1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

BỆNH SÁN LÁ RUỘT LỢN docx

16 2,7K 25
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 460,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

buski trưởng thành thường ký sinh ở đoạn tá tràng và không tràng của lợn và người, nhưng ký sinh nhiều nhất ở tá tràng.. Redia mẹ và Redia con Redia mẹ có hình bán nguyệt, xâm nhập vào g

Trang 1

BỆNH SÁN LÁ RUỘT LỢN

(Fasciolopsiasis)

Bệnh sán lá ruột lợn do loài sán lá Fasciolopsis buski gây ra Bệnh phổ biến ở hầu hết

các nước ở khu vực châu Á và Đông Nam châu á

Sán lá F buski được bác sỹ Busk phát hiện năm 1783 ở tá tràng của người Từ đó đến

nay, có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu: Lankester (1957), Cobbol (1859), Looss (1899), Nakagawa (1921), Barlow (1925), Hứa Bằng Như (1964), Trần Tâm Đào (1965), Muttalib (1975), Idris (1980), Li (1981), Grazick (2000)

Tác hại của sán là làm lợn sinh trưởng chậm, thậm chí sụt cân Ngoài lợn, người và một số động vật khác cũng nhiễm và bị bệnh

1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA SÁN LÁ FASCIOLOPSIS BUSKI

1.1 Vị trí của F buski trong hệ thống phân loại

Theo Skrjabin và cs (1977), Phan Thế Việt và cs (1977), Nguyễn Thị Lê và cs (1996),

sán lá ruột Fasciolopsis bllski được xếp trong hệ thống phân loại động vật học như

sau:

Ngành Plathelminthes (Nguồn: Schneider, 1873)

Phân ngành Platodes(Nguồn: Leuckart, 1854)

Lớp Trematoda (Nguồn: Rudolphi, 1808)

Phân lớp Prosostomadidea (Nguồn: Skrjabin và Guschanskaja, 1962)

Bộ Fasciolida (Nguồn: Skrjabin et Schulz, 1937)

Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Fasciolidae (Nguồn: Railliet, 1895)

Phân họ Fasciolopsinae (Nguồn: Odhner, 1910)

Giống Fasciolopsis (Nguồn: Looss, 1899)

Loài Fasciolopsis buski (Nguồn: Lankaster, 1857)

1.2 Đặc điểm hình thái và chu kỳ sinh học

1 2.1 Đặc điểm hình thái

F buski có mầu đỏ hồng, phía trước cơ thể thon nhỏ, phình rộng ở phía sau, trên thân

phủ những gai nhỏ Cơ thể dài 20 - 70 mm, rộng 14 - 15 mm, dầy 0,3 - 3 mm Có 2 giác bám: giác miệng nằm ở phía trước cơ thể, có đường kính 0,5 1 mm; giác bụng lớn hơn giác miệng, nằm ở phía sau, đường kính 1,5 - 2 mm Ruột phân hai nhánh chạy

dọc hai bên thân, kéo dài tới cuối cơ thể Cũng như hầu hết các sán lá khác, F buski

lưỡng tính và có hệ sinh dục phát

triển

Cơ quan sinh dục đực gồm hai tinh hoàn phân nhánh, xếp trên dưới ở phần sau thân sán Cơ quan sinh dục cái có buồng trứng phân nhánh nằm trước tinh hoàn, tử cung

phân nhánh, tuyến noãn hoàng phân nhánh nằm dọc hai bên cơ thể F buski thụ tinh

chéo hoặc tự thụ tinh (hình 59, 60, 61, 62)

Trang 2

Những nghiên cứu thực nghiệm ở Trung Quốc cho thấy, F.buski phát triển tốt nhất ở

lợn Các động vật khác như trâu, thỏ, chó tuy bị nhiễm nhưng sán không thể phát

triển đến trưởng thành Trong cơ thể mèo, sán không sinh trưởng được F buski ký

sinh ở lợn và người Việt Nam có kích thước lớn hơn sán ký sinh ở lợn và người Trung

