mà cả trong điệu bộ cử chỉ Chính

vì đặc điểm này mà chúng ta thấy phong cách khẩu ngữ là phong cách tồn tại rất nhiều những biến thể ngữ âm Ngữ điệu trong phong cách khẩu ngữ mang dấu ấn riêng của cá nhân, có tính chất tự nhiên,

tự phát và trong một số trường hợp, ngữ điệu là nội dung thông báo chính chứ không phải là lời nói

Về từ ngữ: thường dùng những từ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm Khi gọi tên hàng ngày, người ta không thích dùng tên khai sinh vì cách gọi này thường kém cụ thể, ít gợi cảm Người ta tìm những cách đặt tên khác có khả năng gợi ra hình ảnh, đặc điểm cụ thể riêng biệt thường có ở một cá nhân Những

tiếng tục, tiếng lóng cũng chỉ dùng ở PC này Ví dụ: Hết xảy, hết ý,

số dách, bỏ bố, bỏ mẹ, cút, chuồn

Góp phần quan trọng vào việc tăng thêm tính hình tượng, sinh động và cụ thể trong việc việc miêu tả ngoại hình, tâm lí, tính cách nhân vật là lớp từ láy Lớp từ láy xuất hiện với một tần số khá cao

và cũng góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ của nhà Bên cạnh

Trang 21

đó là những từ ngữ có sắc thái thông tục, thậm chí thô thiển Chẳng

hạn, về xưng hô, có thể dùng: hắn, hắn ta, bọn nó, tụi nó, thằng,

thằng cha, con mẹ, mụ, con mụ, mụ ta, Về những từ đánh giá hoặc

miêu tả hành vi, có: chẳng nước mẹ gì, ăn thua gì, ăn thua mẹ gì,

nước non gì, phải lòng, cực, cực kì,

Nhà văn còn đưa vào tác phẩm nhiều thành ngữ, quán ngữ Lớp từ này được tác giả vận dụng rất đa dạng và phong phú Chúng không chỉ làm cho câu văn có tính thuyết phục mà còn góp phần không nhỏ trong việc biểu đạt tình cảm vừa khái quát tạo cho câu văn thêm phần hấp dẫn, thú vị có sức thuyết phục cao Sắc thái khẩu ngữ và biểu cảm của lớp từ khẩu ngữ còn thể hiện rõ ở sự hiện diện

và hoạt động của những từ thưa gửi (dạ, thưa, ), các từ ngữ cảm thán (ôi, ối, ôi trời, trời ơi, trời đất ơi, cha mẹ ơi, ), ở các ngữ khía

từ (à, ư, nhỉ, nhé) Những từ tượng thanh, tượng hình rồi cách nói

ví von, so sánh, chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ cũng được vận

để trống hoàn toàn, mặt khác, dùng các kết cấu cú pháp có xen

Trang 22

những yếu tố dư, lặp lại, có khi dư thừa một cách dài dòng lủng củng

Về cách diễn đạt: do được dùng trong sinh hoạt hàng ngày nên phong cách khẩu ngữ có tính tự do, tuỳ tiện và phụ thuộc rất nhiều vào tâm lí, cảm hứng của người trong cuộc

Vậy để có thể đem lại giá trị biểu đạt cao cho tác phẩm đòi hỏi nhà văn phải nắm vững được những đặc điểm cũng như vai trò, chức năng của khẩu ngữ Ở góc độ này thì tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn một lần nữa đã mang đến màu sắc của chính cuộc sống thực

1.4 Khái quát về tác giả và tiểu thuyết Phố ba nhà

Bùi Anh Tấn nguyên là thiếu tá, phó chi nhánh NXB Công an nhân dân phụ trách phía Nam đồng thời ông cũng là nhà văn Việt Nam đầu tiên viết về đề tài đồng tính nên ông đã vấp phải nhiều luồng dư luận đối kháng

Bùi Anh Tấn trở thành nhà văn của thế giới thứ ba bắt đầu từ năm 2000 Tâm sự về động lực thôi thúc ông viết về đề tài này, Bùi Anh Tấn đã thẳng thắn nói rõ ngọn ngành: “ Đó là vào khoảng thời gian năm 1993-1994, tôi làm báo nên có dịp tiếp xúc với nhiều người, nhiều giới khác nhau Qua đó tôi nhận thấy có những người rất lạ Tò mò không hiểu có tình yêu giữa hai người cùng giới không, trần trụi hơn, họ giải quyết về xác thịt như thế nào, họ đau đớn, dằn vặt ra sao, tôi quyết định đi tìm câu trả lời ” Đến năm

