1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Thời kì phục hưng lượng tử potx

15 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 423,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, vì kĩ thuật thực nghiệm không được phát triển đủ vào lúc đó, nên những người như Niels Bohr, Albert Einstein, Werner Heisenberg và Erwin Schrödinger thay vì thế đã dựa trên nh

Trang 1

Thời kì phục hưng lượng tử

Các nhà vật lí ngày nay thường xuyên có thể khai thác những tính chất khác thường của

cơ học lượng tử để truyền tải, mã hóa và cả xử lí thông tin [hưng như Markus Aspelmeyer và Anton Zeilinger mô tả, những tiến bộ công nghệ của khoa học thông tin lượng tử ngày nay đang cho phép các nhà nghiên cứu chú tâm trở lại vào những nan đề cơ bản phát sinh bởi thuyết lượng

tử

Trí tò mò thuần túy đã từng là động lực sau nhiều thí nghiệm đột phá trong vật lí học Điều này không gì minh họa tốt hơn bằng trong cơ học lượng tử, thoạt đầu là nền vật lí của những vật cực nhỏ Kể từ khi khai sinh ra nó vào thập niên 1920 và 1930, các nhà nghiên cứu đã muốn quan sát những tính chất phản trực giác của cơ học lượng tử một cách trực tiếp trong phòng thí nghiệm Tuy nhiên, vì kĩ thuật thực nghiệm không được phát triển đủ vào lúc đó, nên những người như Niels Bohr, Albert Einstein,

Werner Heisenberg và Erwin Schrödinger

thay vì thế đã dựa trên những thí nghiệm

tưởng tượng để nghiên cứu nền vật lí lượng

tử của từng hạt một, chủ yếu là electron và

photon

Vào thập niên 1970, công nghệ đã bắt

kịp, tạo ra một “cơn sốt vàng” những thí

nghiệm cơ bản tiếp tục cho đến thập niên

1990 Những thí nghiệm này xác nhận thuyết

lượng tử với sự thành công đáng chú ý, và

thách thức nhiều giả thuyết được nhiều người

chấp nhận về thế giới vật chất Trong số

những giả thuyết này là “thuyết duy thực”

(đại khái nó phát biểu rằng kết quả của các

phép đo hé lộ các đặc điểm của thế giới thì

tồn tại độc lập với phép đo), “thuyết cục bộ”

(rằng kết quả của các phép đo ở đây và lúc

này không phụ thuộc vào một số hoạt động

có thể tiến hành ở một nơi rất xa đúng vào lúc này), “thuyết phi ngữ cảnh” (khẳng định rằng kết quả của các phép đo thì độc lập với ngữ cảnh của thiết bị đo)

Trang 2

Nhưng một bất ngờ lớn đã chờ đón những ai đang nghiên cứu trong lĩnh vực này Các thí nghiệm lượng tử cơ bản làm phát sinh một lĩnh vực hoàn toàn mới nhờ đó các nhà nghiên cứu áp dụng các hiện tượng như chồng chất, sự rối và tính ngẫu nhiên để mã hóa, truyền tải và xử lí thông tin trong khuôn khổ mới lạ triệt để “Khoa học thông tin lượng tử” ngày nay là một lĩnh vực chuyên môn đang bùng nổ mang lại những ứng dụng nghe có vẻ vị lai như máy tính lượng tử, mật

mã lượng tử và truyền thông lượng tử vào trong tầm với Hơn nữa, những tiến bộ công nghệ làm

cơ sở cho nó đã mang lại cho các nhà nghiên cứu sự điều khiển chưa từng có tiền lệ trên từng hệ lượng tử một Quyền điều khiển đó hiện đang khuấy động một sự phục hưng trong trí tò mò của chúng ta về thế giới lượng tử, bởi nó cho phép các nhà vật lí lưu tâm đến những khía cạnh cơ bản mới của cơ học lượng tử Hóa ra, điều này có thể mở ra một xa lộ mới trong nền khoa học thông tin lượng tử

Phản trực giác

Cả những thí nghiệm cơ lượng tử cơ bản và khoa học thông tin lượng tử đều nợ nhiều vào

sự ra đời của laser vào thập niên 1960, nó đã mang lại những phương pháp mới và hiệu quả cao

