1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Nhóm mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội

9 398 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội
Tác giả Trịnh Thị Thu Hà
Người hướng dẫn GS.TS. Lê Thị Quý
Trường học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 489,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội

Trang 1

Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy

cơ xã hội Trịnh Thị Thu Hà

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30

Người hướng dẫn: GS.TS Lê Thị Quý

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Khái quát một số đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản của nhóm mại dâm

đồng giới nam tham gia nghiên cứu Mô tả thực trạng thực hành các hành vi nguy cơ cao trong nhóm mại dâm đồng giới nam Cụ thể: cuộc sống tình dục đa dạng bạn tình; đa dạng hình thức quan hệ tình dục; việc sử dụng các biện pháp tình dục an toàn; sử dụng chất kích thích, chất gây nghiện có ảnh hưởng đến các hành vi tình dục Phân tích thực trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của nhóm mại dâm đồng giới nam tham gia nghiên cứu; kiến thức của họ về các bệnh lây truyền qua đường tình dục Đưa ra những biện pháp can thiệp, những hướng giải quyết cho nhóm mại dâm nam đồng giới để hạn chế những hành vi nguy

cơ và phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục cho bản thân họ

Keywords Xã hội học; Đồng giới nam; Tệ nạn xã hội; Mại dâm

Content

1 Lí do chọn đề tài

Nam mại dâm đồng giới và những người đồng tính (người có khuynh hướng tình dục đồng giới) là một hiện tượng mới nổi lên gần đây ở Việt Nam, và nó đang được dư luận, báo chí hết sức quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên hiện tượng đồng tính hay những người có khuynh hướng tình dục đồng giới không phải bây giờ mới xuất hiện; hiện tượng này cũng không phải

là một hệ quả xã hội như nhiều bài báo đã đề cập mà đồng tính là một hiện tượng tự nhiên cũng giống như khuynh hướng tình dục dị giới trong xã hội loài người; mặc dù khuynh hướng tình dục đồng giới luôn bị phê phán, bài trừ trong các trường phái đạo đức xã hội và tôn giáo

Ở Việt Nam hiện tượng đồng tính cũng không phải bây giờ mới xuất hiện nhưng thực

sự bây giờ vấn đề đồng tính mới được báo chí và dư luận quan tâm nhiều đến vậy Hầu hết các bài báo đều đề cập người đồng tính với sự khác người, dị biệt và có đời sống tình dục xấu

Trang 2

xa, đáng phê phán; đặc biệt sự xuất hiện của nhóm trai bán dâm cho những người đồng tính càng làm dư luận có ác cảm nhiều hơn với nhóm này

Nhóm nam bán dâm đồng giới thường là những chàng trai trẻ phục vụ cho nhu cầu tình dục của những người nam giới khác để nhận lấy tiền hoặc quà tặng, hoặc một vật chất nào đó khác Và cho dù có khá nhiều bài báo, có nhiều phóng sự và cả những nghiên cứu về nhóm mại dâm đồng giới nam thì cho đến nayhiện tượng này vẫn là một vấn đề hoàn toàn mới, bởi vì người ta chưa có được một bức tranh đầy đủ, toàn cảnh và những hiểu biết toàn diện về nhóm này; đặc biệt với cả hiện tượng mại dâm đồng giới nam cũng là một câu chuyện mới trong giới nghiên cứu và dư luận xã hội

Trước đây khi nói đến mại dâm, chúng ta thường nghĩ ngay đến hoạt động mại dâm dị giới, đó là nữ bán dâm cho nam hoặc nam bán dâm cho nữ; vì vậy khi xuất hiện những người nam giới bán dâm cho nam giới hoặc nữ giới bán dâm cho nữ giới thì có vẻ như là chuyện hết sức kì lạ Chính vì là như vậy nên hầu hết chúng ta đang nhìn nhóm mại dâm đồng giới nam này với con mắt hết sức tò mò, lạ lẫm và kì thị ghê gớm Chính quyền, luật pháp cũng chưa

có chế tài cụ thể cho nhóm người này Mại dâm nói chung ở nước ta là đang bị cấm, nhưng những quy định cụ thể đối với mại dâm nam đồng giới lại chưa có nên nhóm này vẫn hoạt động khá nhộn nhịp mà không bị cấm đoán gì, có chăng họ chỉ bị bắt khi vướng vào các tội danh khác như trộm cắp, buôn lậu, ma túy…

