Ba điều thiện: Thiên Văn Vương Thế tử trong Kinh Lễ có nói vị Vương Thế tử * làm một việc mà được cả ba điều thiện,” tức là bản thân Thế tử khi vào học ở nhà Quốc học mà biết kính nhường
Trang 1THU PHONG HANH KY PHAM THACH DONG
Thất nguyệt thụ phong xuy mãn giang, Cấp lưu như tiễn bôn phi xang
Chế thân hàm mệnh phó Nam hải, Thôi điệt đăng chủ ủng mặc chàng
Nghiêu Thuấn tuất cô dữ thăng đấu,
Do mễ hà niên không đoạn tràng
Cổ pháo quan kha trì nguyệt dạ,”
Trung lưu ổn trạo phát Chương Dương Quan kha chỉ xích tại tiền chứ,
Hết trục phù âu" xuất Đại Hoàng
Thôi bằng biến lạn trụy song lệ, Tuất xuân quá thử hạ Văn Lung
Tiên thân ái tử lân bạt thiệp, Trung dao tri thu:"Nhié v6 mang
Phong đào đáo hải thái °ngoan manh, Nhữ thân uạn kim giới thùy đường.”
Lưỡng nô kim đĩ các tuyên hạ, Ngô thân trường gid bach uân hương
Cô tử đơn tôn ngiờu mã xỉ, Thiểm thao tạo ngộ phủng luân chương Hồi đầu tiên sự nhất thuấn tức,
Nhân thế bách niên như hoàng lương
Duy chu nhập phẳng ngoại cô trạch, Ngoại cô quyên u¿ tương cập tường
Thiên lý bôn tang bất đắc nghiễn,
Ty hợp tụ tán hà Sâm Thương
Trang 2BUT HAI TUNG DAM Nhan dinh tich mich dai sinh thé,
Haa thụ 0ô ngôn tại uiên tường
Hap triều lại vdng y tién độ,
Hoàng phong lũy lãy cổ lũng cương
Bá loạt lâm thiên lệ bất cấm,
Ô hôi Phù sinh phiển não trường
Bi cdm tai tam, sdu tai tu,
Sổ kinh đối bính bán ban thing
Ngô niên kim thuy tam thập lục,
Bảo hinh hoạn lạc dữ bị thương
Niên hoa thử hậu hứa đu nhật
Can khôn"? uô cùng mễ tại thương
Hồ đồng oô trất phạm bạn tú,
Thứ tu bất bạn tức 0í thương
Kiêu hãnh bất thương hựu '““quá tráng,
Thử sinh cánh đắc sự quân uương
Thần tâm bất tùy thần mấn cải,
Thân thân dị chúc tại kinh sương."
Trì khu thân phận hò đào ngọn,
Thủ giá khinh chủ nam xuất dương
Hai môn thập nhị thử kỳ nhất,
Bich thién® du du thity mang mang
Điền quận tích không Liêu Hỏi ngọn,
Tiễn khanh mộng đoạn nga nga hoàng
Cổ kim để sự nhất thái tức,
Bất giác ngô lệ hựu uông uông
“Vũ trụ dĩ lai” đê Dục Thuy,
Thập tứ” niên tiền tự tự hương
Văn tình thưởng thiên sơn tại địa,
Cô từ trùng lâm không thê lương
Thiên dịu chí nhân phúc ngu xuẩn,
Cô thân hạnh đắc thường khang cường
Hải sơn tụ tại tư bất tận,
Sách bút nhất thư thu phong trường
Thu phong cận lai thùy quản lĩnh,
Trì thượng Thạch Động tố chủ trương
Trang 3NGÔ THÌ NHÂM TOÀN TẬP
DỊCH NGHĨA:
HÀNH KHÚC GIÓ THỤ GỦI PHAM THACH DONG”
Gió thu tháng bẩy, thổi đây sông,
Nước xiết tựa tên, thuyển lướt như bay
Bảy tôi có đại tang mang mệnh đến bể Nam,”
Mặc tang phục lên thuyền, rủ bức trướng đen
Nghiêu Thuấn thương đứa con côi, ban cho lộc thăng đấu, '? Trọng Do đội gạo năm nào, luống đứt ruột gan '9
Thuyền quan thúc trống lướt dưới đêm trăng, Vững tay lái giữa dòng, từ bến Chương Dương ra di
Thuyền quan gần trong gang tấc, đang ở bến phía trước Chợt theo bọt nổi, ra song Dai Hoang.”
Tựa bổng nhìn sóng, hai hàng lệ rỏ, Xuân năm Tuất từng qua đây, rổi xuôi xuống Văn Lang.” Cha ta xưa yêu con, thương con phải lặn lội,
Giữa đường vội gửi thư dặn: “Con chớ nên vội vàng
Sóng gió xô tới biển vô cùng dữ đội, Thân con nghìn vàng, hãy giữ gìn.”
Hai đứa con đòi nay đã ở suối vàng, Cha ta cũng mãi mãi ngự trên làng mây trang.”
Chỉ còn lại đứa con côi, tuổi đại ngây, Thẹn mình lạm gặp gỡ, bưng bức chiếu thư
Việc trước nghĩ lại, mới chỉ trong nháy mắt, Đồi người trăm năm, quả như giấc mộng kê vàng."
Buộc thuyền vào thăm nhà mẹ vợ,
Mẹ vợ qua đời sắp tới giỗ đầu
'Từ nghìn dam chịu tang cha, không kịp về kính viếng, ®
Ly, hợp, tụ, tán khác nào sao Sâm với sao Thương!4®
Sân vắng, quạnh húu, rêu phong đẩy bậc, Cây, hoa lặng thình trong mảnh vườn tường vây
Nước triều lạnh lên xuống y như độ trước, Phần mộ vàng úa lớp lớp nơi gò đống xưa
Rót rượu trước mổ, không cầm nổi nước mắt,
Trang 4BUT HAI TUNG ĐÀM
Than ôi! Kiếp phù sinh này chỉ là cảnh phiền não
Thương cảm để trong lòng, u sâu hiện ở chòm râu,
Soi gương thấy mấy sợi đã nửa phần đốm bạc
Tuổi ta nay mới ba mươi sáu,
Mà đã trải chán chê vui thú với thương đau!
Tuổi tác từ nay về sau còn được bao ngày nữa?
Trời đất là vô cùng, [sinh mệnh người ta] như hạt gạo trong kho Bảo trẻ chớ chải lược, kéo cham phải chòm râu đốm bạc của ta,
Vì râu không đốm bạc, tức là chết non
May mắn không chết non, mà còn được mạnh khoẻ,
Thì kiếp sống này lại được thờ vua
Lòng thần không đổi thay theo chòm râu đếm bạc,
Lời trăng trối của cha thần vẫn còn trong hòm kinh.®
Ruổi rong là phận làm tôi, có ngại gì sóng cao, bờ đốc,
Hãy cưỡi con thuyén nhe di ra bién Nam
Trong mười hai cửa biển, đây là cửa thứ nhất,
Trời xanh bát ngát, nước mênh mông
Vết tích Quận Điền hãy còn trên bờ Liêu Hải,
Dứt mộng tiễn chàng trên con thuyền lênh đênh
Câu chuyện ấy, xưa nay chỉ những thở dài,
[Nay] không đè, nước mắt ta lại hai hang ran rua
“Từ khi có vũ trụ đến nay” là chữ đề trên núi Dục Thuý,°"
Đã mười bốn nắm rồi mà chữ chữ vẫn còn thơm
Sao Văn đã lên trời, mà núi vẫn còn ở dưới đất,”
Đứa con côi lại đến thăm, chỉ thấy cảnh thê lương
Trời đất rất nhân từ, ban phúc cho kẻ xuẩn ngu,
May cho tấm thân đơn côi này luôn được mạnh khoẻ
Nui cao, bể rộng còn đó, khiến lòng ta nhớ khôn nguôi,
Bền tìm bút viết một bài “Gió thu” thổi dai
Gió thu gần đây, mấy ai quản lĩnh?
