1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)

94 514 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HỨA THỊ MỪNG

NGHIÊN CỨU BỆNH SÁN LÁ RUỘT Ở GÀ

TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH LẠNG SƠN

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

\

HỨA THỊ MỪNG

NGHIÊN CỨU BỆNH SÁN LÁ RUỘT Ở GÀ

TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH LẠNG SƠN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Hứa Thị Mừng

Trang 4

Giáo viên hướng dẫn khoa học TS Ngô Nhật Thắng đã trực tiếp hướng dẫn,

chỉ bảo tôi hết sức tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo – Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y- Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các hộ gia đình nuôi gà tại huyện Văn Quan, huyện Văn Lãng và huyện Tràng Định thuộc tỉnh Lạng Sơn và các đồng nghiệp trong ngành đã giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả

Hứa Thị Mừng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Sán lá ký sinh ở ruột gia cầm 4

1.1.2 Bệnh sán lá ruột ở gia cầm 15

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 30

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 30

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30

2.2 Vật liệu nghiên cứu 30

2.2.1 Mẫu nghiên cứu 30

2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 31

2.3.1 Điều tra thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùng cho đàn gà nuôi tại 3 huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn 31

2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn 31

Trang 6

2.3.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà qua xét nghiệm phân 31

2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán lá ruột 31

2.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị sán lá ruột cho gà 32

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu 32

2.4.3 Phương pháp xét nghiệm mẫu 33

2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của gà bị nhiễm sán lá ruột 33

2.4.5 Phương pháp mổ khám và thu thập mẫu 34

2.4.6 Phương pháp làm tiêu bản để xác định tên loài sán 35

2.4.7 Phương pháp định danh các loài sán lá ruột 35

2.4.8 Phương pháp xác định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi thể ở cơ quan tiêu hoá (ruột non, manh tràng và ruột già) do sán lá ruột gây ra 36

2.4.9 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy sán lá ruột ở gà 37

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Điều tra thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùng cho đàn gà nuôi tại 3 huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn 39

3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn 41

3.2.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở gà nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn 41

3.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà qua xét nghiệm phân 42

3.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà qua mổ khám 53

3.3 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của gà bị bệnh sán lá ruột 60

3.3.1 Tỷ lệ gà nhiễm sán lá ruột tại các xã nghiên cứu có triệu chứng lâm sàng 60

Trang 7

3.3.2 Bệnh tích đại thể ở đường tiêu hóa của gà bị bệnh sán sán lá ruột 61

3.3.3 Bệnh tích vi thể do sán lá ruột gây ra ở gà 62

3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trị sán lá ruột cho gà 63

3.4.1 Xác định hiệu lực của một số loại thuốc tẩy sán lá ruột cho gà 63

3.4.2 Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh sán lá ruột cho gà 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Đề nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùng cho gà

tại các huyện nghiên cứu 39

Bảng 3.2 Những loài sán lá ký sinh ở ruột gà và tần suất xuất hiện của chúng tại một số huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn 41

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn (qua xét nghiệm phân) 43

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua xét nghiệm phân) 45

Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (qua xét nghiệm phân) 47

Bảng 3.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo phương thức chăn nuôi (qua xét nghiệm phân) 50

Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo trạng thái phân (qua xét nghiệm phân) 52

Bảng 3.8 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn (qua mổ khám) 53

Bảng 3.9 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua mổ khám) 56

Bảng 3.10 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (qua mổ khám) 58

Bảng 3.11 Tỷ lệ gà nhiễm sán lá ruột có triệu chứng lâm sàng 60

Bảng 3.12 Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh sán lá ruột 61

Bảng 3.13 Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể của gà bị bệnh sán lá ruột 63

Bảng 3.14 Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá ruột cho gà 64

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện thuộc tỉnh

Lạng Sơn (qua xét nghiệm phân) 44

Hình 3.2 Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua xét nghiệm phân) 46

Hình 3.3 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (qua xét nghiệm phân) 49

Hình 3.4 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo phương thức chăn nuôi (qua xét nghiệm phân) 51

Hình 3.5 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo trạng thái phân (qua xét nghiệm phân) 53

Hình 3.6 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn (qua mổ khám) 54

Hình 3.7 Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà tại Lạng Sơn bằng phương pháp xét nghiệm phân và mổ khám 55

Hình 3.8 Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua mổ khám) 57

Hình 3.9 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (qua mổ khám) 59

Hình 3.10 Biểu đồ về hiệu lực của các loại thuốc điều trị sán lá ruột ở gà 65

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta chăn nuôi là một nghề sản xuất truyền thống, luôn giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung, trong đó, chăn nuôi gia cầm luôn giữ vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi Với nhiều phương thức chăn nuôi phong phú, đa dạng, nghề chăn nuôi gia cầm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi

Những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm nước ta nói chung và tỉnh Lạng Sơn nói riêng đã và đang phát triển rất mạnh, tốc độ tăng hàng năm tương đối cao

Chăn nuôi gà đáp ứng nhanh nhu cầu về thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chất lượng tốt cho đời sống xã hội và cung cấp một nguồn nguyên liệu dồi dào cho nhiều ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

Gà là loài vật dễ nuôi, dễ thích nghi với điều kiện khí hậu khác nhau, đặc biệt chúng thích nghi cao với đời sống ở các vùng có nhiều diện tích Mặt khác gà là loài ham kiếm mồi, nên chăn nuôi gà có thể tận dụng được nguồn thức ăn từ động vật thủy địa sinh (giun, ốc, cá ) và lương thực rơi vãi sau thu hoạch lúa, ngô Chính

vì những lý do trên mà nghề nuôi gà phát triển rộng rãi ở nhiều nơi, được coi là một nghề xoá đói giảm nghèo bền vững

Hiện nay, ở nước ta nghề chăn nuôi gà đã và đang tồn tại 2 phương thức chăn nuôi chính, đó là chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi công nghiệp Tuy nhiên, chăn nuôi bán công nghiệp vẫn là phương thức chăn nuôi phổ biến Hình thức chăn nuôi này thường mang tính tự phát, nhỏ lẻ và lạc hậu, nên vấn đề phòng chống dịch bệnh nói chung và bệnh do ký sinh trùng nói riêng thường ít được quan tâm, do vậy tỷ lệ nhiễm giun sán ở gà khá cao

Mặt khác, nước ta nằm trong vùng có thời tiết, khí hậu nóng ẩm, đây là điều kiện rất thuận lợi cho nhiều loại vật chủ trung gian của các loài giun, sán phát triển

Trang 12

mạnh, dẫn tới khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng, do vậy bệnh ký sinh trùng ở gà thường xuyên xảy ra, gây nhiều thiệt hại cho nghề nuôi gà

Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [40] cho biết: Bệnh ký sinh trùng làm giảm khả năng sinh trưởng của gà tới 30% so với bình thường và làm giảm sản lượng trứng từ 25 - 40% Khi nhiễm giun sán, gà thường dễ bị kế phát các bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại lớn về kinh tế

Trong những bệnh ký sinh trùng ở gà, bệnh sán lá ruột là bệnh tương đối phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi gà Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2004) [20] bệnh sán lá ruột thường diễn ra quanh năm, ở mọi lứa tuổi gà; bệnh xảy

ra ở khắp các vùng miền trong cả nước, làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển

và giảm sức đề kháng với các tác nhân gây bệnh

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trong việc khống chế dịch bệnh nói chung và bệnh ký sinh trùng nói riêng, nhằm bảo vệ sức khoẻ của đàn gia cầm nói chung, đàn gà nói riêng và nâng cao khả năng cho sản phẩm của chúng, đồng thời có

cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột một cách có hiệu quả, phù hợp

với điều kiện chăn nuôi hiện nay, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh sán lá ruột

ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn (theo lứa tuổi và mùa vụ)

- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý lâm sàng của bệnh sán lá ruột ở gà

- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở gà, từ đó đề xuất biện pháp phòng bệnh

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về bệnh sán lá ruột ở gà tại tỉnh Lạng Sơn, từ đó có cơ sở để xây dựng quy trình phòng, trị bệnh sán lá ruột cho gà

Trang 13

4 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa

học về đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh sán

lá ruột cho gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng trị bệnh sán lá ruột ở gà

có hiệu quả, nhằm hạn chế sự nhiễm sán lá ruột cho gà, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Sán lá ký sinh ở ruột gà

1.1.1.1 Thành phần loài sán lá ruột ký sinh ở gia cầm

Ở Việt Nam, thành phần loài sán lá ruột ở gia cầm rất phong phú, phân bố rộng khắp các vùng miền trong cả nước và gây tác hại đối với gia cầm trong đó có

gà Số lượng, thành phần các loài sán lá ruột ký sinh ở gà đã được một số tác giả nghiên cứu và tổng hợp

Sán lá ký sinh ruột gia cầm nói chung và ở gà nói riêng gồm nhiều loài thuộc

lớp Trematoda Rudolphi, 1808 Vị trí của các loài sán lá ruột trong hệ thống phân

loại động vật như sau:

Ngành Plathelminthes Schneider, 1873

Lớp Trematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Digenea Van Beneden, 1858

Bộ Echinostomida Skrjabin et Schulz, 1937

Phân bộ Echinostomata Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Echinostomatidae Poche, 1926 Phân họ Echinostomatinae Odhner, 1911

Giống Echinostoma Rudolphi, 1809 Loài Echinostoma revolutum Frolich, 1802 Loài Echinostoma miyagawai Ishu, 1932 Loài Echinostoma robustum Yamaguti, 1935 Loài Echinostoma paraulum Dietz, 1909 Giống Echinoparyphium Dietz, 1909

Loài Echinoparyphium recurvatum Linstaw, 1873

Trang 15

Loài E paracinctum BychowskajaPawlowskaja, 1953 Loài E nordiana Baschkirova, 1941

Phân họ Hypoderaeinae Skrjabin et Baschkirova, 1956

Giống Hypoderaeum Dietz, 1909 Loài Hypoderaeum conoideum Bloch, 1872

Họ Echinochasmidae Odher, 1910

Giống Echinochasmus Dietz, 1909 Loài Echinochasmus beleocephalus Linstovv, 1873 Loài Echinochasmus japonicus Tanabe, 1926

Bộ Notocotylida Skrjabin et Schuslz, 1937

Phân bộ Notocotylada Skrjabin et Schuslz, 1937

Họ Notocotylidae Luhe, 1909

Giống Notocotylus Diesing, 1839 Loài Notocotylus aegyptiacus Odhner, 1905 Loài Notocotylus indiens Lal, 1935

Loài Notocotylus intestinalis Tubangui, 1932 Giống Catatropis Odhner, 1905

Loài Catatropis verrucosa Fröhlich, 1978

Trang 16

Giống Levinseniella Stile et Hassall, 1901 Loài Levinseniella cryptacetabula Oschmarin, 1970 Giống Maritrema Nicoll, 1907

Loài Maritrema subdolum Jagerakiold, 1909

Ký sinh và gây bệnh cho gia cầm gồm có những loài phổ biến: Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma paraulum, Echinostoma robustum, Echinoparyphium recurvatum, Hypoderaeum conoideum (Phạm Sỹ Lăng

và Phan Địch Lân, 2004 [20], Chu Thị Thơm và cs, 2006 [38])

Phan Thế Việt và cs (1977) [44], Nguyễn Thị Lê (1995) [26], Nguyễn Thị Lê

và cs (1996) [27], Nguyễn Thị Lê (2000) [29] đã ghi nhận, có 18 loài sán lá ruột ký sinh, gây bệnh cho gia cầm ở Việt Nam, phân bố rộng ở khắp các địa phương, gồm

có các loài sau:

- Echinostoma revolutum Frolich, 1802 Nơi phát hiện: Hà Đông (1940),

Lạng Sơn (1962), Lại Châu, Sơn La (1963), Yên Bái, Cao Bằng (1965), Nam Định (1969), Bắc Thái (1969 - 1971), Hà Nội (1971) và Nam Định (1973)

- Echinostoma miyagawai Ishu, 1932 Nơi phát hiện: Lạng Sơn (1962),

Thanh Hoá (1964), Hải Phòng (I960), Bắc Thái (1969 - 1971), Nam Hà (1971), Hà Bắc (1973 - 1974), Hà Tĩnh (1974)

- Echinostoma paraulum Dietz, 1909 Nơi phát hiện: Lạng Sơn (1962), Hải

Phòng (1960), Bắc Thái (1969 - 1971), Hà Nội (1971), Nam Hà (1971), Hà Bắc (1974), Hà Tĩnh (1974)

- Echinostoma robustum Yamaguti, 1935 Nơi phát hiện: Hải Phòng (1960),

Tuyên Quang, Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Cao Bằng, Lạng Sơn (1962), Bắc Thái (1969 - 1971), Nam Hà (1971), Hà Bắc (1974), Hà Tĩnh (1974)

- Echinoparyphium nordiana Baschkirova, 1941 Nơi phát hiện: Hà Bắc

(1974)

- Echinoparyphium recurvatum Linstaw, 1873 Nơi phát hiện: Hải Phòng

(1960), Lạng Sơn (1962), Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Yên Bái (1964), Bắc Thái (1969 - 1971), Hà Bắc (1973 - 1974), Hà Tĩnh (1974)

Trang 17

- Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja - Pawlowskaja, 1953 Nơi

phát hiện: Hà Nội (1971), Nam Hà (1971)

- Hypoderaeum conoideum Bloch, 1872 Nơi phát hiện: Lạng Sơn (1962),

Sơn La (1963), Thanh Hoá (1964), Cao Bằng (1965), Hà Nội (1971), Hà Bắc (1973

- Notocotylus aegyptiacus Odhner, 1905 Nơi phát hiện: Hải Phòng

- Notocotylus indicus Lal, 1935 Nơi phát hiện: Hải Phòng, Nam Hà

- Notocotylus intestinalis Tubangui, 1932 Nơi phát hiện: toàn quốc

- Catatropis verrucosa Fröhlich, 1978 Nơi phát hiện: toàn quốc

- Procerovum chen Hsii, 1950 Nơi phát hiện: Hà Nội, Nam Hà

- Microphallus pseudogonocotyla Chen, 1944 Nơi phát hiện: Hải Phòng

- Levinseniella cryptacetabula Oschmarin, 1970 Nơi phát hiện: Hà Bắc, Hoà

Bình, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà

- Maritrema subdolum Jagerakiold, 1909 Nơi phát hiện: Hà Tây, Hà Nội,

Nghệ An, Thừa Thiên Huế

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo của một số loài sán lá ruột ký sinh phổ biến ở gà

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27], sán lá ruột cơ thể dẹt, có dạng hình

lá, có 2 giác bám: giác miệng và giác bụng Kích thước có thể rất biến đổi, bé nhất khoảng vài mm và lớn nhất không vượt quá 2cm Cơ thể phủ lớp tiểu bì (gai cutin), xung quanh giác miệng có móc kitin lớn Các giác bám, móc bám, gai, vẩy giúp sán bám chắc vào ruột của vật chủ Sán lá không có hệ tuần hoàn và hô hấp Nội quan gồm có hệ tiêu hoá, bài tiết, thần kinh và sinh dục

* Loài Echinostoma revolutum (Frohlich, 1802) Dietz, 1908

Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [25], Nguyễn Thị Lê và cs (2000) [29] đã mô tả

loài Echinostoma revolutum như sau:

Trang 18

Chiều dài trung bình cơ thể dao động từ 5,72 - 6,98mm, chiều rộng từ 1,12 - l,42mm Tuy nhiên, có nhiều cá thể đạt kích thước 10,32 - 13,32 x 2,40 - 2,50mm Viền cổ rộng 0,73 - l,03mm Có 37 móc gồm 15 móc lưng xếp thành 2 hàng, kích thước 0,101- 0,109 x 0,025mm Mỗi thùy bên có 6 móc (0,093 - 0,126 x 0,029mm)

và 5 móc thùy bụng (0,093 - 0,122 x 0,025mm) Kích thước giác miệng 0,23 - 0,44

x 0,27 - 0,45mm Trước hầu dài 0,13 - 0,16mm Hầu có kích thước 0,15 - 0,37 x 0,15 - 0,27mm Thực quản dài 0,86 - 1,14mm Giác bụng phát triển, kích thước 0,69

- 1,22 x 0,69 - 1,18mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thề

Tinh hoàn hình ô van hoặc hơi phân thùy theo chiều dọc Kích thước tinh hoàn trước 0,34 - 1,41 x 0,43 - l,06mm, tinh hoàn sau 0,36 - 1,41 x 0,34 - l,04mm Túi sinh dục nằm ở mặt lưng ở nửa truớc giác bụng, bên trong có túi chứa tinh hình ống Kích thước túi sinh dục 0,234 - 0,453 x 0,069 - 0,314mm

Buồng trứng tròn hoặc ô van, nằm trước tinh hoàn, kích thước 0,18 - 0,43 x 0,25 - 0,645mm Thể Mehlis nằm ngay sau buồng trứng và có kích thuớc lớn hơn buồng trứng

Tuyến noãn hoàng nằm hai bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng kéo dài đến mút sau cơ thể, không che lấp hai mút nhánh ruột và khoảng trống phía sau tinh hoàn

Tử cung tương đối dài, chứa nhiều trứng Trứng hình ô van, màu vàng sáng, kích thước 0,076 - 0,105 x 0,051 - 0,084mm Ống bài tiết chính ở phần sau cơ thể, gấp khúc 1 - 2 vòng trước lỗ thoát Ở những sán già, tử cung không còn trứng, các

cơ quan sinh dục như buồng trứng, tinh hoàn, tuyến noãn hoàng có xu hướng teo đi

* Loài Echinostoma miyagayvai Ishu, 1932

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1993) [25], (1996) [27], (2000) [29], loài này có hình thái cấu tạo như sau:

Cơ thể dài 6,9 - 12,0mm, rộng nhất ở vùng tử cung và tinh hoàn 0,77 - 2,32mm Bề mặt phía trước cơ thể đến ngang buồng trứng phủ gai nhỏ Viển cổ rộng 0,54 - 0,67mm, có 37 móc gồm 13 móc lưng xếp thành 2 hàng, 7 móc bên và 5 móc thùy bụng mỗi bên Kích thước móc bên 0,89 - 0,093 x 0,23mm, móc thùy bụng 0,089 - 0,096 x 0,023mm

Trang 19

Giác miệng 0,19 - 0,23 x 0,21 - 0,29mm Giác bụng 0,57 - 0,91 x 0,57 - 0,63mm, nằm gần ở 1/4 chiều dài cơ thể Trước hầu dài 0,075 - 0,084mm Hầu 0,230 - 0,320 x 0,251 - 0,258mm Thực quản dài 0,77 - 0,93mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể, thường bị tuyến noãn hoàng che lấp

Túi sinh dục nằm chính giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,32 - 0,49 x 0,21 - 0,32mm

Tinh hoàn phân thùy, hình dạng rất biến đổi, thường từ 3 - 7 thùy sâu Kích thước tinh hoàn trước 0,39 - 0,62 x 0,36 - 0,49mm

Buồng trứng hình ô van, kích thước 0,27 - 0,36 x 0,27 - 0,3 8mm Thể Mehlis nằm ngay sau buồng trứng, kích thước 0,19 - 0,39 x 0,23 - 0,25mm

Tuyến noãn hoàng nằm hai bên cơ thể, bắt đầu từ phía sau giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể và lấp đầy khoảng trống phía sau tinh hoàn, che lấp cả 2 mút ruột, ống bài tiết thẳng, không gấp khúc ở phần cuối cơ thể Tử cung phát triền, chứa nhiều trứng, kích thước trứng 0,089 - 0,093 x 0,053 - 0,056mm

* Loài Echinostoma paraulum Dietz, 1909

Kích thước từ 6 - l0mm x 0,8 - l,4mm, vòng gai miệng gồm 37 gai, 27 gai nằm ở vòng phía lưng và hai cạnh bên mỗi bên 5 gai Giác miệng đường kính 0,25 - 0,3mm giác bụng 0,72 - 0,88mm ở khoảng cuối 1/4 thân trước Thực quản dài 0,4 - 0,6mm

Hai tinh hoàn xếp trên dưới nhau, cái trên thường có 3 thuỳ, cái dưới 4 thuỳ Buồng trứng ở ngay sát trước tinh hoàn Kích thước trứng 0,100 x 0,070mm (Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái, 1978 [40])

* Loài Echinoparyphium recurvatum Linstow, 1873

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27], (2000) [29], loài này có kích thước

cơ thể bé, dài 2,48mm, rộng 0,45mm (ở vùng giác bụng) Bề mặt cơ thể ở phía trước đến ngang giác bụng phủ gai cutin lớn Viền cổ có 45 móc, mỗi thùy bụng có

4 móc, kích thước 0,044 - 0,065 x 0,009 - 0,012mm Còn lại 37 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,042 - 0,049 x 0,009mm

Trang 20

Giác miệng 0,008 x 0,105mm Hầu 0,088 x 0,084mm Giác bụng tròn, nằm ở 1/3 chiều dài cơ thể, kích thước 0,297 x 0,258mm Thực quản dài 0,28mm, hai nhánh ruột kéo dài đến mút sau cơ thể

Túi sinh dục hình bầu dục, nằm giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng, kích thước 0,252 x 0,105mm

Tinh hoàn hình ô van, cái này nằm sau cái kia ở nửa sau cơ thể Tinh hoàn trước 0,297 x 0,193mm, tinh hoàn sau 0,320 x 0,172mm

Buồng trứng tròn hoặc hình ô van, nằm trước tinh hoàn, đường kính 0,127mm Thể Mehlis lớn, nằm giữa buồng trứng và tinh hoàn trước Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn lớn kéo dài từ sau giác bụng đến gần mút cơ thể Tử cung ngắn, chứa ít trứng, kích thước trứng 0,077 - 0,084 x 0,051 mm

* Loài Echinoparyphium paracinctum Bychowskaja - Pawlowskaja, 1953

Cơ thể sán dài 6,0mm, rộng 1,0mm Bề mặt cơ thể ở phía trước đến mép sau giác bụng phủ gai bé Viền cổ rộng 0,37 - 0,48mm, có 43 móc xếp thành 2 hàng, kích thước 0,064 x 0,012mm Mỗi thùy bụng có 5 móc Giác miệng nhỏ hơn giác bụng 5 - 5,5 lần Giác bụng 0,26 - 0,39 x 0,26 - 0,36mm

Túi sinh dục kéo dài đến giữa giác bụng, kích thước 0,213 - 0,267 x 0,100 -

0, 120mm

Tinh hoàn hình bầu dục, kích thuớc 0,26 - 0,406 x 0,13 - 0,21mm

Buồng trứng hình ô van, kích thước 0,23 x 0,13mm Tử cung chứa 7 - 19 trứng, kích thước trứng 0,096 - 0,106 x 0,053mm

* Loài Echinoparyphium nordiana Baschkirova, 1941

Theo mô tả của Nguyễn Thị Lê và cs (2000) [29], kích thước cơ thể trung bình của loài này là 4,88 - 5,93 x 1,04 - 1,11 mm Viền cổ rộng 0,418mm, có 37 móc, mỗi bên có 5 móc thùy bụng, kích thước 0,070 - 0,075 x 0,013 - 0,016mm Móc lưng xếp 2 hàng, kích thước 0,069 x 0,015mm Móc bên xếp một hàng, kích thước 0,070 x 0,013mm Bề mặt của cơ thể từ mút trước đến giác bụng hoặc mép sau buồng trứng phủ gai nhỏ Giác miệng 0,124 - 0,138 x 0,165 - 0,179mm Trước

Trang 21

hầu dài 0,041 - 0,055mm Hầu 0,124 - 0,165 x 0,151 - 0,165mm Thực quản dài 0,207 - 0,276mm Hai nhánh ruột kéo dài về mút sau cơ thể Giác bụng tròn, đường kính 0,621 - 0,662mm

Túi sinh dục lớn, hình ô van, kích thước 0,368 - 0,414 x 0,234mm, nằm giữa nhánh ruột chẻ đôi và giác bụng

Tinh hoàn hình ô van hoặc gần tròn, cái nọ trước cái kia ở phần sau cơ thể Tinh hoàn trước 0,455 - 0,469 x 0,621- 0,662mm, tinh hoàn sau 0,441 - 0,469 x 0,386 - 0,414mm

Buồng trứng hình tròn hoặc ô van, nằm ngay phía trước tinh hoàn, kích thước 0,124 - 0,165 x 0,234 - 0,276mm Thể Mehlis lớn hơn buồng trứng, nằm giữa buồng trứng và tinh hoàn trước

Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn có kích thước không đều nhau, nằm cách mép sau giác bụng 0,096 - 0,234mm, kéo dài về phía sau cơ thể và không che lấp 2 mút ruột Phía sau tinh hoàn, tuyến noãn hoàng không nối liền lại với nhau

Tử cung ngắn chứa ít trứng (40 - 50 trứng) Trứng hình ô van, kích thước 0,096 x 0,060 - 0,069mm

* Loài Hypoderaeum conoideum (Bloch, 1782) Dietz, 1909

Về đặc điểm hình thái, cấu tạo của loài Hypoderaeum conoideum Nguyễn

Thị Kim Lan (2011) [16], (2012) [17] cho biết:

Cơ thể sán dài 8,02 - 13,26mm, rộng 1,39 - 2,02mm, phần truớc cơ thể phủ gai Đầu ngắn, đĩa bám kém phát triển, rộng 0,414 - 0,621mm Có 47 - 53 móc, xếp thành 2 hàng, móc lưng 0,015 - 0,027 x 0,007 - 0,013mm, móc bên 0,027 - 0,030 x 0,010mm, móc bụng 0,033 x 0,013 - 0,015mm Giác miệng 0,165 - 0,276 x 0,193 - 0,33 lmm

Trước hầu dài 0,027mm Hầu 0,151 - 0,234 x 0,138 - 0,234mm Thực quản dài 0,096 - 0,207mm Giác bụng lớn nằm gần giác miệng, kích thước 0,828 - 1,131 x 0,876

- 1,150mm Hai nhánh ruột chẻ đôi truớc giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể

Trang 22

Tinh hoàn hình ô van, cái này nằm sau cái kia, ở chính giữa nửa sau cơ thể, kích thước tinh hoàn trước 0,690 - 1,352 x 0,345 - 0,579mm, tinh hoàn sau 0,828 - 1,352 x 0,303 - 0,552mm

Túi sinh dục hình ô van hoặc hình quả lê, đáy túi kéo dài đến giữa giác bụng chứa túi chứa tinh và gai sinh dục dài, kích thước 0,690 - 0,828 x 0,276mm Lỗ sinh dục nằm ngay sau nhánh ruột chẻ đôi

Buồng trứng hình ô van, nằm ngay phía trước tinh hoàn, kích thước 0,248 - 0,414 x 0,372 - 0,455mm Thể Mehlis nằm ngay sau buồng trứng

Tuyến noãn hoàng bắt đầu ở phía sau giác bụng, kéo dài đến mút sau cơ thể nhưng không che lấp hai mút ruột Tử cung dài chứa nhiều trứng, kích thước trứng 0,082 - 0,090 x 0,055 - 0,060mm

1.1.1.3 Vòng đời của sán lá ruột gà

Harvey Tohnston (1941) đã nghiên cứu về vòng đời của Echinostomo revolutum ở Nam Australia, tác giả cho biết: Cercaria của loài này thoát ra khỏi ký chủ trung gian trước giữa trưa và có thể sống hơn 24 giờ Kích thước Redia hầu hết

thường khoảng 200 - 900nm Gan của ốc bị nhiễm nang sán có màu cam sáng là bởi

các Redia (dẫn theo Lê Văn Trọng, 2010 [43])

Về chu kỳ sinh học của loài sán lá ruột, Soulsby E J L (1982) [67] cho biết: Trứng loài Echinostoma revolutum sau khi thải ra ngoài môi trường gặp điều kiện thuận lợi, trong vòng 3 tuần trứng nở thành Miracidium và xâm nhập vào một trong những vật chủ trung gian là các loài ốc nước ngọt và phát triển thành Cercaria Cercaria phát triển trong vòng 2 - 3 tuần và thoát khỏi cơ thể ốc ra ngoài môi

trường Nó có thể xâm nhập lại ký chủ trung gian cũ hoặc các ký chủ trung gian khác Khi ký chủ cuối cùng ăn phải ốc có chứa ấu trùng, trong cơ thể ký chủ chúng phát triển thành sán trưởng thành trong 15 - 19 ngày

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2004) [20], Chu Thị Thơm và cs (2006) [38] cho biết, sán trưởng thành ký sinh ở ruột, thường xuyên thải trứng ra ngoài theo phân Ở môi trường ngoài, gặp điều kiện thích hợp, sau 12 - 17 ngày mao ấu

(Miracidium) hình thành trong trứng, sau đó thoát vỏ và bơi tự do trong nước Nếu

Trang 23

gặp ký chủ trung gian thích hợp, mao ấu chui vào ký chủ trung gian, tiếp tục phát

triển thành bào ấu (Sporocyst) Bằng cách sinh sản vô tính, bào ấu sinh ra nhiều lôi

ấu (Redia) Lôi ấu lại sinh sản vô tính ra nhiều vĩ ấu (Cercaria) Chúng ra khỏi ký

chủ trung gian, bơi tự do trong nước khoảng 10 - 12 giờ Trong thời gian này, nếu vĩ

ấu xâm nhập được vào ký chủ trung gian bổ sung là những ốc nước ngọt và nòng

nọc, vĩ ấu rụng đuôi, tạo vỏ bọc xung quanh và biến thành nang kén (Metacercaria)

Những vĩ ấu không gặp ký chủ trung gian bổ sung sẽ bị chết

Gà nhiễm sán do ăn phải ký chủ trung gian bổ sung có chứa Metacercaria hoặc nuốt phải Metacercaria do nhuyễn thể thải ra Sau khi xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, Metacercaria tiếp tục phát triển thành sán trưởng thành và đẻ trứng sau

10 - 12 ngày

Theo Dương Công Thuận (2005) [41], trong vòng đời của các loài sán lá ruột cần 2 ký chủ trung gian Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi (ấm và có nước) sau 10 - 30 ngày nở thành mao ấu, mao ấu xâm nhập vào ký chủ trung gian

thứ nhất rồi qua các giai đoạn phát triển và cuối cùng là hậu vĩ ấu (Metacercaria)

đóng kén trong ốc hoặc chuyển sang ký chủ trung gian thứ 2 (ốc nước ngọt, ếch, nòng nọc) Thời gian từ khi vào cơ thể ốc đến khi hình thành hậu vĩ ấu là 50 ngày

Ký chủ ăn phải ốc hoặc nòng nọc sẽ bị nhiễm sán Thời gian từ ấu trùng trở thành sán trưởng thành trong ruột là 15 - 20 ngày

Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [16], (2012) [17] cho biết vòng đời của sán lá ruột gà như sau:

Mỗi loài sán lá có vòng đời riêng, nhưng nhìn chung vòng đời của các sán lá ruột gia cầm diễn ra như sau: Sán trưởng thành ký sinh, thụ tinh và đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài Ở môi trường ngoài, gặp điều kiện thích hợp, phôi trong trứng

phát triển thành mao ấu {Miracidium) Mao ấu thoát vỏ ra ngoài bơi trong nước và

chỉ tồn tại một vài ngày Trong thời gian này nó tích cực tìm ký chủ trung gian Vào

ký chủ trung gian, mao ấu rụng lông và biến thành bào ấu (Sporocyst) Sau một thời gian, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều lôi ấu (Redia) Lôi âu tiếp tục sinh sản vô tính cho ra nhiều vĩ ấu recurvatum trưởng thanh (Cercaria) Vĩ ấu ra khỏi ký chủ

Trang 24

trung gian thứ nhất và tiếp tục xâm nhập ký chủ trung gian thứ hai và biến thành

Metacercaria Khi gia cầm nuốt ký chủ trung gian thứ hai này, vào cơ thể vật chủ,

chúng phát triển thành sán trưởng thành (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [17])

1.1.1.4 Ký chủ trung gian của sán lá ruột

Ký chủ trung gian thứ nhất của sán lá ruột ký sinh ở gà là những loài ốc nuớc

ngọt: Radix ovata, R cularia, Galba palustris, Planorbis, Limnaea Ký chủ trung gian bổ sung cũng là những ốc nước ngọt thuộc các giống Radix, Planorbis và nòng nọc (Rana temporaria) (Phan Thế Việt và cs., 1977 [44])

Gần đây, Bùi Thị Dung và cs (2007) [4] đã nghiên cứu về tình hình nhiễm

ấu trùng sán lá ở ốc nước ngọt và vai trò của ốc trong sự truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi tại huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) Tác giả cho biết: Trong 10.879 mẫu ốc nước ngọt thuộc 16 loài, có 639 ốc bị nhiễm ấu trùng sán lá, chiếm

tỷ lệ 5,78% Trong 16 loài ốc, có 8 loài nhiễm ấu trùng sán lá, đây là những loài đóng vai trò vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi Tác giả tìm thấy ấu trùng của 10 loài sán lá ký sinh ở các loài ốc thu được, thuộc 6 nhóm

Cercaria, trong đó nhóm Cercaria của các loài thuộc giống Echinostoma này chiếm

tỷ lệ 24,56% và là một trong ba nhóm gây bệnh sán lá cho người và vật nuôi

Từ tháng 10/2011 - 4/2012, Chantima K và cs (2013) [50] đã kiểm tra 2.914

ốc thuộc 12 loài tại 6 huyện của tỉnh Chiang Mai, Thái Lan thấy 7 loài ốc (Clea helena, Eyriesia eyriesi, Bithynia funiculata, Bithynia siamensis siamensis, doliaris Filopaludina, Filopaludina sumatrensis polygramma và Filopaludina martensi martensi) nhiễm metacercariae của sán lá Echinostome spp Sự phổ biến của metacercariae cao nhất trong ốc Filopaludina spp (38,5-58,7%), tiếp theo là B funiculata (44,0%), E eyriesi (12,5%), B siamensis (8,2%) và C helena (5,1%)

Hà Huỳnh Hồng Vũ và cs (2014) [45] đã thu thập 5.636 ốc nước ngọt từ đồng lúa, ao, mương, kênh, rạch tại hai tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp, các tác giả kết luận: Có 14 loài ốc nước ngọt đã được thu thập và định danh ở cả 2 tỉnh khảo sát

bao gồm Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis, Indoplanorbis exustus, Clea sp., Bithynia siamensis, Mekongia sp., Eyriesia sp., Adamietta sp., Melanoides tuberculata, Sermyla sp., Tarebia granifera, Pomacea canaliculata,Trochotaia sp.,

Trang 25

và Filopaludina martensi martensi thuộc 7 họ: Lymnaeaidae, Planorbidae, Buccinidae, Thiaridae, Viviparidae, Bithynidae, Ampullariidae Các loài ốc nước ngọt có tần số xuất hiện cao ở loài ốc Lynmaea swinhoei (17,07%), Bithynia siamensis (12,74%), Lymnaea viridis (11,43%), Eyriesia sp (9,07%), Tarebia granifera (8,41%), Pomacea canaliculata (8,23%), Melanoides tuberculata (7,75%), Mekongia sp (7,34%), Indoplanorbis exustus (7,18%) Trong 14 loài được

tìm thấy có 13/14 loài ốc nước ngọt là ký chủ trung gian của các loài sán lá gây bệnh cho người và vật nuôi

1.1.2 Bệnh sán lá ruột ở gia cầm

Bệnh sán lá ruột ở gia cầm nói chung và ở gà nói riêng do nhiều loài sán gây

ra, sán lá ruột không những gây bệnh cho gà, mà còn gây bệnh cho vịt, ngỗng, bồ câu và một số loài chim hoang dã Các loài sán lá ruột gây bệnh phổ biến là các loài

thuộc họ Echinostomatidae

1.1.2.1 Dịch tễ học bệnh sán lá ruột

Cũng như hầu hết các bệnh sán lá khác, bệnh sán lá ruột ở gà nói riêng và ở gia cầm nói chung chịu ảnh hưởng của yếu tố vùng, mùa vụ và tuổi vật chủ Có thể nhận thấy rất rõ quy luật nhiễm sán lá ruột ở gia cầm là: Tỷ lệ nhiễm tăng dần và nặng dần từ vùng núi xuống vùng đồng bằng; mùa mưa tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gia cầm cao và cường độ nhiễm nặng hơn so với mùa khô; tỷ lệ và cường độ nhiễm tăng dần theo tuổi gia cầm (Lê Đắc Lợi, 2015 [30])

Kurt M và Acici M (2008) [61] đã khảo sát tỷ lệ và cường độ nhiễm giun sán ở gà tại khu vực Samsun, phía Bắc Thổ Nhĩ Kỳ thấy 88% trong số 83 gà thả vườn và 4% trong số 52 gà đẻ bị nhiễm giun sán, tuy nhiên, trong 50 gà nuôi thịt không có gà nào nhiễm bệnh Tổng cộng có 16 loài khác nhau đã được phát hiện,

trong đó có 2 loài sán lá ruột là Echinoparyhium recurvatum và Echinostoma revolutum

Anh N T và cs (2010) [47] mổ khám gà và vịt nuôi tại các trang trại gia cầm có ao cá tại Nghĩa Lạc, Nghĩa Phú, Nam Định thấy 12% số gà và 30% số vịt

nhiễm các loài sán lá, phổ biến có 2 loài Centrocestus formosanus và Echinostoma

Trang 26

cinetorchis Trong đó, tỷ lệ nhiễm sán lá Hypoderaeum conoideum là cao nhất Tác

giả cho biết, những bệnh sán lá này có thể lây nhiễm sang người

Nghiên cứu về thành phần giun sán ký sinh ở vịt tại huyện Thanh Trì - Hà Nội, Nguyễn Thị Lê (1971) [21] cho biết: Qua mổ khảo sát 55 vịt thấy vịt nhiễm 33 loài giun sán Trong đó, nhiễm sán lá (18 loài) với tỷ lệ cao nhất 88,90%; cường độ nhiễm từ 1 - 265 con/cá thể vịt Trong 8 loài sán lá mới tìm thấy ở vịt miền Bắc

nước ta thời gian đó có 4 loài ký sinh ở ruột: Echinostoma paraulum, E robustum,

E nordiana và Echinochasmus beleocephalus

Trong nghiên cứu này, Nguyễn Thị Lê (1971) [21] cũng ghi nhận, ở vịt con cường độ nhiễm cao nhưng thành phần loài giun sán thấp; ở vịt già thì ngược lại, cường độ nhiễm thấp nhưng thành phần loài giun sán phong phú hơn Các loài sán

lá ruột phân bố phổ biến rộng khắp là Nototylus intestinalis (40%), Hypoderaeun conoideum (32%), Echinostoma revolutum (29,10%), Echinostoma miyagawai

Nghiên cứu khu hệ sán lá ở chim và thú vùng Hà Bắc nước ta, Nguyễn Thị

Lê (1980) [22] thấy rằng, ở vịt non tỷ lệ và cường độ nhiễm giun sán thấp hơn (55,3%) so với vịt trưởng thành (100%); vịt nhiễm giun sán quanh năm nhưng cao nhất vào tháng 4 và tháng 9 (100%), thấp nhất vào tháng 2 và tháng 3 (28,5%), trung bình vào tháng 10 và tháng 11 (44,4%)

Khan A J và cs (1983) [59] đã nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán ở vịt tại Peshawar (Pakistan), tác giả đã phát hiện 3 loài sán lá, trong đó có 2 loài ký sinh

phổ biến ở đường tiêu hoá vịt là: Echinostoma paraulum và Echinoparyphium recurvatum

Kee - Seo EOM và cs (1984) [58] đã mổ khám 105 vịt ở các thành phố Ichon Dun, Fusan, Chunchon, Yanggu và Taejeon Tác giả đã tìm thấy 6 loài sán lá,

Trang 27

trong đó có 2 loài ký sinh ở ruột: Echinostoma miyagawai, Echinochasmus japonicus

Nguyễn Thị Lê (1987) [23] đã công bố thành phần loài sán lá rất phong phú ở vịt nuôi tại vùng chiêm trũng thuộc các tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh và Hà Nội

1.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá ruột

Sán lá ruột gây bệnh thông qua những tác động gây hại như: chiếm đoạt chất dinh dưỡng, đầu độc và tác động cơ giới

Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [40], Phạm Sỹ Lăng và Phân Địch Lân (2001) [19], sán lá ruột ký sinh gây viêm niêm mạc đường tiêu hoá

và các tuyến tiêu hoá Sán ký sinh ở các vị trí khác nhau, nhưng gây bệnh chủ yếu tập trung vào các tác động cơ giới, chiếm đoạt chất dinh dưỡng và đầu độc

Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng diễn ra liên tục trong thời gian dài, với

số lượng lớn giun sán ký sinh sẽ làm cho con vật còi cọc, thiếu máu, gầy còm và có thể chết Những tác động bắt buộc để giun sán tự nuôi sống đó là ăn các mô, cướp một phần thức ăn của ký chủ, làm cho ký chủ suy nhược

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [14] cho biết: Các móc bám, giác bám của sán bám vào niêm mạc ruột, gây ra những tổn thương cơ học, dẫn tới viêm loét, xuất huyết và hoại tử niêm mạc ruột

Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [28]: Đôi khi vật ký sinh không sử dụng trực tiếp thức ăn của vật chủ mà lấy các vitamin của vật chủ làm thức ăn, hoặc tiết ra các chất

ức chế các men làm giảm khả năng trao đổi chất bình thường của cơ thể vật chủ

Trong quá trình sống ký sinh, sán lá ruột phân tiết, bài xuất những chất độc,

ký chủ hấp thu và bị trúng độc với những biểu hiện rối loạn thần kinh (run rẩy, cánh

sã, đi đứng xiêu vẹo ), gây dung huyết, thiếu máu (Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái, 1978 [40]) Trong trường hợp độc tố làm biến đổi thành phần máu thường làm tăng số lượng bạch cầu ái toan và dẫn tới những biến đổi bệnh lý của vỏ não (Nguyễn Thị Lê, 1998 [28])

1.1.2.3 Triệu trứng và bệnh tích bệnh sán lá ruột gia cầm

Trang 28

Gà mắc bệnh nặng hay nhẹ tuỳ thuộc vào số lượng sán nhiều hay ít, triệu chứng chủ yếu thường gặp là: ăn kém, gầy yếu, ỉa chảy

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2001) [19], (2004) [20] cho biết: Khi nhiễm sán ở cường độ cao gia cầm có biểu hiện yếu toàn thân, ỉa chảy đôi khi có lẫn máu, kiệt sức nhanh, suy nhược, lông xơ xác, mất khả năng sinh sản, ngừng sinh trưởng, phát triển, thường bị chết do kiệt sức Mổ khám gia cầm mắc bệnh thấy bệnh tích chủ yếu là niêm mạc ruột viêm, chảy máu, viêm cata từng vùng

Theo Nguyễn Đình Bảo và cs (2003) [1], vịt bị bệnh sán lá ruột thấy biểu hiện rõ nhất là vịt gầy yếu, còi cọc; ở vịt đẻ còn có dấu hiệu giảm đẻ Mổ khám vịt nhiễm sán lá thấy hiện tuợng xung huyết, xuất huyết và bong tróc niêm mạc ruột

Theo dõi gà nhiễm sán lá ruột tại Thanh Hóa, Lê Đắc Lợi (2015) [30] thấy:

có 16,67% số gà nhiễm bệnh có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, các triệu chứng chủ yếu là 100% số gà gầy yếu, ăn kém, lông khô, xơ xác; da và niêm mạc nhợt nhạt, vận động chậm chạp; 40,00% số gà ỉa chảy, phân đôi khi có lẫn máu và vùng lông xung quanh hậu môn dính bết, gà hay uống nước Mổ khám thấy bệnh tích đại thể

do sán lá ruột gây ra là: ruột và manh tràng bị tổn thương, niêm mạc ruột có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm

1.1.2.4 Chẩn đoán bệnh sán lá ruột ở gia cầm

Chẩn đoán bệnh sán lá ruột ở gà có thể tiến hành trên cả gà sống hay đã chết

- Đối với gà còn sống: Để chẩn đoán gà bị bệnh sán lá ruột, cần quan sát

những biểu hiện lâm sàng như: thể trạng gầy yếu; mào, tích và niêm mạc nhợt nhạt;

ỉa chảy đồng thời phải căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ như tuổi mắc bệnh, mùa

vụ và phương thức chăn nuôi Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những biểu hiện lâm sàng và các đặc điểm dịch tễ để chẩn đoán gà mắc bệnh sán lá ruột sẽ khó chính xác, vì bệnh ký sinh trùng thường có những biểu hiện lâm sàng tương tự nhau Do vậy, để chẩn đoán chính xác gà bị bệnh sán lá ruột phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng sán bằng phương pháp lắng cặn Benedek

- Đối với gà đã chết hoặc nghi mắc bệnh: Dùng phương pháp mổ khám kiểm

tra bệnh tích và tìm sán lá ký sinh ở ruột

Trang 29

Theo Trần Văn Bình (2006) [2], chẩn đoán bệnh ở gia cầm nói chung có thể dựa trên nguyên tắc sau: Sử dụng tổng hợp các phương pháp chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh một cách hệ thống, phát hiện kịp thời một số triệu chứng lâm sàng của bệnh Căn cứ vào kết quả chẩn đoán lâm sàng có thể thu được những thông tin về tình trạng sức khỏe của từng cá thể cũng như tổng thể của đàn gia cầm Việc chẩn đoán lâm sàng có ý nghĩa trong công tác phòng bệnh

Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [40] cho biết, chẩn đoán bệnh giun sán không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng vì triệu chứng của bệnh giun sán không điển hình, nên cần phải tìm thấy căn bệnh bằng cách phát hiện trứng và giun sán trưởng thành

Như vậy, để chẩn đoán bệnh giun sán nói chung, bệnh sán lá ruột ở gà nói riêng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng phương pháp đơn giản

và được sử dụng phổ biến là các phương pháp: Quan sát những biểu hiện lâm sàng của bệnh, xét nghiệm mẫu phân tìm trứng sán lá ruột, mổ khám kiểm tra bệnh tích

và tìm sán lá ký sinh ở ruột gà

1.1.2.5 Phòng bệnh sán lá ruột cho gia cầm

Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2004) [20], sán lá ruột gây tác hại rất lớn đối với chăn nuôi gia cầm nói chung và gà nói riêng, vì vậy việc phòng bệnh sán

lá ruột là rất cần thiết, người chăn nuôi cần phải thực hiện nghiêm túc các biện pháp tổng hợp sau:

- Vệ sinh sạch sẽ chuồng và khu vực chăn nuôi

- Định kỳ diệt sán trong cơ thể gia cầm bằng các thuốc tẩy sán lá

- Thu gom phân hàng ngày và ủ phân để tiêu diệt trứng sán thải ra

- Diệt ký chủ trung gian của các loài sán lá (ốc, nòng nọc ) ở khu vực chăn thả bằng vôi bột

- Nuôi nhốt riêng gia cầm con với gia cầm trưởng thành

- Ở những nơi ao hồ có nhiều mầm bệnh, gia cầm non phải được nuôi đến 2 -

3 tháng tuổi trên những sân khô ráo

Trang 30

- Không làm chuồng ở gần ao hồ, ruộng nước

Vận dụng học thuyết Skrjabin để đề ra biện pháp phòng chống bệnh giun sán, Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [27] cho biết, biện pháp hữu hiệu để phòng bệnh sán lá là biện pháp phòng chống tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của trứng ở môi trường ngoại cảnh

Tuy nhiên, theo quan điểm của Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [17], muốn thanh toán bệnh giun sán phải dự phòng có tính chủ động: Dùng tất cả các phương pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), hoá học (thuốc), cơ giới, sinh học để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh và ở tất cả giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)

1.1.2.6 Điều trị

Chu Thị Thơm và cs (2006) [38] cho biết về một số thuốc và liều lượng dùng để tẩy sán lá ruột cho gia cầm như: arecolin liều 0,002g/kg thể trọng, pha dưới dạng dung dịch, nồng độ 1:1000; devermin 60mg/gia cầm; fenbendazol 40mg/kg thể trọng; praziquantel 20 - 25mg/kg thể trọng

Mebendazol và các thuốc thuộc nhóm benzimidazol tác dụng chủ yếu bằng cách gắn vào các ống dẫn, ngăn cản sự trùng ngưng các ống dẫn trong quá trình lắp ráp các vi ống và gây ra các thay đổi thoái hoá cấu trúc ở ruột của sán Tác động trước hết là ức chế hoạt tính của men fumarate reductase, sau đó làm rối loạn các vi ống thiết yếu đối với việc tiết nhiều enzym của giun sán (Phạm Đức Chương và cs.,

Trang 31

- Bột hạt cau: 1 - 2g/gia cầm trưởng thành, trộn thức ăn

Theo Phan Lục và cs (2006) [], có thể dùng các loại thuốc sau để tẩy sán lá ruột: Devermin liều 60mg/kg thể trọng; fenbendazol liều 40mg/kg thể trọng, cho ăn praziquantel liều 20 - 25mg/kg thể trọng; fubendazol liều 40 - 50mg/kg thể trọng và arecolin liều 0,002g/kg thể trọng Tất cả các loại thuốc này dùng qua đường miệng (trộn thức ăn) đều có hiệu quả tẩy sán lá ruột cho gia cầm

Sử dụng thuốc tẩy sán lá ruột cho vịt ở Thái Nguyên, Lê Văn Trọng (2010) [43] cho biết, thuốc menben (thành phần chủ yếu là mebendazol) liều lg/3kg thể trọng, trộn thức ăn cho ăn liên tục 3 ngày đạt hiệu lực tẩy sạch là 100%; thuốc bio - fenbendazol liều 1 g/2kg thể trọng, trộn thức ăn, cho ăn 3 ngày liên tục đạt hiệu lực tẩy sạch là 100% Cả hai thuốc trên đều an toàn đối với vịt

Lê Đắc Lợi (2015) [30] cũng đã sử dụng thuốc menben (liều lg/3kg thể trọng, trộn thức ăn, cho ăn liên tục 3 ngày) và thuốc bio - fenbendazol (liều 1 g/2kg thể trọng, trộn thức ăn, cho ăn 3 ngày) để tẩy sán lá ruột cho gà cho hiệu lực tẩy sạch cao (100) và an toàn (100%) với gà dùng thuốc

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Hồ Thị Thuận và cs (1988) [42] khảo sát giun sán ký sinh ở vịt Anh Đào nuôi chạy đồng thuộc quận Thủ Đức, Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh) Tác giả cho biết, vịt nhiễm 21 loài giun sán, trong đó có 6 loài sán lá Cường độ nhiễm cao

ở vịt non nhưng thành phần loài ít, ngược lại vịt già cường độ nhiễm thấp nhưng thành phần loài nhiều hơn

Nguyễn Thị Lê (1989) [24] đã mổ khám 275 vịt tại 4 địa điểm thuộc hai tỉnh

Hà Sơn Bình và Hà Nam Ninh thấy, vịt bị nhiễm giun sán ở tất cả các lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm 97 - 100% Vịt nhiễm sán lá nặng nhất (94,97%) Thành phần loài khá đa dạng và phong phú (25 loài sán lá)

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [14], bệnh phổ biến ở khắp các vùng trong cả nước, vùng đồng bằng nhiễm nhiều hơn so với vùng núi và trung du

Trang 32

Vịt, ngan, ngỗng là những loài thường xuyên tiếp xúc với nước nên mức độ nhiễm thuờng nặng Nguồn gieo rắc mầm bệnh ra ngoài môi trường, không những là vịt,

gà, ngan, ngỗng, bồ câu mà còn gặp ở các loài chim hoang dã khác

Huỳnh Tấn Phúc (2001) [34] cho biết, khi mổ khám 120 vịt tại huyện Bình Chánh (Thành phố Hồ Chí Minh) đã phát hiện được 18 loài giun sán, trong đó có 9 loài sán lá Tỷ lệ nhiễm giun sán trung bình là 61,7%

Nguyễn Hữu Hưng và cs (2002) [9] đã nghiên cứu về tình hình nhiễm giun sán trên vịt thả đồng tại tỉnh Cần Thơ và Trà Vinh Tác giả mổ khám 671 vịt, tìm thấy 10 loài sán lá, tỷ lệ nhiễm tới 62,74% Vịt nhiễm ở tất cả các lứa tuổi, cao nhất

ở vịt trên 4 tháng tuổi Trong đó, các loài sán lá ruột tìm thấy là Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma paraulum và Hypoderaeum conoideum Cả hai tỉnh Cần Thơ và Trà Vinh đều tìm thấy các loài này, nhưng tỷ lệ nhiễm từng loài sán lá ruột có sự khác nhau rõ rệt Loài Echinostoma revolutum ở Cần Thơ là 8,13%, ở Trà Vinh là 26,20%; loài Echinostoma myiagawai ở cần Thơ

là 30,05%, ở Trà Vinh là 11,35%

Theo Nguyễn Hữu Phước và cs (2002) [35], vịt tại huyện Thốt Nốt (Cần Thơ) nhiễm cả 3 lớp giun sán: sán lá, sán dây và giun tròn, tỷ lệ nhiễm là 74,43%, trong đó nhiễm sán lá là 60,02% Vịt ở các lứa tuổi đều bị nhiễm cao, cao nhất là vịt

từ 1- 2 tháng tuổi, thấp nhất là trên 4 tháng tuổi; vịt nuôi thả đồng tỷ lệ và cường độ nhiễm cao hơn vịt nuôi thả vườn

Mổ khám 120 vịt của 4 huyện thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Đình Bảo và cs (2003) [1] tìm thấy 287 mẫu sán lá ký sinh Trong 7 loài phát hiện có 4

loài sán lá đường ruột: Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revoỉutum, Echinostoma miyagawai, Echinoparyphium recurvatum; trong đó có 3 loài sán lá ruột: loài Echinostoma miyagawai tìm thấy ở 8/8 điểm điều tra, 2 loài Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revolutum tìm thấy ờ 7/8 điểm điều tra Về

tỷ lệ và cường độ nhiễm, tác giả cho biết: Tỷ lệ nhiễm chung các loài sán lá là 32,5%, trong đó nhiễm sán lá ruột là 19,16% với cường độ nhiễm từ 3 -18 sán/vịt

Trang 33

Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2004) [20], Chu Thị Thơm và cs (2006) [38] cho biết: Bệnh sán lá ruột gia cầm gặp phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam bệnh thấy ở khắp các vùng Bệnh phân bố ở hầu hết các tỉnh miền

Bắc nước ta, loài phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho gia cầm là Echinostoma revolutum Gia cầm bị nhiễm nhiêu, bệnh phát nặng ở vùng đồng bàng, nhất là

những nơi gần ao, hồ, ruộng, vũng nước có nhiều ký chủ trung gian bổ sung

Bệnh phát quanh năm, nhưng gia cầm mắc bệnh tăng vào mùa hè, khi nhuyễn thể và nòng nọc phát triển nhiều Cuối thu và đông, nhiệt độ giảm xuống, số lượng nhuyễn thể và nòng nọc giảm đi, gia cầm ít tiếp xúc với ký chủ trung gian thì mức độ nhiễm cũng giảm

Những gia cầm thường xuyên tiếp xúc với nước như vịt, ngỗng mức độ nhiễm sán nặng hơn những gia cầm ở cạn như gà, gà tây

Nguyễn Hữu Hưng (2005) [10] mổ khám 177 vịt tại 3 huyện Măng Thít, Tam Bình, Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long để tìm hiểu về tình hình nhiễm sán lá

ruột ký sinh ở vịt, tác giả phát hiện có 4 loài phổ biến nhất là Echinoparyphium recurvatum, Echinostoma robustum, Echinostoma revolutum và Hypodraeum conoideum

Trần Văn Bình (2006) [2] mô tả vịt bị nhiễm sán lá ruột với những biểu hiện:

bỏ ăn, khát nước, ngại bơi lội Trường hợp bị nặng vịt đi bằng đầu gối, co rúm các ngón chân, ỉa chảy, phân có máu Mổ khám thấy ruột non xuất huyết

Mổ khám 3776 vịt nuôi chạy đồng trong hai vụ chăn thả ở 4 lứa tuổi vịt tại

10 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn Hữu Hưng và cs (2006) [11] cho biết: phát hiện vịt nhiễm giun sán tỷ lệ rất cao (82,55%), định danh được 27 loài Trong

đó có 13 loài sán lá (8 loài sán lá đường tiêu hoá), tỷ nhiễm sán lá là 73,45% Tác giả cho biết: tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi, vùng sinh thái, mùa

vụ và lứa tuổi của vịt Tỷ lệ nhiễm cao thấy ở các loài: Echinostoma revolutum (23,89%), Hypoderaeum conoideum (23,04%), Echinostoma miyagawai (22,75%), Echinoparyphium recurvatum (16,53%) Phân bố rộng ở khắp các điểm khảo sát là

Trang 34

3 loài sán lá đường tiêu hoá: Echinoparyphium recurvatum, Hypoderaeum conoideum, Echinostoma revolutum có khả năng lây nhiễm từ vịt sang người

Nguyễn Hữu Hưng (2007) [12] đã nghiên cứu về giun sán ký sinh ở vịt tại

đồng bằng sông Cửu Long và thí nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán chủ yếu Tác giả đã sử dụng một số loại thuốc và cho biết, các loại thuốc đều an toàn, không gây phản ứng và có hiệu lực tẩy sán lá ruột cao Trong đó có các thuốc sau:

- Albendazol liều 50mg/kg thể trọng, trộn vào thức ăn liên tục 7 ngày cho hiệu quả tẩy sạch sán lá ruột 100%

- Fenbendazol liều 8mg/kg thể trọng và mebendazol 20mg/kg thể trọng, trộn thức ăn liên tục 7 ngày, đạt hiệu quả cao trong việc tẩy trừ sán lá ruột

Fenbendazol là thuốc được sử dụng rộng rãi cho nhiều loài động vật để tẩy giun sán đường ruột, là dẫn xuất của imidazol, thuộc nhóm benzimidazol

Fenbendazol tác động tới sán lá ruột do các phân từ thuốc liên kết với Tubulin trong tế bào ruột của sán, ngăn trở sự kết nối các Microtubulin để hình thành chuỗi Tubulin cần thiết cho sự hấp thu glucose và bài tiết nhiều loại enzym, vì vậy sán không hấp thu được glucose và một số enzyme bị ức chế, trong đó có enzym fumarate reductase

Nguyễn Xuân Dương (2007) [5], (2008) [6] đã công bố kết quả nghiên cứu

về thành phần loài sán lá ký sinh ở vịt vùng Đồng bằng sông Hồng Tác giả cho biết: Thành phần loài sán lá ký sinh ở vịt vùng Đồng bằng sông Hồng rất phong phú Vịt nhiễm 18 loài sán lá, những loài sán lá ký sinh ở ruột vịt gồm có:

Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Hypoderaeum conoideum, Echinochasmidae beleocephalus, Echinochasmus ịaponicus, Notocotylus indicus, Microphallus pseudogonocotyla Tác giả nhận xét: Thành phần loài giun sán của vịt

có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng (Trong 18 loài sán lá tìm thấy ở Đồng bằng sông Hồng, có 9 loài không tìm thấy ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long) Tỷ lệ

nhiễm các loài sán lá ruột khá cao: E revolutum (39,40%), E miyagawai (23,56%),

H conoideum (28,28%) Vịt 1 - 3 tháng tuổi nhiễm thấp nhất (43,77%), vịt hậu bị 4

- 6 tháng tuổi nhiễm 81,14%, vịt đẻ nhiễm 91,58% và vịt thịt nhiễm trên 43%

Trang 35

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [15] cho biết, yếu tố đầu tiên và quan trọng chi phối thành phần loài của khu hệ ký sinh trùng ở động vật là tuổi của vật chủ Đối với hầu hết các bệnh sán lá, tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá thường tăng dần theo tuổi vật chủ

Nguyễn Hữu Huân (2008) [8] mổ khám 210 vịt CV Super – M tạo trại giống

vịt Vigova thấy có 34 con nhiễm sán lá Echinostoma miyagawai ở đường tiêu hóa,

tỷ lệ nhiễm là 16,19% Cường độ nhiễm E miyagawai tổng số ở vịt nuôi vào mùa

mưa cao hơn so với mùa khô Tác giả sử dụng niclosamid để tẩy sán lá ruột cho vịt thấy tỷ lệ sạch là 67,85%, đạt hiệu quả chưa cao

Lê Văn Trọng (2010) [43] đã xét nghiệm 1.322 mẫu phân vịt các lứa tuổi, tỷ

lệ nhiễm sán lá ruột là 27,16% (số trứng/vi trường kinh hiển vi là 1 - 14 trứng) Mổ khám 309 vịt, có 37,86% nhiễm sán lá ruột (1 - 48 sán/cá thể vịt); tỷ lệ nhiễm tăng theo tuổi: Vịt dưới 3 tháng tuổi nhiễm 17,35%, 3 - 6 tháng tuổi nhiễm 43,52%, trên

6 tháng tuổi nhiễm 51,46% Ở vụ hè - thu tỷ lệ nhiễm là 43,56% (1 - 48 sán/vịt), vụ đông - xuân là 31,51% (1 - 9 sán/vịt)

Hồ Minh Vương (2011) [46] cho biết, thành phần giun sán ký sinh đường tiêu hóa ở vịt nuôi bán chăn thả tại Tuy Phước gồm 7 loài thuộc thuộc 7 giống, 4 họ,

4 bộ, ở 3 lớp Trematoda, Cestoda, Nematoda Trong đó, các loài giun sán nhiễm

theo tỷ lệ như sau: loài Opisthorchis paragenimus (30,25%), loài Hypoderaeum conoideum (26,25%), loài Diorchis ransomi (23,50%), loài Echinostoma revolutum (23,00%), loài Dicranotaenia coronula (18,75%), loài Microsomacanthus compressa (15,50%) và loài Tetrameres fissispina (12,00%)

Nguyễn Nhân Lừng và cs (2011) [32] đã mổ khám 1.440 gà thả vườn tại 6 huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thấy có 7 loài sán lá ký sinh ở gà gồm:

Hypoderaeum conoideum, Notocotylus intestinalis, Prostiiogonimus cuneatus, Prostiiogonimus ovatus Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá tăng theo tuổi gà Tỷ lệ và

cường độ nhiễm sán lá ở vụ Hè - Thu cao hơn so với vụ Đông - Xuân

Nguyễn Nhân Lừng (2013) [33] đã sử dụng arazilquantel liều 7,5mg/kg thể trọng để tẩy sán lá và sán dây cho gà thấy hiệu lực tẩy sạch đạt 86,67% Tác giả

Trang 36

cũng cho biết: kết hợp arazilquantel với albendazole có tác dụng tẩy cả sán lá, sán dây và giun tròn tốt hơn dùng riêng từng loại

Nguyễn Hữu Hưng và Nguyễn Hồ Bảo Trân (2014) [13] đã mổ khám 438 gà thả vườn tại 3 huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Giồng Trôm và huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, kết quả cho thấy gà thả vườn tại địa điểm khảo sát nhiễm 16 loài, trong đó

có 5 loài thuộc lớp Nematoda: Tetrameres mohtedai, Heterakis galinarum, H beramboria, Ascadia galli, Oxyspirura mansonui; 5 loài thuộc lớp Cestoda: Railietina echinoborida, R tetragona, R penetrans, R.georgiensis và Cotuginia digonopora và 6 loài thuộc lớp Trematoda: Philopthalmus gralli, Prosthogonimus cuneatus, Echinostoma revolutum, E beleocephalus, Notocotylus agyptiacus, Catatropis verucosa

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Mổ khảo sát 129 vịt tại Mexico, Farias J D và Canaris A G (1986) [54] phát hiện 25 loài giun sán ký sinh trong đường tiêu hoá của vịt, có 3 loài sán lá ký

sinh ở ruột: Echinoparyphium recurvatum, Echinostoma revolutum và Hypoderaeum conoideum

Chullabusapa và cs (1992) [52] mổ khám 200 vịt tại Bangkurad Amphur Bangyai tỉnh Nonthaburi (Thái Lan) đã phát hiện vịt nhiễm giun sán với tỷ lệ 66%,

với 6 loài giun sán ký sinh, trong đó có 2 loài sán lá ký sinh ở ruột Echinostoma revolutum và Hypoderaeum conoideum Nguyên nhân là do vịt ăn phải vật chủ

trung gian mang mầm bệnh sán lá có trong môi trường nước vào mùa mưa

Kulisis Z và Lepojev O (1994) [60] mổ khám tìm sán lá ký sinh ở 100 vịt nuôi gia đình ở khu vực Belgrade (Nam Tư) Kết quả cho thấy, vịt ở khu vực này nhiễm sán lá với tỷ lệ 72% Tác giả đã định danh đuợc 13 loài giun sán ký sinh ở

vịt, trong đó có 4 loài sán lá ruột (Echinostoma revolutum, Notocotilus imbricatus, Hypoderaeum conoideum, Echinoparyphium recurvatum) Tác giả nhận xét, tỷ lệ

nhiễm sán lá ở vịt phụ thuộc vào mùa vụ, tập quán chăn nuôi và điều kiện sinh thái

ở mỗi vùng

Trang 37

Betlejewska K M và Korol E N (2002) [49] kiểm tra sự hiện diện của sán đường ruột trong 55 bầy vịt trời (1.758 cá thể) tại khu vực của Szczecin Sán lá ruột

đã được tìm thấy trong 69,1% số vịt điều tra với 15 loài, trong đó tỷ lệ nhiễm cao

thấy ở các loài Echinostoma revolutum, Echinostoma miyagawai, Echinostoma sp., Echinoparyphium recurvatum

Choi M H và cs (2006) [51] cho biết: hình thái vĩ ấu của Echinochasmus japonicus dưới kính hiển vi điện tử quét có hình trứng và đuôi nhỏ, bề mặt được bao

phủ bởi các gai nhỏ Khi nuôi ấu trùng trong nước thí nghiệm thấy sau 4 ngày vĩ ấu phát triển thành nang ấu có sức gây bệnh Gây nhiễm nang ấu cho gà và vịt thí nghiệm thấy sau 28 ngày mổ khám thu thập được sán lá trưởng thành

Kavetska K M và cs (2008) [57] đã kiểm tra 124 cá thể ngỗng hoang dã sống tại Tây Pomerania thấy ngỗng hoang dã nhiễm 29 loài ký sinh trùng, bao gồm:

Paracoenogonimus ovatus Katsurada, 1914; Diplostomum mergi Dubois, 1932; D parviventosum Dubois, 1932; D phoxini (Faust, 1918); D pusillum (Dubois, 1928); Ornithodiplostomum scardinii (Shulman in Dubinin, 1952); Echinochasmus spinulosus (Rudolphi, 1808); Echinoparyphium cinctum (Rudolphi, 1802); E recurvatum (Linstow, 1873); Echinostoma miyagawai Ischii, 1932; E revolutum (Fröhlich, 1802); Hypoderaeum conoideum (Bloch, 1782); Stephanoprora pseudoechinata (Olsson, 1876); Cryptocotyle concava (Creplin, 1825); C lingua

(Creplin, 1825); Leucochloridiomorpha lutea (von Baer, 1826);

Catatropis verrucosa (Fröhlich, 1789); Notocotylus attenuatus (Rudolphi, 1809); Paramonostomum alveatum (Mehlis, 1846); Metorchis xanthostomus (Creplin, 1846); Prosthogonimus ovatus (Rudolphi, 1803); P rarus Braun, 1901; Psilochasmus oxyurus (Creplin, 1825); Psilostomum brevicolle (Creplin, 1829); Psilotrema simillimum (Mühling, 1898); Bilharziella polonica (Kowalewski, 1895); Apatemon gracilis (Rudolphi, 1819); Australapatemon minor (Yamaguti, 1933); Cotylurus cornutus (Rudolphi, 1808)

Besprozvannykh V V (2009) [48] đã mô tả chu kỳ sống của hai loài sán lá

ruột Echinochasmus japonicus Tanabe, 1926 và E beleocephalus (Linstow, 1873) Tác giả cho biết ký chủ trung gian thứ nhất của E japonicus là ốc của chi

Trang 38

Boreoelona, E beleocephalus là ốc Parafossarulus Ký chủ trung gian thứ hai là cá

nước ngọt và nòng nọc ếch Nang ấu được gây nhiễm cho gà thí nghiệm và đều thu thập được sán trưởng thành ký sinh trung ruột gà

Orunç O và Biçek K (2009) [62] đã nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở

gà tại khu vực Van - Thổ Nhĩ Kỳ bằng phương pháp xét nghiệm phân (phương pháp

trực tiếp, phù nổi và gạn rửa sa lắng) thấy 65% gà nhiễm cầu trùng, Echinostoma spp 2%, Davania proglottina 8%, Raillietina spp 10%, Trichostrongylus tenuis 4%, Dispharynx nasuta 1%, Ascaridia galli 13%, Heterakis gallinarum 15% và Capillaria spp 30%

Saijuntha W và cs (2011a) [64] đã thu thập 314 cá thể Echinostoma revolutum từ vịt nuôi tại Khon Kaen, Thái Lan và Viêng Chăn, Lào để làm biến dị

di truyền Các tác giả cho biết, đã tìm thấy sự biến đổi gen cao trong các cá thể sán thu được

Hoque M A và cs (2011) [55] tiến hành kiểm tra 1.373 vịt thu thập tại 118

hộ gia đình tại đảo Hatia ở Bangladesh thấy tỷ lệ nhiễm giun sán khá phổ biến, với

sán lá chiếm tỷ lệ cao (Prosthogonimus spp., Trichobilharzia spp., Echinostoma spp.) và giun tròn (Cyathostoma bronchialis, Amidostomum anseris, Heterakis gallinarum, Capillaria spp và Echinuria spp.)

Saijuntha W và cs (2011b) [65] cho biết : Echinostomatidae là ký sinh trùng

phổ biến ký sinh ở đường ruột gây bệnh cho cả người và động vật tên toàn thế giới

Trong đó 2 loài Echinostoma revolutum và Echinoparyphium recurvatum thường

gây bệnh cho gia cầm và các loài chim, thậm chí ở cả con người

Iakovleva G A và cs (2012) [56] cho biết chim nước ở Karelia nhiễm 23 loài sán lá, trong đó có 8 loài mới lần đầu được phát hiện tại khu vực này, đó là:

Urogonimus macrostomus, Neoeucotyle zakharovi, Hypoderaeum conoideum, Echinostoma robustum, Orchipedum tracheicola, Prostogonimus cuneatus, P ovatus và P rarus

Saijuntha W và cs (2013) [66] đã mổ khám 90 vịt chăn thả thu thập từ miền Bắc, Trung và Đông Bắc Thái Lan thấy 51 vịt bị nhiễm một hoặc nhiều loài sán lá,

Trang 39

chiếm tỷ lệ 56,7% Các loài sán gồm: Echinostoma revolutum, Echinoparyphium recurvatum và Hypoderaeum conoideum Cường độ nhiễm sán lá biến dộng từ 2 -

49 sán/vịt

Chantima K và cs (2013) [50] thu thập nang ấu của sán lá Echinostome spp

trong môi trường nước và gây nhiễm cho gà, sau 15 - 20 ngày mổ khám đã thấy sán

lá trưởng thành ký sinh trong ruột gà

Rząd I và cs (2013) [63] thu thập 187 mẫu phân vịt tại Tây Bắc, Ba Lan thấy

vịt nhiễm một số loài giun sán trong đó có 3 loài sán lá ruột là: Echinoparyphium recurvatum, Echinostoma revolutum và Notocotylus attenuatus

Từ tháng 10/2011 - 4/2012, Chantima K và cs (2013) [50] đã kiểm tra 2.914

ốc thuộc 12 loài tại 6 huyện của tỉnh Chiang Mai, Thái Lan thấy 7 loài ốc (Clea helena, Eyriesia eyriesi, Bithynia funiculata, Bithynia siamensis siamensis, doliaris Filopaludina, Filopaludina sumatrensis polygramma và Filopaludina martensi martensi) nhiễm metacercariae của sán lá Echinostome spp Sự phổ biến của metacercariae cao nhất trong ốc Filopaludina spp (38,5-58,7%), tiếp theo là B funiculata (44,0%), E eyriesi (12,5%), B siamensis (8,2%) và C helena (5,1%)

Youssefi M R và cs (2014) [68] đã mổ khám 136 vịt trời tại một số khu vực thuộc Fereydunkenar, Iran thấy 70,50% số vịt nhiễm giun sán Các loài giun

sán được xác định bao gồm ấu trùng Contracaecum ký sinh ở dạ dày, Diorchis stefanskii ký sinh ở ruột non, Hypoderaeum conoideum ký sinh ở ruột non và Notocotylus attenuatus ký sinh ở manh tràng

Faltýnková A và cs (2015) [53] cho biết, có 6 loài sán lá ký sinh ở chim và

gia cầm thu thập tại một số nước châu Âu, đó là Echinostoma revolutum (Frölich, 1802), E bolschewense (Kotova, 1939), E miyagawai (Ishii, 1932), E nasincovae,

E paraulum (Dietz, 1909) và Echinostoma sp

Trang 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà ở các lứa tuổi nuôi tại 3 huyện Văn Quan, Văn Lãng, Tràng Định tỉnh Lạng Sơn

- Bệnh sán lá ruột ở gà

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm triển khai: Văn Quan, Văn Lãng, Tràng Định tỉnh Lạng Sơn

- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng dịch tễ Chi cục Thú y tỉnh Lạng Sơn

- Địa điểm làm tiêu bản vi thể: Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016

2.2 Vật liệu nghiên cứu

2.2.1 Mẫu nghiên cứu

- Gà và mẫu phân gà ở các lứa tuổi (dưới 3 tháng tuổi, 3 - 6 tháng và trên 6

tháng) nuôi tại một số địa phương của 3 huyện: Văn Quan, Văn Lãng, Tràng Định tỉnh Lạng Sơn

- Mẫu sán lá ruột ký sinh ở gà thu thập được qua mổ khám (để xác định thành phần loài)

- Mẫu ruột của gà bị nhiễm sán lá ruột thu thập qua mổ khám (để làm tiêu bản vi thể)

2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm

Dụng cụ gồm:

- Kính hiển vi quang học, kính lúp, máy ảnh

Ngày đăng: 23/08/2017, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Bảo, Đoàn Văn Phúc, Trần Đình Từ (2003), “Các loài sán lá ký sinh ở vịt tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 10, tr. 1249 - 1250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loài sán lá ký sinh ở vịt tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Đình Bảo, Đoàn Văn Phúc, Trần Đình Từ
Năm: 2003
2. Trần Văn Bình (2006), Hướng dẫn điều trị một số bệnh thủy cầm, Nxb Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị một số bệnh thủy cầm
Tác giả: Trần Văn Bình
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2006
3. Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan (2003), Giáo trình Dược lý học thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 223 - 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
4. Bùi Thị Dung, Đặng Tất Thế, Henry Madsen (2007), Tình hình nhiễm ấu trùng sán lá ở ốc nước ngọt và vai trò của ốc trong sự truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, Báo cáo Khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, tr. 368 - 374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm ấu trùng sán lá ở ốc nước ngọt và vai trò của ốc trong sự truyền bệnh sán lá cho người và vật nuôi tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Tác giả: Bùi Thị Dung, Đặng Tất Thế, Henry Madsen
Năm: 2007
5. Nguyễn Xuân Dương, Phan Lục, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Đức (2007), “Kết quả điều tra tình hình nhiễm sán lá của vịt tại một số địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 17, tr.32 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra tình hình nhiễm sán lá của vịt tại một số địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Xuân Dương, Phan Lục, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Đức
Năm: 2007
6. Nguyễn Xuân Dương (2008), Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun sán của vịt ở Thái Bình, Nam Định, Hải Dương và đề xuất biện pháp phòng trị, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng nhiễm giun sán của vịt ở Thái Bình, Nam Định, Hải Dương và đề xuất biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Xuân Dương
Năm: 2008
7. Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1996), Ký sinh trùng và bệnh Ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm, Tập 1, Nxb Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh Ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
8. Nguyễn Hữu Huân (2008), “Tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa ở vịt CV Super - M nhập nội được nuôi theo phương thức bán công nghiệp tại trại vịt giống Vigova”, Tạp chí khoa học công nghệ Chăn nuôi, số 12, tháng 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hóa ở vịt CV Super - M nhập nội được nuôi theo phương thức bán công nghiệp tại trại vịt giống Vigova”, "Tạp chí khoa học công nghệ Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Hữu Huân
Năm: 2008
9. Nguyễn Hữu Hưng, Lê Thiếu Sơn, Lưu Ngọc Mai, Nguyễn Văn Dương, Phạm Hữu Phước, Lê Minh Quân, Nguyễn Thuý Hường, Lê Thị Thuý Hằng (2002),“Tình hình nhiễm giun sán trên vịt thả đồng tại Cần Thơ, Trà Vinh”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 2, tr. 29 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun sán trên vịt thả đồng tại Cần Thơ, Trà Vinh”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng, Lê Thiếu Sơn, Lưu Ngọc Mai, Nguyễn Văn Dương, Phạm Hữu Phước, Lê Minh Quân, Nguyễn Thuý Hường, Lê Thị Thuý Hằng
Năm: 2002
10. Nguyễn Hữu Hưng (2005), “Tình hình nhiễm sán lá ruột trên đàn vịt tỉnh Vĩnh Long và thử hiệu lực tẩy”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 3, tr. 46 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá ruột trên đàn vịt tỉnh Vĩnh Long và thử hiệu lực tẩy”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng
Năm: 2005
11. Nguyễn Hữu Hưng, Châu Bá Lộc, Hồ Thị Thuận (2006) “Tình hình nhiễm sán lá ở vịt nuôi chạy đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XIII, số 5, tr. 54 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm sán lá ở vịt nuôi chạy đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
12. Nguyễn Hữu Hưng (2007), Giun sán ký sinh trên vịt tại Đồng bằng sông Cửu Long và thí nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán chủ yếu, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh trên vịt tại Đồng bằng sông Cửu Long và thí nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán chủ yếu
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng
Năm: 2007
13. Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hồ Bảo Trân (2014), “Tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở gà thả vườn tại tỉnh Bến tre và hiệu quả tẩy trừ“, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, 2014(2), tr. 84 - 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm giun sán ký sinh ở gà thả vườn tại tỉnh Bến tre và hiệu quả tẩy trừ“, "Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Hữu Hưng, Nguyễn Hồ Bảo Trân
Năm: 2014
14. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 130 - 133 + 138 - 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
15. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (Giáo trình cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 70 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Kim Lan (2011), Những bệnh ký sinh trùng phổ biến ở gia cầm, lợn và loài nhai lại Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 315 - 328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bệnh ký sinh trùng phổ biến ở gia cầm, lợn và loài nhai lại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2011
17. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y (giáo trình dùng cho đào tạo bậc đại học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 246 - 251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y (giáo trình dùng cho đào tạo bậc đại học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
18. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1975), “Những bệnh thường thấy ở đàn vịt nuôi ở vùng chiêm trũng”, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp, số 2, tr. 919 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bệnh thường thấy ở đàn vịt nuôi ở vùng chiêm trũng”, "Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Năm: 1975
19. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2001), Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 41 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
20. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2004), Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 23 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Những loài sán lá ký sinh ở ruột gà và tần suất xuất hiện của chúng - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Bảng 3.2. Những loài sán lá ký sinh ở ruột gà và tần suất xuất hiện của chúng (Trang 51)
Hình 3.1. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.1. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện (Trang 54)
Hình 3.2. Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua xét nghiệm phân) - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.2. Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua xét nghiệm phân) (Trang 56)
Hình 3.3. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.3. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (Trang 59)
Hình 3.4. Biểu đồ về tỷ lệ  nhiễm sán lá ruột ở gà theo phương thức chăn nuôi - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.4. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo phương thức chăn nuôi (Trang 61)
Bảng 3.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo trạng thái phân - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Bảng 3.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá ruột ở gà theo trạng thái phân (Trang 62)
Hình 3.5. Biểu đồ về tỷ lệ  nhiễm sán lá ruột ở gà theo trạng thái phân - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.5. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo trạng thái phân (Trang 63)
Hình 3.6. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.6. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà nuôi tại 3 huyện (Trang 64)
Hình 3.7. Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà tại Lạng Sơn bằng - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.7. Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà tại Lạng Sơn bằng (Trang 65)
Hình 3.8. Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua mổ khám) - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.8. Đồ thị về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột theo tuổi gà (qua mổ khám) (Trang 67)
Hình 3.9. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (qua mổ khám) - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.9. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm sán lá ruột ở gà theo mùa vụ (qua mổ khám) (Trang 69)
Bảng 3.11. Tỷ lệ gà nhiễm sán lá ruột có triệu chứng lâm sàng - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Bảng 3.11. Tỷ lệ gà nhiễm sán lá ruột có triệu chứng lâm sàng (Trang 70)
Hình 3.11. Biểu đồ về hiệu lực của các loại thuốc điều trị sán lá ruột ở gà - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
Hình 3.11. Biểu đồ về hiệu lực của các loại thuốc điều trị sán lá ruột ở gà (Trang 75)
Ảnh 7: Hình thái sán lá ruột ký sinh ở gà - Nghiên cứu bệnh sán lá ruột ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn và biện pháp phòng trị (LV thạc sĩ)
nh 7: Hình thái sán lá ruột ký sinh ở gà (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w