Theo kết quả của các nghiên cứu, điều tra đã hoàn thành về nam bán dâm đồng giới, ví

dụ như: “Chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI” (IBBS) trên

790 đồng tính nam tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 – 2006 cho thấy nhiều nam giới quan hệ tình dục đồng giới trả lời có bán dâm trong vòng 1 tháng trước thời điểm điều tra (22% ở Hà nội và 41% ở thành phố Hồ Chí Minh) Điều đáng chú ý là những người nam quan hệ tình dục đồng giới trả lời có bán dâm phần lớn cũng đều trả lời có tiêm chích ma túy (mặc dù không có thông tin về loại hành vi nào xuất hiện trước, nghiện ma túy hay bán dâm), nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy giữa hai loại hành vi này có mối quan hệ với nhau Nghiên cứu này cũng cho thấy trong số nam đồng tính có bán dâm thì nhiều người cũng có mua dâm nữ: Ở thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ này là 28% trong nhóm nam có bán dâm và 6% trong nhóm nam không bán dâm (tỉ lệ này chưa có con số cụ thể tại Hà nội) Thực

tế những người này vừa là nam bán dâm vừa là khách hàng mua dâm của nữ mại dâm; điều

đó cho thấy sự giao thoa phức tạp về hành vi nguy cơ trong nhóm nam bán dâm, và nó cũng phù hợp với các báo cáo xuất hiện ở các nước trong khu vực như Thái Lan hoặc Philippines Một nghiên cứu khác ở nhóm nam bán dâm ở Hà Nội do nhóm nghiên cứu của Đơn vị nghiên cứu Sức khỏe cộng đồng, Đại học Y Hà Nội thực hiện năm 2007 cũng cho thấy: hơn 80% nam giới trong tổng số 110 mẫu là nam thanh niên từ các tỉnh khác về Hà nội; khoảng 75% nói mình bán dâm là vì lí do kinh tế, tuy nhiên cũng có khoảng hơn 20% nói rằng việc bán dâm là do muốn có quan hệ tình cảm và tình dục với một người đàn ông khác Như vậy lí do bán dâm của họ không phải là đơn giản chỉ vì tiền

Xuất phát từ các hình thức quan hệ tình dục chứa đựng nhiều nguy cơ như các hành vi quan hệ tình dục hậu môn và mạng lưới bạn tình đa dạng về giới tính, tuổi tác, quốc tịch; cộng thêm cả sự thiếu chủ động trong việc thực hiện các biện pháp tình dục an toàn khiến cho những người bán dâm đồng giới nam có nguy cơ cao đối với các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS Chính vì vậy nghiên cứu này của tôi nhằm tìm hiểu về những nguy cơ

xã hội mà những người trong nhóm mại dâm đồng giới nam này có thể vướng phải; cụ thể

Trang 3

hơn là nguy cơ đối mặt với các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS là hệ quả của đời sống tình dục đa dạng và lối sống thiếu kiểm soát của họ

Nghiên cứu của tôi là về vấn đề “Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội”, trong đó tôi tập trung nghiên cứu về các hành vi nguy cơ liên quan đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS của nhóm nam mại dâm đồng giới trên địa bàn Hà Nội