Xin dâng cho bạn Thạch Động làm người chủ trương.”
KHẢO DỊ:
a Bản A.117/31: Chì đạ nguyệt §&4E H
b Ban À.117/31: Phù âu ‡Ê EỆ
ce Bản A.117/31: Đại ngoan mạnh +% 3ã #
Trang 5NGÔ THÌ NHẬM TOÀN TẬP
d Ban A.117/31: Khén can 3p &%
d Ban A.117/31: Hoan qua trang 2 38 #+
e Kinh tại sương 4# # $Ä
g Ban VHv.16/3 và VHv.1743/22: Bích thuỷ du du thuỷ mang mang 3Ö3*k&&&k##
h Bản A.117/31: Tứ thập niên tiển 99 +} # #ƒ
¡ Bản A.117/31: Tố khai trương ##+ BÄ #E
NGUYÊN CHỦ;
À Tháng chín năm ngoái, mẹ vợ ta từ trần, lúc đó ta đang chịu tang cha ở
Tạng Sơn, nên không về thăm viếng được, đến nay mới có địp đến viếng mộ
B Cái ý của cha ta là vô cùng vô tận, trong kinh có câu “Đổi chữ hiếu làm
chữ trung”
C Từ phía nam thuận dòng xuống cửa Lác, rồi vào cửa Đài, men theo
đường biển vào con đường đi Trường Yên
D Quận Điển nhấy xuống dòng nước, đánh nhau với thủy thần, làm nước tắc nghẽn cửa Liêu Hải, đấu tích ấy hãy còn
Thăng đấu, đơn vị đo lường thời xưa Ở đây, dùng chỉ bổng lộc nói chung
Xem thêm chú thích số 3 bài 4
4 Trọng Do: Người đời Xuân Thu, tự là Tử Lộ, học trò Khổng Tử, là người con hiếu thường đội gạo thuê ngoài trăm đặm lấy tiền nuôi mẹ
5 Bến Chương Dương, nằm trên sông Hồng, nay tại huyện Thường Tín giáp bờ sông Hồng còn có thôn Chương Dương
6 Sông Đại Hoàng, khúc sông Hồng phía bắc tỉnh Nam Định, chảy qua ngã ba Hoàng Giang và giáp với làng Đại Hoàng thuộc phủ Lý Nhân, Hà Nam
7 Văn Lang: Chưa rõ
8 Ý nói cha đã qua đời
9 Giấc mộng kê vàng: Lư Sinh đời Đường, thi hỏng về nhà nằm ngủ, mơ thấy mình được giầu sang, thi đỗ làm quan to, sinh được năm con trai đều giỏi giang, mà mình sống đến 80 tuổi Khi Lư tỉnh dậy thì thấy nổi kê nhà trọ vẫn chưa chín Trong thơ, dùng để chỉ đời người rất ngắn ngủi
Trang 6BUT HAI TUNG BAM
10 Sao Sâm, Thương: Tức sao Hôm và sao Mai, hai ngôi sao ở hai phương
trời khác nhau, và không bao giờ cùng xuất hiện Trong thơ dùng để chỉ sự xa cách, chia ly
11 Ngô Thì Sĩ, khi qua Ninh Bình có để trên núi Dục Thúy, dòng chữ:
Nhật nguyệt quang hoa phù đán đán;
Sơn xuyên tăng chí khánh niên niên
Thái hoà uũ trụ 0ô cương giới;
Cấp túc nhân gia hữu quản huyền
Huy nhuận hưu trưng đa hỷ biện,
Nguyện canh Tiến cốc tục ba thiên
187
Trang 7Nhật nguyệt sáng trong, hợp với sớm sớm;
Sông núi tăng thêm phúc khánh năm năm
Vũ trụ thái hoà, vô bờ vô bến;
Mọi nhà no đủ, vang tiếng sáo đàn
Điềm lành: Sao sáng bể nhuần, mừng vui khôn xiết, Xin hoạ vần “Tấn cốc,” nối bài thơ hoa ®
CHÚ THÍCH:
1 Tiên tỉnh: Vì sao ứng vào địa vị thái tử
Sao Tử Viên, vì sao ứng vào địa vị nhà vua
2 “Tấn cốc”: Thơ Thiên bảo, Kinh thị, thø chúc tụng nhà vua, cá câu: “Tỉ nhĩ tấn cốc” (trời khiến nhà ngươi rất mực tết lành)
Bai thơ hoa (ba thiên), tức bài thơ Thiên bảo, Kinh Thị thường được gọi là
“Ba kinh.”
§0.# =
HRM RE AURA EAR HME DEKE
SH i RHR fe HERF QMS
Aw wh kh RRS
Ko TRE
1 # # k #4 th 3ƒ
Trang 8Mao uiệt ưu hoàn thường 0oũ sự;
Cung đình năng phụng mi than hoa
Nhat tam thành hiểu nghĩ hình tại;
Nguyệt”) lưỡng thuần hưu ý mĩ đa
Cảnh ngưỡng nguyên lương long quốc đồng,
Úc niên hương hoà thị sơn hà
DỊCH NGHĨA:
BÀI 2
Tỉnh tuý anh hoa của đất trời, chung đúc nên bậc Trùng Hoa, Sáng suốt, ôn hoà, cung kính, đức ấy không chút tì vết
Nên lo trọn việc cờ búa, thường xuyên lưu tâm đến võ bị;
Biết phụng đưỡng chốn cung đình, đẹp lòng hoà thuận với
Một ngày ba lượt tỏ lòng hiếu kính, khuôn phép hay còn đó;?”
