1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Điều Trị Nội Khoa - Bài 18: LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG pot

14 301 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Loét dạ dày tá tràng
Trường học Trường Đại Học Y Dược
Chuyên ngành Y học
Thể loại bài giảng
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 183,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều Trị Nội Khoa - Bài 18: LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG Loét dạ dày Và loét tá tràng thuộc phạm trù vị quản thống' trong Đông y học Nguyên nhân phát bệnh thường là ăn uống không giữ mức hoặc t

Trang 1

Điều Trị Nội Khoa - Bài 18: LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG

Loét dạ dày Và loét tá tràng thuộc phạm trù vị quản thống' trong Đông y học Nguyên nhân phát bệnh thường là ăn uống không giữ mức hoặc tinh thần bị kích thích thời gian dài, đến nỗi can vị bất hoà, tỳ vị không khẻo, vị trí uất hoá hoả mà thương âm, khí trệ hàn ngưng mà thương dương, hoặc từ khí tới huyết

ĐIỂM CẦN KIỂM TRA ĐỂ CHẨN ĐOÁN

1 Vùng bụng trên đau phát cơn lặp lại nhiều lần, thường kèm hơi nóng, sôi bụng, ợ chua,

ở mùa thu đông phát cơn đau rất nhiều Có quan hệ mật thiết với ăn uống Loét dạ dày thường đau nhiều ở sau khi ăn 2 đến 4 giờ đồng hồ, sau khi ăn lại có thể giảm nhẹ đau

2 Khi phát cơn đau, có cảm giác ấn đau nhè nhẹ, loét dạ dày điểm ấn đau ở đường chính giữa hoặc lệch về bên trái, loét tá tràng thường lệch về bên phải

3 Nếu phân hiện rõ mầu sắc dạng đen như sơn, thực nghiệm huyết ẩn trong phân dương tính, rõ ràng đưa ra có xuất huyết bên trong

4 Chú ý xuất hiện chứng phát kèm

Phàm nôn mửa lặp lại nhiều lần thức ăn hôi rữa, nhất là lấy thấy ở buổi tối làm nhiều, thường là hẹp môn vị Người bệnh trung buổi trở lên thời gian dài không khỏi, đau đớn mất đi tính quy luật, gầy còm, thiếu máu hoặc vùng bụng trên sờ thấy khối sưng, là biểu

Trang 2

hiện biến thành ung thư Khi có điều kiện phải làm chụp cản quang để chẩn đoán xác minh

Nếu hợp kèm nôn ra huyết, phân có huyết lượng lớn hoặc bởi thủng cấp tính đột nhiên đau bụng dữ dội, cơ vùng bụng cứng đơ, phải kịp thời đưa đi khoa ngoại làm kiểm tra và

xử lý cần thiết

5 Chẩn đoán xem khác:

a Mạn tính viêm dạ dày:

Đau đớn không rõ rệt tính quy luật, khu vực ấn đau vùng bụng trên rất rộng, lại không cố định, ăn uống không tốt, sau khi ăn đau đớn căng tức bứt rứt thêm nặng, thường kèm nôn mửa

b Chứng thần kinh chức năng dạ dày:

Đau đớn không quy luật, quan hệ không rõ rệt với sự ăn uống, thường do kích thích tình chí dẫn tới đau đớn, vùng bụng trên nói chung không có ấn đau, hoặc nơi vùng ấn đau thường có biến động

c Bệnh đường mật mạn tính:

Đau đớn không quy luật, đã thường có bệnh sử phát cơn đau thắt hoặc vàng da, phát cơn

có quan hệ với đồ ăn là chất dầu béo, phía bụng phải trên (vùng túi mật) có ấn đau, có thể kèm cục bộ cơ bụng căng kéo hoặc có sốt nhẹ

PHƯƠNG PHÁP CHỮA

1 Biện chứng thí trị

Trang 3

Căn cứ vào thời gian đau, tính chất đau quan hệ với ăn uống, phân biệt riêng hư thực, hàn nhiệt, khí huyết khác nhau:

Nếu đau lâu ngày không khỏi, thế đau âm ỉ, ưa sờ, sau khi ăn thì giảm đau là chứng hư

Thể đau cấp, quá dữ dội, sợ sờ nắn, sau khi ăn thì đau nặng thêm là thực chứng

Đau lạnh, ưa nhiệt, là chứng hàn

Hơ nóng đau gấp, là chứng nhiệt

Đau trướng hoặc đau đớn chạy ẩn náu là khí trệ

Đau nhói, nơi đau cố định là huyết ứ

Chứng hậu lâm sàng thường thấy có can vị bất hoà và tỳ vị hư hàn là hai loại lớn Nguyên tắc trị thì lấy điều hoà vị khí, sơ can kiện tỳ làm chủ

a Can vị bất hoà:

Dạ dày trướng đau, công ẩn không định, liền tới mạng sườn và phía sau lưng trên, sau khi

ăn đau nhiều lắm, ngực buồn bằn, có hơi nóng, ợ chua, miệng đắng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế huyền

Cách chữa Sơ can hoà vị

Bài thuốc ví dụ Sài hồ sơ can ẩm gia giảm

Sài hồ sao giấm 1,5 đồng cân, Sao Chỉ xác 1,5 đồng cân

Trang 4

Bạch thược 3 đồng cân, sao Diên hồ sách 3 đồng cân,

Chế Hương phụ 3 đồng cân, cam thảo l đồng cân

Gia giảm:

+ Khí uất hoá hoả, thế đau cấp bách, sôi bụng, ợ chua, miệng đắng, rêu lưỡi vàng, gia

Xuyên Hoàng liên sao gừng 6 phân,Chích ô tặc cốt 4 đồng cân, hoặc Đoạn Ngoã lăng tử

6 đồng cân

+ Khí trệ huyết ứ, đau nhói, nơi đau cố định, căng cả mảng, sợ nắn, chất lưỡi tím thì bỏ

Sài Hồ; thêm Thất tiếu tán 4 đồng cân bọc lại sắc

+ Xuất huyết thì dùng riêng bột sâm Tam thất, mỗi lần uống 5 phân, một ngày 2-3 lần

+ Hoả uất thương âm, đau âm ỉ như đói, miệng khô, chất lưỡi hồng, bỏ Sài hồ, Hương

phụ; gia Mạch đông, Sa sâm, Xuyên luyện tử, mỗi thứ 3 đồng cân

b Tỳ vị hư hàn:

Vùng dạ dày đau âm ỉ, khi nhẹ khi nặng, vùng trong dạ dày thấy lạnh, ưa ấm, ưa nắn, bụng đói thì đau nhiều, sau khi ăn thì đau giảm, ăn nhiều lại trướng, hoặc nôn ra nước trong, phân nát, sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch tế

Cách chữa ôn vị kiện trung

Bài thuốc ví dụ Hoàng kỳ kiện trung thang gia giảm

Hoàng kỳ 4 đồng cân, Bạch thược 4 đồng cân

Trang 5

Chích Quế chi 1.5 đồng cân, Chích Cam thảo 1,5 đồng cân,

Can khương 1 đồng cân, Đại táo 4 quả

Gia giảm:

+ Hàn nặng, đau lạnh, rêu lưỡi trắng trơn, miệng nhiều nước trong, gia Cao lương

khương 1 đồng cân

+ Khí trệ, vùng dạ dày bĩ trướng, gia sao Chỉ xác 1.5 đồng cân, Mộc hương 1 ,5 đồng

cân

+ Khí không nhiếp huyết, phân ra màu đen thì bỏ Can khương, Quế chi; gia Bào Khương

thán 1,5 đồng cân, Xích thạch chi 4 đồng cân bọc lại Uống riêng ô cập tán (ô tặc cốt, Bạch cập hai vị bằng nhau, nghiền chung nhỏ mịn), mỗi gói 3 đồng cân

+ Trong vị đình ẩm, nôn mửa nước trong dãi lạnh, vùng dạ có tiếng nước óc ách, thì bỏ