1995 thì Bùi Anh Tấn đã chính thức trả lời câu hỏi đó qua tác phẩm

của tiểu thuyết “Một thế giới không có đàn bà” Tiểu thuyết đã

Trang 23

nhanh chóng trở thành một hiện tượng trong văn học, vì đó là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của một nhà văn Việt Nam viết về người đồng tính Tác phẩm đã đạt giải A cuộc thi viết tiểu thuyết và ký “Vì an ninh tổ quốc, vì cuộc sống bình yên” Hãng phim Truyền hình Việt Nam đã chuyển thể tiểu thuyết này thành phim và trình chiếu rộng rãi trên màn ảnh nhỏ Do đó tác phẩm nhanh chóng đã thu được những thắng lợi lớn như được bạn bè khen ngợi và được sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng Có thể nói đây chính là những động lực tinh thần đã giúp Bùi Anh Tấn đã cho ra đời hàng loạt các

tác phẩm tuyệt tác như: Les - vòng tay không đàn ông, Sắc và không,

Bướm đêm, Bước chân hoàn vũ, Cô đơn, Một thế giới không có đàn

bà, Hành trình của sói, Ô xúc sắc, Bùi Anh Tấn đã có năm cuốn

tiểu thuyết viết rất sâu sắc và chân thực về đề tài đồng tính Điểm độc đáo tạo nên thành công cho tác phẩm của mình có lẽ bởi lối viết trực diện và thẳng thắn song không đi sâu vào những tình tiết cụ thể trong đời sống tình dục của họ, mà đề cập một cách giản dị Cho nên mỗi khi đọc các tác phẩm của ông, người đọc dễ dàng cảm nhận được ở ông một tấm lòng chân thành muốn chia sẻ, thông cảm với giới đồng tính nữ

Là một nhà văn thì lúc nào cũng có đề tài để ấp ủ Đầu năm

2007, Bùi Anh Tấn tiếp tục khẳng định bản thân bằng việc cho ra

mắt cuốn tiểu thuyết mới Phố ba nhà Ngay từ khi xuất hiện, tác phẩm đã được công chúng nhiệt tình đón nhận Mở đầu Phố Ba

Nhà, tác giả đã giới thiệu khá tỉ mỉ về lịch sử hình thành khu nhà

Trang 24

này Phố Ba Nhà trước kia vốn là khu Bách hóa liên tổng hợp

nhưng xây dựng đúng vào lúc nền kinh tế bao cấp đang chuyển biến thành nền kinh tế thị trường Điều này đòi hỏi các nhà kinh doanh phải thật nhanh nhạy, linh hoạt chớp lấy những cơ hội kinh tế thì mới có thể đứng vững Nhưng công ti đã không thành công trong lĩnh vực này nên công ti chỉ hoạt động được mấy năm thì đã sớm rơi vào tình trạng bị “cá lớn nuốt chửng” Công ti nhanh chóng giải thể

và được sửa sang thành nhà ở cho hàng trăm công nhân Phố Ba Nhà cũng từ đó mà có

Bức tranh Phố Ba Nhà hiện lên thật sinh động qua hình ảnh

những con người sống ở đây Đó là hai bà cháu (cụ Cư và Cầu chó),

là Bà giáo, là ông tổ trưởng khu phố, là mụ vợ ông tổ trưởng, ông nhà văn,…Có một điểm độc đáo là hầu hết những nhân vật này đều được nhà văn lần lượt miêu tả chi tiết, Bùi Anh Tuấn đã không ngần ngại cung cấp cho bạn đọc một bản lí lịch trích ngang về nguồn gốc, xuất xứ và thành tích của họ Diễn giải những điều này dường như Bùi Anh Tuấn muốn giải đáp mọi tò mò, thắc mắc của độc giả

Nhân vật đầu tiên được nhà văn nhắc tới đó là ông tổ trưởng

dân phố của Phố Ba Nhà, con người khôn ngoan, hoạt bát đến đáo

để Ông thăng chức nhờ tài diễn văn rất giỏi của một thời trẻ Cho đến khi thất nghiệp ông cũng nhanh chóng dành cho mình địa vị là

tổ trưởng có đóng góp lớn cho việc nghĩ ra cái tên cho khu phố và giải quyết được nạn đổ rác, đổ thùng bừa bãi,…