Cá tháng đôi lần tổ niểm vui, ý đức tăng thêm nhiều
Ngước trông bậc nguyên lương, vững vàng giường cột cho nước, Non sông này, ức vạn năm hương lửa lưu truyền
KHẢO DỊ:
a Chữ nguyệt Ñ, nguyên văn chép “minh”B], không rõ nghĩa trong câu
thở, va lại đối chưa thật chỉnh, ngờ là chữ “nguyệt” viết lầm
CHU THÍCH:
1 Trùng Hoa, có nghĩa là lỗng vẻ đẹp, tức ông cha trước đã có sự nghiệp tốt đẹp, nay mình cũng thừa kế được Trùng Hoa, cũng chỉ vua Thuấn, ông vua hiển đời nhà Ngu
2 Ngày ba lần tô lòng thành kính: Theo Kinh Lễ thì Văn Vương khi làm Thế tử, ngày ba lần đến hỏi thăm sức khoẻ của cha Ở đây, tác giả khuyên, Vương Thế tử nên theo đúng khuôn phép như trong Kinh LÊ
Trang 9Chí đạo dữ niên giai tiến trưởng;
Tân tâm như nhật cộng thanh mình
Bất thư hằng thể khâm cung đức;
Vô dich di ung khdi đệ danh
Van vong ngung ngang chiéu ý thước, Đồng phù tam thiện ti tam anh
DỊCH NGIHA:
BÀI 3
Sáng suốt toả phát, do trời phú cho, Bản lnh như vậy, đủ vẻ tỉnh túy
Đạo lý cùng trưởng thành với tháng năm;
Tấm lòng như ban ngày cùng trong sáng
Luôn thể hiện đức khiêm cung, không chút lơi là;
Càng xứng với tiếng hay khải đễ, chẳng hề chán nản Đức vọng lớn lao, vé dep sang ngời,
Hợp cùng ba điều thiện, phối với ba đức sáng.”
CHỦ THÍCH:
1 Ba điều thiện: Thiên Văn Vương Thế tử trong Kinh Lễ có nói vị Vương Thế tử * làm một việc mà được cả ba điều thiện,” tức là bản thân Thế tử khi vào học ở nhà Quốc học mà biết kính nhường người hơn tuổi mình thì ai nấy đều cảm hoá mà biết đạo yêu mến người thân, tôn kính vua, tôn trọng người lớn Như vậy
là làm một việc mà được cả ba điểu tốt lành
Ba đức sáng (tam anh) chỉ ba đức cần cho người cầm quyền: Cương quyết,
nhu thuận, chính trực
Trang 10BUT HAI TUNG DAM
Đoan thực khắc suy tam trú yếu;
Thao trà hằng cẩn nhất chân tâm
Uyên băng hữu dịch cân Thang đán;
Tịch dạ uô hoang canh Vũ âm
Quang đại cao mình giai điển học, Thời tương thánh huấn thức thân khâm.“9
DỊCH NGHĨA:
BÀI 4
Ngước thấy[Thế tử] nay, đang thời dạt dào tuổi trẻ,
Sáng suốt, mưu hay đủ để trị đời
Có thể suy đức thật thà chính trực từ ba điều cốt yếu;
Luôn luôn thận trọng giữ gìn một tấm lòng thành
Phải lo như xa vực, đạp băng, tựa vua Thang chăm day sém;”
Không phí dù buổi chiều, hay một tối, như vua Vũ đua với
thoi gian Sáng suốt giỏi giang, đều do chăm chỉ học hành,
Luôn đem lời dạy thánh hiển, làm gương cho bày tôi noi theo KHẢO DỊ:
a Bản A.117/31: Thời tương thánh hiến thức thần khâm 8} ## # /& 3, E
4# (Luôn dùng phép tắc của thánh làm gương cho bầy tôi noi theo)
191
Trang 11NGO THI NHAM TOAN TAP
CHU THICH:
1 Ba điều cốt yếu, cũng như “một ngày ba lần tổ lòng thành kính.” Xem
chú thích số 2 bai 80
2 Vua Thang dậy sớm: Kinh Thư chép: V Doãn bảo con vua Thang rằng:
“Đấng tiên vương khi trời mới tảng sáng, đã đậy ngồi đợi trời sáng để làm
việc” hái giáp thượng)
3 Theo sử ký: Vua Vũ chăm chỉ làm việc tiếc từng tấc bóng mặt trời
Ngưỡng chiêu thánh uõ thanh ô chướng;
Thực bả long bùnh tác yến di
Học hữu tựu tương quang thịnh nghiệp;
Công đa bá hoạch xiển bình ky
Trần thường thất đúc đương vi su, Cựu phục uô cương hữu thúc nghị
DỊCH NGHĨA:
BÀI 5
Muôn nước đều yên, khi thời rất trị bình,
Trang 12BUT HAI TUNG DAM
Khí lành, gió thuận: Đương lúc ngời ngời
Ngước trông, sáng bừng công thánh võ, quét sạch bóng đen;
"Thật đã đem nền hung long, truyén cho con chau
Học hành tấn tới, rạng rỡ nghiệp hưng thịnh;
Nhiều công gieo trồng ất thu hoạch, mở nền thái bình
Việc nên làm, thường xuyên trình bày khúc “Thất đức,”®
Có khuôn phép, bờ cõi cũ truyền đến vô cùng
CHÚ THÍCH:
1 That đức: Tên vũ khúc Đường thư chép: Nhạc Phá quân của Tân Vương gọi là “Thất đức vũ” (điệu vũ Thất đức)
Câu thứ 3 bài thơ nói võ công dẹp giặc, nên câu này lại nhắc đến khúc vũ
nhạc Thất đức để hô ứng với ý thơ nêu trên
Ww BR i Hh +
193
Trang 13NGÔ THÌ NHÂM TOÀN TẬP
PIIÊN ÂM:
PHỤNG CANH VƯƠNG TỬ TỨTHI NGUYÊN VẬN
(TỊNH NGỮ) Thần chương phùng tục, học thao đáo giảng đèn; sư lịch phàm tài, lạm tuỳ nhung mạc
Cu quan nhật cửu, u‡ đáp căn nguyên phiêu tạo chỉ cao hào; thị học đối sơ, cốt bì mông dưỡng huận uăn chỉ uạn nhất
Phong phí toàn bằng phủ tựu; cẩm đường hạnh tứ bị bao
Phủng dao chương nhỉ biêu ouọng thanh quang, tiêm khánh hải nhuận tỉnh huy chỉ tượng; ngưỡng thuý các nhỉ liệu kỳ tố giản, nguyện thù sơn tăng xuyên chí chỉ chương
Tường quang xán lan Tit Vi bién, Quynh quynh Tién tinh chiéu van duyén
Nhất mạch thánh thần phù hổ bộ;
Úc niên tô ấm củng Long Biên
Huy hoa thành hiệp Ngu huyễn đúc;
Hiếu để tâm dụ Mạnh đại hiển,
Hữu hạnh ui thần phùng thịnh tế,
Hân chiêu Chấn tượng phúc thuần tuyên
DỊCH NGHĨA:
PHUNG HOA NGUYEN VAN
BÀI THƠ CỦA VƯƠNG TỬ TẶNG CHO
(KÈM THEO LỜI DẪN)
Thân: Văn chương thói tục, trộm được tới chốn giảng đường; củi
rác tài hèn, may được theo nơi nhung mạc
Ngày làm quan đâu phải mới, ơn trời cao gây dựng, đáp lại may may; buổi đấu hầu học đã từng lâu, công giáo dục nung rèn, mong đến bù muôn một
Đã thương tới chọn rau phong phỉ;? lại hậu cho vui chốn cấm đường.?®
Nâng tờ Ngọc dao mà trông về sáng trong, thêm rạng cảnh biển nhuần sao tỏ; ngước thấy gác thúy mà sửa lời giản trát, mong dâng câu:
“Sông chảy núi bền”:
Trang 14BÚT HẢI TÙNG ĐÀM
Ánh sáng lành chói lọi bên toà Th Vi,”
Ngôi Tiền tỉnh vang vac soi khắp muôn loài.”