để chuNn bị từng hệ lượng tử nhằm kiểm tra các tiên đoán của thuyết lượng tử Thật vậy, sự phát triển ban đầu của các thí nghiệm vật lí lượng tử cơ bản đã đi song hành với một số nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về quang học lượng tử

Một trong những bước nhảy thực nghiệm chủ yếu vào lúc đó là khả năng tạo ra các cặp photon “rối” Vào năm 1935, Schrödinger đã đặt ra thuật ngữ “sự rối” để chỉ các cặp hạt được mô

tả duy nhất bởi tính chất chung của chúng thay cho tính chất riêng rẽ của chúng – nó đi ngược lại với kinh nghiệm của chúng ta về thế giới vĩ mô Trước đó không lâu, Einstein, Boris Podolsky và Nathan Rosen (gọi tên chung là EPR) đã sử dụng một thí nghiệm tưởng tượng biện hộ rằng nếu sự rối tồn tại, thì mô tả cơ lượng tử đó của thực thể vật lí phải không hoàn chỉnh Einstein không thích quan niệm rằng trạng thái lượng tử của một hạt bị rối có thể thay đổi tức thời khi một phép

đo được tiến hành trên hạt kia Gọi nó là tác dụng “ma quỷ” từ xa, ông hi vọng về một lí thuyết vật lí hoàn chỉnh hơn của cái rất nhỏ không biểu hiện những đặc điểm kì lạ như thế

Điều này nằm tại tâm điểm của một cuộ tranh luận nổi tiếng giữa Einstein và Bohr xem nền vật lí mô tả tự nhiện “là nó thực sự như thế”, như quan điểm của Einstein, hay nó mô tả “cái chúng ta có thể nói về tự nhiên”, như Bohr tin tưởng Mãi cho đến thập niên 1960 thì những câu hỏi này thuần túy mang tính triết học trong tự nhiên Nhưng vào năm 1964, nhà vật lí Bắc Ireland, John Bell, nhận ra rằng các thí nghiệm về những hạt rối có thể cung cấp một phép kiểm tra xem

có một mô tả nào hoàn chỉnh hơn về thế giới ngoài thuyết lượng tử ra hay không EPR tin rằng một lí thuyết như thế là tồn tại

Trang 3

Bell dựa trên luận chứng của ông về hai giả thuyết do EPR đưa ra trái ngược hẳn bởi tính chất của các hạt rối Thứ nhất là thuyết cục bộ, phát biểu rằng kết quả của những phép đo tiến hành trên một hạt phải độc lập với mọi thứ đồng thời thực hiện với đối tác rối của nó nằm ở khoảng cách xa tùy ý Thứ hai là thuyết duy thực, phát biểu rằng kết quả của một phép đo trên một trong các hạt phản ánh các tính chất của hạt mang trước đó và độc lập với phép đo Bell chỉ

ra rằng một kết hợp đặc biệt của các phép đo tiến hành trên những cặp hạt được chuNn bị đồng nhất sẽ tạo ra một giới hạn số (ngày nay gọi là bất đẳng thức Bell) thỏa mãn mọi lí thuyết vật lí tuân theo hai giả thuyết này Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng giới hạn này bị vi phạm bởi các tiên đoán của vật lí lượng tử cho các cặp hạt bị rối (Physics 1 195)

Thí nghiệm trên các cặp rối hay bộ ba photon có thể dùng để kiểm tra quan niệm về hiện thực vật chất Trong các thí nghiệm kiểu Bell ban đầu, cả hai photon của một cặp rối có sự phân cực thẳng giống nhau đối với các bộ phân cực song song Nhưng với các bộ phân cực hướng chếch một góc nhỏ so với nhau, như trong hình, thì kết quả tương tự thu được thường xuyên hơn với cả hai photon so với được phép nếu sự phân cực là một tính chất cục bộ thật sự của các photon

Ví dụ, xét sự phân cực của các photon Một photon độc thân có thể bị phân cực theo một hướng đặc biệt, nói ví dụ là theo phương ngang, và chúng ta có thể đo sự phân cực này bằng cách cho photon đi qua một kính phân cực định hướng ngang Một tiếng tách trên máy dò photon đặt phía sau nó xác nhận phép đo là thành công và cho thấy photon đó bị phân cực ngang; còn không

có tiếng tách có nghĩa là photon bị phân cực theo phương thẳng đứng Tuy nhiên, trong trường hợp một cặp photon bị rối, từng photon riêng rẽ hóa ra không mang bất kì sự phân cực đặc biệt nào trước khi chúng được đo! Việc đo sự phân cực ngang của một trong các photon sẽ luôn luôn cho kết quả ngẫu nhiên, do đó khiến nó có khả năng tương đương nhau tìm thấy một photon phân cực ngang hay phân cực dọc Cho đến nay, việc tiến hành cùng phép đo trên photon kia của cặp bị rối (giả sử một loại trạng thái rối nhất định nào đó) sẽ cho thấy cả hai photon bị phân cực theo

Trang 4

hướng giống nhau Điều này đúng cho mọi hướng đo và độc lập với khoảng cách không gian của các hạt

Bất đẳng thức Bell đã mở ra khả năng kiểm tra những giả thuyết nền tảng nhất định của các lí thuyết vật lí – và nỗ lực nghiêm túc được Abner Shimony thuộc Đại học Boston gán cho là

“siêu hình học thực nghiệm” Trong các thí nghiệm Bell như thế, hai nhà quan sát ở xa đo sự phân cực của các hạt rối theo những hướng khác nhau và tính ra sự tương liên giữa chúng Vì tương quan lượng tử giữa các phép đo phân cực độc lập trên các hạt rối có thể mạnh hơn nhiều so với được phép bởi bất cứ lí thuyết hiện thực cục bộ nào, nên bất đẳng thức Bell sẽ bị vi phạm

Các lỗ thòng lọng lượng tử

Phép kiểm tra đầu tiên như thế đã được tiến hành, sử dụng các photon rối vào năm 1972, bởi Stuart Freedman và John Clauser thuộc Đại học California ở Berkeley; bất đẳng thức Bell bị

vi phạm và các tiên đoán của thuyết lượng tử được xác nhận (Phys Rev Lett 28 938) Nhưng từ sớm đã tồn tại một số lỗ thòng lọng khiến các nhà nghiên cứu không thể nào loại trừ mọi mô hình

“hiện thực cục bộ” có thể có như những lời giải thích cho các tương quan quan sát thấy Ví dụ, có thể là các hạt được phát hiện không phải là vật mẫu hợp lí của mọi hạt do nguồn phát ra (cái gọi là

lô thòng lọng dò tìm) hoặc các bộ phận khác nhau của thí nghiệm có thể vẫn nối kết nhau theo kiểu nhân quả (lỗ thòng lọng cục bộ) Để khép kín những lỗ thòng lọng này, những điều kiện thực nghiệm nghiêm đặt hơn phải được thỏa mãn

Năm 1982, Alain Aspect và các đòng sự tại Université Paris-Sud ở Orsay, Pháp, đã tiến hành một loạt thí nghiệm tiên phong rất gần với đề xuất ban đầu của Bell Đội nghiên cứu đã bố trí hai cơ cấu dò tim hai kênh để tránh đưa ra các giả định về photon không đi qua bản phân cực (Phys Rev Lett 49 91), và các nhà nghiên cứu còn thay đổi tuần hoàn – và do đó mang tính tiền định sự định hướng của các bản phân cực sau khi các photon được phát ra khỏi nguồn (Phys Rev Lett 49 1804) Cả dưới những điều kiện chặt chẽ hơn này, bất đẳng thức Bell vẫn bị vi phạm trong cả hai trường hợp, vì thế làm giảm đáng kể cơ hội giải thích mang tính hiện thực cục bộ về

sự rối lượng tử

Năm 1998, một trong hai tác giả hiện nay (AZ) và các đồng sự, khi đó ở trường đại học Innsbruck, đã khép kín lỗ thòng lọng cục bộ bằng cách sử dụng hai máy phát số ngẫu nhiên lượng

tử độc lập hoàn toàn để thiết đặt hướng của các phép đo photon Điều này có nghĩa là hướng mà

sự phân cực của từng photon được đo được quyết định ở thời khắc cuối cùng, sao cho không có tín hiệu nào (yêu cầu phải truyền chậm hơn tốc độ ánh sáng) có thể truyền thông tin đến phía bên kia trước khi photon đó được ghi nhận (Phys Rev Lett 81 5039) Bất đẳng thức Bell bị vi phạm

Trang 5

Sau đó, vào năm 2004, David Wineland và các cộng sự tại Viện Tiêu chuNn và Công nghệ quốc gia (NIST) ở Colorado, Mĩ, bắt đầu khép kín lỗ thòng lọng dò tìm bằng cách sử dụng các máy dò với hiệu suất hoàn hảo trong một thí nghiệm liên quan tới các ion beryllium rối ([ature

409 791) Một lần nữa, bất đẳng thức Bell bị vi phạm Thật vậy, mọi kết quả tính đến khi đó đều cho thấy không có lí thuyết hiện thự c cục bộ nào có thể giải thích sự rối lượng tử

Trong cái gọi tên là thí nghiệm GHZ, ví dụ, sự phân cực tròn của hai photon thuộc trạng thái rối ba photon cho phép

cơ học lượng tử tiên đoán với độ chắc chắn sự phân cực thẳng của photon thứ ba (trên cùng), trong trường hợp này nó phân cực ngang Thuyết hiện thực cục bộ sẽ tiên đoán sự phân cực thẳng trực giao – trong trường hợp này là thẳng đứng

Trang 6

Nhưng phép kiểm tra cuối cùng của định lí Bell vẫn thiếu sót: một thí nghiệm đơn lẻ kép kín mọi lỗ thòng lọng một lúc Rất không có khả năng là một thí nghiệm như thế sẽ mâu thuẫn với tiên đoán của cơ học lượng tử, vì điều này ngụ ý rằng tự nhiên sử dụng cả lỗ thòng lọng dò tìm trong thí nghiệm Innsbruck lẫn lỗ thòng lọng cục bộ trong thí nghiệm NIST Tuy nhiên, tự nhiên

có thể là có thiếu sót, và một thí nghiệm như vậy là đáng thực hiện nếu chúng ta cuối cùng khép quyển sách lại ở thuyết duy thực cục bộ

Năm 1987, Daniel Greenberger thuộc New York City College, Michael Horne thuộc Stonehill College và AZ (nhóm GHZ) nhận ra sự rối của ba hay nhiều hạt hơn sẽ mang lại một ràng buộc còn mạnh mẽ hơn lêm thuyết duy thực cục bộ so với sự rối hai hạt (Am J Phys 58 1131) Trong khi hai hạt bị rối không ăn khớp với thuyết duy thực cục bộ chỉ ở các tính chất thống kê của chúng, đó là điều cốt lõi của định lí Bell, thì ba hạt rối có thể tạo ra sự mâu thuẫn trực tiếp ở một kết quả đo đơn lẻ vì các phép đo trên hai trong số các hạt cho phép chúng ta tiên đoán chắc chắn tính chất của hạt thứ ba

Những thí nghiệm đầu tiên về ba photon rối được tiến hành vào cuối năm 1999 bởi AZ và các cộng sự, và họ làm sáng tỏ một điều nổi vật phù hợp với thuyết lượng tử ([ature 403 515) Trong chừng mực nào đó, mọi phép kiểm tra về bất đẳng thức Bell và về ba hạt rối (gọi là thí nghiệm GHZ) xác nhận các tiên đoán của thuyết lượng tử, và do đó mâu thuẫn với giả thuyết chung của thuyết duy thực và thuyết cục bộ là giả thuyết cơ sở đang phát huy tác dụng cho mọi lí thuyết vật lí muốn giải thích các điểm của những hạt bị rối

Khoa học thông tin lượng tử

Nhiều thí nghiệm tuyệt vời đã được thực hiện vào những ngày đầu của quang học lượng tử thúc đNy sự hứng thú trở lại với những khái niệm cơ bản của vật lí lượng tử Bằng chứng cho điều này có thể thấy, ví duk, ở số lượng trích dẫn mà bài báo EPR nhận được, nó tranh luận rằng sự rối làm cho mô tả cơ lượng tử của thực tại vật lí là không hoàn chỉnh Bài báo đó được trích dẫn chỉ khoảng 40 lần từ khi nó xuất bản năm 1935 đến năm 1965, ngay sau khi Bell phát triển bất đẳng thức của ông Cho đến nay, nó có hơn 4000 trích dẫn, với trung bình 200 lần trích dẫn mỗi năm kể

từ năm 2002 Một phần lí do cho sự gia tăng này là các nhà nghiên cứu từ nhiều lĩnh vực khác bắt đầu nhận ra những hệ quả ngoạn mục của việc sử dụng sự rối và các khái niệm lượng tử khác để

mã hóa, truyền tải và xử lí thông tin

Sử dụng mật mã lượng tử, áp dụng tính ngẫu nhiên, sự chồng chất và, trong một cơ cấu do Artur Ekert thuộc Đại học Oxford ở Anh đề xuất, sự rối hai hạt để truyền thông tin chống trộm một cách an toàn được đảm bảo bởi định luật vật lí Ứng dụng này của khoa học thông tin lượng

Trang 7

tử đã ra khỏi môi trường phòng thí nghiệm Vào năm 2004, chẳng hạn, AZ và các cộng sự tại Đại học Vienna đã chuyển tiền an toàn giữa một ngân hàng Áo và Vienna City Hall bằng các cặp photon rối do laser phát ra trong một quá trình quang phi tuyến và được phân phối thông qua sợi quang Gần đây hơn, hai chương trình hợp tác quốc tế đã có thể phân phối các photon rối trên khoảng cách 144 km giữa La Palma và Tenerife, bao gồm một minh chứng của mật mã lượng tử,

và hồi đầu năm nay còn cho thấy những đường truyền như thế có thể được thiết lập trong không gian bằng cách cho phản xạ các xung laser đã làm yếu tới mức photon độc thân ra khỏi vệ tinh trở lại trạm thu ở mặt đất Các sản phNm mật mã lượng tử thương mại dựa trên các xung laser đã làm yếu đã có mặt trên thị trường, và thách thức hiện nay là thu được tốc độ bit cao hơn và truyền ở những khoảng cách xa hơn

Mật mã lượng tử, cho phép thông tin được gửi đi hoàn toàn an toàn giữa hai nơi, hoạt động dựa trên sự rối Các cặp photon bị bẫy phân cực được phân phối giữ Alice và Bob, họ muốn chia sẻ một tin nhắn bí mật (trong trường hợp này

là ảnh của hình nộm thần Vệ nữ nổi tiếng xứ Willendorf) Đo sự phân cực của từng photon bị bẫy riêng rẽ sẽ cho một kết quả hoàn toàn ngẫu nhiên Tuy nhiên, nếu Alice và Bob tiến hành phép đo theo hướng phân cực giống nhau, thì kết quả của họ luôn luôn giống nhau trong từng cặp bị bẫy Bằng cách đo nhiều cặp, Alice và Bob thu được chuỗi số ngẫu nhiên giống nhau, khi đó họ sử dụng nó làm khóa bảo mật Alice trộn khóa của cô (góc trên bên trái) với hình gốc (phía dưới bên trái) Hình ảnh mã hóa (ở giữa phía dưới) là an toàn với kẻ nghe trộm vì tính ngẫu nhiên của khóa Tuy nhiên, Bob có thể dễ dàng giải mã tin nhắn bằng khóa của anh ta (góc dưới bên phải) Kẻ nghe trộm tiềm tàng có thể bị phát hiện vì việc can thiệp với các photon của cặp bị bẫy làm phá hỏng sự rối Đây là hệ quả của nguyên lí bất định, và do đó tính an toàn của mật mã lượng tử được đảm bảo Thí nghiệm ban đầu chứng minh hiệu ứng này được tiến hành bởi một đội tại Đại học Innsbruck vào năm 1998 trên khoảng cách hơn 300 m (Phys Rev Lett 84 4729)

Trang 8

Theo kiểu tương tự, con đường dẫn tới các thí nghiệm GHZ đã mở ra lĩnh vực rộng lớn của sự rối nhiều hạt, nó có ứng dụng, trong số những thứ khác, trong đo lường lượng tử Ví dụ, sai

số lớn hơn ở số lượng photon rối trong giao thoa kế dẫn tới sai số nhỏ hơn trong pha của chúng, nhờ đó mang lại phép đo chính xác hơn so với một thí nghiệm tương tự sử dụng cùng số lượng photon không bị rối

Máy tính lượng tử, bằng cách xử lí thông tin thông qua trạng thái của các hệ lượng tử như nguyên tử và photon, hứa hẹn sẽ làm tốt hơn máy tính cổ điển trong những nhiệm vụ nhất định Một phương pháp chế tạo một mẫu thực tiễn của một dụng cụ như thế là cái gọi là máy tính lượng tử một chiều Được đề xuất vào năm 2001, nó hoạt động trên sự rối Trong sự hiện thực hóa lượng tử, năng lượng phát ra từ một laser bơm đi qua tinh thể beta barium borate (BBO) phi tuyến hai lần để làm phát ra hai cặp photon rối, nghĩa là bốn mode không gian chứa bốn photon cả thảy Sự chồng chất kết hợp ở hai bộ tách chùm phân cực đảm bảo bốn photon được phát hiện cuối cùng ở trong “trạng thái đám”, biết nơi đặt thích hợp của các bản nửa sóng và bản phân cực Kể từ năm 2005, các thí nghiệm chứng-minh-khái-niệm (ở trên) với cơ cấu máy tính lượng tử cơ bản này đã cho phép thực hành điện toán thuật toán tìm kiếm Grover, một song đề của tù nhân lượng tử và chứng minh không gian con tách kết hợp tự do (như yêu cầu đối với điện toán lượng

tử thử-sai) đã được thực hiện

Sự rối nhiều hạt còn thiết yếu cho tính toán lượng tử Tính toán lượng tử khai thác các hiện tượng lượng tử cơ bản cho phép các phép tính được thực hiện với tốc độ chưa từng thấy – có

Trang 9

lẽ còn giải được những bài toán quá phức tạp đối với máy tính thông thường, ví dụ như phân tích thừa số thành những số nguyên tố lớn hoặc cho phép tìm kiếm cơ sở dữ liệu thật nhanh Ý tưởng chủ chốt đằng sau phép tính toán lượng tử là mã hóa và xử lí thông tin trong các hệ vật lí tuân theo các quy luật của cơ học lượng tử Nhiều nghiên cứu hiện nay, do đó, dành cho tìm kiếm các bit lượng tử, hay “qubit” xác thực có thể liên kết với nhau để hình thành các thanh ghi và cổng lôgic tương tự như trong máy tính thông thường, chúng sẽ cho phép các thuật toán lượng tử trọn vẹn được thực hiện

Tuy nhiên, vào năm 2001, Robert Raussendorf và Hans Briegel, khi đó làm việc tại Đại học Munich ở Đức, đã đề xuất một lộ trình khác cho điện toán lượng tử dựa trên “trạng thái đám” nhiều hạt bị rối cao độ (Phys Rev Lett 86 5188) Trong cơ cấu này, gọi là điện toán lượng tử

“một chiều”, một phép tính điện toán được thực hiện bằng cách đo từng hạt của trạng thái đám rối trong một chuỗi đặc biệt xác định bởi phép tính nhất định được tiến hành Từng hạt được đo không còn bị rối với những hạt khác và do đó không sẵn sàng cho phép điện toán khác nữa Nhưng những hạt đó vẫn ở trong trạng thái đám sau khi từng phép đo theo đuổi một trạng thái đặc biệt tùy thuộc vào phép đo nào được tiến hành Vì kết quả đo của bất kì hạt bị rối riêng rẽ nào cũng hoàn toàn ngẫu nhiên, nên các trạng thái khác nhau thu được cho các hạt còn lại sau từng phép đo Nhưng chỉ trong một trường hợp đặc biệt trạng thái còn lại là trạng thái thích hợp Ý tưởng then chốt của Raussendorf và Briegel là loại trừ sự ngẫu nhiên đó bằng cách tạo ra chuỗi phép đo đặc biệt tùy thuộc vào kết quả trước đó Toàn bộ cơ cấu, vì thế, miêu tả một máy tính lượng tử quyết định luận, trong đó các hạt còn lại vào cuối tất cả phép đo mang lại kết quả của phép điện toán