Nghiên cứu về một quần thể ẩn như nhóm nam mại dâm đồng giới có rất nhiều khó khăn và thách thức, nhưng may mắn tôi đã được tham gia và nghiên cứu “Các đặc điểm nhân khẩu học, xã hội học và nguy cơ lây nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm mại dâm đồng tính nam tại một số thành phố lớn ở Việt nam” do Trung tâm nghiên cứu đào tạo HIV, Trường đại học Y Hà nội thực hiện trong năm 2008 đến năm 2010 Tôi đã tham gia nghiên cứu này từ giai đoạn đầu tiên, xây dựng bộ công cụ cho nghiên cứu, lựa chọn phương pháp nghiên cứu và có một quá trình dài 2 năm đi điền dã ở các khu vực xuất hiện của nhóm nam mại dâm đồng giới Chính trong quá trình đi điền dã và tham gia vào hoạt động của nghiên cứu nói trên tôi đã có quyết tâm để thực hiện đề tài của bản thân mình

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học:

Nghiên cứu này có sử dụng hai lý thuyết để phân tích đó là: lý thuyết về sai lệch chuẩn mực xã hội và lý thuyết về tương tác biểu trưng – sự gán nhãn Trong phạm vi của một nghiên cứu nhỏ, tôi rất mong có thể kiểm chứng những lý thuyết mà mình đã học vào thực tế

xã hội, cụ thể hơn là ở nhóm nam mại dâm đồng giới ở Hà nội Từ đó tôi có thể hiểu sâu sắc hơn về lý thuyết mà mình đã học, đồng thời có thể vận dụng tốt lý thuyết trong tương lai ở các nghiên cứu sắp tới

Ngoài ra những kết quả tôi tìm được từ nghiên cứu này có thể giúp được phần nào những bạn sinh viên mong muốn tìm hiểu về nhóm mại dâm đồng giới nam có được một góc nhìn mới về nhóm này

2.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng nhóm mại dâm đồng giới nam và tính nguy

cơ cao của họ với căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác Qua đó sẽ cho chúng ta biết rõ hơn về nhóm mại dâm đồng giới nam, sẽ góp phần vẽ được một bức tranh đầy đủ về nhóm này và nhận diện họ được trong các nhóm xã hội, đồng thời qua việc đánh giá được nguy cơ cũng như tình trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục của họ để có những biện pháp can thiệp hiệu quả lên chính nhóm này và có các biện pháp phòng trừ cho cộng đồng Ngoài ra nghiên cứu này cũng giúp cho các nghiên cứu khác hoặc những người quan tâm đến vấn đề này có những kiến thức nhất định về nhóm mại dâm đồng giới nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu thực trạng cuộc sống của những người bán dâm đồng giới nam: những hành vi nguy cơ với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS Sự liên hệ giữa những hành vi nguy cơ với các kết quả xét nghiệm bệnh của họ

có thể cho chúng ta biết yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh, mang tính quyết định đến khả năng phòng tránh bệnh tật cho bản thân những người bán dâm đồng giới nam và xa hơn là phòng

Trang 4

tránh cho cộng đồng Qua đó cũng có thể đưa ra những kế hoạch can thiệp hiệu quả và phù hợp hơn cho nhóm mại dâm đồng giới nam

3.2 Nhiệm vụ cụ thể:

* Mô tả một số đặc điểm kinh tế - xã hội cơ bản của nhóm mại dâm đồng giới nam tham gia nghiên cứu

* Mô tả thực trạng thực hành các hành vi nguy cơ cao trong nhóm mại dâm đồng giới nam Cụ thể: Cuộc sống tình dục đa dạng bạn tình; đa dạng hình thức quan hệ tình dục; việc

sử dụng các biện pháp tình dục an toàn; sử dụng chất kích thích, chất gây nghiện có ảnh hưởng đến các hành vi tình dục

* Mô tả thực trạng mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS của nhóm mại dâm đồng giới nam tham gia nghiên cứu Kiến thức của họ về các bệnh lây truyền qua đường tình dục

* Đưa ra những biện pháp can thiệp, những hướng giải quyết cho nhóm mại dâm nam đồng giới để hạn chế những hành vi nguy cơ và phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục cho bản thân họ