Một mạch máu thánh thần, hợp bước đi như hổ,
Nghìn năm phúc ấm, bền vững đất Long Biên
Lòng chân thành trong sáng hợp với đức lớn vua Ngu;®
Niềm hiếu đễ, có thể giao du cùng bậc đại hiển họ Mạnh.”
Kẻ bầy tôi nhỏ mọn này, may gặp thời thịnh trị,
Mừng thấy sáng tượng quê Chấn, phúc được vẹn toàn.'®
CHÚ THÍCH:
1 Rau phong phỉ: Loại rau tầm thường Trong thơ văn thường dùng chỉ người tự khiêm là hèn mọn
2 Cẩm đường: Chỉ nơi làm quan
3 “Sông chảy núi bền” (Xuyên chí, sơn tăng), đựa vào câu chúc phúc nhà
vua trong thơ ? hiện bảo, Kinh Thị: “như sơn như phụ như xuyên chỉ phương chí, đi mạc bất tăng” (như núi như gò như nước sông cuộn chảy đến, mọi tht đều trội thêm)
4 Tử Vị, tức toà sao ứng vào ngôi vua
5 Tiền tỉnh: Ngôi sao ứng vào ngôi thái tử
6 Vua Ngu, tức Đế Thuấn
195
Trang 15Năm sắc mây lành che tấm ngọc thêu
Trời yên, sông lặng, đưa mắt nhìn sảng khoái, Cảnh vật tiên châu thu cả vào tầm cân nhắc.®
1 Nguyên văn “tế” ff, xét thấy không hợp nghĩa, đoán là chữ
“£6” 3H (ngược dòng sông) viết lầm
9 Bài này có lẽ tả bức vẽ (hoặc bức thêu) “Con thuyền nhà vua đi chơi trên sông.”
PHIÊN ÂM:
4tr L # &Ñ 8
4 # à tr # âø
A tek He BOR 3% # # 7 R8 šX
KỲ NHỊ Kim âu giang thượng bất phong đào, Ngạn chữ đan bồn trữ hoạ đao
Vì bđ quang huy khôi chiếu chúc, Mac phi xích tử dữ kiêm bào
Trang 16BUT HAI TUNG DAM DICH NGHIA:
BAI2
Vitng như âu vàng, trên sông không sóng gió,
Bờ bến như nêm như chậu, đứng lặng con thuyền vẽ nhỏ Những đem ngọn đuốc sáng soi rộng khắp,
Vi ai chang 1A con dé cing déng bao.”
Hay ldy duée soi cho rộng khắp,
Thấy đều con cái giống nòi ta
Đào Phương Bình
87.H =
Han eT A MARA HB
Phong cảnh thiên nhiên kỳ xảo không thể lưu lại được
[Muốn cho] sang năm non sông dệt thành bức gấm, Hãy làm khuôn phép như năm nay, tổ chức buổi tuần du.”
197
Trang 173⁄4 # št & # RHR RR
PHIEN AM:
KYTU
Bae chiêm nam cố thử quan ha,
Ôn phiếm"” trung lưu phẩm uựng đa
Mao uũ bất phương canh tạc sự,
Vô tình âu lộ hí thương ba
DỊCH NGHĨA:
BÀI 4
Ngóng bắc, trông nam, vẫn non sông này,
Thả thuyền yên ả giữa dòng, thấy bao cảnh vật
Cờ quạt dong chơi không hại gì đến việc đào giếng, cày nương, Chim âu, cò trắng vô tình, cứ rốn với sóng xanh
Trang 18PHIÊM ÂM:
DỊCH NGHĨA:
BÚT HẢI TỪNG ĐÀM
Giữa dòng thuyên thủ, cảnh bao quanh
Nhôn chơi, cuộc sống dan nao hai,
Cò uạc uô từnh rỡn sóng xanh
Tha thuyền dưới ao Hán.”
Ông già giữa ngã tư không biết vua Nghiêu, Nói rằng, thế lực vua có ảnh hưởng gì đến ta ?®
Đẹp thay, non sông này!
Nhờ võ công mà khai phá được
199
Trang 19NGO THI NHAM TOAN TAP
Nước chảy rồng rỡn bay, Dựa tầng cao mà ngắm nhìn bốn cối
CHÚ THÍCH:
1 Nhà Hán là một triểu đại lâu dài ở Trung Quốc, ao nhà Hán cũng như nói ao của Thiên tử Song, chữ “Hán” nghỉ là chữ “Hoàng” viết sai, vì “hoàng trì” mới có chữ
2 Sách [iệt Tử nói: Vua Nghiêu muốn xem xét dân tình, bèn mặc thường phục dạo chơi, tới ngã tư đường, thấy có 8-9 ông già cùng gõ cái nhưỡng và hát:
“Mặt trời mọc thì dậy, mặt trời lặn thì nghỉ, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, chứ thế lực nhà vua có [giúp gì được] ta.”
Ca thúc thử phiên hương hoả đính
Khẳng giao thốn thổ cát Tôn Tào?
DỊCH NGHĨA:
ĐỀ BỨC VẼ TẤM BÌNH PHONG CỦA NHÀ VUA
(BỐN BÀI TỨTUYỆT)
Trang 20BUT HAI TUNG DAM
BAI}
BA NGƯỜI KẾT NGHĨA Ở VƯỜN ĐÀO!
"Trời xui những bậc anh kiệt kết làm anh em ruột thịt, Thé dem tấm lòng sâu kín, cùng ngỏ với cây đào
Phen nay anh anh, chú chú, đính ước bên lò hương lửa,” Đâu chịu đem một tấc đất cát cho họ Tôn, họ Tào?®
CHÚ THÍCH:
1 Thời Tam Quốc, Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi kết nghĩa làm anh em ruột thịt ở vườn đào, để khôi phục lại cơ nghiệp nhà Hán
2 Lò hương lửa: Người xưa, khi minh thệ, thường đốt lò hương lên để thể
3 Họ Tôn, tức Ngô Tôn Quyển Họ Tào, tức Tào Tháo Tôn Quyển, Tào
Tháo, Lưu Bị, là ba nhân vật đứng đầu ba nước: Ngô, Ngụy, Thục thời Tam Quấc
ĐỊCH THƠ:
Trời xui hào hiệt kết dong bao, Thê tấm lòng son uới gốc đào
Hương lita phen nay anh vdi chú,
Ha đem tấc đất nhượng Tôn, Tòo
PHIÊN ÂM:
KỲ NHỊ DƯỢC MÃ QUÁ KIỀU KHÊ
Trục lộc đồ long nhược bất hưu,
Vô tình khê thuỷ nhất hãi đầu
Đăng tân nhược uấn nguyên tùng xuất, Thư Thủy Hô Đà tối thượng lưu
201
Trang 21NGÔ THÌ NHẬM TOÀN TẬP
ĐỊCH NGHĨA:
BAI2 PHONG NGUA QUA:KHE KIỂU
Đuổi hươu giết réng, như không nghỉ ngơi, Nước suối thật vô tình, mỗi khi ngoái đầu nhìn lại
Tới bến, nếu muốn hỏi nguồn từ đâu ra?