Quốc (Đỗ Dương Thái và cs, 1978) Mathis và Leger (1911) cho biết, F buski dài 30

- 70 mm, rộng 14 - 15 mm Song, theo Phan Trọng Cung (1991), chiều dài sán F buski

ở lợn Việt Nam không quá 40 lắm

Trang 3

F buski trưởng thành thường ký sinh ở đoạn tá tràng và không tràng của lợn và người,

nhưng ký sinh nhiều nhất ở tá tràng Trịnh Văn Thịnh (1969), Đỗ Dương Thái (1973) cho biết, đôi khi thấy sán ở dạ dày và ruột già

1 2.2 Chu kỳ sinh học

Chu kỳ sinh học (vòng phát triển) của F buski tương tự các sán lá khác thuộc họ

Fasciolidae

Sán trưởng thành sống ký sinh ở ruột non, đẻ trứng Trứng theo phân ra môi trường bên

ngoài Sau một thời gian ấu trùng Miracidium hình thành trong trứng Ấu trùng thoát

khỏi trứng bơi trong nước, tìm và xâm nhập vào ốc - KCTG thích hợp Trong ốc, ấu

trùng phát triển thành Sporocyst, rồi thành Redia mẹ, thành Redia con Redia con chứa nhiều Cercaria Cuối cùng, Cercana thoát khỏi ốc, bơi trong nước, bám vào các cây thuỷ sinh và tạo thành Adolescana

Chu kỳ sinh học (vòng phát triển) của F buski được mô phỏng theo sơ đồ sau:

- Trứng F buski:

Trứng hình bầu dục, màu vàng chanh, có một nắp, dài 130 - 140 μm, rộng 80 - 85 μm (Gilman và cs, 1982) Trứng phải rơi vào nước mới tiếp tục phát triển được Trong

trứng hình thành một phôi thai có tiêm mao gọi là Miracidium Miracidiltm thoát khỏi

trứng sau một thời gian tuỳ điều kiện khí hậu bên ngoài Nhiệt độ thích hợp để trứng

F buski phát triển là 280C (Nakagawa, 1921) Trong dung dịch NaCl 5‰, nhiệt độ 28 - 300C, trứng F buski phát triển thành Miracidium cần 14 ngày, nhiệt độ để trứng phát triển tốt nhất là 25 - 290C (Nguyễn Trọng Nội, 1966; Phạm Văn Khuê, 1971) Trong nước cất, trứng phát triển thuận lợi ở 350c, tỷ lệ trứng nở đạt 82,2%; thời gian phát

triển tới Miracidium mất 12 - 13 ngày Ở 300C có 79,9% trứng nở, thời gian phát triển

thành Miracidium mất 15 ngày Ở 400C trứng không phát triển được Ở 28 - 300C,

trứng phát triển thành Miracidium cần 15 ngày (Phan Trọng Cung và cs, 1991) Ở môi

trường có pa là 6 - 7, trứng phát triển rất thuận lợi; ở môi trường có pH là 4 - 5 và 8 -

10, trứng không hình thành Miracidium (Phan Lục, 1976).

Trang 4

- Miracidium

Sau khi hình thành trong trứng 3 ngày, Miracidium bắt đầu chuyển động, sau 10 ngày một số Miracidium thoát ra khỏi trứng, phần lớn thoát ra sau 12 ngày

(Nakagawa, 1921) Miracidium hình quả lê, bên ngoài phủ một lớp màng mỏng có

nhiều lông tơ, bên trong có hệ tiêu hoá sơ sinh, mô thần kinh, hai tế bào ngọn lửa và

rất nhiều tế bào phôi Mùa hè, Miracidium sống được 6 - 8 giờ; mùa đông sống được 3

ngày Thời gian hoạt động mạnh nhất trong nước là sau khi nở 1 - 2 ngày Đây cũng là

thời gian khả năng xâm nhập của Miracidium vào vật chủ trung gian là nhiều nhất, sau

đó yếu dần Theo Gilman và cs (1982), Miracidium xâm nhập vào ốc qua lớp áo cơ,

râu và chân của ốc Trong điều kiện khí hậu Việt Nam, sau khi thoát khỏi trứng,

Miracidium hoạt động trong nước 6 - 52 giờ Sau đó, Miracidium phải xâm nhập vật

chủ trung gian mới tiếp tục phát triển được

- Sporocyst

Sau khi xâm nhập vào vật chủ trung gian 2 ngày, Miracidium hình thành Sporocyst

Sporocyst có hình dạng rất thay đổi, gồm những

Trang 5

đám tế bào to, nhỏ, không có ống tiêu hoá Sau một thời gian, các tế bào hình thành

ống tiêu hoá đơn giản, không chia nhánh, có 1 giác, gọi là Redia mẹ

Redia mẹ và Redia con

Redia mẹ có hình bán nguyệt, xâm nhập vào gan, tuỵ của ốc ký chủ trung gian

và biến thành Redia con, bên trong chứa nhiều Cercaria Redia con có hình bán nguyệt uốn khúc, bên trong có chứa các Cercaria đã thành thục

- Cercaria

Cercaria được hình thành trong gan ốc sau 28 - 36 ngày (Graczick, J K và cs, 1982) Cercaria

giống con nòng nọc (ấu trùng lưỡng thê), cơ thể chia 2 phần là thân và đuôi, thân có ruột chẻ đôi, có 2 giác bám Theo Thái Trần Bái và cs (1975), ở điều kiện khí hậu

miền Bắc Việt Nam, trong ốc Planorbts hemisphaeruta,

Cercaria dài 231 - 382 μm, rộng 231 - 297 μm, đuôi dài 660 μm, rộng 73 μm

Cercaria ở gan ốc vài ngày rồi thoát khỏi ốc, chuyển động rất mạnh, sau thời gian

ngắn rụng đuôi, tiết chất nhờn bao quanh và biến thành Adolescalria

- Adolescaria

Adolescaria có hình tròn, dẹp, có giác miệng và giác bụng, hầu, thực quản, ruột, ống

bài tiết Thời gian hình thành Adolescaria là 3 giờ Adolescaria bám vào cây cỏ thuỷ sinh: các loại bèo, rau muống, rong… Ở Việt Nam, Adolescaria được tìm thấy ở rau

muống, bèo Nhật Bản, bèo cái, bèo tấm

145

Trang 6

Thời gian hoàn thành vòng đời của F buski ở lợn là 90 ~ 6 ngày (Phạm Văn Khuê,

1964, 1967; Nguyễn Thị Lê, 1977)

Theo Barlow (1925), Trần Tâm Đào (1966), Gilman (1982), beng (1989), thời gian

hoàn thành vòng đời của F buski ở lợn là 3 tháng, ở người là 31 ngày

1 3 Vật chủ trung gian của F buski

Vật chủ trung gian của F buski là các loài ốc nước ngọt

Ốc nước ngọt thuộc lớp chân - bụng, gồm hai phân lớp: Probranchia (ốc mang trước)

và Pulmonata (ốc có phổi)

Cơ thể ốc tập trung thành khối, được bao bọc bởi lớp vỏ đá vôi, kích thước lớn nhỏ khác nhau tuỳ theo từng loài Những ốc sống ở nước hô hấp bằng mang, ở cạn hô hấp bằng phổi Một phần cơ thể ốc phân hoá thành chân (là cơ quan vận động)

Trong nước, ốc sống ở những độ sâu khác nhau, thời gian hoạt động của chúng cũng khác nhau Ban đêm, do các loại thực vật sống trong nước hấp thụ oxy, thải khí

cacbonic nên phần lớn các loài ốc tai, ốc đĩa phải nổi lên mặt nước để hô hấp ốc thường bám vào các vật nổi:trên mặt nước như lá.bèo, cây cỏ cho đến 9~lo giờ sáng hôm sau mới chìm xuống các tầng nước sâu hơn Một số loài ốc tai, ốc đĩa thường bám vào các cây bèo Nhật Bản, rau muống, rau lấp, rong ở các ao, hồ, sông, suối Chúng có thể ở nơi ẩm ướt (không ngập nước) trong một thời gian dài (Đặng Ngọc Thanh và cs, 1980) Thức ăn của ốc nước ngọt là rong rêu, bèo, các chất mùn