Trang 25

Người thứ hai là một nhân vật khả kính: ông nhà văn già luôn

được mọi người kính trọng Ông dọn đên Phố Ba Nhà là để tạo ra

một không gian riêng cho mình sáng tác nghệ thuật Thông qua nhân vật này, Bùi Anh Tấn đã gửi gắm những bài học kinh nghiệm quý báu khi sáng tác văn chương của người cầm bút Bắt đầu từ cách viết đến phương pháp, quan niệm và những nguyên tắc sáng tác trong nền văn học nghệ thuật,…Với hơn 40 năm sáng tác ông đã đóng góp không nhỏ cho nền văn học nước nhà từ thời cách mạng đến thời dân chủ Cuộc đời ông là chuỗi những ngày lao động miệt mài sáng tác không ngừng nghỉ, ông đã kiệt sức cho sáng tác nghệ thuật, cho đến khi hoàn thành tác phẩm cũng là lúc ông trút hơi thở cuối cùng

Nhân vật kế tiếp là bà giáo sư – bà giáo với bà quê hương chỉ

là miền kí ức buồn tủi, bà luôn muốn quên đi thật nhanh Bà căm thù nguồn gốc xuất thân của mình, chồng qua đời hơn mười năm thì bà dọn về Phố Ba Nhà sống một cách bất đắc dĩ Cứ nghĩ về cuộc hôn nhân không hạnh phúc của mình trong lòng bà lại trỗi dậy những khát khao dục vọng không được đáp ứng Đến khi gặp Cầu chó, bà

đã không kìm được lòng mình mà lén lút quan hệ với hắn Bà đã tự cười nhạo mình, cảm thấy mình quá hư hỏng, đốn mạt, bà đã trốn tránh và hổ thẹn với bản thân mình… Và bà dần rơi vào một bi kịch không có lối thoát

Đọc tác phẩm chúng ta cũng không khỏi ấn tượng bởi hình ảnh

mộ bà cụ Cư cần mẫn, tốt tính ngày ngày đi đổ rác cho từng nhà

Trang 26

không ngại mệt nhọc của tuổi già Bà làm việc với tinh thần trách nhiệm cao Ngay cả khi đối mặt với cái chết, bà vẫn dành sự yêu thương nhất mực cho thằng cháu của mình (Cầu chó), nhìn thằng cháu ăn ngon lành, bà thấy rất vui Bà cam lòng ra đi với cái chiếu hoa thôi, còn tiền dành dụm được, bà để cho Cầu chó hết Bà đem đến cho độc giả sự cảm nhận xúc động về sự vĩ đại của đức hi sinh cao cả, của lòng yêu thương vô bờ bến

Nhân vật vợ ông tổ trưởng được miêu tả một cách khá dí dỏm hẳn đã đem lại những tiếng cười sảng khoái cho độc giả Bà là vợ thứ ba của ông tổ trưởng, người ta vẫn gọi bà với cụm từ quen thuộc: Nhút bị rỗ hoa và hôi nách lại góa chồng Bà có tính chua ngoa hay lo chuyện thiên hạ

Nhân vật Cầu chó được miêu tả hết sức ấn tượng, gã béo tròn, bẩn thỉu và đen như trâu Bản tính của hắn là ngu dốt, đần độn nhưng lại luôn tự đắc theo tinh thần AQ Bà giáo chính là người đánh thức những cảm xúc tưởng như bị chết lịm trong lòng hắn Hắn biết đó là cái gì đó mà người ta gọi là tình yêu, hắn đã cố gắng líu kéo hạnh phúc nhưng lại sớm bị thất vọng Hắn đã bắt bà giáo phải trả lời câu hỏi vì sao không thể, tới khi bà giáo không còn thở được nữa cũng là lúc Cầu chó nhận thức được hành động của mình Hắn chợt vui mừng vì từ nay sẽ mãi được ở bên người tình, sẽ không ai

có thể cướp bà giáo khỏi tay hắn nữa Hắn đã tìm ra lối thoát cho hai người

Trang 27

Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bùi Anh Tấn thật sự đa dạng và phong phú về tính cách Thế giới ấy đâu chỉ có những con người với những phẩm chất đáng chân trọng như: ông nhà văn già – sống vì nghệ thuật cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, bà cụ Cư giàu đức hi sinh, cũng vì thương con cháu mà phải bán nhà đi lang thang,