Từ mãi vàng thượng lưu sông Thư Thủy, Hô Đà.®
CHÚ THÍCH:
1 Hươu, chỉ thiên hạ nhà Tần, rồng tức Tổ long, tên mà người ta thường gọi Tân Thủy Hoàng xưa Vậy “đuổi hươu, giết rồng” là ý nói giành lại thiên hạ của Tần Thủy Hoàng
2 Thư Thủy, nơi Hán Cao Tổ đánh và chiến thắng Hạng Võ
Hán Quang Vũ đánh nhau với Hung Nô, thua chạy, khi đến sông Hô Đà,
nước kết thành băng, quân đội qua sông xong, băng lại tan thành nước, nên địch
không đuổi kịp Hán Cao Tổ và Quang Vũ đều là tổ tiên của Hán Lưu Bị Vì vậy
ở đây nhắc tới
DỊCH THƠ:
Đuổi giết hươu rằng có nghỉ đâu,
Vô tình khe suối mỗi quay đầu
Hỏi nguồn bến nước từ đâu đến, Thư Thủy, Hô Đà ấy thượng lưu
Trang 22BÚT HẢI TỪNG ĐÀM PHIÊN ÂM:
KỲ TAM TAM CO THAO LU
Hán tặc phân mình chí chẩm biên,
Đường đường chỉ trụ thảo lư tiền
Thùy trí khoảnh khắc đèm tâm xú, Môi đắc giang sơn ngũ thập niên
DỊCH NGHÌA:
BÀI3
BA LAN THAM TUP LEU TRANH ©
Nghiệp Hán, thế giặc, được phân chia rõ ràng, đặt bên gối,”
Bậc dòng dõi đường đường trước lều tranh
Nào ngờ từ chỗ tỏ bày tâm sự trong chốc lát,
Mà giành được non sông năm chục năm trời.”
CHÚ THÍCH:
1 Lưu Bị ba lần đến Nam Dương, nơi Gia Cát Lượng đang ở ẩn, mới mời được ông ra giúp việc khôi phục nghiệp nhà Hán
2 Gia Cát Lượng khi tiếp Lưu Bị trong túp lều tranh đã đưa ra bức địa
đồ và vạch rõ thế chia ba cùng hướng đi ca Luu Bi để giữ cơ nghiệp nhà Hán
8 Năm chục năm: Lưu Bị đã đựng nên cơ nghiệp nhà Hậu Hán, Hậu Hán tổn tại được 48 năm Đây nói năm mươi năm là nói cái thành số trong khoảng đó
DỊCH THƠ:
Hán- giặc, rành chia bên chiếc gối, Liêu tranh nhận rõ bẻ con dòng
Ai hay chốc lát lời tâm đắc,
Năm chục năm trời dựng núi sông
Đào Phương Bình
93.#w
3# 8 #t FARM ERE
SM RRA R Die kK ke HM MRRLZRRAR
203
Trang 23Vũ luận xuy xuất trường giang lại Hoành sáo chỉ hùng an tại tai
DỊCH NGHĨA:
BÀI 4 GIA CAT CAU GIO”
Mười tám dì gió lên đài nhà Hán, Việc ấy chỉ có Ngoạ Long méi lam dude.”
Quạt lông thổi cho sóng nước sông cuộn lên,®
Đấng anh hùng chĩa ngang ngọn giáo nào còn dau!”
CHÚ THÍCH:
1 Chu Du muốn phá quân Tào Tháo ở sông Xích Bích bằng hoá công Nhưng về mùa đông không có gió, Gia Cát Lượng từ Thục Hán sang giúp, bèn lập đàn để cầu gió đông Gió đông nổi lên, Chu Du phóng hoả đốt hết thuyển của Tao Thao
2 Viée dy, dịch thoát chữ “tâm tình” (tâm địa tình hình)
3 Quạt lông và khăn lượt, là trang phục của Khổng Minh hàng ngày và
cả lúc ra chỉ huy trận đánh
4 Đấng anh hùng ở đây chỉ Tào Tháo Tào Tháo kéo quân xuống đánh Tôn Quyển ở Giang Đông, đánh trên sông Xích Bích Trăng sáng uống rượu say, cẦm ngang ngọn giáo và ngâm thơ Câu thơ Ngô Thì Nhậm dựa vào câu phú Tiền Xích Bích của Tô Đông Pha: “Hoành sáo phú thi nhi kìm an tại tai”
DỊCH THƠ:
Di gid lên đài Hán cả rồi,
Tâm tình chỉ tự Ngoạ Long thôi
Quạt lông gió nổi trên sông ấy
Ngon giáo anh hùng đâu mất rồi
Dao Phuong Binh
Trang 24ke RR E LH RRA SK RK
R#OQBRAY
Ale eR A IR RHE AREA
ER ESH Hh PHIEN AM:
PHUNG HA THUY LAN UNG CHE (TINH NGO)
Tư phụng kiến thánh đức nhật tân, thiên bản tư chuyên Hương van trình thụy; Quỳnh sơn tâm thường Trăn trường phát chỉ gia tường; thế
hình hương chỉ trị tượng Cung bằng ba uận, thứ biểu cần tâm
Thiên hương phúc úc ngũ uân đoạn, Tiên phẩm tài thành cấm thự lan
Đăng hoạch song chỉ kinh ngọc cún;
Tuyến trang điệp nhị oánh chu nhan
Ngu hoa dan dén xuân quang cáp;
Chu diét mién mién thuy khí đoàn
Nhánh tụy cung đình hân tập thái, Trù thiêm thánh thọ đối Nam san
Trang 25NGO THI NHAM TOAN T AP
thân thể của thánh nhân càng thêm khỏe mạnh Hương lan báo điểm tốt; khác hẳn tầm thường Cảnh hạ phát mãi đưa đến; buổi trị bình thơm ngat
mỏ ra, Kính dua van hoa, may td long mon:
Hưởng trời sực nức nơi năm sắc mây, Lan sém chốn cung cấm trở nên phẩm giá bậc tiên
Đôi cành điểm băng tuyết, vươn chổi ngọc;
Tầng nhị tô kim tuyến, sáng vẻ châu
Hoa Ngu Thuấn sớm sớm hoà vào nắng xuân;
Dua nhà Chu dằng đặc vây tụ nên khí lành."