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng của nghiên cứu này là: Nhóm nam mại dâm đồng giới và những nguy cơ xã hội (Nghiên cứu tại địa bàn Hà Nội)

4.2 Khách thể nghiên cứu:

- Những người nam giới có hoạt động bán dâm cho một người nam giới khác để nhận tiền hoặc vật chất Những người này phải đảm bảo các tiêu chí sau: là nam giới có quan hệ tình dục với một người nam giới khác và nhận được vật chất trong vòng 90 ngày qua; nằm trong độ tuổi từ 16 đến 35 tuổi tính ở thời điểm tham gia điều tra; cư trú tại Hà Nội trong khoảng thời gian 1 tháng trở lên

- Bác sĩ tư vấn cho nhóm nam bán dâm đồng

- Những người dân vẫn thường xuyên tiếp xúc và có nhiều trải nghiệm cùng những người bán dâm đồng giới nam tại các địa bàn công cộng như hồ Hoàn kiếm, hồ Thiền Quang, hay các khu vực kín như khu tẩm quất nam Quan Thánh

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt không gian: Nghiên cứu này được tiến hành ở Hà nội

- Về mặt thời gian: Nghiên cứu diễn ra trong khoảng từ tháng 1/2009 đến tháng 10/2010, thời gian để điều tra bảng hỏi là từ tháng 3/2010 đến tháng 10/2010 Trước thời gian

đó là các hoạt động thực địa, xây dựng đề cương, xây dựng bảng hỏi phục vụ điều tra

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Công thức tính cỡ mẫu tham gia nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu Dự án “Các đặc điểm nhân khẩu học, xã hội học và nguy cơ lây nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm mại dâm đồng tính nam tại một số thành phố lớn ở Việt nam” đã sử dụng công thức tính cỡ mẫu sau để tính toán mẫu nghiên cứu cho địa bàn Hà Nội:

n =

N

q p z ME

ME q p z

 2 2

2 2

Trang 5

Trong đó:

n: có mẫu nghiên cứu cần có

N: quần thể nghiên cứu cứu (nhóm nam bán dâm đồng tính tại địa bàn nghiên cứu p: tỷ lệ HIV (+) trong nhóm nam bán dâm

q = 1 – p

ME: khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ HIV (+) thu được từ mẫu nghiên cứu so với quần thể

o = 0,05 => z (z1-o/2) = 1,96

Như vậy, cỡ mẫu nghiên cứu tại Hà Nội sẽ là:

- N = 400 (dựa trên con số ước tính của Donn Colby và cộng sự năm 2003)

- p = 0,08 (dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự năm 2004)

- ME = 0,03

Vậy cỡ mẫu nghiên cứu tại Hà nội là 176 đối tượng Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn bảng hỏi và làm các xét nghiệm bệnh trên số 176 người này

5.2 Phương pháp thu thập mẫu nghiên cứu

Vì nhóm mại dâm đồng giới nam là một quần thể ẩn, họ rất khó để nhận biết và tiếp cận cũng như có thể mời họ tham gia vào nghiên cứu, nên nghiên cứu viên đã phải xây dựng một kế hoạch tìm kiếm và tiếp cận với nhóm này và tạo dựng mối quan hệ với họ trước khi mời họ về tham gia nghiên cứu

Phương pháp lựa chọn mẫu sẽ là Time – location sampling Phương pháp này dựa trên

cơ sở: mỗi một nhóm xã hội thường có những tụ điểm nhất định mà ở đó họ thường gặp gỡ, chia sẻ với nhau và để tiến hành các hoạt động mang đặc trưng của nhóm Với nhóm mại dâm đồng giới nam cũng vậy Nghiên cứu viên đã tiến hành tham khảo ý kiến của những người có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực mại dâm đồng giới nam và có tham khảo các nghiên cứu trước