Theo Phan Trọng Cung và cs (1991), ốc nước ngọt sinh sản hữu tính, phần lớn là đơn tính, một số loài lưỡng tính nhưng không tự thụ tinh

Đỗ Dương Thái và cs (1978) đã tổng hợp kết quả phát hiện của Barlow (1925), Trần Tâm Đào (1956), Hứa Bằng Như (1964) về ốc ký chủ trung gian của sán lá ruột lợn ở

Trung Quốc gồm các loài: S nitidella, G chinensis, H cantori, H umbilicalis,

P.hemisphaerula

Theo Phan Lục (1976), Nguyễn Thị Lê (1986), ở Việt Nam, ốc P hemisphaerula,

G.sinensis và G heudei là ký chủ trung gian của sán lá ruột lợn Tỷ lệ nhiễm Cercaria

của ốc P hemisphaerula ở khu vực trồng rau xanh nuôi lợn có liên quan tới tình hình

sử dụng phân bón có ủ hay không ủ và mức độ bón phân ở khu vực đó Ốc ký chủ

trung gian có kích thước càng lớn thì tỷ lệ nhiễm Cercaria càng cao Trong tự nhiên thường thấy ốc P hemisphaerula ở các ao có bèo Nhật Bản, chúng thường tập trung ở

kẽ lá bèo, nhất là các lá bèo đang thối rữa Ở ruộng muống có mức nước nông, pa 6 -

7, ốc thường tập trung ở cọng, lá rau đang thối rữa Ở các ruộng muống đang trong thời kỳ khô hạn, đất đã nứt nẻ, ốc thường tập trung ở gốc muống, tỷ lệ ốc sống là 90,3% Trong ruộng rau lấp mật độ ốc thấp hơn Ở ruộng lúa, ruộng mới cầy, ốc tập trung ở gốc lúa hay treo mình trên mặt nước (Thái Trần Bái, 1977)

Gilman và cs (1982) đã nghiên cứu về ốc - ký chủ trung gian của F buski ở

Trang 7

Bangladesh cho biết, ốc H umbilicalis, S trochoidues là ký chủ trung gian của sán này, tỷ lệ ốc nhiễm Cercaria là 1%

Ono (1958) đã dùng nitrat canxi (Ca(NO3)2) nồng độ 0,05 - 0,08%, sunfat đồng

(CuSO4) nồng độ 0,5; 1 và 2% để diệt ốc

Theo tổ chức vệ sinh quốc tế (OMS) (l960) thì các hoá chất tốt nhất dùng để diệt ốc phải là những chất có hoạt lực chống các ký chủ trung gian và ngăn cản sự sinh sản của chúng, liều dùng phải thấp hơn 1/1.000.000, không độc cho người và gia súc, không độc hoặc ít độc cho sinh vật sống ở trong nước

2 DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH F BUSKI

2.1 Phân bố

F buski được phát hiện ở lợn và người tại các nước khu vực châu Á và Đông Nam

châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonexia, Malaixia, Philippine (Dorothy, 1968; Soubsby, 1965, 1976; Manning và cs, 1971; Phan Thế Việt và cs, 1977; Đỗ Dương Thái và cs, 1978; Idris và cs, 1980; Bunnag, 1983; Waikagul, 1991)

F buski gây bệnh cho cả người và động vật ở Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan

(Lee, 1989; Li, 1991)

Ở Việt Nam, F buski phân bố rất rộng ở hầu hết các tỉnh, thành thuộc vùng núi, trung

du và đồng bằng trong cả nước Bệnh phổ biến ở lợn vùng đồng bằng Bắc Bộ và

Thanh - Nghệ - Tĩnh Ở người, tỷ lệ nhiễm F buski rất thấp (Phạm Sỹ Lăng và cs,

1997)

Sự phân bố của sán lá ruột lợn thường theo quy luật vùng Bệnh thường xuất hiện ở các nước khí hậu nhiệt đới, những vùng có nhiều ao, hồ, có nhiều cây thuỷ sinh dùng

làm thức ăn sống cho người và lợn Vùng đồng bằng ven biển lợn nhiễm F buski thấp.

2.2 Mùa, tuổi nhiễm và ký chủ cuối cùng

Lợn và người nhiễm F buski không biểu hiện biến động theo mùa rõ rệt (Đỗ Dương

Thái và cs 1978), có thể nhiễm ở cả 4 mùa, nhưng tỷ lệ nhiễm giảm vào tháng 5, 6, sau

đó tăng dần và tăng cao nhất ở tháng 9, 10, sau đó lại giảm dần (Phạm Văn Khuê,

1982, Theo Trịnh Văn Thịnh (1967), Phan Địch Lân và cs (1974), ở nước ta, F buski

ký sinh nhiều nhất ở lợn sinh sản và lợn thịt; ở lợn đang bú sữa mẹ, lợn mới cai sữa và lợn choai ít nhiễm hơn

Tỷ lệ nhiễm F buski tăng dần theo tuổi Lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm 16,6%; 3 - 4

tháng nhiễm 45,8%; 5 - 7 tháng nhiễm 58,3%; lợn trên 8 tháng nhiễm 70,8%

Không có sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm F buski giữa các giống lợn địa phương và lợn

nhập từ nước ngoài (Phạm Văn Khuê, 1971; Phan Địch Lân, 1974; Lương Tố Thu,

2.3 Nguồn bệnh, sức đề kháng của trứng và Adolescaria

Trang 8

Nguồn phát tán mầm bệnh chủ yếu là lợn và người có sán ký sinh

Hàng ngày, mỗi sán trưởng thành thải theo phân ra môi trường bên ngoài 15.000

- 18.000 trứng Một trứng sán khi gặp điều kiện thuận lợi của môi trường bên ngoài sẽ phát triển thành nhiều mầm bệnh có khả năng gây nhiễm (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) Phân lợn và phân người nhiễm sán là nguồn phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài Vì vậy quản lý và xử lý phân lợn và người là biện pháp chủ động ngăn chặn nguồn bệnh phát tán ra ngoại cảnh

Trứng của F buski bị diệt nhanh trong hố ủ phân vào mùa hè và chậm hơn vào mùa

đông Phân lợn ủ theo phương pháp nhiệt sinh học, khi nhiệt độ đạt đến 50 - 540C

trứng F buski bị tiêu diệt Trong nước muối NaCl 5% trứng vẫn phát triển được

(Nguyễn Quốc Si, 1962), trứng bị tiêu diệt khi đi qua hệ thống ủ men sinh khí gas (Shinobu Yoshihara và cs, 1998; Nguyễn Văn Thọ, 2003)

Adolescaria bị tiêu diệt khi ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp 20 - 30 phút, trong nước

nóng 600C sau 15 phút, trong nước sôi sau 60 giây Nhiệt độ 3 - 50C Adolescaria sống được 13 ngày Trong môi trường axit clohydric (HCl) 0,5%, Adolescaria sống được 18

ngày; trong axit axetic 2% sống được 9 ngày; trong axit axetic 3% sống được 6 ngày; trong nước muối NaCl 5% sống được 3 giờ; trong nước muối NaCl 20% bị diệt sau 30 ngày (Nakagawa, 1921 )

2.4 Tập quán chăn nuôi và đường truyền bệnh

Lợn nhiễm F buski nặng hay nhẹ phụ thuộc vào tập quán cho ăn thức ăn sống hay

chín, thức ăn xanh cho lợn trồng cạn hay dưới nước Lợn ăn thức ăn sống tỷ lệ nhiễm

F buski cao gấp 3 - 7 lần so với lợn ăn thức ăn nấu chín Tỷ lệ nhiễm F buski còn phụ

thuộc vào điều kiện vệ sinh thú y, nơi nào không bón phân lợn tươi thì tỷ lệ nhiễm thấp Lợn ở vùng núi, vùng trồng mầu thường cho ăn rau ở trên cạn nên tỷ lệ nhiễm thấp hơn ở vùng đồng bằng Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996), Nguyễn Thị Kim Lan

và cs (1999) thì cần ủ phân đúng kỹ thuật và không cho lợn ăn sống các loại rau bèo

lấy từ nước lên để hạn chế tình trạng lợn nhiễm F buski

Lợn nhiễm F buski do ăn sống các loại thực vật nước như rau muống, rau lấp, rong,

bèo Người nhiễm sán lá ruột, ngoài việc ăn sống rau muống, còn do ăn sống củ

niễng, ngó sen và củ ấu có mang Adolescaria (Shinobu Yoshihara và cs, 1998; Nguyễn

Văn Thọ, 2002)

3 BỆNH LÝ, LÂM SÀNG CỦA BỆNH Ở LỢN VÀ NGƯỜI

3.1 Ở lợn

Sán F buski bám vào niêm mạc ruột non, gây tổn thương, viêm cataz; đồng thời sán

lấy dưỡng chấp ở ruột non, tiết độc tố gây trúng độc mãn tính cho lợn

Lợn nhiễm F buski thường gây yếu, lông xù, ăn uống thất thường, chậm lớn, sụt cân,

da sần sùi, niêm mạc mắt nhợt nhạt, thỉnh thoảng ỉa chảy Lợn nhiễm sán với

Trang 9

cường độ cao có thể tắc và loét ruột

Theo Hứa Bằng Như (1964), lợn nhiễm F buski sinh trưởng chậm, nuôi 5 - 6 tháng

khối lượng chỉ đến 13 - 15 kg/con Trịnh Văn Thịnh (1967), (1985); Phan Trọng Cung

(1991) nhận xét, F buski gây tác hại lớn cho lợn, trong 35 ngày bị bệnh, trung bình 1 sán F bllski làm lợn giảm 65 gam khối lượng

Lợn nái nuôi con bị bệnh sán lá ruột thì thiếu sữa, tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng cao Lợn con sau cai sữa thường bị ỉa chảy, còi cọc, chậm lớn

Mổ lợn bệnh thấy thành ruột non dầy lên, có nhiều điểm hoại tử trên niêm mạc ruột

3.2 Ở người

Người nhiễm sán thường có tổn thương cơ thể bệnh học rõ rệt Niêm mạc ruột non bị phù và viêm, xung huyết hoặc xuất huyết Trường hợp nhiễm nhiều sán ruột bị tắc, nếu

có bội nhiễm vi khuẩn thì các hạch màng treo ruột viêm, sưng Độc tố của sán gây tổn thương và rối loạn chung Toàn thân bị phù, tràn dịch ở ngoại tâm mạc Bệnh nhân thiếu máu, số lượng bạch cầu giảm, huyết sắc tố giảm, bạch cầưtoan tính tăng Sán chiếm đoạt dinh dưỡng, bệnh nhân có thể chết trong tình trạng suy kiệt (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978)

Bệnh sán lá ruột do F buski ở người diễn ra qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn khởi phát: người bệnh có triệu chứng nhẹ, biểu hiện mệt mỏi, sức khoẻ giảm sút, thiếu máu nhẹ

- Giai đoạn toàn phát: người bệnh đau bụng kèm theo ỉa chảy, phân lỏng, nhảy và lẫn thức ăn chưa tiêu hoá Hiện tượng ỉa chảy kéo dài nhiều ngày Vùng hạ vị đau, bụng chướng, sức khoẻ giảm sút nhanh chóng

- Giai đoạn kết thúc: người bệnh phù nề toàn thân, tràn dịch ở nhiều nội tạng, người bệnh có thể chết trong tình trạng suy kiệt (Đỗ Dương Thái và cs, 1973)

4 CHẨN ĐOÁN BỆNH SÁN LÁ RUỘT LỢN

Việc chẩn đoán bệnh sán lá ruột lợn không khó khăn, bởi có thể sử dụng phương pháp gạn rửa sa lắng (phương pháp lắng cặn Benedek, 1943) để phân ly trứng ra khỏi phân Trứng sán lá ruột lợn to và dễ phát hiện dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x l0) Để chẩn đoán chính xác, cần phối hợp xét nghiệm phân tìm trứng sán với việc điều tra tình hình dịch tễ học Một trong những đặc điểm dịch tễ đáng chú ý nhất của bệnh do

