191 Bã phân trộn cặn RDF Nguyên liệu thứ cấp Năng lượng Phân SH compost Chất thải trơ cuối cùng bụi tro Thối rữa Khí thải Nước thải Chất thải rắn hộ gia đình/ thương mại Chất tá
Trang 1Chuơng 8: Xử lý nhiệt
Tóm tắt
Xử lý nhiệt có thể xem như hoặc là phương pháp tiền xử lí chất thải trước bước phân hủy sau cùng, hoặc là phương tiện điều chỉnh chất thải xử lí bằng cách tái tạo năng lượng Nó bao gồm cả phương pháp đốt cháy hỗn hợp CTRĐT trong những lò đốt rác công cộng và phương pháp đốt cháy những phần chọn lọc của dòng chất thải thành nhiên liệu Những phương pháp khác nhau này phản ánh những mục đích khác nhau mà phương pháp xử lí nhiệt thể hiện Chương này mô tả những qui trình xử lí nhiệt khác nhau, và việc sử dụng chúng ở châu Âu Sau đó là xác định số lượng những nhân tố môi trường đi kèm với phương pháp xử lí nhiệt trong giai đoạn tiêu thụ năng lượng và phát nhiệt và những chi phí kinh tế
Trang 2191
Bã phân trộn
cặn RDF
Nguyên liệu thứ cấp
Năng lượng
Phân SH compost
Chất thải trơ cuối cùng
bụi tro
Thối rữa
Khí thải
Nước thải
Chất thải rắn hộ gia đình/ thương mại
Chất tái sinh khô
Phân lọai RDF Phân lọai
MRF
Tiền phân loại
Tạo thành khí mê tan Tạo thành
phân SH
Đốt RDF Đốt
nhiên liệu
Đốt tổng hợp
Tiền xử lý chôn Bãi chơn
lấp rác nguy hiểm
Phân loại tại nguồn từ hộ gia đình
Chất thải dư
Thu gom
Kho nguyên liệu thô
Rác sinh học Chất tái chế khô
Rác trong vườn
Rác sinh học Rác độ sộ
Rác sinh học thương mại
Chất tái sinh thương mại
Kho nguyên liệu pha trộn
Vị trí trung tâm
Vị trí trung tâm
RDF
Phân SH CTRĐT
Đốt tổng hợp
chôn
Hệ thống thu gom tận nơi
Hệ thống thu gom lề đường
Năng lượng
Nguyên liệu thô
RANH GIỚI HỆ THỐNG
Hình 8.1 Vai trò của cách xử lý nhiệt trong một hệ thống quản lý chất thải rắn
thống nhất
Trang 38.1 Giới thiệu
Phương pháp xử lí nhiệt cho chất thải rắn trong một hệ thống quản lý chất thải thống nhất có thể bao gồm ít nhất là 3 qui trình riêng biệt (hình 8.1) Phổ biến nhất là quá trình đốt hỗn hợp, hay là đốt trong lò, của hỗn hợp chất thải rắn công cộng trong những nhà máy có lò đốt lớn Nhưng có hai qui trình đốt có chọn lọc thêm vào nhờ đó mà những thành phần có thể đốt cháy được từ chất thải rắn được đốt cháy thành nhiên liệu Những nhiên liệu này có thể phân loại ra từ hỗn hợp CTRĐT hoặc hình thành nhiên liệu từ rác thải hoặc có thể là những vật liệu được phân loại từ nguồn của hộ gia đình như giấy và nhựa có thể phục hồi nhưng không thể được tái chế
Các phương pháp phản ánh những mục tiêu khác nhau mà phương pháp xử
lí thể hiện (hộp 8.1) Qui trình có thể được xem như là một phương pháp kĩ thuật biến chất thải thành năng lượng hoặc như phương pháp tiền xử lí trước khi phân hủy sau cùng Mặc dù những mục đích có khác nhau, mọi phương pháp đốt chất thải rắn đều cùng được trình bày trong chương này, vì sự liên hệ của các quá trình vật lí và các kết quả tương quan
8.2 Mục đích phương pháp xử lí nhiệt