đó để nhận diện những địa điểm ban đầu nhóm này thường xuất hiện

Kết quả ban đầu là một số địa điểm như hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, khu vực Quan Thánh và các tụ điểm Spa, các quán bar, club dành cho người đồng tính Sau đó nghiên cứu viên tiến hành đi thực địa tại các địa điểm này, các buổi thực địa được xây dựng làm sao đảm bảo tiêu chuẩn: các khung giờ xuất hiện tại địa bàn đảm bảo được xuất hiện đầy đủ trong vòng 1 tuần và đảm bảo để các nhóm xã hội trên địa bàn dần quen với sự có mặt của nghiên cứu viên và dần chấp nhận nghiên cứu viên như một thành viên trong bối cảnh chung ở địa bàn; dần dần có những tiếp xúc ban đầu với các đối tượng là trai bán dâm đồng giới, nghiên cứu viên có những tiếp xúc ban đầu với họ, làm quen với họ, quan sát cuộc sống của họ, những thói quen, cách làm việc, các mối quan hệ trong nhóm… Sau đó, nghiên cứu viên sẽ xây dựng một bảng biểu các ngày trong tuần và các khung giờ khác nhau tại các địa điểm, các khung giờ đó phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn có ít nhất 8 người trong nhóm chủ đích (tức những người bán dâm đồng giới nam) có xuất hiện trong vòng 2 tiếng Các khung giờ đó sẽ được ghi lại, trong quá trình điều tra, các điều tra viên sẽ đến địa bàn, tại các địa điểm đó và

“bắt” đối tượng về tham gia nghiên cứu

Tuy nhiên, phương pháp chọn mẫu Time – location sampling chỉ mới áp dụng được một nửa quá trình thu nhận người tham gia điều tra thì số lượng người tham gia nghiên cứu trên các địa bàn dần cạn kiệt Điều đó cũng do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau Về khách quan: thời gian thu nhận người tham gia điều tra gần với thời điểm Hà nội tổ chức lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long Hà nội nên các địa điểm công cộng những người bán

Trang 6

dâm nam thường xuất hiện như Hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang và một số quán bar trên phố cổ bị quản lí hết sức gắt gao khiến cho nhóm đồng tính không dám xuất hiện; hoạt động của nhóm này lui về các địa điểm kín là thông qua điện thoại, qua má mì dẫn khách hoặc tìm nhau trên mạng Chính vì vậy rất khó khăn trong việc tìm người

Về chủ quan: tuy nhóm nghiên cứu viên đã đi thực địa rất tích cực trong khoảng thời gian trước khi thu nhận đối tượng nhưng nhóm đồng tính nam, đặc biệt là nhóm bán dâm đồng giới nam luôn muốn giấu kín bản thân nên để tiếp cận và nói chuyện với họ hết sức khó khăn; việc mời họ về phòng để phỏng vấn và lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm lại càng khó khăn hơn Đặc biệt là nhóm nam bán dâm cao cấp trong các quán Bar, các Spa hay những nhóm chỉ liên lạc qua điện thoại hoặc qua mạng rất khó có thể tiếp cận được với họ

Vì những khó khăn đó, nghiên cứu quyết định sử dụng cả phương pháp Hòn tuyết lăn (Snow ball) để thu thập người tham gia nghiên cứu Phương pháp này sử dụng những người

đã tham gia nghiên cứu để họ giới thiệu những người bạn của mình cùng tham gia

a Hạn chế sai sót trong quá trình thu nhận người tham gia nghiên cứu:

Để hạn chế trường hợp thu nhận nhầm đối tượng, tức thu nhận nhầm người không phải trai bán dâm đồng giới, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một quy trình chuẩn cho đối tượng tham gia nghiên cứu

Quy trình gồm có:

- Phỏng vấn sàng lọc: tất cả những người được các nghiên cứu viên tiếp cận ở địa bàn thực địa hay những người được giới thiệu tham gia nghiên cứu đều được phỏng vấn 1 phiếu sàng lọc ngắn Người đủ tiêu chuẩn mới được mời về vòng 2 tham gia nghiên cứu chính thức Tiêu chí lựa chọn đối tượng là: Nam giới từ 16 đến 35 tuổi, có quan hệ tình dục với nam giới và nhận được các vật chất trong vòng 90 ngày qua kể từ ngày phỏng vấn sàng lọc

- Phỏng vấn bảng hỏi: Những người đủ tiêu chuẩn sẽ được mời về trường đại học

Y tham gia điều tra ngang và lấy mẫu xét nghiệm

- Mẫu xét nghiệm bệnh gồm có mẫu máu, mẫu dịch hậu môn và dịch bộ phận sinh dục Bác sĩ tư vấn lấy mẫu bệnh phẩm vừa là người tư vấn phòng bệnh cho đối tượng tham gia nghiên cứu vừa là người có trách nhiệm nhận diện những người đã tham gia để tránh trường hợp những người đến tham gia lần 2 vì muốn nhận được lợi ích từ nghiên cứu (tiền tham gia nghiên cứu vòng 2 là 150 nghìn đồng cho mỗi đối tượng)

5.3 Phương pháp thu thập thông tin

5.3.1 Phân tích tài liệu

Dựa trên các nghiên cứu trước đó về đề tài đồng tính nam và các tài liệu sách báo trong nước, ngoài nước về nhóm mại dâm đồng giới nam để có cái nhìn đầy đủ, đa chiều và sâu sắc hơn về nhóm mại dâm đồng giới nam Từ đó có được tổng quan về vấn đề nghiên cứu cũng như địa bàn nghiên cứu

5.3.2 Phỏng vấn bằng bảng hỏi

Như đã nói ở trên, nghiên cứu này là một nghiên cứu nhỏ nằm trong đề tài lớn về “Các đặc điểm nhân khẩu học, xã hội học và nguy cơ lây nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm mại dâm đồng tính nam tại một số thành phố lớn ở Việt nam”; do vậy các dữ liệu để phân tích cho nghiên cứu này được lấy từ bộ bảng hỏi dài 49 trang về đặc điểm nhân khẩu, vấn đề sử dụng các chất kích thích rượu, bia, thuốc lá, ma túy, phần quan hệ tình dục với bạn tình nữa; quan hệ tình dục với bàn tình nam giới; các vấn đề về sức khỏe tinh

Trang 7

thần, sức khỏe thể chất và tiền sử bệnh tật, khám chữa bệnh… Các thông tin phù hợp với nghiên cứu nhỏ này sẽ được lọc và xử lí trên phần mềm thống kê SPSS

Số lượng mẫu cho bảng hỏi định lượng là 176

Vì nghiên cứu lớn tại trường Đại học Y Hà nội vẫn đang trong quá trình thực hiện nên sau mỗi lần phỏng vấn đối tượng tôi sẽ tiến hành nhập liệu luôn và tiến hành các phân tích sơ

bộ

5.3.3 Phỏng vấn sâu

Nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn sâu một số đối tượng để có được các thông tin định tính bổ sung cho những kết quả định lượng trên

Phỏng vấn sâu được tiến hành với 8 nam mại dâm đồng giới; 2 người dân có nhiều hiểu biết về hoạt động mại dâm đồng giới nam, tiếp xúc nhiều với nhóm này và 1 bác sĩ tư vấn có nhiều kinh nghiệm làm việc với nhóm mại dâm nam