ở gầm cầu thang để rồi khi xuống cõi vàng bà cũng chỉ được cỗ quan tài nứt ván, cái áo mới rộng thênh thang của bà con khu phố tặng bà mà thôi, Thế giới ấy còn có những con người ích kỉ, bon chen tính toán như: vợ chồng ông tổ trưởng khu phố Rồi những con người không dám đối diện với hiện thực mà luôn tự đắc tự tạo ra thắng lợi AQ như Cầu chó Và đâu đó trong xã hội cũng xuất hiện không ít những con ngườicó bản chất không tốt đẹp luôn xăm soi, hóng hớt bàn chuyện thiên hạ như những người dân sống trong khu phố, Bằng lớp từ khẩu ngữ (hội thoại) Bùi Anh Tấn đã khắc họa tính cách những con người này một cách điển hình, độc đáo, không còn mang tính chất ước lệ, mà đã có những nét riêng, thể hiện cho từng loại người khác nhau Bùi Anh Tấn đã khéo léo và linh hoạt vẽ lên một thế giới nhân vật rất đa dạng, phong phú, thuộc đủ hạng người khác nhau trong xã hội qua phát ngôn và hành động của họ

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH KHẨU NGỮ THỂ

HIỆN TRONG TIỂU THUYẾT PHỐ BA NHÀ

2.1 Xét về phương diện ngữ âm

2.1.1 Hiện tượng biến đổi âm đầu

Âm tiết tiếng Việt là một cấu trúc, nghĩa là một chỉnh thể kết hợp từ những thành phần Cho đến nay, các tác giả đã thống nhất với nhau về bốn thành phần căn bản cuả một âm tiết tiếng Việt là thành phần đứng làm âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối Tuy nhiên trong thực tế khi tạo ra một âm tiết người ta không nhất thiết phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc trên Trong ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày cũng như trong các sáng tác nghệ thuật để có thể nhấn mạnh nội dung cần nói tới hoặc muốn gây ấn tượng cho độc giả

Nói cụ thể hơn thì hiện tượng một số từ biến đổi về ngữ âm không phải biến đổi tất cả các bộ phận cùng một lúc mà phần lớn chỉ biến đổi một trong những bộ phận này mà thôi trong khi các bộ phận kia vẫn còn nguyên Nghĩa là biến đổi phụ âm đầu, phụ âm chính hoặc biến đổi phụ âm cuối Các từ này chỉ khác nhau ở một hai bộ phận, có thể ở phụ âm đầu, ở nguyên âm, phụ âm cuối hay ở thanh điệu Dưới đây là bảng thống kê về hiện tượng biến đổi phụ âm đầu

trong Phố Ba Nhà của Bùi Anh Tấn:

Bảng 1:

Trang 30

Xuất hiện trong tiểu thuyết không nhiều và cũng không phải tiêu biểu nhưng chúng tôi cũng ghi nhận được một số trường hợp cụ thể sau:

“ Đến lúc này mọi người mới ngớ ra thế còn cái “ ông” Bách

hóa tổng hợp điện khí máy tổng hợp giời ơi kia thì sao” [18, trang

12]

“ Thế nhưng nói đến trách nhiệm thì cứ đùn đấy nhau lẩn

nhanh như trạch”[18, trang 14]

“ Dưng mà dạo này sách giáo khoa hình như cũng không ổn

lắm” [18, trang 82]

“…Ông ta lúng búng muốn phân trần nhưng lại không nói thành

tiếng.” [ 18, trang 62]

“ Đọc mà phải suy nghĩ vừa mệt trí óc và là nguy hiểm (suy nghĩ

mung lung) sẽ làm giảm nhuệ khí chiến đấu chống quân thù” [18,

trang 67]

“ Năm hai ba tuổi như mọi thằng trai nhớn khác, gã lấy vợ chỉ

trong vòng một năm ” [ 18, trang 35]

“ Cụ se sẽ ngồi bên cạnh Cầu, vuốt ve mái tóc rễ tre của gã thật trìu

mến ”[18, trang 129]