Phúc lành đọng ở cung đình, mừng cảnh thái hoà tụ tập, Thêm thể ghi tuổi thánh, thọ sánh non Nam
CHÚ THÍCH:
1 Câu trên ví vẻ đẹp của hoa lan với đức sáng đẹp của vua Ngu Thuấn
(Kinh Thư, thiên Thuấn điển), Câu đưới tả khóm hoa lan phát triển ví như cây đưa lan dẫn của nhà Chu tượng trưng sự hưng thịnh của nhà này (Kinh Thủ, Đại
nhỉ), Cá hai câu tả khóm lan, đồng thời mượn để khen đức sáng đẹp và sự hưng thịnh của nhà Chúa
Trang 262k # HỈ 3k
THỦY VÂN NHÀN VỊNH
Dịch - chú thích:
NGUYÊN THỊ PHƯỢNG NGUYÊN HUY THỨC
NGUYÊN CÔNG VIỆT
Hiệu đính- giới thiệu:
LÂM GIANG
Trang 27THUY VAN NHAN VINH
2k # BỈ iš
THỦY VÂN NHÀN VỊNH
Thủy uân nhàn nh, có bản chép Thủy uân nhàn đàm, tập thơ Ñgô
"Thì Nhậm sáng tác khi lánh nạn ở Thái Bình (1782-1786) Tác phẩm đã ghi rõ “tị nạn thời tác” Nói là “Vịnh cảnh nước mây khi nhàn rỗi” (Thủy oân nhàn nh), nhưng thật ra đây là tập thơ bộc bạch nhiều điều tâm sự, nói nỗi lòng cố quốc, nhiều khi là nỗi buồn man mác khi phải xa quê, hay
tự nhắn nhủ mình phải gắng tu dưỡng vươn lên
Như đã biết, Ngô Thì Nhậm ủng hộ phe Trịnh Cán, được Trịnh Sâm tin dùng, nên sau khi xẩy ra vụ án năm Canh Tý (1780) bị tiếng là
“Sát tứ phụ nhi đắc Thị lang” (Giết bốn người cha để được chức Thị lang) Đến năm Nhâm Dần (1782), Trịnh Tông dựa vào thế lực của một số đình thần và binh lính trong phủ nổi đậy phế truất Trịnh Cán, lập Trịnh Tông Đám kiêu binh cậy thế hoành hành đập phá những nhà quan đại thần trước đây ủng hộ phe Trịnh Cán Ngô Thì Nhậm vì vậy phải một thân một mình chạy về Sơn Nam Hạ (Thái Bình) nương nhờ vào người em vợ là Đồng Lạc thị Suốt những năm tháng sống ở vùng quê này, ông phải sống bằng nghề gõ đầu trẻ và sự trợ giúp của người em vợ ấy Lúc này Ngô Thì Nhậm mới có đủ thì giờ để ngẫm lại việc đời, nhìn nhận lại chặng đường
mà mình đã đi qua, và đã thể hiện trong tập Xuân thu quản kiến khá đỗ
sộ Còn những tình cảm đời thường, những tâm sự riêng tư của ông được thể hiện trong tập Thủy oân nhàn oịnh này Đó là tâm trạng của ông khi vừa rời khỏi chốn quan trường đầy trắc trỏ:
Than nhu chim sợ hãi trong áng mây thẳm, Long tua cd dan dai giữa dòng nước to
(Khién hoài
Đó là những lúc buổn rầu vì một thân một mình phải lẩn tránh nơi góc bể, đến ngày giỗ cha cũng không được xum vẫy cùng người thân:
Mặt biển gió lạnh hiu hat,
Buôn râu tựa cửa thuyền qua ngày
(Bát nguyệt ky cắm hoài)
Trang 28NGÔ THÌ NHẬM TOÀN T ẬP
Xa quê, nhớ nhà, nhớ người thân là lẽ đương nhiên Ngô Thì Nhậm gửi gắm nỗi nhớ ấy vào những bài thơ gửi cho người em trai thứ hai là Học Tốn Học Tốn tên tự là Ngô Thì Chí, hiệu Lê Uyên Mật, đỗ Á nguyên hương tiến, làm quan cho triểu đình Lê - Trịnh đến chức Thiêm thư bình chương sự Trong tập Thủy uân nhờn oịnh này, Ngô Thì Nhậm có tới 8 bài viết gửi cho Học Tốn, lúc thì: “Ở đây có rượu chẳng có người say” hay
“Tình anh em ta phẳng phất như trong giấc mộng” (Ky dé Hoc Tén thi.”
Và ông chỉ biết giải khuây bằng:
Làm thơ để khuây ngày đòi, Khi nao mới được 0ui uầy?
Ông quán đần không hiểu, Trò nhỏ ngây biết chỉ
(Húng định thảo ký Học Tén) Đôi lúc Ngô Thì Nhậm thấy hối hận vì đã dấn thân trong chốn quan trường, ông tâm sự với em:
Tạo hóa phú cho tấm thân ta không đến nỗi đốt nát,
Nhưng nực cười thay, đã một lần lâm lỡ ở chốn phôn hoa!
(Hutu ky dé Hoc Tén thi) Nực cười cho anh em ta tựa Ngưu Lang, Chúc Nữ,
Phải đứng trên sông Ngân trông đợi nhơu biết bao giờ thôi!
(Ký đệ Học Tốn thị) Trong tập thơ còn có hai bài nhớ vợ, hai bài viếng Trịnh Sâm, một bài điếu Quận Huy Nghĩa là, tình nhà nghĩa nước, tình cảm bạn déng liêu đều được bộc bạch ở đây Với người vợ ở quê nhà thì:
Ấn năn lúc ban đầu không làm người dua com di cay,
Chi vi gidu sang ma luy dén khdch khuê phòng
(Hoài noi D Rang:
Bây tôi bỏ nước trốn đi có ai như taf
Vợ hiển lo liệu oiệc nhù, ít người như nàng
(Hoài nội 1Ì) 210
Trang 29THỦY VÂN NHÀN VỊNH Năm 1782 Trịnh Sâm qua đời, thì xấy ra ngay vụ kiêu binh cầm câu liêm móc cổ Quận Huy xuống khỏi mình voi, phế Trịnh Cán lập Trịnh Tông lên ngôi Chúa Ngô Thì Nhậm lúc ấy chưa kịp làm thơ viếng Trịnh Sâm và Quận Huy, đến lúc lánh nạn này mới làm thơ:
Bề tôi này bở oở góc bể, xa nơi bái vong,
Chi biết ngóng đàn hương khói chốn non biêu muôn dặm xa
(Cung uăn Tiên Thánh Vương ]) Ông ca ngợi Trịnh Sâm:
Đức chí hiếu của Tiên Vương, sánh ngang uua Nghiêu Thuấn,
Bề tôi nhỏ mọn đang lẩn trấn này, nhớ tới nghĩa cũ càng thêm cảm động
(Cung van Tién Thanh Vuong ID Với Quận Huy là bạn đồng liêu cùng cảnh ngộ, cùng phò Trịnh Cán, cùng được Trịnh Sâm tin dùng Nay người bạn ấy đã qua đời:
Sinh ra, khí phách anh hùng tụ gửi mình uào thân xác,
Chết di, tính thân còn lưu lại trong uũ trụ mênh mông
Trông lên thật chẳng thẹn uới trời xanh, cúi xuống không hổ uới
(Diéu Huy quận công) Tap Thủy oân nhàn oính là một tập thơ hay Trên đây nêu ra vài ý, còn có ý để chứng tỏ rằng, nó được sáng tác trong thời kỳ Ngô Thì Nhậm lánh nạn kiêu binh (1782 - 1786)
Tập này hiện còn ba dị bản khác nhau chép trong tùng thư Ngô giœ
ăn phát:
1 Bản ký hiệu thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nêm VHv.16/3 là
bản sao chép tốt nhất, đã miêu tả kỹ trong tập Bút hải tùng đàm Từ tờ
92a đến tờ 38b chép Thủy oân nhàn uịnh gỗm 56 bài Xin chọn bản này
làm bản nền
2 Ban ký hiệu VHv.1743/22, cũng được miêu tả kỹ ở tập Bứt hẻi
tùng đàm Tù tờ 22a đến tồ 39a chép tập Thủy van nhan vinh, gdm 56
bài Thứ tự sắp xếp giữa các bài giống như bản nền
3 Bản ký hiệu A.117e/1, cũng được miêu tả kỹ ở tập Bứ hãi tùng
Trang 31THUY VAN NHAN VINH
% 3 ñ # # # & ¡ ä& È 4 8
Han chi tity trao khan diéu dinh;
Sơ uiên đối nguyệt bạn thư đông
Ky sdu trich tan ba tiéu viz;
Lan mong xao tan dương liễu phong
Tối thị gidi phi kham ha titu,
Bất phương đoản hạt khiếu thôn ông
TIÊU KHIỂN NỖI LÒNG
Thân như chỉm hãi, trong may tham,”
Lồng tựa cá khờ, giữa dòng nước lò đờ
Nhìn chiếc thuyền câu, theo nước triểu trên bến vắng; Ngắm trăng, bạn cùng trò nhỏ trong vườn thưa
Mưa trên tâu tiêu, giỏ hết nỗi buồn đất khách;
Trang 32NGÔ THÌ NHÂM TOÀN TẬP
Gió trong hàng liễu, khua tàn giấc mơ lười
Nhất là, có món cua béo, đáng đem nhấm rượu, Gọi là ông già quê mặc áo ngắn, ngại gì đâu!