Hoàng kỳ, Đại táo; gia Khương Bán hạ 3 đồng cân, Phục linh 3 đồng cân

PHƯƠNG LẺ

a Thanh Mộc hương nghiền bột, mỗi lần uống 0,5- 1 đồng cân, mỗi ngày uống 2-3 lần

Có tác dụng lý khí chỉ thống

b Vỏ trứng gà sấy khô tán bột, mỗi lần uống 1 đồng cân, ngày uống 2-3 lần Có tác dụng

chế toan dứt đau

c Chích ô tặc cốt 375 gam, Mật ong 200 gam, chế thành viên mỏng, mỗi viên 0,7 gam

Mỗi ngày uống 3-4 lần, mỗi lần uống 5-7 viên, 3 tháng là một liệu trình Trị bệnh loét đau

dạ dày, ợ chua, xuất huyết

Trang 6

d Ngoài ra, như Loa ti xác, Phongh xác, Ngoã lăng tử, Đoạn mẫu lệ, chọn bất kể một loại, thêm vào 1/3 Cam thảo nghiền cực nhỏ mịn, trộn đều, mỗi lần uống 1 đồng cân, 1

ngày 3 lần Có tác dụng chế toan dứt đau

3 Cách chữa mới

a Liệu pháp chôn chỉ:

Trung quản thấu Thương quản, Vị du thấu Tỳ du, Lương môn thấu Quan môn (ở dưới Lương môn 1 thốn), huyệt Túc tam lý, làm chôn chỉ ruột dê

b liệu pháp cắt trị:

ở khe xương bàn tay số 4-5 cạnh khích lòng bàn tay, cắt trị chỗ gốc ngón 4-5 nối hợp xuống chừng 0,5cm

4 Liệu pháp thôi nã ở huyệt Tỳ du và điểm áp đau ở sau lưng trên, từ nhẹ đến nặng, áp

1 -2 phút, xoa huyệt Trung quản 10 phút, sau cùng bắt (nã) ở huyệt Thừa sơn

5 Chữa bàng châm cứu

a Thể châm:

Nhóm 1: Trung quản, Nội quan, Túc tam lý

Nhóm 2: Vị du, Can du, Tam âm giao

Hai nhóm huyệt vị thay chéo, sử dụng, lại có thể gài kim trong da ở Điểm ấn đau vùng lưng trên

Gia giảm:

Trang 7

+ Đau sườn, ợ chua, gia Thái xung, Kỳ môn

+ Bung đói đau nhiều, sợ lạnh, phân lỏng, gia Thiên khu, Khí hải

+ Phân phát màu đen hoặc có máu ẩn, gia Ẩn bạch, Tỳ du

b Nhĩ châm:

Loét dạ dày : Vị, Giao cảm, Thần môn

Loét tá tràng: Thập nhị trường, Giao cảm, Thần môn

BÀI THUỐC THAM KHẢO

1 Ô bối tán:

Ô tặc cốt 3 lạng, Tượng Bối mẫu 1 lạng

Nghiền chung nhỏ mịn, trộn đều, đóng gói, mỗi gói 3 đồng cân

Mồi lần uống 1-1,5 đồng cân, mỗi ngày uống 2-3 lần Có hiệu quả chế toan dứt đau

2 Ô thược tán:

Ô Tặc cốt 80 cân, bột Cam thảo 26 cân và 11 lạng

Bạch thược 13 cân 5 lạng Nghiền chung nhỏ mịn, đóng gói 3 đồng cân Lượng dùng và

chủ trị như Ô bối tán

Trang 8

3 Ô cập tán:

Ô tặc cốt, Bạch cập, hai lượng bằng nhau Nghiền chung nhỏ mịn, đóng gói, mỗi gói 3

đóng cân Mỗi lần uống 1 - 1,5 đồng cân, mỗi ngày uống 2 - 3 lần Có hiệu quả chế toan cầm máu

4 Việt cúc hoàn:

Thương truật 3 đồng cân, Hương phụ 3 đồng cần, Xuyên khung 2 đồng cân, Lục khúc 3

đồng cân, Hắc Sơn chi 2 đồng cân

Mỗi lần uống 1,5 đồng cân, mỗi ngày 2 lần uống Dùng hợp ở đau dạ dày do can vị bất hoà