F buski gây ra là lợn ở khu vực ấy có ăn sống các loại rau, bèo lấy từ dưới nước lên

không? Với lợn chết, việc mổ khám tìm sán lá ký sinh ở ruột non là biện pháp chẩn đoán chính xác hơn cả

5 PHÒNG TRỊ BỆNH SÁN LÁ RUỘT LỢN

5.1 Biện pháp phòng bệnh

Trang 10

Phòng bệnh F buski bằng các biện pháp: chẩn đoán phát hiện vùng có người và lợn nhiễm sán để dùng thuốc tẩy trừ (tẩy sán F buski cho lợn bằng thuốc Praziquantel,

liều 15 ml/kgTT); vệ sinh chuồng nuôi lớn, thức ăn nước uống cho lợn; không cho lợn

ăn sống rau muống nước, rau lấp, bèo Nhật Bản (người cần bỏ tập quán ăn sống rau muống nước, củ ấu, ngó sen, củ niễng); tập trung phân lợn, phân người ủ theo phương

pháp nhiệt sinh học để diệt trứng F buski

Nguyễn Văn Thọ (2005) đã đề xuất biện pháp phòng bệnh sán lá ruột cho lợn như sau:

- Dùng thuốc Praziquantel tẩy sán lá ruột: lợn nuôi thịt (3 - 6 tháng tuổi) nên tẩy 1 lần vào thời gian 2 - 2,5 tháng tuổi Lợn sinh sản mỗi năm tẩy 2 lần, khoảng cách giữa 2 lần tẩy là 4,5 tháng Lợn trong thời kỳ mang thai không nên tẩy vì chưa có kết quả thực nghiệm về ảnh hưởng của thuốc ở lợn mang thai

Để giữ cho môi trường không bị ô nhiễm trứng sán, trong quá trình dùng thuốc tẩy cần thiết nhốt lợn tại một địa điểm, thu gom phân, rác và xác sán, tập trung ủ theo phương pháp nhiệt sinh học, tẩy uế chuồng trại

- Chống ô nhiễm trứng sán ở môi trường ngoại cảnh + Quản lý và xử lý phân lợn

Phân lợn nhiễm sán có chứa nhiều trứng, là nguồn bệnh duy nhất Vì vậy, phải tập trung phân lợn ủ theo phương pháp nhiệt sinh học để diệt trứng

Công thức ủ phân:

Phân chuồng: 2.000 kg

Lá xanh, cỏ, rơm rác: 200 - 300 kg Vôi bột, tro bếp: 50 - 80 kg

Cácln ủ: ươn đều các nguyên trên hoặc cứ một lớp phân lợn phủ một lớp lá xanh, tro bếp ) đánh thành đống hình khối chóp, phía ngoài cùng trát một lớp bùn Sau 12 ngày, nhiệt độ đống phân tăng cao đến 50 - 540C Ở nhiệt độ này, trứng F buski và các

trứng giun sán khác đều bị tiêu diệt

+ Quản lý phân lợn và diệt trứng F buski trong bể Biogas

Trứng F buski bị diệt khi được giữ trong bể Biogas 30 ngày, nếu bổ sung chế phẩm

EM nồng độ 1% vào bể Biogas thì thời gian trứng bị diệt là 20 ngày Vì vậy, cần vận

động các hộ nuôi lợn xây dựng bể Biogas để xử lý phân, diệt trứng F buski

+ Quản lý và xử lý triệt để nước rửa chuồng

Trứng F buski có thời gian lưu giữ ngắn trong bể Biogas, khi theo nước thải ra ngoài

vẫn còn khả năng phát triển Vì vậy, biện pháp xử lý đơn giản là xây 2 - 3 bể chứa nước thải trước cửa thải của bể Biogas để làm lắng trứng, giữ trứng lại trong bể

Ngày đăng: 06/08/2014, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w