CHÚ THÍCH:
1 Chim hãi đánh điểu), tức “kinh cung chỉ điểu,” ý nói mình như con chim
bị tên, sợ, bay vút lên cao
DỊCH THƠ:
Thân như chữm hãi trong mây thẳm,
Làng tựa cá đần giữa nước sa
Trào đẩy thuyên câu nghiêng bến lạnh;
Trăng soi trò nhỏ bạn oườn thưa
Mua roi tdu chuối buồn da diết;
Gió thổi hàng đương tàn giấc mơ
Cua béo rượu ngon là thú nhất,
“Già quê áo ngắn” ngại chỉ mài
BAT NGUYỆT KỊ CẢM HOÀI""
Hải thượng hàn phong tiêu sắt,
Trang 33THỦY VÂN NHÀN VINH
Muộn ý bổng song độ nhật
Liing Cuong tung tric van thâm;
Du tử thiên biên phù ất
Tân tảo”) thúc hốt kim niên;
Lệ hướng thu trào thôi xuất."
Huyện hồ uống tác tu mi,
Vị nữ đương sơ hận bất
DỊCH NGHĨA:
NGAY GIO THANG TAM CAM HOÀI'"
Mặt biển gió lạnh hiu hắt,
Buồn rầu tựa cửa thuyển qua ngày
Núi Lũng Cương tùng trúc quện trong mây tham;”
Du tử [lênh đênh] chân trời như chim ất chim phù.”?
Lễ rau tần rau tảo, thoắt đến năm nay;
Lệ như nước triều thu tuôn chảy
Treo cung, uổng làm đấng may rau,”
Hiận rằng buổi đầu không làm phận gái
KHẢO DỊ:
a Ban A.117e/1: Bat nguyét ky thoi A A &
b Bản VHv.16/3: Théi cap # &
c Ban A.117e/1 va VHv.16/3: Tan phồn 3ã 3£
CHÚ THÍCH:
1 Đây là ngày gid mẹ Ngô Thì Nhậm Bà mất ngày 30 tháng 8, Cảnh Hưng thứ 23 (1762), thọ 33 tuổi (Ngô gia thế phả)
2 Núi Lũng Cương, thuộc dãy Phượng Hoàng, tỉnh Quảng Tây, Trung
Quốc Đời Tống, Âu Dương Tu mai táng cha mẹ ở đó Tùng trúc là cây người xưa thường hay trồng bên mộ Ở đây, mượn để chỉ mề mả ở quê nhà
3 Phù, ất là hai loài chim thường sống trên mặt nước và có thể bay xa Đây chỉ sự phiêu bạt
4 Lễ tần tảo, chỉ ngày giỗ, tần tảo là hai loài rau mọc ở khe suối, người xưa dùng để cúng tổ tiên
5 Treo cung: Theo Ñ?nh Lễ, thời xưa khi đẻ con trai, người ta treo chiếc
cung bằng cây dâu trước cửa ra vào, để khi lớn lên đứa trẻ có chí hướng đó đây
Trang 34NGO THI NHAM TOAN T AP
DICH THO:
PHIEN AM:
216
Gió lạnh biển khơi hìu hắt,
Tựa thuyền qua ngày tả nhạt
Tuũng Cương tùng trúc mây sâu;
Du tử bên trời Phù ất
Cúng giỗ thoắt lại năm nay;
Trào thu lệ trăn khóe mắt, Treo cùng uống đẳng mày râu, Buổi đầu chẳng làm gái phắt
RHEAG Hh BF LAH AG
KY DE HOC TON THI (TAM THU)
KY NHAT
Xuân nhật xudn hoa ngan ngan khai, Xuân phong tập tập đáo thiên nhai
Xương Lê hữu titu uô nhân túy;
Phạm Lãi thừa chủ kỉ nhật hồi
Trang 35THỦY VÂN NHÀN VỊNH
Vân ổ kiều chiêm tiên lũng trúc;
Tuyết chỉ không ức cố hương mai
Huân trì ước lược nam song mộng,
Tam bút đông quân bái Đầu Thai
DICH NGHIA:
GUL CHO EM HOC TON" (BA BAD
BAI I
Ngày xuân, hoa xuân bờ bờ nở rộ,
Gió xuân nhè nhẹ thổi tới chân trời
Xương Lê có rượu, chẳng có người say;”
Phạm Lãi bơi thuyển biết ngày nào lại.®
Nghễn trông khóm trúc quện mây nơi xóm cũ;
Nhớ hoài cây mai phô cành tuyết chốn quê xưa
Bên song nam, phẳng phất trong mơ tiếng sáo, tiếng khuyển,® Vài ba nét bút? cùng em dâng lậy Đầu Thai
CHÚ THÍCH:
1 Học Tốn là tên tự của Ngô Thì Chí, hiệu Uyên Mật, em thứ hai của Ngô Thì Nhậm, đỗ Á nguyên hương tiến, làm quan đến Thiêm thư bình chương tỉnh sự Ông là người cô trung với nhà Lê, dâng “Trung hưng sách” mong khôi
phục nhà Lê sau khi bị nhà Tây Sơn lật đổ Ông chết trên đường tòng vong theo
Lê Chiêu Thống năm 1788
9 Xương Lê, tức Hàn Dũ đời Đường, đỗ Tiến sĩ, làm quan đến Lại bộ Thị lang Sau bị biếm xuống làm Thứ sử Tào Châu, nơi xa vắng ít bè bạn
3 Phạm Lãi, người nước Sở, đời Xuân Thu, làm quan ở nước Việt, giúp
Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô Phù Sai; Phạm Lãi không làm quan cho Việt
Vương Câu Tiễn vì cho rằng người này “chỉ sống chung trong hoạn nạn, mà không thể sống chung trong lúc phú quý được.” Phạm Lãi bèn đem theo người
yêu là Tây Thị, cưỡi thuyển đi chơi ở Ngũ hề, không bao giờ trở lại với Việt Vương Câu Tiễn nữa
4, Tiếng sáo tiếng khuyển (huần trì), hai loại nhạc cụ thời cổ Huân trì
nghĩa bóng là anh em hoà thuận với nhau
“5, Ba nét bút, có lẽ chỉ thơ của ba anh em: Ngô Thì Nhậm (anh cả), Ngô
Thì Trí (em thứ ba), cùng với Ngô Thì Chí (tức Học Tốn, em thứ hai) mừng cha
là Ngô Thì Sĩ Còn các em Ngô Thì Hoàng, Ngô Thì Hương đều còn nhỏ, chưa
làm thơ được
Trang 36NGÔ THÌ NHẬM TOÀN T ẬP
6, Đấu Thai, tức chùm sao Bac Dau va chùm sao Tam Thai, là những
chòm sao sáng trên nền trời Đây có lẽ để chỉ người cha có đạo đức, danh vọng
Chén rượu Xương Lé say vang ban;
Con thuyén Phạm Lãi bặt bao hồi
Xóm mây giậu cũ còn mong trúc;
Cành tuyết làng xua uẫn nhớ mới
Phang phất huân trà bên cửa số, Vai ba nét but lay Ddu Thai
Thiên Thai lãng chiếu thanh van han;
Giao"? Thủy quang hàm biểu nguyệt thu
Bạch tuyết khâm hoài duyên lĩnh bi;
Trang 37THUY VAN NHÀN VINH
Từ kính tâm tự tố lưu chủ
Tương tư thời triển hoa tiên khán,
Hấp nhụ thanh hoà Ngũ Phượng lâu
ĐỊCH NGHĨA:
BÀI 2
Nực cười cho bọn ta tựa Ngưu Lang Chức Nữ,”
Đứng bên sông Ngân trông đợi nhau biết bao giờ thôi!