“Suốt ngày phấp phỏm chờ nghe tăng lương.” [18, trang 206]

Có một điểm độc đáo ở tiểu thuyết là tuy có sự khác nhau vể vật chất ngữ âm nhưng không biểu hiện sự khác nhau về nghĩa Chẳng hạn:

Trang 31

- Giời – trời: tác giả không dùng từ “trời” mà dùng từ “giời”

nhưng đều có 3 lớp nghĩa: 1 chỉ khoảng không gian vô tận ta nhìn thấy như một hình vòm úp trên mặt đất 2 chỉ trạng thái của khí quyển, của khoảng không gian bao quanh con người ở một nơi vào một lúc nào đó, 3 chỉ thiên nhiên về mặt đối lập với con người (mưa nắng nhờ trời)

- Lớn – nhớn: cùng nói tới kích thước, số lượng, phạm vi,

quy mô hoặc giá trị, ý nghĩa đáng kể hơn hẳn so với phần nhiều

Và trong Phố Ba Nhà những biến thể phát âm này được bộc lộ rõ

trong giao tiếp khẩu ngữ, qua những lời đối thoại của các nhân vật, những lời bình luận của tác giả Với cách nói này Bùi Anh Tấn đã thể hiện được phần nào đặc điểm phát âm của người Bắc Bộ Thông qua đó, Bùi Anh Tấn đã thể hiện chân thật và sinh động cách nói năng của người dân Nam bộ và góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ của tác giả

2.1.2 Hiện tượng biến đổi âm chính

Như đã nói ở trên về ngữ âm không chỉ có hiện tượng biến đổi

ở phụ âm đầu mà còn có sự thay đổi trong cách phát âm về bộ phận chính Dù không nhiều, nhưng trong tiểu thuyết của Bùi Anh Tấn,

Trang 32

chúng ta cũng thấy những biến thể phát âm nói trên Nó không chỉ xuất hiện trong lời đối thoại của nhân vật mà còn trong ngôn ngữ tác giả

Những biến thể phát âm này thường diễn ra ở bộ phận âm chính và đấy thường là hiện tượng rút ngắn độ mở của nguyên âm:

“ Cụ làm tẩn mẩn, tỉ mỉ, nhẩn nha hết ngày này sang ngày khác,

chẳng bao giờ than oán chuyện gì” [ 18, trang 22]

“Mụ ta chửi nhau luôn có bài bản, có vần điệu dàng hoàng, vút

lên ong óng, hạ xuống thì thầm thẽ thọt để rồi lại vóng lên choa

chóa…chua ngăn ngắt và có thể chửi từ sáng đến tối…” [18,

trang 93]

Trang 33

“ Thành thử bất kỳ một gã đờn ông nào dù to khỏe, thông minh,

uyên bác đến đâu thì trong chuyện này đều có tâm trạng giống nhau” [trang 93,94]

“ Chắc chết sẽ được lên nát bàn” [18, trang 163]

“ Mỗi khi chỉ định cầm bút thôi là anh đã thấy hàng loạt những yêu cầu phải đặt ra, phải làm thế này, phải làm thế kia cho đúng

cách viết của một tác phẩm và thế là cảm hứng của anh vụt tắt

ngúm” [ 18, trang 115]

“ Thế nhưng vẫn ối kẻ lao vào để viết bởi cái danh xưng nhà văn xem ra quyến rũ lắm nên ai cũng leo lẻo nói (hờ như vẹt) cho rằng, hay ho gì ba cái danh hão ấy, vấn đề là tác phẩm, tác phẩm, hay và phải hay, vâng nói thì là thế ( giả dối đấy mờ)” [

18, trang 83]

Tóm lại trong ngôn ngữ viết, các biến thể phát âm trên ta không thấy lộ ra do yêu cầu của chính tả Tuy nhiên, trong tác phẩm văn chương, để miêu tả đúng cách nói năng riêng của từng nhân vật,

ở những địa bàn khác nhau, nhà văn có thể khai thác các biến thể phát âm nói trên bằng cách ghi lại đúng cách phát âm của nhân vật qua con chữ Về phương diện ngữ âm, tiểu thuyết Bùi Anh Tấn đã sử dụng rất linh hoạt lối nói khẩu ngữ tự nhiên Mặc dù sáng tác theo thể văn đặc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt nhưng tiểu thuyết của ông cũng được viết ra một cách công phu, có tìm tòi và sáng tạo, thể hiện được phong cách riêng của Bùi Anh Tấn