Vấn đề đốt chất thải rắn có thể có bốn mục đích riêng biệt :
1 Sự giảm thể tích Dựa vào thành phần của nó, đốt cháy CTRĐT làm giảm thể tích của chất thải rắn ước lượng trung bình khoảng 90% Khối lượng của chất thải rắn đã được xử lí giảm những 70% Có nhiều ích lợi về kinh tế và môi trường vì có rất ít yêu cầu cho khâu phân hủy sau cùng để chôn lấp, cũng như giảm giá thành và những tác động đến môi trường trong quá trình vận chuyển khi nơi chôn lấp quá xa
Trang 4193
chất thải Điều này làm giảm bớt những vấn đề quản lí việc chôn lấp vì có một phần chất hữu cơ chịu trách nhiệm trong quá trình sản xuất khí thải và nước rỉ rác
3 Sự phục hồi năng lượng từ chất thải
Đây là một phương pháp điều chỉnh chứ không chỉ là quá trình tiền xử lí chất thải trước khi phân hủy Năng lượng phục hồi từ việc đốt chất thải được sử dụng để vận hành hơi nước để dùng trong vận hành điện năng nội bộ (on-site electricity generation) hoặc xuất ra những nhà xưởng cũng như những nhà máy nhiệt ở địa phương Những nhà máy nhiệt và sản xuất điện làm tăng hiệu quả của việc phục hồi năng lượng bằng cách sản xuất điện năng cũng như tận dụng lượng nhiệt thừa Luôn được xem là “ nguồn nguyên liệu có thể phục hồi” (Van Santen, 1993), việc đốt chất thải rắn có thể thay thế việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện Khi phần lớn CTRĐT chứa năng lượng đều xuất phát từ những nguồn nguyên liệu có thể phục hồi này (biomas), chắc chắn việc sản xuất CO2 trên tổng thể sẽ thấp hơn việc đốt các nhiên liệu hóa thạch vì CO2 sẽ hòa tan trong chu
kì đầu tiên của Biomas
4 Vấn đề vệ sinh môi trường của chất thải
Đây là vấn đề quan trọng trong việc đốt các chất thải y tế Việc đốt CTRĐT
sẽ đảm bảo tiêu diệt mầm bệnh trước khi phân hủy sau cùng ở quá trình chôn lấp
8.3 Việc áp dụng phương pháp xử lí nhiệt ở châu Âu gần đây
Ưu thế của việc xử lí nhiệt, cách tiếp cận thực tiễn của nó, đã phản ánh tầm quan trọng có liên quan đến những mục tiêu khác nhau đã trình bày ở trên, và thay đổi từ nước này sang nước khác trên toàn châu Âu ( bảng 8.1) Những quốc gia thiếu những điều kiện tiến hành qui trình chôn lấp như Thụy Sỹ và Hà Lan (và Nhật Bản), sẽ đốt CTRĐT với tỉ lệ cao chủ yếu nhằm giảm thể tích, cùng với việc phục hồi năng lượng Thử làm phép so sánh, những quốc gia với vô số nơi chôn lấp
rẻ tiền, như Anh và Tây Ban Nha, rất ít áp dụng tốt việc đốt CTRĐT ( thường chỉ là 8% hoặc 5% CTRĐT)
Giảm thể tích, vì những lí do kinh tế và môi trường, và vấn đề vệ sinh môi trường từ lâu đã là mục tiêu quan trọng trong quá trình đốt Đó cũng là những mục
Trang 5tiêu đầu tiên khi tiến hành xây dựng những lò đốt CTRĐT tại Anh trong thập niên
60 Trong tương lai cũng sẽ nhấn mạnh hơn nữa những mục tiêu này khi sử dụng phương pháp đốt, nhất là ở Đức và Áo Vì những lo lắng ngày càng tăng trong việc sản xuất khí thải và nước rỉ rác trong quy trình chôn lấp nhận CTRĐT chưa qua xử