Mây sông Ngân xanh xanh, dọi chiếu núi Thiên Thai; Trang thu ving vac, bóng in dòng Giao Thủy.°)
Lòng như tuyết trắng bám theo sườn núi;
Tình nghĩa anh em“ tua con thuyền ngược dòng
Khi nhớ nhau, thường mở xem bức hoa tiên,°) Tiếng hòa hợp, mến mộ vang trên lầu Nga Phuong.”
dùng để chỉ sự xa cách, ít gặp gõ
2 Thiên Thai, một ngọn núi thuộc huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, có lẽ là nơi
Học Tốn đang ở
3 Giao Thủy: Đoạn sông Hồng tiếp giáp huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
Định và huyện Vũ Tiên (Thái Bình), nơi tác giá đang trú ngụ
4 Tình nghĩa anh em (tử kinh), xem chú thích số 2 bài 23
5 Bức hoa tiên: Một tờ giấy có vẽ hoa, thường dùng để viết câu đối, thơ hay khai bút đầu xuân, thơ tiễn tặng bạn bè (em thêm chú thích số 2 bài 9)
6 Hoà hợp, mến mộ (hấp nhụ) chữ trong thơ Thường lệ ö Kinh Thị, nói về tình nghĩa anh em hoà thuận “Huynh đệ kí hớp, hoà lạc thả nhụ” (Anh em đã hoà hợp, vui vẻ mến mộ)
Lầu Ngũ Phượng: Chỉ văn chương tuyệt vời của người em Hàn Phé va
Trang 38NGÔ THÌ NHÂM TOÀN T ÂP
Hàn Ky là hai anh em déu giỏi cổ văn, nhưng Han Ky (Ja em) thường nói: “Anh
ta làm văn như cái nhà tranh, chỉ tạm che mưa gió thôi, còn văn của ta như lầu Ngũ Phượng.”
5.2
AA f#ƒ # SAF
Keo BAR BP Bom eR BAK
Vô tư thị thiện tự thân hưu
Hod tam hit néi Ly cu’ Ngo;
Thổ tính thành chung Cấn thuộc thu
Thiên địa hữu hoài lưu thạc quả;
Giang ha v6 né đáo hư châu, Miễn hành chân tích ngô nho sự, Kiểu kiểu huy quang nguyệt tai lâu
BAI 3
Vốn đã vững, phương hại gì mà phải buộc bằng đa trâu,“
Vô tư nhìn nhận việc thiện, tự mình thấy thánh thơi
Tâm hoá trống phía trong là tượng quê Ly thuộc phương Ngọ;”
220
Trang 39“THUY VAN NHAN VINH
Tính thổ thành công về cuối, là tượng quẻ Cấn thuộc mùa thu.”' Trời đất như có ý lưu lại quả lớn;®
Sông nước cũng chẳng giận con thuyển rỗng không.”
Giáng giành được công tích thật sự, là việc nhà nho ta,
Vang vặc trên lầu trăng soi sáng
CHÚ THÍCH:
1 Da trâu: Hào sơ cửu, quê Cách Kinh Dịch có câu: “Củng dụng hoàng
nguu chi cach” (rang boc ding đa trâu vàng) Đây ý nói, cần phải dùng đạo
trung chính, tự giữ cho bển thì không lo lắng gì
3 Tượng quê Lự là bai hào đương ở trên và dưới, một hào âm ở giữa, nên gọi là “Ly trung hư” (Quê Ly rỗng giữa lòng) Liên hệ Ly với Ngũ hành, Ly thuộc hoá (lửa) liên hệ với thập nhị chí (12 ch? Ly thuộc về Ngọ (phương nam) Ở dav tác giá khuyên em phải như quê Ly, nghĩa là phải hư tâm mà làm việc
3 Quê Cấn: Thuộc hành thổ, tháng thứ ba của mùa thu thuộc quả Cấn
Ý thơ nói thành công muộn như quẻ Cấn thuộc cuối thu, có ý khuyên em hãy kiên trì phấn đấu dù có muộn màng cũng không Ìo
4 Quả lớn (thạc quả): Kinh Dịch quê Bác bào Thượng củu “Thạc quả bất thực” (quả lớn không ăn), vì không ăn thì còn, nên người sau thường dùng bốn chữ đó để chỉ việc ông cha để phúc lại cho con chau
5 Con thuyển không (hư chu): Lời Thoán, quê Trung Phu, Kinh Dịch:
“Lợi thiệp đại xuyên, thừa mộc chu hư đã” (Vượt sông lớn có lợi là đo đi con thuyền rỗng không), nghĩa la: Dem trung tín mà vượt qua mọi hoạn nạn cũng
như cưỡi con thuyển rỗng không vượt qua sông Đây ý nói, nếu mình vô tâm
không mưu cầu gì thì vượt qua được mọi hiểm nghèo
Trang 40Đã ngoại hữu pham diéu,
Loạn khiếu ký đáo lão."
Hiên trung hữu ban cưu, Trường mình hoài thử đô
Vấn nhĩ hoài đô hoài phú quý?
Cơ bão từy nhân hà đắc ýt
Tiện cừ đáo lão? đáo điển uiên,
222