5.3.4 Quan sát và ghi nhật kí thực địa

Để có những hiểu biết ban đầu về nhóm mại dâm đồng giới nam cũng như những người có quan hệ đồng tính trên địa bàn Hà Nội, các nghiên cứu viên đã có một quá trình dài hơn 2 năm đi thực địa trên các địa bàn các nhóm này thường xuất hiện Trong quá trình thực địa, các nghiên cứu viên đã trở thành một thành viên được chấp nhận trong không gian địa bàn tiếp cận; họ có nhiều cơ hội nói chuyện, tâm sự và tìm hiểu về cuộc sống cũng như tâm

tư của những người đồng tính, những trai bán dâm Sau mỗi buổi đi thực địa, các nghiên cứu viên viết nhật kí thực địa để ghi chép lại những hoạt động xảy ra trên địa bàn và những mô tả, phân tích về nhóm mại dâm nam Những bài nhật kí thực địa này là những tài liệu hết sức quý báu trong quá trình phân tích, viết báo cáo về người đồng tính và nhóm mại dâm nam này

5.4 Xử lí thông tin

Những thông tin định lượng thu được sẽ được nhập và xử lí bằng SPSS

5.5 Phân tích thông tin

Sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích biến tương quan, phân tích trường hợp

6 Giả thuyết nghiên cứu:

- Nhóm nam mại dâm đồng giới có các hành vi nguy cơ như: Quan hệ tình dục không

an toàn với đa dạng bạn tình và đa dạng hình thức quan hệ tình dục; sử dụng các chất kích thích gây nghiện như ma túy, rượu, bia

- Tỉ lệ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS trong nhóm mại dâm đồng giới nam khá cao

- Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục nhóm mại dâm đồng giới nam còn chưa đầy đủ

7 Khung lí thuyết

Trang 8

References

1 Nguyễn Hữu Anh, Lê Minh Giang và cộng sự (2010), Đặc điểm dịch tễ và các yếu

tố nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs trong nhóm nam bán dâm đồng tính ở Hà Nội, Tạp chí Y học

dự phòng, số 9/2010, tr.29-33

2 Bộ y tế (2009), Báo cáo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số

sinh học STIs/HIV (IBBS) tại Việt Nam 2005 – 2006

3 Trung tâm phòng chống STDs/HIV/AIDS (SHAPC) (2010), Tình dục đồng giới ở

Việt Nam: Sự kỳ thị và hệ quả xã hội

4 G.W Levi Kamel (eds), S and M Studies in Sadomasochism, New York:

Prometheus, 1983

5 Hongjie Liu, Tiejian Feng, Hui Liu, Hucang Feng, Anne G Rhodes, Oscar Grusky,

Egocentric Networks of Chinese Men Who Have Sex with Men: Network Components, Condom Use Norms, and Safer Sex, 2004

6 Jeremy Schneider, The Men of Boystown: A glimpse into the world of male

prostitution, 2001

7 Joseph T F Lau, Wen-De Cai, Hi Yi Tsui, Lin Chen, Jin-Quan Cheng,

Psychosocial Factors in Association with Condom Use During Commercial Sex Among Migrant Male Sex Workers Living in Shenzhen, Mainland China Who Serve Cross-Border Hong Kong Male Clients, 2003

Mại dâm đồng giới nam

Lý Thuyết Sai lệch chuẩn mực xã hội

Lý Thuyết

Tương tác biểu

trưng

Sự gán nhãn

Hành vi nguy cơ cao

Thực hành tình

dục

Sử dụng chất kích

STDs, HIV

Tình trạng HIV/STDs Của nhóm bán dâm nam

Trang 9

8 Robert P McNamara, The Times Square Hustler Male Prostitution in New York

City, New York: Praeger, 1992

9 Thomas S Weinberg, Gay Men, Gay Selves The Social Construction of

Homosexual Identities, New York: Irvington Press, 1983

10 Vu Manh Loi ets al, MSM in Viet Nam- Social Stigma and Consequences

11 Viện nghiên cứu kinh tế, xã hội và Môi trường, Đặc điểm kinh tế, xã hội của nam

giới có quan hệ tình dục đồng giới tại Việt nam

Trang Web: http://www.isee.org.vn/lgbt/s/6/vi/; ngày cập nhật: 23/10/2010

Ngày đăng: 20/03/2013, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w