Năm 2005, các tác giả hiện nay và đồng nghiệp ở Vienna đã chứng minh nguyên lí điện toán lượng tử một chiều và cả một thuật toán tìm kiếm đơn giản sử dụng trạng thái rối bốn photon ([ature 434 169) Sau đó, vào năm 2007, Jian-Wei Pan thuộc Đại học Khoa học và Công ngệ Trung Hoa ở Hefei và các cộng sự đã thực hiện một cơ cấu tương tự gồm sáu photon Một thuận lợi dễ nhận thấy của máy tính lượng tử một chiều là tốc độ chưa từng có của nó, với thời gian từ phép đo của một photon tới phép đo tiếp theo, tức là một chu kì điện toán, mất không hơn 10 ns

Vấn đề phát sinh

Công nghệ phát triển trong 20 năm qua làm cho việc xử lí và truyền thông tin lượng tử trở thành hiện thực mang lại cho các nhà nghiên cứu quyền điều khiển chưa từng có tiền lệ trên từng

hệ lượng tử riêng lẻ Ví dụ, ngày nay rõ ràng là điện toán lượng tử photon tính hoàn toàn là có thể nhưng nó yêu cầu các nguồn phát photon bị rối và photon độc thân thuần khiết cao, cộng với khả năng điều khiển xác thực trạng thái lượng tử của các photon hay những hệ lượng tử khác trong

Trang 10

phần nhỏ của nano giây Những công cụ cần thiết cho sự phát triển này và những phát triển khác

đã và đang được cải thiện liên tục, tự nó đã mở ra những cách thức hoàn toàn mới để khám phá những câu hỏi sâu sắc phát sinh bởi thuyết lượng tử

Một câu hỏi như thế một lần nữa là nói về quan niệm về tính cục bộ và tính duy thực Toàn bộ nhóm thí nghiệm Bell và GHZ tiến hành trong các năm cho thấy ít nhất là một trong hai giả thuyết này là không tương thích để mô tả thế giới vật chất (ít nhất là chừng nào mà các trạng thái rối còn có tham gia) Nhưng định lí Bell không cho phép chúng ta nói giả thuyết nào trong hai giả thuyết phải vứt bỏ

Trong một thí nghiệm kiểu Legget, các tương quan giữa sự phân cực thẳng đối với một photon và phân cực elip của photon kia có thể chỉ ra là đã vi phạm thế giới quan duy thực, cho dù là sự truyền thông phi cục bộ tức thời được phép Như biểu diễn trong hình, sự phân cực tròn và elip của các photon độc thân có thể đo bằng những kết hợp thích hợp của bản một phần tư sóng và bản phân cực thẳng

Năm 2003, Anthony Leggett thuộc Đại học Illinois tại Urbana-Champaign ở Mĩ đã cung cấp một câu trả lời bộ phận bằng cách đưa ra một định lí xung khắc mới mang rất nhiều tinh thần của thuyết Bell, nhưng với một tập hợp giả thuyết khác (Found Phys 33 1469) Ý tưởng của ông

là vứt bỏ giả thuyết cục bộ và nêu câu hỏi không biết, trong một tình huống như thế, một quan niệm hợp lí về thuyết duy thực – cụ thể là quy một sự phân cực ổn định là tính chất “thật” của từng hạt trong một cặp bị rối – có đủ để làm hồi sinh trọn vẹn thuyết lượng tử Qua trực giác, người ta có thể trông đợi rằng những tác dụng phi cục bộ đã chọn đúng có thể tạo ra các tương quan tùy ý Sau hết thảy, nếu bạn cho phép kết quả phép đo của mình phụ thuộc vào mọi thứ đang tiến triển trong toàn bộ vũ trụ (kể cả tại vị trí của thiết bị đo thứ hai), thì tại sao bạn phải chờ đơi một sự ràng buộc lên những tương quan đó ?

Ngày đăng: 08/08/2014, 15:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w