2.1.3 Hiện tượng biến đổi phần vần

Trang 34

Khảo sát sự biến đổi phụ âm cuối, từ ngữ và số lần xuất hiện, chúng tôi có bảng sau:

Bảng 3:

“ Cho đến những năm cuối thế kỷ 20 lại xuất hiện những con

đường lớn rộng thênh thênh đến ba bốn làn xe ô tô tha hồ chạy…”

[ 18, trang 6]

“ Tinh thần tập thể mà lị,” (18, trang 17)

Trang 35

“ Thế mà ai cũng tưởng làm quan của dân là sướng lắm phỏng”

[ 18, rang 20]

“Ông tổ trưởng xoa tay hể hả phát biểu, mọi người vỗ tay rần

rần tán thành còn bà cụ Cư thì khỏi phải nói, trời ơi biết ơn ông

tổ trưởng lắm lắm” [18, trang 22]

“ Cũng cả năm làm vài nơi quanh quất nhưng bát nháo lắm, hôm

được hôm không đói xanh mắt, cho đến gần đây tình cờ cụ nghe được hoàn cảnh đáng thương của thằng cháu nội và tìm đến đưa

về ở với mình” [18, trang 27]

“ Đến tận lúc đó bà giáo vẫn không hiểu từ đâu xuất hiện một thằng cha căng chú kiết nào đó đột nhiên tấn công bà để đòi bú tí

ti và rồi lỉnh nhanh như chuột” [ 18, trang 64]

“Giả dối đấy mờ ” [18, trang 83]

“ Cũng may cơn điên sướng cũng qua mau cũng như tính tủm

mủm của ông bạn, lại giấu giếm viết, lại thì thụt đem đến nhờ vả” [

thằng đàn ông nào mà thấy cũng phải nhẩy cỡn lên,đấy mới là đàn

bà chứ còn loại đàn bà như bà này, Cầu lắc đầu” [ 18, trang 314]

Trang 36

Những ví dụ trên đây cho thấy khi nói năng người ta phát âm địa phương với sự thể hiện không theo chuẩn mực chung của các phụ âm đầu, phụ âm chính, phụ âm cuối và các thanh điệu Dường như cách nói này đã trở thành một tập quán phát âm địa phương vốn từ lâu đã gắn với tâm lý của tác giả nói riêng và của người dân Bắc Bộ nói chung Tất cả như thể hiện một tình cảm thân thương của Bùi Anh Tấn đối với quê hương mình hay ít ra là đối với những người thân trong gia đình mình

Đồng thời, chúng tôi khảo sát hiện tượng biến đổi của ngữ âm

ở các khía cạnh: biến đổi về phụ âm đầu, âm chính, âm cuối và ngữ khí từ Ngoài ra, với hệ thống thanh điệu (sự luân phiên bằng trắc,

độ cao thấp của âm vực) đa dạng, nhịp điệu câu văn lại uyển chuyển

ấn tượng với sự đa dạng của các giọng điệu Tất cả đã góp phần không nhỏ trong việc truyền tải ý tình của tác giả, làm cho câu văn ngân nga, dào dạt, tạo nên nhạc tính trong mỗi trang tiểu thuyết Vì

thế, khi đọc Phố Ba Nhà nói riêng, các tác phẩm khác của Bùi Anh

Tấn nói chung, có lúc ta như chìm vào những khúc nhạc du dương,

êm ái, khi thì trầm tư, réo rắc, khi thì xót xa, dữ dội

2.1.4 Hiện tượng biến đổi ngữ điệu

Trong tiểu thuyết Phố Ba Nhà của bùi Anh Tấn còn xuất hiện

một số hình thức biểu đạt ngữ âm trong tiếng Việt trở thành những

từ ngữ khí: a, à, á…ư…ưa…, ư…hự,…ử,…ự…góp phần thể hiện nội dung biểu cảm của lời nói Chẳng hạn như bảng thống kê sau: Bảng 4:

Trang 37

Thứ tự Âm Số lần xuất hiện

Ví dụ: Thế nhưng nay cái tên dài lòng thòng đến lõng thõng là

công ty Bách hóa (ư…ưa) tổng hợp ư…hự) điện khí máy đã không

còn nữa…[ 18, trang 9]

