1. Trang chủ
  2. » Tất cả

252735

118 209 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đội Ngũ Công Nhân Thái Nguyên Với Quá Trình Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa
Tác giả Nguyễn Thị Hường
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Oánh
Trường học Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại luận văn thạc sĩ triết học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 615 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ - Làm rõ những quan niệm cơ bản như: Giai cấp công nhân Việt Nam; quan niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mối quan hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự phát triển của g

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Hường

Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa

Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học

Luận văn thạc sĩ triết học

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN OÁNH

HÀ NỘI - 2005

MỤC LỤC

Trang 2

Chơng 1: GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VÀ ĐỘI

NGŨ CÔNG NHÂN THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ

1.1 Giai cấp công nhân Việt Nam với quá trình công nghiệp

1.2 Tính đặc thù của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 31

Chơng 2: ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THÁI NGUYÊN -

THỰC TRẠNG VÀ XU HỚNG BIẾN ĐỘNG TRONG

2.1 Thực trạng đội ngũ công nhân Thái Nguyên 47

2.2 Xu hớng biến động của đội ngũ công nhân Thái Nguyên

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa 66

Chơng 3: PHƠNG HỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THÁI

NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

3.1 Một số phơng hớng cơ bản 77

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ công

nhân Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ta hiện nay, giai cấp công nhân không chỉ là giai cấp lãnh đạo mà còn là lực lượng đi đầu, trực tiếp thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, vấn đề xây dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về mọi mặt là một nhiệm

Trang 4

vụ hết sức quan trọng của Đảng, Nhà nước của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân.

Thái Nguyên là Thủ đô trong những năm nhân dân ta kháng chiến chống thực dân Pháp, là thành phố công nghiệp trong hiện tại Đội ngũ công nhân Thái Nguyên là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam với những truyền thống bất khuất kiên cường Trải qua gần một thế kỷ phát triển, đội ngũ công nhân Thái Nguyên không ngừng trưởng thành về nhiều mặt, có vai trò to lớn trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng bảo vệ Tổ quốc Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đội ngũ công nhân Thái Nguyên tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng đó Tuy nhiên, cũng như giai cấp công nhân cả nước, đội ngũ công nhân Thái Nguyên đã và đang có biến động, bắt đầu bộc lộ những mặt mạnh cũng như những mặt hạn chế và yếu kém đòi hỏi phải từng bước khắc phục để có thể đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công hoá hiện đại hoá, thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình Vì vậy, nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên là việc làm vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách

Do vậy, tôi chọn đề tài: "Đội ngũ công nhân Thái Nguyên với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá" làm luận văn tốt nghiệp cao học với hy vọng

góp một chút sức lực nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu vấn đề trên

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, vấn đề giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu với nhiều góc độ, những phạm vi khác nhau Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu

về giai cấp công nhân là gì? thực trạng giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam; những giải pháp xây dựng giai cấp công nhân

hiện nay chẳng hạn như: "Đặc điểm và xu hướng biến đổi cơ cấu - giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Đỗ Khánh Tặng - Luận án phó tiến sĩ, Hà Nội, 1990) "Giai cấp công nhân Việt Nam vai trò

xu thế biến động về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (Bùi Đình

Trang 5

Bôn - Luận án phó tiến sĩ, Hà Nội, 1991) Kỷ yếu hội thảo: "Thực trạng giai cấp công nhân dưới tác động cơ thế thị trường" (Trung tâm nghiên cứu lý luận - Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hà Nội, 1993) "Một số vấn đề giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam" (GS Văn Tạo - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997) "Bác Hồ với giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" (PGS TS Đỗ Quang Hưng (chủ Biên) - Nxb Lao động

Hà Nội,1999) "Tích cực hoá nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành

sứ mệnh lịch sử của mình" (Trần Thị Bích Liên - Luận án tiến sĩ, 2001) "Vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay" (Phạm Thị Xuân Hương - Luận án tiến sĩ, 2001) "Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21" (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - Viện Công nhân và

công đoàn, Nxb Lao động Hà Nội, 2001) Các công trình nêu trên đã khai thác tương đối toàn diện những vấn đề liên quan đến công nhân, xu hướng biến động của nó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặt khác đã đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công nhân không ngừng lớn mạnh đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Gần đây, còn một số công trình khác nghiên cứu trực tiếp đến mối quan

hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự phát triển của giai cấp công nhân; vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước như: "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân" (PGS Cao Văn Lượng (chủ biên) - Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001) "Sự phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" (Trần Ngọc Sơn - Luận án tiến

sĩ, 2001) Kỷ yếu hội thảo: "Về giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam trong

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (Trường Đại học Công đoàn Việt Nam, Hà Nội, 2002) "Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" (PGS TS Dương Xuân Ngọc - Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2004) Trong các công trình này đã đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với sự phát triển

Trang 6

của giai cấp công nhân, đặt ra những yêu cầu nhằm phát triển giai cấp công nhân

cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đặt ra

Ngoài những công trình nêu trên còn một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và đưa ra những phương hướng giải pháp cơ bản nhằm xây dựng, củng cố và phát triển đội ngũ công nhân ở các địa bàn cụ thể, chẳng hạn như:

"Công nhân Hải Phòng trong công cuộc đổi mới những vấn đề đặt ra và phương hướng giải quyết" (Nguyễn Văn Năm, 1995) "Xu hướng biến đổi phương hướng

và giải pháp xây dựng đội ngũ công nhân Thừa Thiên Huế trong giai đoạn hiện nay" (Vũ Minh Thủ, 1998) "Xây dựng đội ngũ công nhân Đồng Nai đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá" (Phạm Hồng Hải, 2002)

Riêng đối với tỉnh Thái Nguyên dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh cũng đã tiến hành khảo sát đưa ra những đánh giá bước đầu nhằm xây dựng đội ngũ công nhân lớn mạnh Song nhìn chung chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống vấn

đề phát triển đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở cấp tiến sĩ hay thạc sĩ

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Làm rõ thực trạng và xu hướng biến động của đội ngũ công nhân Thái Nguyên, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ những quan niệm cơ bản như: Giai cấp công nhân Việt Nam; quan niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mối quan hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự phát triển của giai cấp công nhân; vai trò của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 7

- Đánh giá thực trạng của đội ngũ công nhân Thái Nguyên, tìm ra những nguyên nhân và những vấn đề đặt ra Từ thực trạng đó, dự báo xu hướng biến động của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.

- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó, về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Cơ sở thực tiễn là kết quả điều tra thực trạng công nhân ở các doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Vận dụng tổng hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Coi trọng phương pháp logíc - lịch sử; kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp,

so sánh, thống kê

- Kế thừa một cách chọn lọc các thành tựu nghiên cứu có liên quan đến luận văn

4.3.Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đội ngũ công nhân trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời

kỳ đổi mới từ 1986 đến nay

5 Đóng góp mới của luận văn

Nghiên cứu một cách hệ thống thực trạng đội ngũ công nhân ở Thái Nguyên, dự báo xu hướng biến động của nó, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò đội ngũ công nhân ở Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

6 Ý nghĩa của luận văn

Trang 8

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần tạo lập cơ sở khoa học để các cấp lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Thái Nguyên tham khảo, vận dụng trong việc xây dựng chính sách nhằm xây dựng và củng cố đội ngũ công nhân trên địa bàn toàn tỉnh.

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ giảng dạy nghiên cứu về giai cấp công nhân ở các trường chính trị tỉnh, thành phố

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương, 6 tiết

Trang 9

Chương 1 GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,

HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1.1 Về giai cấp công nhân và giai cấp công nhân Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm về giai cấp công nhân

Khái niệm về giai cấp công nhân được đề cập đến ngay khi giai cấp công nhân xuất hiện trên vũ đài chính trị Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tùy thuộc ở lập trường giai cấp, thái độ chính trị, trình độ nhận thức và phương pháp tiếp cận khác nhau đưa ra nhiều ý kiến không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau Đến nay giai cấp công nhân là gì? Nó còn hay đã "biến mất"? Địa vị kinh tế - xã hội của nó ra sao? tất cả vẫn đang là trọng điểm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới Thực tiễn cho thấy, quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân vẫn hàm chứa tính khách quan và khoa học hơn cả bởi nó dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận biện chứng duy vật Trong rất nhiều tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét khái niệm giai cấp công nhân trên tất cả các khía cạnh, các dấu hiệu đặc trưng nhất và các thuộc tính bản chất của nó Chẳng hạn như, ngay từ 1845, khi bắt tay vào nghiên cứu giai cấp công nhân trong tác phẩm "Gia đình thần thánh" C.Mác đã đặt câu hỏi:

"Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực sự là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử" [33, tr.56]

Cũng trong giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen còn bàn nhiều và đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về giai cấp công nhân như trong Lời nói đầu tác phẩm: "Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen" (1844) C.Mác

đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và xu hướng phát triển của giai cấp công nhân - ở đây C.Mác sử dụng thuật ngữ giai cấp vô sản Theo C.Mác: "Giai cấp

vô sản Đức là con đẻ của nền đại công nghiệp non trẻ đang hình thành ở Đức"

Trang 10

Quan điểm của Mác không những chỉ rõ giai cấp vô sản được hình thành từ CNTB công nghiệp mà còn là đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ đang trong giai đoạn hình thành và phát triển.

Trong tác phẩm "Tình cảnh những người lao động ở Anh" (1844-1845) Ph.Ăngghen khẳng định:

Giai cấp công nhân Anh là kết quả chủ yếu của cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh Lịch sử giai cấp công nhân Anh bắt đầu từ nửa thứ hai của thế kỷ XVIII Công nghiệp nhỏ đã làm nảy sinh ra giai cấp tư sản, công nghiệp lớn đã nảy sinh ra giai cấp công nhân Công nhân công nghiệp là hạt nhân của phong trào công nhân [33, tr.354]

Ngoài ra, C.Mác và Ph.Ăngghen còn sử dụng một số thuật ngữ khác ngoài "giai cấp vô sản", "giai cấp công nhân" để biểu đạt khái niệm "giai cấp công nhân" Chẳng hạn như: "giai cấp vô sản công nghiệp", "giai cấp vô sản hiện đại", "giai cấp công nhân hiện đại', "giai cấp công nhân công xưởng, nhà máy", "giai cấp công nhân đại cơ khí" Bên cạnh đó, trong một số điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, các ông còn sử dụng một số hình thức diễn đạt khác như

"lao động làm thuê", "giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của mình", "giai cấp của những người hoàn toàn không có của", "giai cấp công nhân làm thuê thế kỷ XIX" Có thể khẳng định rằng, các thuật ngữ

đã nêu chỉ là sự khác nhau về hình thức biểu đạt trong những văn cảnh cụ thể

của một khái niệm: "Giai cấp công nhân" với sự thống nhất về bản chất: lực lượng lao động trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại.

C.Mác, Ph.Ăngghen phân biệt giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới và bản chất cách mạng với bộ phận công nhân đã bị tha hóa, đánh mất mình bằng những thuật ngữ đối ngược nhau: giữa một bên là "giai cấp vô sản cách mạng" với một bên là "tầng lớp vô sản lưu manh" mất gốc, những phần tử cặn bã của xã hội, và như vậy cũng đồng nghĩa với việc phân biệt giai cấp công nhân cách mạng với bộ phận công nhân đã khuất phục, trở thành công cụ của giai cấp tư sản để phá hoại phong trào công nhân từ bên trong,

Trang 11

mưu toan kìm hãm và khuôn cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân trong trật

tự của "chủ nghĩa tư bản" vì mục tiêu kinh tế và lợi ích tầm thường do hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản thao túng mà ở đây các ông đã sử dụng thuật ngữ:

"Công nhân quý tộc" Theo các ông "công nhân quý tộc" và tầng lớp vô sản lưu manh không còn là bộ phận của giai cấp công nhân nữa mà đã trở thành một bộ phận của giai cấp tư sản hoặc đã là tầng lớp cặn bã của xã hội

Tựu chung lại, tuy có khác nhau trong cách gọi, cách diễn đạt tùy từng hoàn cảnh lịch sử Nhưng những thuật ngữ không giống nhau nêu trên về khái niệm giai cấp công nhân đều được các nhà kinh điển Mác xít sử dụng như một khái niệm đồng nhất dựa trên hai tiêu chí cơ bản để phân định giai cấp công nhân với các giai tầng xã hội khác là:

Vị trí của giai cấp công nhân trong lực lượng sản xuất

Giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa, quốc tế hóa cao Đây cũng là tiêu chí cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ hay người thợ trong công trường thủ công C.Mác chỉ rõ: "Trong công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình, còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục tùng máy móc" [36, tr.605] Điều đó cho thấy, hai ông luôn nói đến giai cấp công nhân với tư cách là tập đoàn người bao gồm những công nhân công xưởng, là sản phẩm của nền đại công nghiệp và phát triển cùng với sự phát triển của đại công nghiệp Theo các ông: "Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp" [33, tr.610] hay "Công nhân là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy" Như vậy, giai cấp công nhân ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của đại công nghiệp Chính vì thế giai cấp công nhân là hiện thân của lực lượng sản xuất hiện đại, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến và mang trong mình những đặc trưng riêng có mà không một giai tầng nào có được đó là: Tính

Trang 12

tiên tiến, hiện đại, tinh thần khoa học và cách mạng triệt để; ý thức tổ chức kỷ luật; tình đoàn kết giai cấp.

Vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không

có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động, làm thuê cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư

Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, nếu lao động của họ tăng thêm tư bản cũng phát triển theo Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường [34, tr.605]

Điều này đã khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản

Xuất phát hai tiêu chí trên, trong "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản" (1847) Ph.Ăngghen đã đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân:

Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán sức lao động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc hay đau khổ, sống và chết toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người

vô sản là giai cấp lao động làm thuê trong thế kỷ XIX giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra [34, tr.456-457]

Như vậy, mặc dù C.Mác và Ph.Ăngghen chưa nêu lên thành một định nghĩa hoàn chỉnh về giai cấp công nhân, nhưng qua những tác phẩm của mình, với những cách tiếp cận khác nhau các ông đã nêu một cách khách quan nhất những đặc trưng cơ bản, những thuộc tính bản chất của giai cấp công nhân, nhờ

Trang 13

đó, khiến người ta có thể dễ dàng nhận diện được giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa.

Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong thời đại mới, thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản - thời đại chủ nghĩa xã hội hiện thực Lênin đã bổ sung, phát triển những thuộc tính mới của giai cấp công nhân Lênin chỉ rõ: Sự phân chia giai cấp trong xã hội phải dựa vào địa vị và sự khác nhau của các tập đoàn người trong quan hệ đối với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, trong quan hệ đối với quản lý sản xuất, trong quan hệ phân phối sản phẩm

Từ nhận thức mới về giai cấp như vậy, trong rất nhiều tác phẩm của mình như "Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga", "Nhà nước và cách mạng",

"Sáng kiến vĩ đại" Lênin đã chỉ ra rằng, sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền Địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân đã hoàn toàn thay đổi, từ thân phận nô lệ làm thuê trở thành giai cấp thống trị về chính trị, thông qua Đảng tiên phong của mình lãnh đạo toàn xã hội cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

Theo Lênin, giai cấp công nhân là giai cấp thống trị về chính trị, là giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp Xu hướng phát triển của giai cấp công nhân là đi tới tự thủ tiêu mình với tư cách là giai cấp

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và sự tác động mạnh mẽ của nó vào mọi khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội đã không những làm cho quan

hệ giai cấp, dân tộc và cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc dịu đi mà nó diễn ra ngày càng gay gắt với những biểu hiện hết sức phức tạp Điều đó đã khiến nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới trong đó có nước ta đưa ra quan niệm mới về giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay

Trước hết phải kể đến định nghĩa của các tác giả trong công trình: "Một

số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: "Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công

Trang 14

nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau mà địa vị kinh tế - xã hội tùy thuộc vào chế độ xã hội đương thời: ở các nước tư bản, họ là những người không có hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng hợp tác lao động cho mình [22, tr.97].

Tiếp đến là định nghĩa trong cuốn "Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học"

do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin đã viết: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại và nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ

xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Ở các nước tư bản, giai cấp công nhân là những người không

có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và

bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước XHCN, họ là người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ

Ngoài ra, một số Trung tâm như Trung tâm Nghiên cứu thông tin lý luận - Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Viện Công nhân và công đoàn Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân trên cơ

sở hai tiêu chí cơ bản mà các nhà kinh điển Mác xít đã nêu

Về phía cá nhân các nhà nghiên cứu, có một số định nghĩa sau:

GS.TS Đỗ Nguyên Phương trong tác phẩm: "Những vấn đề chính trị - xã hội của cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

và Nhà xuất bản Khoa học - kỹ thuật phát hành năm 1993, viết: "Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nghiệp, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong sản xuất của cải vật chất và

Trang 15

cải tạo các quan hệ xã hội, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội" [40, tr.55].

GS Phạm Xuân Nam trong cuốn "Đổi mới chính sách xã hội, luận cứ và giải pháp", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 đưa ra định nghĩa:

Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội rộng lớn những người lao động làm việc trong các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp có thu nhập chủ yếu bằng tiền lương hoặc tiền công, do trực tiếp vận hành những

tư liệu sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại trong các ngành then chốt của nền kinh tế quốc dân, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến [39, tr.31]

Nhìn chung các định nghĩa đã nêu đều thống nhất khi tập trung đề cập tới khía cạnh bản chất của giai cấp công nhân là người lao động công nghiệp gắn với khoa học, kỹ thuật công nghệ cao, địa vị kinh tế - xã hội, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã diễn ra với tốc độ rất nhanh và đang tác động trực tiếp, sâu sắc tới sự biến đổi về cơ cấu, số lượng, chất lượng, ngành nghề, phương thức và phong cách lao động cũng như năng lực trí tuệ của giai cấp công nhân Vì vậy, sẽ không thể đưa ra một định nghĩa về giai cấp công nhân một cách khoa học, nếu như không đổi mới nhận thức về giai cấp công nhân trong sự phát triển của kinh tế tri thức Một vấn đề nữa gây nhiều tranh cãi về định nghĩa giai cấp công nhân là địa vị của nó trong chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay là gì?

Một là, ở các nước TBCN hiện nay một bộ phận công nhân có cổ phần, cổ

phiếu

Hai là, ở các nước xã hội chủ nghĩa đang tiến hành đường lối phát triển

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế đó, ngoài bộ phận công nhân trong thành phần kinh tế nhà nước còn có bộ phận công nhân trong các thành phần kinh tế tư bản tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư

Trang 16

nước ngoài vẫn là công nhân làm thuê và vẫn bị bóc lột về giá trị thặng dư, do vậy vấn đề làm chủ của giai cấp công nhân sẽ như thế nào?

Trên cơ sở cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển Mác xít; những điểm cơ bản của các định nghĩa nêu trên kết hợp với thực tiễn phong trào công nhân, chúng tôi xin đưa ra định nghĩa về giai cấp công nhân như sau:

Giai cấp công nhân là một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát triển cùng với nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại, là lực lượng sản xuất cơ bản và tiên tiến của thời đại ngày nay, là lực lượng lãnh đạo và là động lực chủ yếu của quá trình chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước và trên phạm vi toàn thế giới Trong các nước tư bản chủ nghĩa do không có hoặc cơ bản không có những tư liệu sản xuất chủ yếu của

xã hội, họ phải bán sức lao động làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư; trong các nước xã hội chủ nghĩa, họ cùng nhân dân lao động làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động sáng tạo vì lợi ích chung toàn xã hội và của bản thân giai cấp mình.

1.1.1.2 Khái niệm về giai cấp công nhân Việt Nam

Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân thế giới ra đời ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Do hoàn cảnh, đặc điểm ra đời và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập, thống nhất trong cả nước, nhanh chóng vươn lên nắm quyền lãnh đạo cách mạng Điều đó khẳng định: giai cấp công nhân Việt Nam vừa có đầy đủ những đặc điểm của giai cấp công nhân nói chung, đồng thời còn có những nét riêng biệt do hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam quy định Giai cấp công nhân Việt Nam là gì? bao gồm những bộ phận nào? giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò lịch sử của nó trong cách mạng Việt Nam như thế nào là những vấn đề cần phải nghiên cứu

Xuất phát từ những yêu cầu đó, khi nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam các nhà khoa học ở nước ta đã đưa ra khá nhiều quan niệm khác nhau Thí dụ:

Trang 17

GS Trần Văn Giàu trong cuốn: Giai cấp công nhân Việt Nam, sự hình thành và phát triển của nó từ giai cấp tự mình đến giai cấp cho mình (Nxb Sự

thật, Hà Nội, 1958), mặc dù không đưa ra một định nghĩa cụ thể về giai cấp công nhân Việt Nam song toàn bộ công trình đã thể hiện rất rõ nội hàm khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam từ khi mới hình thành và vai trò của nó trong tiến trình cách mạng Việt Nam

Trong cuốn: "Đổi mới chính sách đối với công nhân và thợ thủ công" của

Trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đưa

Giai cấp công nhân Việt Nam là cộng đồng xã hội những người làm công

ăn lương, nguồn thu nhập chủ yếu bằng tiền công; trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp, tạo ra sản phẩm công nghiệp hoặc có tính công nghiệp; nắm giữ những cơ sở vật chất kỹ thuật then chốt của xã hội và tiêu biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến của xã hội [42, tr.29]

Định nghĩa của GS Văn Tạo trong tác phẩm "Một số vấn đề về giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam" thì cho rằng:

Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những người lao động có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương sống và làm việc gắn với sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp Do lao động và quản lý một nền công nghiệp hiện đại, then chốt của nền kinh tế quốc dân và đại diện cho lực lượng

Trang 18

sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển lịch sử của xã hội Việt Nam [41, tr.39].

Bên cạnh đó, cũng còn có một số định nghĩa về giai cấp công nhân Việt Nam của các tác giả như GS Cao Văn Lượng, TS Bùi Đình Bôn và một vài quan niệm một số tác giả trong các luận án tiến sĩ và thạc sĩ triết học gần đây

Trên cơ sở khái niệm giai cấp công nhân nói chung, căn cứ những đặc trưng riêng của giai cấp công nhân Việt Nam gắn với thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây về giai cấp công nhân Việt Nam, chúng tôi hiểu về giai cấp công nhân Việt Nam như sau:

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ đầu thế kỷ XX gắn liền với sự xuất hiện các cơ sở kinh tế của tư sản Pháp, là một tập đoàn gồm những người lao động trên lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật hiện đại và xã hội hóa ngày càng cao, thu nhập chủ yếu của họ là tiền công Họ là lực lượng tiên phong trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đang lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng một nền kinh tế hiện đại, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; đảm bảo giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

1.1.2 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân

1.1.2.1 Về khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình phát triển tất yếu của thời đại ngày nay, là con đường đưa mỗi quốc gia thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước khác trên thế giới và khu vực Không phải đến bây giờ, các quốc gia trên thế giới mới tiến hành công nghiệp hóa mà công nghiệp hóa đã được khởi đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở Anh cuối thế kỷ XVIII

và sau đó kéo theo một loạt nước khác ở Tây Âu (Hà Lan, Pháp, Đức, Italia ) Mặc dù công nghiệp hóa được tiến hành sớm như vậy nhưng phải mãi đến cuối thế kỷ XIX thuật ngữ "công nghiệp hóa" mới xuất hiện với ý nghĩa là biến một

Trang 19

lĩnh vực sản xuất nào đó sang hoạt động theo tính chất của công nghiệp cơ khí Mãi đến nửa sau thế kỷ XX, khái niệm công nghiệp hóa mới được hiểu như một giai đoạn lịch sử phát triển kinh tế mà nội dung của nó bao hàm cuộc cách mạng công nghiệp Từ đó đến nay, cùng với hàng loạt các cuộc cách mạng công nghiệp: từ kỹ thuật cơ khí giản đơn với máy hơi nước làm động lực tới cơ khí phức tạp với động cơ đốt trong rồi điện năng và các dạng năng lượng mới làm động lực, tiếp theo đó là tự động hóa, điện tử hóa Quan niệm về công nghiệp hóa dần được mở rộng trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau:

Ví dụ: quan niệm của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) cho rằng: "Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy" [25, tr.49]

Năm 1963 UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc)

đã đưa ra định nghĩa:

Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận năng lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghiệp hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp tăng trưởng cao trong toàn nền kinh tế và đảm bảo sự tiến bộ kinh tế và xã hội [5, tr.6]

Tóm lại: Tuy có rất nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa nhưng

chủ yếu là hai quan niệm sau:

Một là: Theo nghĩa hẹp, công nghiệp hóa là quá trình phát triển công

nghiệp trong một thời kỳ nhất định, trong đó nền sản xuất xã hội được tổ chức theo lối công nghiệp dựa trên cơ sở thay thế lao động thủ công bằng máy móc và máy móc chiếm ưu thế

Hai là: Theo nghĩa rộng, công nghiệp hóa là quá trình công nghiệp liên

tục, cải tổ thường xuyên cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiện đại, ngày càng đa dạng

Trang 20

Có nhiều quan niệm khác nhau về công nghiệp hóa như vậy là bởi trên thực tế, công nghiệp hóa là quá trình phức tạp, lâu dài mà việc phân biệt các mốc giới, định tính, định lượng và về thời gian không phải là điều dễ dàng Mặt khác, sự biểu hiện về mô hình của nó gắn với mỗi quốc gia dân tộc do những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau cũng không thể thuần nhất Dù như vậy, cũng cần hiểu một cách khái quát nhất: Công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế diễn ra lâu dài, bắt đầu từ khi xuất hiện công nghiệp và đến khi nền kinh tế với công nghiệp phát triển cao cũng chưa phải là điểm kết thúc mà lại có thể là mở đầu cho một cuộc cách mạng công nghiệp mới.

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, hậu quả chiến tranh nặng nề lại phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng ta đã sớm nhận thức được vị trí vai trò của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngay từ Đại hội III Đảng

ta đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, cách mạng kỹ thuật giữ vị trí then chốt Tiếp sau đó Đại hội IV, V, tư tưởng này lại được tiếp tục khẳng định Tuy nhiên trong thời gian này tư tưởng công nghiệp hóa chủ yếu tập trung phát triển công nghiệp nặng mặc dù có được điều chỉnh qua các kỳ Đại hội IV, V: Công nghiệp hóa chính là "quá trình thực hiện cách mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng" [12, tr.182] Đường lối đưa ra để tiến hành công nghiệp hóa lúc đó được xác định:

Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

Khách quan mà đánh giá, quan niệm và cách tiến hành đó là phù hợp với điều kiện hiện tại của nước ta và thế giới trong bối cảnh đất nước có chiến tranh

và tồn tại sự độc lập giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Trên thực tế, chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở công nghiệp quan trọng then chốt cho nền kinh tế quốc dân Nhưng về cơ bản nước ta vẫn là một nước

Trang 21

nông nghiệp lạc hậu, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân còn rất thấp.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) bên cạnh việc tiếp tục khẳng định vị trí nền tảng của công nghiệp trong thời kỳ quá độ, đã có sự chuyển hướng chiến lược về công nghiệp hóa từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang lấy nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm Từ đó đến nay, việc nhận thức về đường lối công nghiệp hóa được đưa ra từng bước phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước Công nghiệp hóa có thể hiểu một cách cơ bản:

Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng phát triển mạnh công nghiệp, tạo ra sự vượt trội của công nghiệp trong cơ cấu kinh tế và

cơ cấu lao động, áp dụng rộng rãi với hiệu quả cao những tiến bộ khoa học, công nghệ mới hiện đại, làm nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển nhanh, vững chắc của toàn bộ nền kinh tế - xã hội [45, tr.63]

Quan niệm này không những phản ánh được nội dung của quá trình công nghiệp hóa mà nêu bật được mục tiêu công nghiệp hóa Công nghiệp hóa chính

là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại cho tất cả các ngành kinh

tế quốc dân, bao hàm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động chứ không riêng chỉ phát triển ở lĩnh vực công nghiệp

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ

đã tiến lên một nấc thang mới, loài người đang bước vào kinh tế tri thức Vì vậy, công nghiệp hóa đòi hỏi phải gắn với quá trình hiện đại hóa, kể cả những nước

có nền kinh tế lạc hậu như nước ta Không thể tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu "cổ điển" như ở phương Tây thế kỷ XVIII mà công nghiệp hóa phải gắn với việc tận dụng những thành quả khoa học - kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến của thế giới Công nghệ truyền thống gắn với ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thời đại, là giải pháp quyết định đưa nước ta thoát khỏi đói nghèo lạc hậu và nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế - công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa Hay nói cách khác, để có quan niệm đúng đắn, đầy đủ về công

Trang 22

nghiệp hóa phải đặt nó trong mối quan hệ với hiện đại hóa Tất nhiên công nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai khái niệm khác nhau nhưng lại đan xen, tích hợp, lồng ghép và bổ sung cho nhau Nếu như công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp thì hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ chỗ theo những quy trình công nghệ thủ công là chính sang chỗ sử dụng một cách phổ biến những quy trình công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động, hiệu quả và trình độ văn minh kinh

tế xã hội cao [45, tr.63]

Sự gắn kết giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang trở thành xu thế tất yếu của các nước đang phát triển Nó trở thành khái niệm "kép" trong nhận thức về mục tiêu phát triển kinh tế của nhiều quốc gia

Trên tinh thần đó, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã xác định nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động

xã hội cao [14, tr.65]

Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng ta đã phản ánh được phạm vi rộng lớn, xác định được vai trò quan trọng của công nghiệp và khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó thực chất là quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải biến nước ta thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc,

Trang 23

thực hiện mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đánh giá một cách khách quan, khoa học những tiền đề được tạo ra sau 10 năm đổi mới đã chỉ rõ: nước ta

đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu:

Xây dựng nước ta thành một nước có cơ sở - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm 2020,

ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp [15, tr.80]

Nước ta với gần 80% dân cư là nông dân, 70% lực lượng lao động làm nông nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập quốc dân, thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân vẫn là cơ sở của sự phát triển xã hội Bởi vậy, giai đoạn đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trước hết và thực chất là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

mà nội dung cơ bản của nó là thực hiện sự chuyển đổi cơ bản cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội nông thôn, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới

1.1.2.2 Sự tác động qua lại giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân

Khi luận chứng về vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng: Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân được xác định

từ vai trò của đại công nghiệp, của lực lượng sản xuất mà giai cấp công nhân là người đại diện Đại công nghiệp đã sinh ra giai cấp công nhân, đồng thời cũng là

cơ sở vật chất thông qua đó, giai cấp công nhân tác động vào tiến trình phát triển

xã hội như một lực lượng chủ đạo Như vậy, có thể thấy rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân có mối quan hệ biện chứng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân phát triển về

số lượng và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình công nghiệp

Trang 24

hóa, hiện đại hóa Ngược lại, sự phát triển về mặt số lượng, chất lượng của giai cấp công nhân cũng sẽ tác động trở lại, là nguyên nhân, là nhân tố cơ bản quyết định thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Giai cấp công nhân vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân phát triển và lớn mạnh về mọi mặt.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường phát triển tất yếu của xã hội loài người, là con đường duy nhất đưa nước ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn

về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên để có thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải có được một lực lượng lao động phát triển hiện đại Sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ công nhân lành nghề có thể áp dụng được khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất đang là một lực cản đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đại hội Đảng lần thứ VIII, khi quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cũng chỉ ra rằng: Một trong những tiền đề quan trọng bậc nhất để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là phải nâng cao trình độ và phát triển nguồn nhân lực trong đó phát triển và nâng cao nguồn nhân lực từ giai cấp công nhân Như vậy, có thể khẳng định rằng: Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới và sự hình thành, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất đã kéo theo và đặt ra những yêu cầu mới về số lượng, cơ cấu, chất lượng của lực lượng lao động xã hội đặc biệt là công nhân, đội quân nòng cốt đi tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để giai cấp công nhân phát triển về số lượng.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà trọng tâm trong những năm đầu thế kỷ XXI là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; cơ cấu nền kinh tế sẽ có chuyển dịch sâu sắc Xu hướng giảm dần tỷ trọng

Trang 25

nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ sẽ là điều kiện phát triển mạnh mẽ số lượng giai cấp công nhân Đường lối đổi mới của Đảng đã tác động mạnh mẽ đến sự biến động và đặt ra yêu cầu phát triển đối với giai cấp công nhân Hiện nay, đội ngũ công nhân nước ta không đơn thuần làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể mà gồm cả những công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cả đội ngũ công nhân, lao động làm thuê, làm công hưởng lương trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến đầu năm

2004, đội ngũ công nhân làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là 7,396 triệu (56% nam, 44% nữ) chiếm 9,14% dân số, 17,49% lực lượng lao động xã hội Như vậy sau gần 10 năm số lượng công nhân nước ta đã tăng 2,64 lần so với năm 1995, trong đó, số lượng công nhân doanh nghiệp nhà nước tăng 1,17 lần; số lượng công nhân doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 4,77 lần, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài tăng 8,77 lần, số lượng công nhân thuộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể tăng 4,8 lần

Trong quá trình đổi mới, cơ cấu kinh tế, số lượng công nhân đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng công nhân thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm số lượng công nhân thuộc lĩnh vực nông lâm thủy sản Trong các loại hình doanh nghiệp, công nhân làm trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 70,9%, trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 4,8% Trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể thì chủ yếu công nhân hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại ước tính khoảng 66,67%

Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng: Việt Nam muốn là bạn với tất

cả các nước, đặc biệt sau khi Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành, nước ta đã tiếp nhận được rất nhiều dự án và vốn đầu tư nước ngoài Tính từ năm 1988 đến đầu năm 2004 theo số liệu của Tổng cục thống kê dựa trên kết

Trang 26

quả điều tra doanh nghiệp, cả nước đã có 4892 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép còn hiệu lực từ 66 quốc gia và vùng lãnh thổ với vốn đăng ký lên đến 44,4 tỷ USD Chính vì vậy mà thu hút hơn 859.000 công nhân với 688.000 công nhân doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, 171.000 công nhân thuộc công ty liên doanh làm việc trong hơn 2300 doanh nghiệp.

Hơn thế nữa việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo sự ra đời của hàng loạt cơ sở công nghiệp mới so với trước thời kỳ đổi mới như: công nghệ thông tin, cơ điện tử, vật liệu mới, công nghệ sinh học đồng nghĩa với số lượng công nhân cũng được tăng lên (đặc biệt là công nhân có trình

độ cao) Cùng với điều đó là các ngành kinh tế mũi nhọn cũng được quan tâm đầu tư, mở rộng sản xuất và số lượng công nhân cũng tăng lên rõ rệt như: công nghiệp chế biến, dầu khí, bưu chính viễn thông, hàng không và các ngành dịch

vụ khác Không chỉ dừng lại ở đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự ra đời của các khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, khu chế xuất với xu hướng đa thành phần, đa sản phẩm đang hình thành và phát triển cùng với quá trình đô thị hóa đã khiến cho giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng và tập trung hơn về số lượng Trong những năm tới, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xu hướng tăng về số lượng giai cấp công nhân vẫn là tất yếu

Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để nâng cao chất lượng giai cấp công nhân

Chất lượng giai cấp công nhân là tổng hợp các yếu tố, thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân bao gồm trình độ học vấn, trình độ tay nghề gắn với máy móc hiện đại, kỹ thuật, công nghệ cao, ý thức chính trị, tính tổ chức kỷ luật cao, tính tiên phong, tác phong công nghiệp trong đó trình độ học vấn, tay nghề, trình độ khoa học kỹ thuật và ý thức giác ngộ chính trị của giai cấp công nhân là những yếu tố cơ bản nhất Chất lượng của giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia dân tộc chủ yếu được đánh giá thông qua các yếu tố cơ bản này Mục tiêu của mỗi quốc gia với phát triển chất lượng giai cấp công nhân cũng như lực lượng

Trang 27

lao động nói chung cũng không thể nằm ngoài việc xây dựng và củng cố các yếu

tố đó

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đặt ra yêu cầu phải có đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, tay nghề cao, có tác phong công nghiệp để tiếp thu và sáng tạo công nghệ mới Vì cốt lõi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính

là "cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao" [14, tr.43]

Quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, kinh tế hiện đại đã và sẽ tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời cũng đặt cho giai cấp công nhân một thách thức: nếu không vươn lên trong học tập và phấn đấu để tự nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ, tác phong công nghiệp thì sẽ bị chính nền kinh tế đó đào thải - xu hướng trí thức hóa công nhân ngày càng tăng lên rõ rệt Tri thức là chìa khóa để tiếp nhận khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại Thực tế cho thấy, trình độ học vấn, trình độ tay nghề của công nhân nước ta không ngừng tăng nhanh so với trước thời kỳ đổi mới, song so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì còn là quá thấp (Hiện nay chỉ có 62,22% công nhân có trình độ trung học phổ thông 27,24% trình độ trung học cơ sở, 4,12 trình độ tiểu học, 0,23% không biết chữ, 11,10% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, 1,56 trình độ đại học và trên đại học) [39, tr.132] Số công nhân trẻ dưới 30 tuổi - thường có trình độ cao hơn Trình độ tay nghề trung bình của công nhân mới ở thợ 3/7; bậc thợ 7/7 mới có 2,38% Trình độ công nhân cũng không đồng đều, đồng bằng cao hơn miền núi, vùng sâu, vùng xa Công nhân ngoài quốc doanh có trình độ cao hơn công nhân lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước Đội ngũ có trình độ cao đẳng, đại học chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp

Từ thực tế đó, Nhà nước cần phải có chính sách tích cực để tạo điều kiện nâng cao trình độ học vấn, tay nghề cho công nhân, tăng cường đầu tư, củng cố và phát triển các trường dạy nghề, xây dựng các trường trọng điểm, đào tạo đủ công

Trang 28

nhân lành nghề cho các khu công nghiệp, khu chế xuất có tính đến nhu cầu xuất khẩu lao động là hướng đi thích hợp với nền kinh tế phát triển.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không những tạo điều kiện, đặt ra nhu cầu nâng cao trình độ học vấn, trình độ tay nghề cho giai cấp công nhân mà bản thân quá trình đó cũng tạo ra điều kiện khách quan để giai cấp công nhân rèn luyện tính

tổ chức kỷ luật cao, tác phong lao động công nghiệp và ý thức giác ngộ chính trị Một nền công nghiệp hiện đại với các dây chuyền sản xuất theo công nghệ tiên tiến không cho phép người vận hành nó - giai cấp công nhân thiếu tính tổ chức kỷ luật,

tự do, tùy tiện, thiếu sự liên kết cộng đồng thiếu tác phong công nghiệp Từ tính tổ chức kỷ luật, tự giác trong sản xuất, tác phong công nghiệp và tinh thần cộng đồng dần hình thành nên sự cố kết chặt chẽ trong giai cấp công nhân tạo nên sức mạnh đoàn kết trong lao động sản xuất cũng như trong mọi hoạt động khác Cùng với quá trình hoàn thiện mình giai cấp công nhân không ngừng nâng cao ý thức giác ngộ chính trị thể hiện ở nhận thức về vai trò, vị trí và sứ mệnh của giai cấp công nhân, cũng như vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị, mà sự biểu hiện rõ nhất

về việc nâng cao ý thức giác ngộ chính trị chính là thái độ đồng tình của đa số công nhân với sự nghiệp đổi mới của Đảng, công tác phát triển Đảng trong công nhân có nhiều tiến bộ, số lượng công nhân được kết nạp vào Đảng và tham gia vào các tổ chức đoàn thể trong tất cả các loại hình doanh nghiệp không ngừng tăng lên rõ rệt Chính những điều đó, đã và đang tạo ra một chất lượng mới trong giai cấp công nhân hiện nay

Vai trò tích cực của giai cấp công nhân Việt Nam đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

"Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc" [13, tr.2] Đảng bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của giai cấp, là đội tiên phong, là bộ phận tham mưu chiến đấu, là lãnh tụ chính trị của giai cấp công

Trang 29

nhân Giai cấp công nhân là cơ sở chính trị, xã hội của Đảng, lực lượng nòng cốt trong khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, trong khối đại đoàn kết dân tộc Việc giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước không phải là sự áp đặt vô căn cứ mà vai trò và vị trí

đó do chính lịch sử khách quan của cách mạng Việt Nam quy định Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng: trước khi giai cấp công nhân và đảng tiền phong của nó bước lên vũ đài chính trị và nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam, phong trào cách mạng nước ta đứng trước khủng hoảng lớn về đường lối cứu nước Các giai tầng khác trong xã hội Việt Nam không đủ sức lãnh đạo cách mạng, nhân dân ta chịu sự đàn áp dã man của đế quốc thực dân và tay sai bán nước, chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước là chủ nghĩa Mác - Lênin với đường lối cách mạng đúng đắn thì cách mạng Việt Nam mới từng bước đánh đổ thực dân xâm lược, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và cuộc sống tự do

Trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta, xét về tương quan lực lượng

xã hội giai cấp công nhân vẫn là giai cấp lãnh đạo cách mạng, mà không có một giai tầng nào có thể thay thế được Trí thức Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, như trí thức không thể là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đội ngũ trí thức Việt Nam

là trí thức của giai cấp công nhân Việt Nam, đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, theo đường lối chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam, đã và đang có những đóng góp hết sức to lớn vào sự phát triển của đất nước Vai trò

ấy cần phải được khẳng định một cách rõ ràng rằng: không có trí thức không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cũng như hiện nay, không thể hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nếu không có trí thức Nhưng lãnh đạo quá trình ấy vẫn phải là giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam Đương nhiên, trong điều kiện phát triển nhanh chóng của kinh tế tri thức, khi khoa học đang

Trang 30

trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì bản thân giai cấp công nhân và Đảng của nó phải không ngừng tự vươn lên trình độ cao của trí tuệ để đảm đương một cách xứng đáng vai trò của mình, nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặt khác, giai cấp công nhân thông qua Đảng lãnh đạo phải đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ trí thức, có chính sách thu hút trí thức tạo điều kiện cho tri thức phục vụ sự nghiệp cách mạng, phục vụ lợi ích xã hội và của dân tộc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- Giai cấp công nhân là lực lượng lao động cơ bản đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Giai cấp công nhân là "con đẻ của nền đại công nghiệp", là một trong những yếu tố cơ bản nhất của lực lượng sản xuất Vì vậy, sự phát triển và hoàn thiện về mọi mặt của giai cấp công nhân sẽ tác động trở lại tạo điều kiện thúc đẩy nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ

Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng chủ yếu đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bởi lẽ, họ là lực lượng có mặt trong mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, mọi cơ sở sản xuất kinh doanh, trong những trung tâm kinh tế quan trọng, trong những lĩnh vực kinh tế then chốt của đất nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước muốn thành công đòi hỏi phải hội tụ nhiều yếu tố khách quan, chủ quan như: đường lối, chính sách phát triển kinh tế đúng đắn phù hợp điều kiện trong nước và quốc tế; có vốn, khoa học - kỹ thuật công nghệ hiện đại, tài nguyên thiên nhiên, thông tin trong những điều kiện, yếu tố ấy thì người công nhân có vai trò quan trọng nhất Không ai có thể thay thế được người công nhân trong quá trình sản xuất Máy móc dù có hiện đại đến mấy, dù có thể là những rô bốt thông minh cũng đều do con người sáng tạo ra và chỉ hoạt động được nhờ có sự vận hành và điều khiển bởi bàn tay, khối óc của người công nhân Thực tế trong những năm đổi mới đã chứng tỏ giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong sản xuất vật chất Đội ngũ của họ ngày càng được bổ sung những người lao động có trình độ học vấn và tay nghề ngày càng cao, thích ứng với cơ chế thị

Trang 31

trường, tiếp cận nhanh với khoa học tiên tiến, công nghệ hiện đại, có nhiều phát minh, sáng kiến có giá trị kinh tế cao được áp dụng trực tiếp vào sản xuất, góp phần quyết định vào việc thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng So với dân số hiện có, đội ngũ công nhân lao động của nước ta vẫn còn rất khiêm tốn, song họ vẫn là lực lượng sản xuất tiên tiến nhất của xã hội, đang nắm giữ những cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Kết quả lao động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế và đến đời sống hàng ngày của toàn xã hội Với 40% tổng sản phẩm xã hội, bảo đảm hơn 60% ngân sách, gần 70% GDP, họ vẫn đã

và đang là lực lượng đi đầu trong công cuộc kiến tạo đất nước Xuất phát từ

vị trí trong lực lượng sản xuất, từ vai trò trong tiến trình cách mạng Đảng ta

đã chỉ rõ: "Giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng tiên phong của mình đã lãnh đạo cách mạng nước ta trong hơn nửa thế kỷ qua, ngày nay đang

đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" [14, tr.67]

Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII Đảng ta đã định hướng:

Đối với giai cấp công nhân coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện "trí thức hóa công nhân", nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mớo [15, tr.124-125]

Đây là một trong những nội dung quan trọng, một đòi hỏi khách quan của

sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi mới

- Giai cấp công nhân là nhân tố đảm bảo cho việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội là chỗ dựa vững chắc của Đảng và Nhà nước.

Giai cấp công nhân không những là lực lượng lãnh đạo, đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà nó còn là cơ sở chính trị - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và Nhà nước, là hạt

Trang 32

nhân của khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố cơ bản giữ vững ổn định chính trị xã hội.

Đa số công nhân Việt Nam vững vàng về chính trị tư tưởng, tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, mục tiêu chủ nghĩa xã hội, kiên quyết ủng hộ công cuộc đổi mới, kiên cường phấn đấu và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong suốt tiến trình cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam thực sự là lực lượng tiên phong bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và cũng là lực lượng đi tiên phong trong mặt trận đấu tranh chống tiêu cực và các tệ nạn xã hội có vai trò to lớn trong giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội

Ở các cơ sở sản xuất, giai cấp công nhân tích cực tham gia trong các lực lượng kiểm tra, kiểm soát, giám sát các hoạt động kinh tế, phân phối lưu thông, phát hiện nhiều vụ tham ô, tham nhũng, cố tình làm sai chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Bên cạnh đó, giai cấp công nhân còn là lực lượng quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân đặc biệt là trong việc xây dựng nền công nghiệp quốc phòng - yếu tố quan trọng của lực lượng vũ trang nhân dân Cũng cần nói thêm rằng, khi bàn tới vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò của các doanh nghiệp Việt Nam Thực tiễn quá trình đổi mới Việt Nam

đã khẳng định sự đóng góp của các doanh nghiệp Việt Nam ở mọi khu vực kinh

tế là rất lớn Song xét đến cùng lực lượng sản xuất trực tiếp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế đất nước không ai khác chính là giai cấp công nhân và đội ngũ doanh nhân Việt Nam cũng được hình thành và phát triển trong thời kỳ đổi mới

do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo

1.2 TÍNH ĐẶC THÙ CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN THÁI NGUYÊN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.2.1 Đặc điểm đội ngũ công nhân Thái Nguyên

Là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân Thái Nguyên là những người trực tiếp lao động sản xuất hoặc tham gia các hoạt

Trang 33

động dịch vụ có tính chất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh, họ có mặt trong mọi thành phần kinh tế và có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương Cũng như giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân Thái Nguyên

có đầy đủ những đặc điểm mà giai cấp công nhân Việt Nam có được Tuy nhiên,

do những điều kiện lịch sử, tự nhiên, kinh tế, xã hội quy định mà đội ngũ công nhân Thái Nguyên có những điểm riêng đặc thù đó là:

- Đội ngũ công nhân Thái Nguyên ra đời rất sớm bắt nguồn từ vị trí địa

lý (địa chính trị, địa kinh tế) của Thái Nguyên.

Đội ngũ công nhân Thái Nguyên ra đời sớm, gần như đồng thời với sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung do những thuận lợi về vị trí địa

lý cũng như điều kiện kinh tế - xã hội riêng có Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du thuộc Bắc Bộ , có địa giới hành chính chung với 6 tỉnh trong cả nước Phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Đông Nam giáp với tỉnh Bắc Giang, Đông Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp với thủ đô Hà Nội; Tây Nam giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và phía Tây giáp với tỉnh Tuyên Quang Thái Nguyên

có tổng diện tích tự nhiên là 3.541 km2 Dân số là 1.083.779 người, với mật độ trung bình là 306 người/km2 Việc tiếp giáp với 6 tỉnh và thành phố đã tạo nên một vị thế hết sức đặc biệt xét về góc độ địa lý: Xưa nay Thái Nguyên vẫn thường được xem như một nét gạch nối giữa vùng đồng bằng châu thổ sông

Hồng với vùng đại ngàn Việt Bắc, với địa thế "tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ", nên ngay trong thời kỳ chống sự xâm lược của các triều đại phong kiến

phương Bắc, Thái Nguyên đã được cha ông ta chọn là một trong những phòng tuyến quan trọng nhất nhằm bảo vệ thủ đô thân yêu cũng như làm bàn đạp phản công để tiêu diệt quân địch Địa hình Thái Nguyên mang đặc trưng 3 vùng: Vùng trung du gồm thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và các huyện Phổ Yên, Phú Bình Vùng núi gồm huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ Vùng cao là huyện Võ Nhai

Chính vì đặc điểm địa hình tự nhiên vừa miền núi, vừa trung du nên tiềm năng đất đai rất đa dạng cả về đất nông nghiệp, đất công nghiệp và đất rừng Đất

Trang 34

Thái Nguyên thuộc loại Feralit, đất đá vôi và đất ruộng, thích hợp cho việc phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc Vùng

đô thị thành phố Thái Nguyên và hai huyện liền kề: Phú Bình, Phổ Yên địa hình tương đối bằng phẳng, kết cấu đất ổn định, gần đường giao thông liên tỉnh rất thuận lợi cho việc phát triển các khu công nghiệp Đặc biệt Thái Nguyên là vùng đất nổi tiếng giàu về tài nguyên, khoáng sản có trữ lượng tương đối lớn với nhiều chủng loại phong phú như các mỏ sắt, vàng, chì, kẽm từ lâu đã là nguồn hấp dẫn đối với nhiều nhà khai khoáng trong và ngoài nước Chỉ tính riêng khoảng thời gian trị vì 4 triều vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiên Trị, Tự Đức, cả nước có 4 mỏ chì được khai thác thì mỏ chì ở Quán Triều - Thái Nguyên là mỏ có trữ lượng lớn nhất Theo

Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Thái Nguyên cho thấy hiện tại trong lòng đất Thái Nguyên có 4 nhóm khoáng sản:

- Nhóm khoáng sản nhiên liệu: 10 điểm mỏ than

- Nhóm khoáng sản kim loại: Fe (39 điểm quặng), Mg, Titan, Cu; Ag và thiếc

- Nhóm nguyên liệu và vật liệu xây dựng: Đá vôi, đất sét, cuội, sỏi, cao lanh, cát

- Nhóm khoáng sản phi kim loại: Pirýt, barít

Bên cạnh đó, Thái Nguyên có nhiều sông, suối phân bổ tương đối đều trên địa bàn tỉnh, trong đó lớn nhất là sông Cầu và sông Công Sông Cầu bắt nguồn

từ huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn) chảy xuống địa bàn tỉnh Thái Nguyên dọc từ Bắc xuống Nam qua các huyện Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, Phú Bình và Phổ Yên tạo nên gần như trục đối xứng cả về lãnh thổ và hướng dốc của tỉnh Chính vì vậy, thời Pháp thuộc, sông Cầu là tuyến giao thông chủ yếu và quan trọng để địch thuyên chuyển lực lượng, vũ khí, lương thực và phương tiện chiến tranh từ phía Nam lên phía Bắc Với vị trí là cửa ngõ của vùng Việt Bắc nên hệ thống giao thông của Thái Nguyên tương đối đa dạng, ngoài đường thủy Thái Nguyên còn có đường bộ khá hoàn chỉnh

Những ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên cũng như vị thế chiến lược của một vùng đất địa chính trị, địa kinh tế đặc biệt, chính vì thế mà ngay sau khi dập

Trang 35

tắt các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Thái Nguyên từ 1884-1896, thực dân Pháp ráo riết xây dựng ngay một bộ máy thống trị một mặt đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên, mặt khác đưa máy móc và huy động

nhân công tiến hành khai thác khoáng sản hiện có Đội ngũ công nhân Thái Nguyên ra đời từ đó với số lượng lên tới gần 1 vạn công nhân, đời sống hết sức

cơ cực do giá nhân công rẻ mạt và sự bóc lột tàn tệ của thực dân Pháp Tiếp nối

truyền thống đấu tranh anh dũng của cha ông xưa nên ngay từ khi mới ra đời, đội ngũ công nhân Thái Nguyên đã đấu tranh dũng cảm chống tình trạng cúp lương, chống đánh đập và sa thải thợ Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của trên

300 công nhân mỏ Hích vào tháng 11-1913, tiếp đến là cuộc đấu tranh chống phạt vạ của hàng trăm công nhân mỏ than Phấn Mễ, đồng thời trong cuộc đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp 31-8-1917 do Trịnh Văn Cấn

và Lương Ngọc Quyến chỉ huy, đội ngũ công nhân Thái Nguyên cũng đã trực tiếp tham gia [48, tr.50-51] và đóng góp rất lớn cho thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Thông qua các cuộc đấu tranh đó, đội ngũ công nhân không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng đồng thời cũng tự kiện toàn dần về tổ chức, đoàn kết nhất trí trong đấu tranh

- Công nhân Thái Nguyên sớm được giác ngộ cách mạng là hạt nhân tập hợp nhân dân các dân tộc Thái Nguyên thành "căn cứ địa cách mạng lòng dân" bảo vệ Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược:

Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của Thái Nguyên, đặc biệt trước sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đặt ra nhiệm

vụ phải sớm gây dựng cho được chi bộ cơ sở đảng ở Thái Nguyên nhằm lãnh đạo phong trào cách mạng phát triển đúng hướng Nhờ hoạt động tích cực của các đồng chí đảng viên ưu tú Đảng Cộng sản Đông Dương, mùa xuân 1937 chi

bộ đảng đầu tiên được thành lập ở huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Bắt đầu từ thời gian đó, cùng với sự ra đời nhiều chi bộ cơ sở

Trang 36

đảng, đội ngũ công nhân dần được giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng đoàn kết với các tầng lớp nhân dân trong tỉnh dũng cảm đấu tranh chống sự áp đặt và thống trị của thực dân Pháp.

Và cũng trên cơ sở đó Thái Nguyên đã được Trung ương Đảng và Bác Hồ lựa chọn trở thành trở thành căn cứ địa trong cuộc vận động cách mạng tháng 8-

1945 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ (12-1946) Thái Nguyên một lần nữa nhận trách nhiệm quan trọng đất nước giao phó - trở thành Thủ đô của cuộc kháng chiến Đảng viên, cán bộ, nhân dân Thái Nguyên son sắc một lòng theo cách mạng, che chở, nuôi dưỡng, giúp đỡ bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo kháng chiến đến thắng lợi Trong các lực lượng cách mạng đó, đội ngũ công nhân có đóng góp hết sức quan trọng cả trong sản xuất và trong chiến đấu

- Đội ngũ công nhân Thái Nguyên phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, trở thành đầu đàn của ngành luyện kim Việt Nam đầu những năm 60 thế kỷ XX.

Hòa bình lập lại, cùng với nhân dân trong tỉnh, đội ngũ công nhân Thái Nguyên bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu cho CNXH ở Việt Nam Với lợi thế sẵn có, Thái Nguyên tiếp tục được Trung ương đầu tư xây dựng trở thành một trong những thành phố công nghiệp trọng điểm của khu vực Bắc Bộ Cùng với các khu công nghiệp ở Việt Trì, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên chính thức được khởi công xây dựng trên địa bàn tỉnh từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX (1963) và trở thành con chim đầu của ngành luyện kim Việt Nam Hơn thế nữa, Đảng và Nhà nước ta cũng đầu tư xây dựng tại Thái Nguyên nhiều cơ sở quốc phòng quan trọng bao gồm hệ thống các nhà máy (Z) chuyên sản xuất vũ khí, máy móc, chuyên dụng cho quân đội cùng với hàng loạt nhà máy, hầm mỏ, cơ

sở tuyển quặng, than đã có từ trước với rất nhiều nhà máy cơ khí, vật liệu nổ, chế biến nông lâm sản mới vừa được xây dựng, Thái Nguyên thực sự trở thành một trong những khu công nghiệp nổi tiếng khu vực Đông Bắc Điều đó cũng là

Trang 37

cơ sở cho đội ngũ công nhân Thái Nguyên càng có điều kiện phát triển mạnh Trong giai đoạn 1965-1975, đội ngũ công nhân cùng với nhân dân trong tỉnh trực tiếp phục vụ chiến đấu và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ, giữ vững và phát triển sản xuất, chi viện cho miền Nam thân yêu đến ngày thắng lợi, thống nhất Tổ quốc Tiếp theo đó, đội ngũ công nhân Thái Nguyên cùng với cả nước ngoài đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế sau chiến tranh lại tiếp tục chi viện các tỉnh biên giới phía Bắc chiến đấu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Sự khủng hoảng kinh tế kéo dài do duy trì quá lâu cơ chế quản lý quan liêu bao cấp khiến cho đời sống đội ngũ công nhân Thái Nguyên rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn, hàng loạt xí nghiệp trì trệ, nợ nần do thiếu vốn sản xuất, thiếu nguyên liệu và dây chuyền lạc hậu, sản phẩm không đủ sức cạnh tranh Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, quan tâm đầu tư đúng mức cũng như định hướng phát triển lâu dài của sản xuất công nghiệp trong địa bàn tỉnh, đội ngũ công nhân Thái Nguyên đã có bước phát triển đáng kể để thích nghi dần cơ chế mới bước đầu khẳng định lại vị trí, vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội ở địa phương

- Đội ngũ công nhân Thái Nguyên là bộ phận công nhân các tỉnh phía Bắc sớm nhanh chóng thoát khỏi cơ chế bao cấp, chuyển biến nhanh sang cơ chế mới.

Cũng như các tỉnh phía Bắc, đội ngũ công nhân Thái Nguyên hoạt động trong cơ chế bao cấp kéo dài (20 năm) Khi chuyển sang cơ chế mới, lúc đầu công nhân Thái Nguyên cũng không tránh khỏi lúng túng Nhưng từ khi Đảng phát động công cuộc đổi mới toàn diện (1986), công nhân Thái Nguyên có bước chuyển nhanh sang cơ chế mới

Trong vòng 10 năm từ 1991 - 2000, Thái Nguyên giữ được mức độ tăng trưởng liên tục mặc dù không phải quá cao nhưng là một cố gắng vượt bậc đáng được ghi nhận Mức tăng trưởng hàng năm bình quân đạt 8,1%, trong giai đoạn 1991-1995 tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,8% (riêng năm 1995 tốc độ tăng trưởng đạt 9,6%) Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch theo hướng công

Trang 38

nghiệp hóa Tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 25,3% (năm 1991) tăng lên 35,5% (năm 1995), gấp 4,2 mức tăng trưởng trong giai đoạn 1986-1990 Trong

5 năm 1996-2000 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ, mức độ tăng trưởng chỉ đạt xấp xỉ 6,3% Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp Trung ương trên địa bàn bị đình trệ, sa sút đã làm hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế Dù vậy, đến đầu 2000 hoạt động của các ngành kinh tế quan trọng đã dần đi vào ổn định và phát triển đạt tốc độ gần với mức bình quân của cả nước Giai đoạn 2000-2004 tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) tiếp tục được đẩy mạnh 8,94% (năm 2000 7,2%; năm 2001: 8,86%; năm 2002: 9,09%; năm 2003 là 9,20%; năm 2004: 8,53% cao hơn mức bình quân của cả nước Cùng với tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức cao, cơ cấu kinh tế trên địa bàn tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp tăng dần tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ, trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 37,2%, nông, lâm nghiệp chiếm khoảng 26,6%, dịch vụ chiếm khoảng 36,2% Gắn với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, đời sống nhân dân và đội ngũ công nhân Thái Nguyên trên địa bàn được dần nâng lên rõ rệt Đến nay, toàn tỉnh đã có 01 khu công nghiệp lớn,

02 cụm công nghiệp và 23 khu công nghiệp nhỏ được phê duyệt với 1.288 doanh nghiệp và tổng số vốn trên 1.273 tỷ đồng Cùng với việc thành lập mới các doanh nghiệp, tỉnh đã cơ bản hoàn thành chỉ tiêu sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch đề ra Riêng 2003 thực hiện sắp xếp và đổi mới

14 doanh nghiệp nhà nước, cho đến nay 90% các doanh nghiệp được sắp xếp chấm dứt thua lỗ và đi vào làm ăn có hiệu quả

Sự đóng góp của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong gần 20 năm qua cũng như đường lối phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của đội ngũ công nhân Thái Nguyên không chỉ trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ Tổ quốc mà họ còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 39

- Đội ngũ công nhân Thái Nguyên rất đa dạng về thành phần dân tộc cũng như về thành phần xuất thân.

Với vị trí thuận lợi về giao thông gồm cả đường bộ, đường sắt và đường thủy.Thái Nguyên có 3 quốc lộ: Quốc lộ 3 chạy suốt chiều dài tỉnh Thái Nguyên

từ Nam (Cầu Đa Phúc) lên Bắc (Phú Lương) qua tỉnh Bắc Kạn lên Cao Bằng (trên 300 km) Quốc lộ 1 B từ cầu Gia Bẩy (thành phố Thái Nguyên) qua hai huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai lên đến Lạng Sơn; quốc lộ 19 chạy từ Hiệp Hòa (Bắc Giang) sang Thái Nguyên, với tổng chiều dài trên 500 km Tỉnh quản lý 275,2

km Ngoài ra, Thái Nguyên có 2 tuyến đường sắt: Hà Nội - Quán Triều - Núi Hồng, và Lưu Xá (Thái Nguyên) - Kép (Bắc Giang) - Uông Bí - Quảng Ninh với tổng chiều dài tỉnh quản lý 167,5 km Cũng như truyền thống của tỉnh công nghiệp trọng điểm của vùng Việt Bắc, Thái Nguyên là tỉnh thành thu hút nguồn nhân lực đến từ rất nhiều tỉnh, nhất là con em các dân tộc thuộc các tỉnh lân cận Bên cạnh

đó, Thái Nguyên còn là một trong 6 trung tâm đào tạo của cả nước bao gồm 6 trường đại học, trên 20 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, 8 trạm nghiên cứu, 7 trung tâm thực nghiệm với một lực lượng trí thức và đội ngũ khoa học, kỹ thuật đông đảo Hàng năm đào tạo một số lượng khá lớn công nhân kỹ thuật bổ sung vào đội ngũ công nhân Thái Nguyên và đội ngũ công nhân một số tỉnh bạn Với địa hình mang đặc trưng ba vùng gồm cả trung du, vùng núi và vùng cao nên Thái Nguyên có tới 9 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó, đa phần là dân tộc Kinh: 818.268 (75,5%), tiếp đến là dân tộc Tày 115.966 (10,7%), dân tộc Nùng khoảng 5,1% còn lại là các dân tộc Dao, Sán Dìu, Sán Chỉ, Cao Lan, H'mông, Hoa Tất cả những điều đó tạo nên nét đặc trưng trong đội ngũ công nhân Thái Nguyên sự đa dạng về thành phần xuất thân

và dân tộc

Theo kết quả điều tra 92 doanh nghiệp đóng trên địa bàn (trong đó gồm:

50 doanh nghiệp địa phương, 42 doanh nghiệp Trung ương) thì số công nhân từ các nơi khác về làm việc trong các khu công nghiệp ở Thái Nguyên chiếm tới 49,4%; có tới 7 thành phần dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm 88,2%; dân tộc

Trang 40

Tày, Nùng 7,5%, còn lại là các dân tộc: Dao, Sán Chay, Cao Lan, Hoa chiếm 4,3% Thành phần xuất thân cũng rất đa dạng Cụ thể là, số công nhân xuất thân

từ học sinh phổ thông chiếm 33,2%; số công nhân tốt nghiệp trung học công nghiệp và dạy nghề là 15,4%; tốt nghiệp đại học, cao đẳng 15,9%, từ bộ đội 5,1%; từ nông dân 12,1%; từ cán bộ công chức: 8,1%, những người chưa có việc làm được tuyển dụng là 10,2% [9, tr.16] Như vậy có thể thấy rằng việc phát triển công nghiệp ở Thái Nguyên không những chỉ giải quyết việc làm cho đội ngũ lao động trên địa bàn tỉnh mà còn thu hút nguồn nhân lực từ các tỉnh lân cận Điều đó cũng có nghĩa là nguồn lực lao động ở đây khá dồi dào, và như vậy khi tiến hành mở rộng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ tương đối thuận lợi nếu xét riêng về góc độ nhân lực Song, sự phát triển dồi dào

về nguồn lao động nhất là lao động nhập cư không chỉ bao hàm yếu tố thuận lợi,

mà còn nảy sinh nhiều áp lực đang trở thành thách thức đối với Thái Nguyên Mặt khác, đội ngũ công nhân Thái Nguyên xuất thân từ nhiều thành phần dân tộc nên ít nhiều cũng có sự chênh lệch về trình độ văn hóa, trình độ học vấn, tay nghề Việc đa dạng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt đôi khi cũng lại là trở ngại cho việc phổ biến về khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, điều đó cũng là một nguyên nhân khiến cho mặt bằng chung về trình độ học vấn, tay nghề, khoa học kỹ thuật chưa thực sự cao

1.2.2 Vai trò của đội ngũ công nhân Thái Nguyên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Đội ngũ công nhân Thái Nguyên là lực lượng lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thái Nguyên

Thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của mình, giai cấp công nhân Việt Nam đã và đang lãnh đạo toàn thể dân tộc thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng chủ trương, đường lối đúng đắn cũng như việc đề ra mục tiêu cụ thể, bước đi sát hợp Là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, đội ngũ công nhân Thái Nguyên thông qua Đảng bộ tỉnh và cấp ủy Đảng các cấp, đã cụ thể những mục tiêu, quan điểm, phương

Ngày đăng: 20/03/2013, 08:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Trọng Bá (1996), "Giai cấp công nhân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Thông tin lý luận, (7), tr.36-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Trọng Bá
Năm: 1996
2. Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê (1998), Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1998
3. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (177), Văn kiện Đảng 1930- 1945, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng 1930-1945
Nhà XB: Nxb Sự thật
4. Lê Đức Bình (1963), Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Lê Đức Bình
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1963
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1996), Bài học về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Trung tâm thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 1996
6. Bộ Khoa học công nghệ và môi trường - Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ (1996), Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ
Tác giả: Bộ Khoa học công nghệ và môi trường - Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Nguyễn Hoàng Chi (1996), "Công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay có gì khác trước", Công nghiệp tư tưởng văn hóa, (8), tr.19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa ở nước ta hiện nay có gì khác trước
Tác giả: Nguyễn Hoàng Chi
Năm: 1996
11. Phạm Thế Duyệt (1986), "Giai cấp công nhân Việt Nam - quá khứ và hiện tại", Tạp chí Cộng sản, (4), tr.37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam - quá khứ và hiện tại
Tác giả: Phạm Thế Duyệt
Năm: 1986
12. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9- 1960), Văn kiện Đại hội, tập 1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XV, Nxb Tổng hợp, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI, Nxb Tổng hợp, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2001
21. Trần Văn Giàu (1958), Giai cấp công nhân Việt Nam sự hình thành và phát triển của nó từ giai cấp "tự mình" đến giai cấp "cho mình", Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tự mình" đến giai cấp "cho mình
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1958
22. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn bộ giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1996), Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay
Tác giả: Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn bộ giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
23. Nguyễn Cảnh Hưng (2001), "Thành tựu 15 năm phát triển kinh tế", Tạp chí Cộng sản, (1), tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu 15 năm phát triển kinh tế
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hưng
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Trình độ học vấn của đội ngũ công nhân Thái Nguyên Đơn vị tính: % - 252735
Bảng 2.1 Trình độ học vấn của đội ngũ công nhân Thái Nguyên Đơn vị tính: % (Trang 49)
Bảng 2.2: Trình độ bậc thợ, chuyên môn, nghiệp vụ của công nhân - 252735
Bảng 2.2 Trình độ bậc thợ, chuyên môn, nghiệp vụ của công nhân (Trang 51)
Bảng 2.3: Trình độ chính trị của công nhân Thái Nguyên tính đến 2004 Đơn vị tính: % - 252735
Bảng 2.3 Trình độ chính trị của công nhân Thái Nguyên tính đến 2004 Đơn vị tính: % (Trang 53)
Bảng 2.4: Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên tính - 252735
Bảng 2.4 Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên tính (Trang 60)
Bảng 2.5: Cơ cấu thành phần xuất thân của đội ngũ công nhân Thái - 252735
Bảng 2.5 Cơ cấu thành phần xuất thân của đội ngũ công nhân Thái (Trang 63)
w