lý, sự ổn định của chất thải trước giai đoạn phân hủy đang là mục tiêu quan trọng được thêm vào ở một số quốc gia Khí thải và nước rỉ rác nảy sinh chủ yếu từ thành phần hữu cơ của CTRĐT có thể được biến đổi thành khí và tro kim loại hóa bằng phương pháp đốt
Những quan ngại về sự phát thải từ những địa điểm chôn lấp đã thúc đẩy người Đức thông qua một chỉ dẫn kĩ thuật quốc gia ( National Technical Directive)
về việc quản lí qui trình chôn lấp chất thải công cộng trong tương lai Những nguyên liệu thô được xác định có ít hơn 1% (cho việc chôn lấp chất thải công cộng thông thường) hoặc 5% (cho chôn lấp “ đặc biệt” ) khối lượng mất đi trong qui trình đốt Lưu ý rằng chỉ dẫn này không tạo ra quá trình đốt bắt buộc đối với vật liệu sẽ được chôn lấp, nhưng ở giai đoạn hiện tại này không có kĩ thuật thích hợp nào khác để đạt được mức độ trơ này Cần xây dựng hơn 40 lò đốt mới để có thể đáp ứng những yêu cầu về luật mới Nước Áo cũng ban hành một luật tương tự và
xu hướng này dường như lan rộng
Những quốc gia vùng Scandinavie đã khai thác rộng rãi qui trình đốt CTRĐT cho việc phục hồi năng lượng (Đan Mạch và Thụy Điển xử lý 65% và 56% CTRĐT của họ theo cách này) thường qua đường những nhà máy nhiệt địa phương (Van Santen, 1993) Phục hồi năng lượng đã tiến xa hơn trong việc phát triển quá trình “ chất cặn bã- thành –nhiên liệu” Kĩ thuật này đã được phát triển rộng khắp ở Anh và Thụy Điển, mặc dù nhiều nhà máy cũng đã được thiết lập ở Pháp, Đức, Mỹ và Thụy Sỹ Một qui trình khác được đề cập đến trong chương này, qui trình đốt giấy và nhựa như một nhiên liệu chủ yếu cũng chưa được phát triển
Trang 6Các lò đốt sử dụng đệm hóa lỏng (fluidised–bed incinerators) là một thiết kế
có thể lựa chọn, đã được phát triển và áp dụng, nhất là ở Nhật Bản Nó sử dụng một buồng đốt chứa đệm đã hóa lỏng, được tạo ra bằng cách ép không khí qua một lớp đệm vật liệu trơ, ví dụ như cát, và chất thải được dẫn trong đó Một đệm hóa lỏng nóng đảm bảo sự đốt nóng luôn ở mức độ cao, và do không có những bộ phận di chuyển nên những trục trặc về cơ khí xảy ra ít hơn So sánh về lò đốt có đệm hóa lỏng và lò đốt có lò di chuyển được đưa ra ở hộp 8.2
Kĩ thuật thứ ba là lò đốt quay, trong đó, chất thải được quay chầm chậm trong một lò có hình trụ tròn được đốt nóng Lò này có một hàng lỗ chạy dài theo thân cho phép bơm không khí vào để đảm bảo sự đốt cháy được tiến hành tốt Kiểu
lò này không được sử dụng rộng rãi cho chất thải rắn công cộng
Yếu tố chủ chốt để đạt hiệu quả cao trong sự đốt cháy và sự phá hủy những chất hữu cơ gây ô nhiễm trong chất thải đầu vào là nhiệt độ (cao), thời gian đốt (dài) và độ xoáy (cao) (Vogg, 1991) Ví dụ, chỉ dẫn của EC (1989a,b) cần thời gian đốt (residence time) ít nhất khoảng hai giây và nhiệt độ 8500C, với sự tham gia ít