Mấy ông bà lớn á…á…, thần thánh không à, làm sao mà dám

gần.[ trang 37]

“ Ai mà chẳng ăn, chẳng ngủ, chẳng ấy ấy va i…a…ỉa…như

nhau Thế mà lắm đứa lúc nào cũng tỏ vẻ cao quý.[18, trang 202]

Trang 38

“Ừ…ừ…đi cẩn thận nhé” [18, trang 338]

“ Lúc nào Cầu cũng cứ ngơ ngơ ngác ngác, ai nói gì năm

câu thì đến bốn câu gã phải hỏi lại, vậy á, á, ạ…”[18, trang 28]

Quà đấy nhá, hà hà, tặng nhá [ 18,trang 45]

Không biết à…à [ 18, trang 20]

Xét những ví dụ trên cho ta thấy việc sử dụng nhiều ngữ khí từ với nhiều màu sắc tình cảm khác nhau cũng là một cách thể hiện khá

rõ chức năng giao tiếp Bằng việc vận dụng thành thạo ngôn ngữ khẩu ngữ tự nhiên đến điêu luyện, tác giả cũng là một trong những người đã có những đóng góp không nhỏ trong việc đem đến cho nền văn học nước nhà một thứ ngôn ngữ độc đáo

2.2 Xét về phương diện từ

2.2.1 Từ ngữ thông tục

Từ ngữ thông tục là những từ ngữ chỉ được dùng trong lời nói miệng thoải mái, thậm chí thô lỗ, tục tằn, không nằm trong từ vựng ngôn ngữ văn hóa Lớp từ này được dùng trong phong cách sinh hoạt hàng ngày giữa các cá nhân có quan hệ tự do, thoải mái Tuy nhiên khi từ này đi vào trong tác phẩm nghệ thuật thì nó giữ vai trò làm phương tiện tu từ nêu đặc trưng lời nói của nhân vật

Khảo sát tần số xuất hiện những từ thông tục trong tiểu thuyết

Phố Ba Nhà của Bùi Anh Tấn, ta có bảng thống kê sau:

Bảng 5:

Từ ngữ thông Xuất hiện(lần) Từ ngữ thông Xuất hiện(lần)

Trang 39

cái thằng cha

ấy

Trang 40

Những hiện tượng sử dụng từ thông tục được Bùi Anh Tấn xuất hiện cụ thể trong các ngữ cảnh sau:

“ Vậy mà cũng đòi xây dựng đời sống mới, văn minh lịch sự,

anh đi vào nhún vai một cái, chị đi ra chào hểnh mũi một cái, rõ bố

khỉ” [ 18, trang 14]

“ Rõ khổ cho bọn trẻ vểu mặt chầu chực đón xem vô tuyến truyền hình, một tuần có mấy ngày mà cũng chỉ có mấy tiếng phim

đen trắng, đành vêu mỏ tiếc rẻ về ngủ sớm” [ 18, trang 18]

“ Cầu lại có được một biệt danh rất chi là hay ho, “ chó”, có

lẽ nhìn gã bẩn như chó, ngu như chó chăng?” [ 18, trang 29]

“ Nếu cứ cùng nhau gánh nước tiểu tưới rau, rình người ta ỉa

ngoài đồng để mà hốt phân, chạy chợ đánh nhau chí chiết kiếm sống trên bến sông thì xem thử ai hơn ai thì biết” [ 18, trang 30]

“ Đây chính là điểm tự hào của ông để cãi nhau với con mụ

vợ mỗi khi nó lên cơn động kinh nhảy đông đổng mồm chu chéo

chửi chồng, chửi con là đồ ăn hại” [18, trang 43]

“ Chúng mày không cần ông cũng đếch thèm, cứ tưởng bám

vào Nhà nước là sống hả, chưa chắc” [ 18,trang 44]

“ Đúng là đồ đàn bà não bằng quả cau, đái không qua ngọn

cỏ ” [18, trang 47]

“ Này, đây chưa điên đâu nhá, thằng điên nào thích thì cứ việc

đóng góp còn không thì tống mẹ nó vào bệnh viện tâm thần, tiền là

máu thịt đấy, rõ là đồ ấm ớ hội tề” [18, trang 60]

Ngày đăng: 10/05/2021, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm