Cửa van quạt Cửa van quạt lμ loại đóng mở nhờ chuyển động quay quanh các khớp đặt ở ngưỡng đáy vμ áp lực nước tác dụng lên tấm chắn nước truyền cho các giμn rồi truyền cho ngưỡng đáy..
Trang 1b
aW'
W'
W''W''
Hình 17-14 Sơ đồ lực thuỷ động
tác dụng lên dầm phai
Khi dầm phai đã thả xuống nằm ở
vị trí cuối cùng của nó thì lực W” có tác dụng kéo phai lên, vì vậy trọng lượng bản thân cần phải lớn hơn lực nμy để phai không bị đẩy nổi
- Khi các dầm phai được thả xuống hoμn toμn để chắn nước thì chúng chỉ chịu áp lực thuỷ tĩnh Trong các trường hợp trên, dầm phai được xem như dầm đơn hai đầu tự do vμ chịu uốn dưới tác dụng của ngoại lực Dựa vμo sơ đồ ngoại lực xác định mô men uốn lớn nhất phát sinh trong dầm vμ xác định kích thước hợp lý dầm phai
Ngoμi ra về mặt cấu tạo yêu cầu chiều rộng của dầm phai phải ≥ 10 ữ 15cm
VI Một số bộ phận của cửa van phẳng
Đối với cửa van phẳng loại trượt, bộ phận đỡ tựa vμ trượt tiếp xúc của cửa van được thể hiện trong hình (17-15) Hình (17-15a) lμ hình thức đơn giản nhất, thờng dùng cho van nhỏ hoặc van gỗ Một thanh thép hình được gắn chặt vμo mố trụ để lμm nơi cho cửa van tỳ vμ trượt khi đóng mở ở cửa van, tại chỗ tiếp xúc gắn một thanh kim loại để truyền lực lên mố trụ
Đồng thời thanh kim loại có tác dụng cải thiện điều kiện tiếp xúc, lμm giảm lực ma sát khi
đóng mở cửa van ở hình (17-15b) ngoμi bộ phận trượt còn bố trí bánh xe định hướng, có tác dụng giúp cho cửa van ổn định không xê dịch ngang trong quá trình chuyển động ở hình (17-15c) người ta dùng gỗ ép lμm bộ phận tiếp xúc nhằm giảm lực ma sát, tránh han rỉ vμ mμi mòn
do trượt tiếp xúc gây nên Đối với cửa van có bánh xe lăn, có nhiều hình thức gắn bánh xe (hình 17-16) Hình (17-16a) lμ cách lắp bánh xe trên trục công son gắn ở đầu dầm Loại nμy việc lắp bánh xe không đòi hỏi độ chính xác cao, hay dùng ở những khoang rộng khoảng 5 ữ 6m Sơ đồ hình (17-16b) khi gắn bánh xe vμo cửa van, ngoμi cột chính còn có cột phụ ngắn để giữ
vμ lμm điểm tựa cho trục bánh xe Loại nμy kết cấu cứng hơn loại đầu, việc lắp ráp bánh xe đơn giản hơn, kích thước của van cũng dùng như trên Loại (17-16c) đòi hỏi khe phải rộng hơn Bánh
xe không có khe nên phải lắp thêm một số bánh xe định hướng để giữ cho bánh xe chính luôn chuyển động theo đúng vị trí Khi các khoang khá lớn, lμm độ võng dầm có thể lớn hơn, bánh
xe dễ bị nghiêng, chóng mòn Để giữ áp lực luôn tác dụng chính tâm bánh xe vμ để bánh xe không bị nghiêng có thể dùng kiểu bản lề (hình 17-16d)
Trang 24 3 2
1
2 1
5 6
Hình 17-15 Bộ phận đỡ tựa và trượt tiếp xúc của cửa van phẳng
1 Thanh thép hình gắn vào mố trụ; 2 Thanh kim loại tỳ; 3 Thanh ray;
4 Bánh xe định hướng; 5 Gỗ ép; 6 Lớp kim loại không rỉ
3
2
41
6
3
627
Trang 4d) e) Hình 17-18 Thiết bị chắn nước bên cạnh (a, b, c) và tường ngực (d, e)