Trang 7nhất là 6% oxy để đảm bảo sự oxy hóa dioxin và những chất hữu cơ gây ô nhiễm ở mức cao nhất Thiết kế của lò và sự hiệu quả khi vận hành là những nhân tố quan trọng quyết định mức độ chất gây ô nhiễm trong khí thô khi xâm nhập vào hệ thống làm sạch khí nóng (bảng 8.2)
Khí nóng (hot gases) sau đó được đưa vào nồi hơi phục hồi năng lượng, nơi
đó được làm nguội nhanh chóng Nếu không có năng lượng được phục hồi, khí nóng phải được làm lạnh bằng cách sử dụng những dòng nước hay không khí trước khi đưa vào hệ thống làm sạch khí
8.4.2 Phục hồi năng lượng
Sự phục hồi năng lượng thông thường liên quan đến việc đưa khí nóng qua nồi hơi, vách của nó được nối với những ống hơi Nước tuần hoàn qua những ống này chuyển thành hơi, có thể bị đốt nóng bởi thiết bị tăng nhiệt, để làm tăng nhiệt
và áp suất của nó để tạo ra điện năng hiệu quả hơn Hiệu quả về nhiệt của những nồi hơi hiện đại này đạt khoảng 80% Nếu hơi nước được sử dụng để sản xuất điện, hiệu quả phục hồi năng lượng về tổng thể đạt khoảng 20% (từ thể tích nhiên liệu sinh nhiệt đến điện năng được sản xuất) (RCEP, 1993)
Nếu nguyên liệu ẩm (wet feedstocks) được sử dụng (tỉ lệ cao trong chất thải sinh hoạt, ăn uống và vườn tược), hầu hết tổng thể tích chất thải sinh nhiệt được tận dụng trong việc làm bay hơi ẩm Nhiệt âm ỉ trong khí nóng thường không được phục hồi Những tiến bộ gần đây trong kĩ thuật phục hồi năng lượng, đặc biệt trong qui trình làm đặc khí nóng (flue gaz), cho phép một ít trong lượng nhiệt này cũng được phục hồi, do đó làm tăng hiệu quả phục hồi năng lượng Một lợi ích nữa của
hệ thống là tỉ lệ rất cao trong việc di chuyển khí acid từ khí nóng trong suốt quá trình, số ít còn lại sẽ được di chuyển bởi công cụ kiểm soát sự phát thải (emission control equipment ) sau đó Hệ thống không được sử dụng rộng rãi, nhưng đã được
Trang 8197
Hộp 8.1 Các giải pháp xử lý nhiệt
1 Việc đốt tổng hợp CTRĐT và các phế phẩm của các giải pháp xử lý rác thải khác
- giảm khối lượng rác thải cho công đoạn loại bỏ cuối cùng
- tạo ra phế phẩm sau cùng ổn định không hoặc ít sinh ra khí ga trên bãi rác
- tạo ra loại phế phẩm sạch để đem chôn
- có thể phục hồi năng lượng nhưng rất hạn chế do tác động từ độ ẩm của rác thải đô thị, các loại vật liệu không thể cháy và các loại chất ăn mòn nguy hiểm
- việc đốt rác thải ra không khí một hàm lượng khí độc cao, vì thế đòi hỏi phải trang bị hệ thống lọc khí lớn và tối tân để có thể đáp ứng tiêu chuẩn về khí thải
2 Việc đốt nhiên liệu từ rác
- sử dụng phần có thể đốt từ dòng rác để có thể sản xuất được năng lượng
- NLTR thô lỏng hay NLTR đặc có thểå đốt được
- NLTR thô phải được đốt khi sản xuất, NLTR đặc có thể được dự trữ và vận chuyển nhưng tốn nhiều năng lượng hơn để sản xuất
- NLTR có giá trị năng lượng cao hơn là CTRĐT vì thế khả năng thu hồi năng lượng cũng cao hơn
- NLTR chứa ít vật liệu không cháy hơn là CTRĐT, vì thế ít đòi hỏi việc làm sạch khí hơn
- Những thành phần dễ cháy của NLTR đặc và ổn định hơn của CTRĐT, vì thế việc đốt cháy được kiểm soát tốt hơn
3 Đốt giấy và nhựa đã được phân loại từ nguồn như nhiên liệu
- Có thể sử dụng giấy và nhựa vượt quá khả năng tái chế được thu gom riêng biệt từ các hộ gia đình
- Bởi vì có độ ẩm thấp nên có thể được dự trữ hay vận chuyển
- Có giá trị năng lượng cao, chứa ít tro có những lợi thế cháy ổn định hơn NLTR
- Chứa ít hàm lượng kim loại hơn là NLTR bởi vì được sản xuất từ nguồn nguyên liệu an toàn, vì thế đòi hỏi về việc làm sạch khí thải thấp hơn so với NLTR
Trang 9Hộp 8.2 So sánh hệ thống lò thiêu có đáy ẩm và hệ thống lò đốt số lượng lớn (vỉ đốt rời) sử dụng trong việc đốt rác
Lò thiêu có đáy ẩm Lò thiêu vỉ rời/ số lượng lớn Cấu trúc lò
Công xuất tối đa của 1 dòng rác ca 350 tấn/ngày ca 1200 tấn/ngày
Quá trình đốt
Đốt cháy phế phẩm
Cacbon không cháy 0.1 % khối lượng 3-5 % khối lượng
Bụi tro phát sinh
Khí thải
Kiểm soát NOx bằng tỉ suất kiểm soát khí bằng chất hoá học
(không có nhiên liệu không cháy) (tồn tại nhiên liệu không cháy)
Nguồn: Patel và Edgcumbe (1993)
Trang 10199
Hình 8.2 Quá trình đốt: 1 khoang nhận nguyên liệu; 2 hố rác; 3 phễu dẫn nguyên liệu tới lò đốt; 4 lò đốt; 5 buồng đốt; 6 bồn làm mát bụi ở đáy; 7 nồi đun khôi phục nhiệt; 8 kết tủa tĩnh điện;dụng cụ lọc khí axít; 10 củi dùng cho lò đốt
Trang 111 tấn
Làm sạch khí sau đốt (Flue gas)
Bụi màng lọc
Hình 8.3 quân bình dioxin cho việc đốt chất thải rắn đô thị Nguồn: Vogg (1992)
Trang 12Thu gom rác sinhhọc và rác tái sinh
Trang 13Rác dư Cặn phân loại RDF Giấy,nhựa được phân loại nguồn
ĐẦU VÀO
đốt
Làm sạch (flue gas)
Bụi màng lọc
Nhiệt độ Tái tạo năng
lượng
Khí thải
Trang 14203
8.4.3 Kiểm soát sự phát thải (emission control)
Khí nóng rời khỏi nồi hơi hồi phục năng lượng phụ thuộc vào chuỗi quá trình xử lí để loại trừ những chất dạng khí và dạng hạt gây ô nhiễm trước khi chúng thoát ra qua thân của lò đốt Số lượng những qui trình xử lí khác nhau đã được sử dụng, thay đổi tùy các nhà máy, phản ánh tiêu chuẩn phát thải mà họ cần Chỉ có một qui trình phổ biến nhất được mô tả rõ ràng trong chương này
Bộ lọc bụi
Trong nhiều nhà máy, qui trình xử lí đầu tiên (và đôi khi là duy nhất) liên kết với thiết bị kết tủa tĩnh điện để loại trừ những vật liệu dạng hạt Máy xoáy khử bụi cũng được sử dụng vì mục đích này Nơi nào quá trình lọc khí acid ẩm xảy ra,
sự lọc bụi sẽ tiến hành trước khi lọc khí Với qui trình khô và bán khô, quá trình lọc tiến hành sau khi loại trừ khí acid Ở giai đoạn sau của quá trình điều hòa sự phát thải, quá trình lọc thường sử dụng một bộ túi lọc
Loại trừ/ di dời khí acid
Ba lựa chọn cơ bản hiện có để loại trừ các khí SO2, HCl và HF từ khí nóng
• Phương pháp ẩm
Những chất gây ô nhiễm được loại trừ bởi một số lượng lớn những dung dịch làm sạch (thường là vôi tôi hoặc NaOH ngậm nước) trong hệ thống lọc Venturi Việc này đưa quá trình loại thải khí nóng lên mức cao, và những sản phẩm thải ra từ quá trình làm sạch (thạch cao, H2SO4) có thể tái sử dụng được Những yếu tố không thuận lợi là chất phụ gia và nước thải sinh ra cần phải được xử lí trước khi thải ra ngoài môi trường Ở một số nhà máy, nước thải này sẽ tuần hoàn khép kín sau khi xử lí, chỉ loại ra bùn hoặc cặn để phân hủy Cũng như vậy, khí nóng được làm nguội trong suốt quá trình cũng cần phải được làm nóng lại trước khi thải ra (dù chúng có thể hấp thụ sự trao đổi nhiệt từ những khí nóng mới được đưa vào) để thúc đẩy sự phân tán của sự phát nhiệt và để giảm tầm cản của ống khói từ trên thân ống đốt được tạo nên bởi hơi nước ngưng tụ
• Phương pháp khô
Trang 15Đá vôi dùng để trung hòa, hoặc được trộn với chất thải trước khi đốt hoặc thêm riêng lẻ vào lò đốt Phương pháp này có thuận lợi là cần rất ít chất phụ gia, không có nước thải, và khí thoát ra không cần làm nóng lại Tuy nhiên, tỉ lệ loại trừ khí nóng thấp, do đó, nhu cầu đá vôi sẽ cao và sản phẩm của phản ứng sẽ trộn lẫn với tro, không thể tái sử dụng
• Điều hòa NOx Trong lò đốt có đệm hóa lỏng, sản phẩm oxit nitơ (NOx) có thể được giới hạn bằng cách điều chỉnh khối lượng không khí cung cấp cho qui trình đốt Trong
lò đốt có lò di chuyển, việc tạo ra NOx không thể tránh được, nhưng có thể loại trừ bằng cách tiêm các thuốc urê hay amoniac vào khí nóng trong suốt quá trình điều hòa sự phát thải
• Điều hòa dioxin Những chất hữu cơ gây ô nhiễm trong CTRĐT khi vào lò đốt bao gồm chlonamates benzol và phenol, polychlorinated biphenol( PCBs ), polychlorinated dibenzo – para – dioxins (PCDD), polychlorinated dibenzofurans ( PCDF) Trong những chất này, PCDD (dioxin) và PCDF( furan) là mối bận tâm nhất, vì mức độ bền vững và độc hại cho môi trường rất cao Những chất đồng phân khác nhau của
Trang 16205
EC, 1989 a,b), hầu hết những chất hữu cơ gây ô nhiễm trong những chất thải mới đưa vào đều bị xử lí Tuy nhiên việc cung cấp này bị phức tạp hóa bởi sự sản xuất
dioxin và furan nhiều hơn bằng cách tổng hợp de novo trong khí nóng ở giai đoạn
đốt cháy sau tại nhiệt độ 2500C- 4500C Mặc dù kết cấu chính xác của dioxin chưa được biết, tro lơ lửng (fly ash) (với sự có mặt của chất xúc tác như oxit đồng có trong tro lơ lửng), thể tích oxy và tỉ lệ hơi nước trong khí nóng đã làm nguội đều là những yếu tố quan trọng( Vogg,1992)
Mặc dù có sự tổng hợp de novo, tỉ lệ dioxin phát ra từ lò đốt CTRĐT đều
được xem là ít hơn tỉ lệ nguyên liệu đầu vào (hình 8.3)
Để đo độ kiểm soát sự phát nhiệt chính xác ở hiện tại hoặc tương lai cho dioxin (0,1 ng cân bằng độc tố (TEQ)/ Nm3) (xem bên dưới), cách xử lí lâu dài hơn cho khí nóng cũng cần thiết Một phương pháp là hấp thụ carbon đã hoạt hóa vào
bộ lọc Nó không phá hủy dioxin, do đó, carbon bị lây bẩn dẫn đến vấn đề phân hủy
xa hơn Một phương pháp được lựa chọn phát triển gần đây là phá hủy xúc tác (ENDS,1993) Qui trình sử dụng chất xúc tác là oxit kim loại hỗn hợp và phá hủy dioxin bằng phản ứng với 02 Qui trình được cho là có thể giảm mức độ thể dioxin
từ 1 đến 10 ng TEQ/m3 xuống dưới 0,1 ng/m3
8.4.4 Xử lý cặn bã rắn (rác sau cùng)
Tro dưới đáy/tro cặn, khi đã được làm nguội trong bể làm lạnh, thường được đưa qua nam châm đặt ở trên để giữ lại bất kì kim loại chứa sắt nào Khoảng 90% kim loại chứa sắt có thể được phục hồi bằng cách này ( IFEU, 1992 ) Tro cặn còn lại, tro lơ lửng và những chất cặn từ việc làm sạch khí cần phải bị phân hủy
CTRĐT chứa những chất vô cơ gây ô nhiễm, nhiều kim loại nặng hợp thành một nhóm quan trọng của nó (xem danh sách ở bảng 8.3) Thành phần hóa học tự nhiên của chúng có thể được xác định bởi nhiệt, nhưng không bị phá hủy Sau đó chúng sẽ thoát ra khỏi lò đốt hoặc trong khí thải, tro cặn, bụi từ bộ lọc hay bùn cặn
từ chu trình làm sạch khí Tần số phân phối của những chất vô cơ gây ô nhiễm phổ biến giữa những sản phẩm đầu ra khác nhau được thể hiện ở bảng 8.3 Vì sự giảm thể tích gắn liền với quy trình đốt, sự cô lại của những vật liệu này sẽ thể hiện ở những sản phẩm cặn sau cùng, nhất là tro lơ lửng Việc này có thuận lợi và cả bất
Trang 17lợi Sự tập trung các chất gây ô nhiễm có nghĩa là những chất cặn bã sẽ trở thành những chất thải độc hại, và đòi hỏi phải được phân hủy theo cách chôn lấp dành cho những chất thải độc hại, hoặc cách xử lý nào khác Hiểu ngược lại, có nghĩa là một khi được tập trung lại, sẽ có rất ít vật liệu để xử lý thô hoặc nấu chảy để loại trừ những kim loại nặng vận động (ví dụ: catmi, thủy ngân, đồng, kẽm ) để tái sử dụng hữu hiệu (Vogg, 1992) Những quy trình liên quan đến kĩ thuật làm đông, tẩy rửa hay làm tan chảy để nấu chảy bụi khí nóng an toàn cho giai đọan phân hủy sau cùng đều đang được nghiên cứu (Vogg et al., 1989)
Tro cặn thường chứa cacbon ở tỉ lệ thấp (1-2%), thích hợp với quy trình phân hủy bằng cách chôn lấp, hoặc trực tiếp hoặc sau một quy trình khác nữa Tại Nhật Bản, làm chảy tro trong một lò đốt có cacbon được sử dụng để giảm thể tích của tro cặn Quy trình này tạo ra một loại xỉ tráng men có thể tích bằng ½ thể tích tro ban đầu, nhưng quy trình thì sử dụng năng lượng ở cường độ cao, thường là 1000kW-h/tấn tro
Một cách thường lựa chọn để phân hủy là tái sử dụng hoặc tro hoặc xỉ tráng men như là nguyên liệu chủ chốt (Toussaint, 1989) Với khoảng 30 – 50 % xỉ trong khối bêtông, có thể sản xuất ra một sản phẩm hữu dụng cũng như góp phần làm giảm nhu cầu về nơi chôn lấp rác
8.5 Quy trình đốt NLTR
NLTR được sản xuất bởi một quy trình thiết kế đặc biệt để tìm kiếm ra những chất dễ cháy từ những thành phần không thể cháy của hỗn hợp CTRĐT NLTR tồn tại chủ yếu là những vật liệu nhẹ trong CTRĐT (giấy, nhựa) được chia
ra và nghiền nát để sản xuất ra kết tủa dạng bông “floc” hoặc NLTR thô không cô đặc Sau đó chúng sẽ được vo viên để làm tăng chu trình vận hành và sản xuất NLTR đậm đặc Vo viên NLTR rất tốn kém, với sự tiêu thụ năng lượng cao, do đó