a và b) Vật chắn nước bằng gỗ; c, d, e) Bằng cao su
Đ17.3 Cửa van hình cung
I Khái niệm chung
Cửa van hình cung lμ loại cửa van có bản chắn nước cong mặt trụ Sau tấm chắn nước
lμ hệ thống dầm tựa vμo cμng, chân cμng tựa vμo trục quay gắn vμo trụ Chuyển động khi nâng hoặc hạ cửa van lμ chuyển động quay
Khi trục quay của cửa van trùng với tâm vòng tròn của tâm chắn, áp lực nước sẽ truyền qua cμng đến trục quay Nếu tâm quay nằm thấp hơn tâm cung mặt chắn thì lực mở sẽ giảm; khi tâm quay nằm phía trên tâm cung mặt chắn thì áp lực nước có tác dụng ép cửa van xuống ngưỡng lμm cho đáy khít hơn, ít rò rỉ Song nhược điểm của các trường hợp nμy lμ dễ gây hiện tượng rung động khi mở cửa Vì vậy thường bố trí trục quay trùng với tâm vòng tròn của mặt chắn
Ưu điểm của van hình cung lμ lực mở nhỏ, mở nhanh vμ dễ dμng, điều tiết lưu lượng khá tốt, trụ có thể lμm mỏng so với van phẳng vì khe van nông Tuy nhiên trụ phải lμm dμi để
có đủ kích thước đặt cμng van áp lực nước tác dụng tập trung lên trụ (qua cμng van) lμm cho ứng suất phát sinh trong trụ vμ việc bố trí cốt thép chịu lực phức tạp, nhất lμ những nơi van lμm việc trong điều kiện chịu lực hai chiều Về cấu tạo vμ lắp ráp van cung cũng khó khăn, phức tạp hơn van phẳng
Cửa van cung lμ loại được áp dụng khá rộng rãi, nhất lμ khi cửa tháo có nhịp lớn haỷ những nơi cần tháo nước nhanh Vật liệu lμm cửa van thường bằng thép Khi cửa van không lớn cũng có thể lμm bằng gỗ
II Lực tác dụng lên cửa van hình cung
áp lực nước thượng lưu W tác dụng lên cửa van lμ hợp lực của áp lực theo phương ngang W1 vμ theo phương đứng W2 như hình (17-19) biểu thị
2 2 2
1
Trang 5l - chiều dμi nhịp van;
γ - trọng lượng riêng của nước
Điểm đặt của W1 cách đáy một khoảng 1/3H1 vμ cách tâm quay O một khoảng l1
áp lực đứng W2 bằng trọng lượng khối nước ABC, điểm đặt cách tâm O một khoảng l2 Trị số l2 xác định từ công thức:
0 l W l
Cũng phân tích tương tự như trên để tính áp lực nước phía hạ lưu cửa van (sơ đồ hình 17-19,b)
Hình 17-19 Sơ đồ áp lực nước tác dụng lên van cung
Trọng lượng cửa van bằng thép có thể xác định sơ bộ theo công thức do A.R.Bêrêzinskin đề nghị:
4 F F 1500
T K
l
l G
Trang 6r Q f
4
3
với α lμ góc giữa phương thẳng đứng vμ phương dây kéo
Lực kéo T2 để thắng ma sát tại thiết bị chắn nước ở hai bên
4 2
l 2
e R fP T
e - chiều rộng của thiết bị chắn nước
IV Một số nguyên tắc bố trí và cấu tạo
Cửa van hình cung bao gồm bản chắn nước, hệ thống dầm, cμng đỡ vμ khớp quay (hình 17-21) Hệ thống dầm cũng bố trí theo nguyên tắc ở mọi chỗ bản mặt chịu lực như nhau, các dầm chính chịu lực như nhau để tiện thi công vμ tận dụng khả năng chịu lực của vật liệu
Trang 74
1 3
Dựa vμo sơ đồ áp lực nước tác dụng, chia áp lực đó thμnh từng phần nhỏ 1, 2, 3 (hình 17-22a) Vẽ đa giác lực do các lực đó hợp thμnh Nối điểm a vμ b ta được tổng hợp lực W (hình 17-22,b) Chia đoạn ab thμnh 2 phần bằng nhau ad = db Từ d kẻ đường vuông góc với ab gặp đa giác lực tại c Về trị số ta có ac = cb, tức lμ hai rầm đó chịu lực của nước truyền tới bằng nhau Từ tâm
O kẻ các đường OC // ac, OD // cb ta xác
định được phương vμ vị trí đặt hai dầm chính
Đối với hệ thống cμng van, chịu áp lực nước từ dầm vμ cột biên truyền tới, tính toán theo nguyên tắc giμn Khớp quay lμ nơi cμng tựa lên vμ quay khi đóng mở cửa Hình 17-23 biểu thị một số hình thức khớp quay Trường hợp bán kính van cung R = (1,2 ữ 1,5)h1, (trong
Trang 8đó h1 lμ chiều sâu nước thượng lưu) thì khớp đặt thấp hơn mực nước thượng lưu Khớp thường
đặt cao hơn mực nước lớn nhất ở hạ lưu để tránh bị han rỉ
ảnh hưởng tới việc đóng mở cửa
Hình 17-24 Một số thiết bị chắn nước của van cung
a, b) Chắn nước bên cạnh; c) Chắn nước đáy
Trang 9Đ17.4 Một số loại van đóng mở bằng sức nước
I Cửa van quạt
Cửa van quạt lμ loại đóng mở nhờ chuyển động quay quanh các khớp đặt ở ngưỡng đáy
vμ áp lực nước tác dụng lên tấm chắn nước truyền cho các giμn rồi truyền cho ngưỡng đáy Khi mở, cửa van nằm trong buồng ở ngưỡng đáy (hình 17-25) Vì vậy van dùng trong trường hợp ngưỡng đáy có đủ chiều cao để bố trí buồng van; thường chiều cao của ngưỡng phải lớn hơn 1,5 lần chiều cao của cửa van Cửa van của đường trμn hồ Cấm Sơn (Lạng Sơn) lμ một ví
dụ loại nμy
21
Hình 17-25 Cửa van hình quạt
Hình vẽ (17-25) giới thiệu đường dẫn tháo nước qua trụ để dẫn nước vμo hoặc tháo ra khỏi buồng van khi đóng hoặc mở Khi mở cửa, người ta đóng khoá 1 vμ mở khoá 2, như vậy nước trong buồng được tháo về hạ lưu, van hạ xuống dưới tác dụng trọng lượng bản thân Khi cần nâng van lên, đóng khoá 2 vμ mở khoá 1 để dẫn nước vμo buồng van Cửa van được nâng lên dưới tác dụng của áp lực nước Nếu cần điều chỉnh, khoá 1 vμ 2 có thể giữ cửa van ở một
độ mở nhất định nμo đó
Loại van nμy đóng mở nhẹ nhμng, nhanh chóng, điều tiết mực nước khá tốt, tiện cho việc tháo các vật nổi Tuy nhiên, khi sông có nhiều bùn cát thì dễ gây lắng đọng trong buồng van
Loại nμy có thể dùng cho các khoang lớn (tới 60m) nhưng không cao (tới 5m)
Khi cửa van nằm ở vị trí đóng ta có phương trình cân bằng mô men như sau (hình 26a):
17-0 R T r W f b W a
Khi cửa van ở một vị trí nμo đó, ta có (hình 17-26b):
0 R T R W f c W b W a
Trong các công thức trên:
G - trọng lượng van;
a - cánh tay đòn của G đối với tâm quay;
W1, W2 - áp lực tác dụng vμo 2 phía bản chắn;
Trang 10W3 - áp lực nước tác dụng vμo tấm chắn phía trên cửa van, cánh tay đòn của W3 lμ c;
f0 - hệ số ma sát của vật liệu khớp quay;
với H lμ cột nước trước cửa van Các dầm
chính cũng bố trí theo nguyên tắc chịu lực
lμ một thanh thép tròn đặc hoặc rỗng đặt dọc theo ngưỡng đáy vμ lμm trục quay chung của các khớp, chịu lực từ giμn truyền tới rồi truyền cho ngưỡng đáy
Hình (17-28) biểu thị bộ phận khớp quay van quạt có trục quay lμ một thanh thép tròn rỗng
67
4
1 3
Hình 17-27 Cấu tạo cửa van hình quạt
1 Giàn mặt; 2 Dầm chính; 3 Dầm phụ; 4
Cột đứng; 5 Càng quay;
6 Khớp quay; 7 Trục khớp ngang
Hình 17-28 Khớp quay của van quạt
II Cửa van mái nhà
Trang 11Hình 17-29 Cửa van kiểu mái nhà
Tại chỗ hai cánh cửa tiếp giáp nhau, để cho việc đóng mở được dễ dμng người ta gắn bánh xe cho hai cửa tỳ lên nhau vμ chuyển động lăn khi đóng mở
Tấm chắn hạ lưu thường xuyên chịu áp lực nước lớn hơn, do đó hệ thống dầm đỡ ở tấm chắn nước hạ lưu phải lμm cứng hơn Hệ thống dầm bố trí như hình thức khung giμn, các dầm
đặt cách nhau 1,5 ữ 2,0m
Trường hợp cửa ở vị trí đóng, sơ đồ lực tác dụng được thể hiện ở hình vẽ (17-30a) Cửa van chịu tác dụng của áp lực nước W1, W2, W3, trọng lượng các cánh cửa G1, G2, phản lực N tại chỗ tiếp giáp C, phản lực ở khớp A, O, lực ma sát tại khớp A, C vμ O Dựa vμo điều kiện cân bằng mô men ta có:
0 Nn br G a W a
Đối với tấm chắn hạ lưu:
0 Nn b
G a
Các trị số cánh tay đòn của các lực a2, a3, n1, n2 vμ các lực W2, W3 có thể biểu thị bằng
độ sâu hk (tính từ cao trình mực nước trong buồng van đến điểm O) Khi biết được W1, G1, G2,
b1, b2 từ công thức (17-28) có thể xác định được hk, tức lμ xác định được chiều sâu nước cần thiết trong buồng van
Trang 12Hình 17-30 Phân tích lực tác dụng lên cửa van mái nhà
Khi cửa van ở vị trí trung gian (hình 17-30b) trị số các lực W1, W2, W3 vμ cánh tay đòn của các lực thay đổi Ngoμi ra còn có thêm lực tác dụng của nước trμn trên mặt W4, áp lực nước trong buồng van tác dụng lên phần trên tấm chắn thượng lưu W5 Dựa vμo điều kiện cân bằng mô men ta xác định được mực nước trong buồng van
Do sử dụng được bộ phận dẫn tháo nước ở buồng van để đóng mở cửa, nên lực đóng
mở nhỏ vμ tốc độ đóng mở nhanh Vì vậy loại van nμy có thể dùng khi nhịp rộng tới 40 ữ 45m với chiều cao 6 ữ 7m Nhược điểm loại van nμy lμ trong quá trình tháo nước, cửa van thường không ổn định Khi có nhiều bùn cát dễ gây lắng đọng, gây bất lợi cho chuyển động của cửa
Đ17.5 Một số loại van dưới sâu
I Cửa van đĩa
Van đĩa dùng để chắn nước ở các lỗ hoặc ống đặt dưới sâu như các lỗ trong thân đập, các đường ống dẫn nước vμo turbin của nhμ máy thủy điện v.v Đĩa lμm bằng kim loại đặt trong một vỏ bằng thép Van đĩa có loại quay quanh trục ngang (có tên gọi lμ van bướm) hoặc quay quanh trục đứng
Loại van đĩa trục ngang vỏ thép, tại vị trí đóng mở có đường kính lớn hơn đường kính ống một chút, tạo thμnh hai vai đỡ lμ hai nửa vòng tròn khi đóng cửa van Do nửa đĩa phía dưới chịu áp lực nước lớn hơn nửa đĩa phía trên sẽ tạo ra mômen quay ép chặt cửa van vμo vai đỡ Tuy nhiên để tăng lực ép cửa van vμo vai, người ta vẫn bố trí thêm bộ phận cơ khí để ép cửa van khi đóng Tại chỗ vai đỡ có bố trí thêm các nửa vòng đai bằng đồng thau hay bằng cao su
để tăng độ khít, hạn chế rò rỉ nước Khi đóng, cửa van nằm một góc gần 800 so với trục dọc của ống (hình 17-31) Khi mở hoμn toμn đĩa sẽ nằm theo trục dọc của ống Nếu ta bố trí khi
đóng mμ cửa van hợp với trục dọc một góc 900 thì khi mở hoμn toμn sẽ hợp với trục dọc một góc gần 100 do điều kiện tiếp giáp của các nửa vòng tròn với trục quay của đĩa Lúc van mở,
áp lực ở nửa trên của đĩa sẽ tăng dần Sở dĩ có hiện tượng nμy lμ do có áp lực dư (áp lực thuỷ
động) ngoμi áp lực tĩnh ở phía trước, ở phía sau có chân không (khu nước xoáy) Mômen do áp lực dư nμy sinh ra sẽ lớn nhất khi cửa van mở chừng 500 ữ 600 Lúc nμy dòng chảy có khuynh hướng đóng cửa van lại, vì vậy cần có bộ phận giữ vμ tiếp tục mở cửa
Trang 13Hình 17-31 Cửa van đĩa trục ngang
1 Khu áp lực dư; 2 Khu nước xoáy
Hệ số tổn thất cột nước qua cửa van khi mở hoμn toμn khoảng 0,26 Cửa van đĩa có ưu
điểm lμ lực đóng mở nhỏ, thao tác nhẹ nhμng, nhanh chóng, thường dùng lμm van sự cố Nhược điểm lμ dễ gây chấn động, có chân không lớn, khi mới mở cửa Khi không điều tiết lưu lượng người ta đã dùng van đĩa đường kính 1,6 ữ 3,45m, với cột nước 55 ữ 150m Van đĩa có thể sử dụng như cửa van điều tiết lưu lượng với cột nước 20 ữ 30m
II Van kim
Van kim lμ loại van có thể dùng điều tiết lưu lượng ở những nơi cột nước lớn Van có thể lμm việc trong trường hợp đóng, mở hoμn toμn hay ở vị trí trung gian mμ không có rung
động Loại nμy dùng được ở những nơi có cột nước tới 800m vμ đường kính đạt tới 6,5m Van thường đặt ở cuối các lỗ tháo nước phía hạ lưu đập vμ tháo nước ra không khí, tổn thất cột nước qua cửa van nhỏ (khoảng 0,20 v2/2g) Loại van nμy có kết cấu phức tạp, đắt
Cửa van (hình 17-32) gồm một vỏ bọc kim loại hình bầu dục 1, xi lanh cố định 2, phần
đầu dạng hình côn 3 Trong xi lanh cố định có bộ phận chuyển động như một pittông 4 ở đầu pittông gắn khối đúc hình kim 5 Khi cửa mở, nước chảy trong khoảng trống giữa vỏ vμ xi lanh cố định Khoảng 6 ở sau hình côn; khoảng 7 giữa xi lanh vμ pittông đều ăn thông với thượng hạ lưu nhờ các ống dẫn
Khi mở van người ta cho nước vμo khoảng trống 7 vμ tháo nước trong khoảng trống 6
ra Do tác dụng của áp lực nước trong buồng 7, pittông bị đẩy từ phải sang trái để mở cửa Khi cần đóng cửa, dẫn nước vμo buồng 6 vμ tháo nước ở buồng 7, pittông sẽ chuyển động từ trái sang phải Trường hợp cửa van ở vị trí trung gian có thể dùng bộ phận cơ khí điều chỉnh trục van ở vị trí đã định Hoặc có thể lợi dụng áp lực tác dụng vμo đầu bộ phận hình kim đẩy lùi pittông đến vị trí nhất định
Trang 145
24
6
b)
456
III Van khoá
Van khoá lμ dạng được sử dụng rộng rãi cho các đường ống dẫn nước, khí
Trong các công trình thuỷ lợi, van
khoá được sử dụng nhiều ở các cống lấy
nước dưới đập có đường kính không lớn (D
< 0,8m), đặt cửa van ở cuối cống để tạo chế
độ chảy có áp ổn định trong cống (xem
chương 15) Phổ biến nhất lμ loại van khoá
tròn (hình 17-33) Về cấu tạo, van khoá tròn
có một vỏ bằng gang đúc, bên trong có một
đĩa chuyển động dạng phẳng (hình 17-33)
hay hình nêm Khi đường kính D < 0,75m,
có thể mở van trong điều kiện có độ chênh áp
lực ở mặt trước vμ sau van Điều nμy cho
phép sử dụng van khoá lμm van chính hay van
sự cố
D
Pd PnQ
a
Hình 17-33 Sơ đồ van khoá tròn
Còn khi đường kính lớn hơn thì phải dùng đến thiết bị cân bằng áp lực để hỗ trợ khi
mở van
Trị số hệ số sức cản thuỷ lực của van khoá có tấm chắn phẳng song song phụ thuộc vμo
độ mở tương đối m = a/D như trên bảng 17-2, trong đó ξv dùng khi van đặt trên đường ống; ξv’ dùng khi van đặt ở cửa ra (không xét đến tổn thất cột nước lưu tốc ở cửa ra)
Trang 15IV Van côn (van nút chai)
Van côn lμ một ống hình trụ cố định được đậy ở cuối bằng một nút hình côn (nón) Nhờ một cơ cấu đặc biệt, một xi lanh động có thể di chuyển dọc theo trục ống để điều khiển
độ mở van Van thường đặt ở cửa ra của ống tháo vμ dòng chảy phóng ra từ đó dưới dạng chùm tia phun vμo không khí hoặc ngập dưới mực nước hạ lưu
Trong xây dựng thuỷ lợi những năm gần đây, van côn đã được sử dụng tương đối nhiều
ở các cống thép bọc bêtông cốt thép dưới đập đất,như ở cống Ea Soup thượng (Đak Lak): D = 1,8m; cống Nam Suối Dầu (Khánh Hoμ): D = 1,7m; cống Vạn Hội (Bình Định): D = 1,5m
Hình 17-34 Van côn có đường kính 2200mm (đơn vị trong hình vẽ: mm)
Cấu tạo của van côn gồm xi lanh cố định 1 (hình 17-34) nối liền với vỏ thép của ống dẫn; nút chặn hình côn 2 gắn cố định ở cuối; một xi lanh khác có đường kính nhỏ hơn có thể
di động dọc theo trục ống nhờ một cơ cấu điều khiển để khống chế độ mở van Góc ở đỉnh của nút hình côn thường chế tạo trong khoảng từ 500 ữ 900; van có α = 500 cho phép giảm nhỏ kích thước của buồng tiêu năng phía sau
Hệ số tổn thất thuỷ lực của van côn có hμnh trình S = 0,68D vμ α = 500 xác định theo bảng 17-3
Bảng 17-3 Hệ số sức cản thuỷ lực của van côn có α = 50 0 và S = 0,68D
Độ mở tương đối m = A/S D
'
D
0,1 0,2 0,3 0,4 0,5 0,6 0,7 0,8 0,9 1,0 1,10 66,3 19,7 9,83 5,77 3,73 2,50 1,71 1,17 0,80 0,521,04 128,3 30,5 13,6 7,67 4,86 3,27 2,29 1,63 1,18 0,91
Trang 16Chương 18 - bể lắng cát
Đ18.1 : Khái niệm vμ phân loại bể lắng cát
Nước từ sông vμo các kênh tưới, nơi có vận tốc nhỏ hơn vận tốc trong sông,sẽ để lại một phần bùn cát ở trong kênh đó; những bùn cát cỡ lớn sẽ lắng đọng ở lại đoạn đầu của các kênh chính; phần bún cát cỡ nhỏ hơn theo sự phân nhánh tiếp của các kênh sẽ lắng đọng hầu hết trên chiều dμi của chúng,còn phần bùn cát còn lại sẽ được mang vμo các cánh đồng tưới Bùn cát được lấy vμo cùng với nước sông sẽ gây nên sự lắng đọng trong kênh, lμm giảm đáng
kể khả năng thoát nước của các kênh (đến 70 ữ 80%), lμm phức tạp cho sự phân phối nước của các công trình vμ lμm cho việc khai thác công trình khó khăn thêm Việc dọn sạch kênh khỏi các bùn cát lắng đọng (có thể đạt tới 80 m3/ha) đòi hỏi những phí tổn lớn
Ví dụ: sông Hồng có lượng ngậm cát trung bình nhiều năm từ 2,5ữ3,0 kg/m3,hμm lượng bùn cát cực đại khoảng 16 kg/m3 vμ hμng năm sông Hồng có thể vận chuyển tới 100 triệu tấn bùn cát
Trong thực tế, tuỳ theo tình hình cụ thể mμ chúng ta thực hiện các biện pháp sau hoặc kết hợp một số biện pháp đó với nhau để hạn chế một cách tối đa lượng bùn cát vμo kênh:
- Chống hiện tượng xói mòn đất mμu ở các vùng thượng du vμ trung du như việc chống phá rừng, trồng cây gây rừng
- Lμm các đập có thể thấm nước bằng cuội sỏi hay đập bằng bê tông lắp ghép ở các
đoạn sông miền núi vμ trung du để giữ lại bùn cát đáy vμ một phần bùn cát cỡ lớn (biện pháp tạm thời)
- Bố trí hợp lý các công trình đầu mối lấy nước, loại trừ các loại bùn cát vμo hệ thống kênh (tưới, phát điện) gây lắng đọng
- Lμm các bể lắng cát để lắng đọng lại các loại bùn cát lơ lửng cỡ trung bình vμ cỡ nhỏ trong nước có hại, không phù hợp với yêu cầu của các ngμnh dùng nước
Trong các bể lắng cát không phải tất cả bùn cát đi qua đều lắng xuống Nếu lắng đọng hoμn toμn tất cả các loại bùn cát lμ không có lợi, bởi vì : những hạt đất mμu được đưa vμo ruộng sẽ lμm tăng
độ phì nhiêu của đất Mặt khác việc lμm cho nước trong hoμn toμn có thể lμm cho sau bể lắng bị xói lở
Việc xác định kích thước của các hạt bùn cát có hại phụ thuộc vμo yêu cầu của các ngμnh dùng nước.Ví dụ trong việc cấp nước cho nhμ máy thuỷ điện, những hạt cát cứng, sắc cạnh đường kính d ≥ 0,25mm lμ những hạt bùn cát có hại, gây bμo mòn vμ lμm rỗ cánh tuabin Khi thμnh phần bùn cát không có các hạt thạch anh hoặc những hạt có độ cứng tương tự thì
đường kính của các hạt có hại có thể lấy tới 0,4mm Đối với hệ thống tưới thì mức độ có hại của các hạt bùn cát không chỉ phụ thuộc vμo đường kính hạt mμ còn phụ thuộc vμo hμm lượng bùn cát trong nước Bởi vì, việc tăng khối lượng bùn cát vμo ruộng sẽ lμm thay đổi lớn về địa hình, gây bất lợi cho việc quản lý Còn kích thước các hạt bùn cát thì thường yêu cầu lắng lại các hạt có đường kính d ≥ (0,01 ữ 0,05)mm
Bùn cát lắng đọng trong bể lắng cát được xói xuống hạ lưu của sông bằng phương pháp thuỷ lực nếu có độ chênh lệch mực nước thích hợp giữa bể lắng cát vμ hạ lưu sông Nếu không