5 Phụ tử lý trung hoàn:

Nhân sâm 2 - 4 đồng cân ( hoặc Đảng sâm 2 - 4 đồng cân), Bạch truật 2 - 4 đồng cân, Bào khương 1 - 2 đồng cân, Chích Cam thảo 1 - 2 đồng cân, Phụ tử chế 1 - 2 đồng cân

Mỗi lần uống l,5 đồng cân, 1 ngày 2 lần uống Dùng ở đau dạ dày

6 Lương phụ hoàn:

Cao lương khương, Hương phụ, hai vị bằng nhau

Mỗi lần uống l,5 đồng cân, một ngày 2 lần uống Dùng ở đau dạ dày do vị hàn

THAM KHẢO BỆNH HỌC TÂY Y

1 Loét dạ dày, tá tràng

Trang 9

Đây là một bệnh toàn thể biểu lộ bằng triệu chứng địa phương cho nên điều trị địa

phương, dù bằng phẫu thuật, cũng không đủ mà phải dùng những thuốc có tác dụng toàn thể

a Nguyên nhân sinh bệnh

Hiện chưa biết rõ tuy có nhiều thuyết được đưa ra vì thế mà có nhiều cách chữa

+ Có người cho là một bệnh địa phương

+ Có người bảo là do thần kinh phế vị cường tính làm cho dịch vị tiết ra nhiều, dạ dày vận động nhiều hơn

+ Có người cho là một bệnh dị ứng: Dị ứng đối với chất gì người ta cũng không rõ, chỉ biết rằng đo histamin trong máu người loét dạ dày cao hơn người bình thường

Gần đây hơn, áp dụng học thuyết páplôp, nhiều môn phái (Bưkôp, Cattan Frumusan) cho đây là một bệnh thần kinh cho sự rối loạn hoạt động của đại não, vỏ đại não Thuyết này cho rằng vỏ đại não và các nội tạng là một hệ thống nhất, liên hệ mật thiết với nhau, điều chỉnh lẫn nhau qua các trung tâm dưới vỏ não

Bởi thế nên các chấn thương tinh thần, các xúc động làm rối loạn sự hoạt động của vỏ đại não, đại não không điều chỉnh được các trung làm dưới vỏ não nữa nên các mao quản co lại, các nội tạng (trong đó có dạ đày) bài tiết nhiều hơn, vận động nhiều hơn, sinh ra loét

dạ dày Khi đã bị loét dạ dày rồi, sẽ có ảnh hưởng ngược lại từ dạ dày lan đến vỏ não làm duy trì sự rối loạn ấy sinh ra một vòng luẩn quẩn chỉ có thể thoát được khi nào não phục hồi được sự hoạt động bình thường của nó bằng cách kìm hãm vỏ não bằng giấc ngủ nhân tạo

Đặc điểm của bệnh

Trang 10

Là sự biến chuyển có chu kỳ

+ Mỗi chu kỳ đau độ 10- 1 5 ngày: Trong mỗi ngày, cơn đau có liên hệ đến bữa ăn, hoặc đói thì đau, ăn thì đỡ, hoặc no thì đau, đói thì đỡ

+ Ngoài những kỳ đau, bệnh nhân ăn uống như thường không đau, mặc dù loét vẫn còn tuy có đỡ nhưng không mất hẳn

Bởi thế không những phải điều trị trong thời kỳ đau mà lúc hết cơn đau vẫn phải tiếp tục điêu trị vì cha có bằng cớ rõ rệt chắc chắn của sự khỏi bệnh hoàn toàn Thời kỳ không đau có thể rất lâu vài ba năm, có khi 10 nầm rồi bệnh lại tái phát cho nên rất khó định đoạt giá trị của một phương pháp điều trị

c Đặc điểm của từng vị trí loét

* Loét dạ dày

+ Dễ ung thư hoá hơn: Sự thay đổi đó rất khó biết nên chỉ định phẫu thuật ở đây rộng rãi hơn Phải nghi bệnh đã ung thư hoá khi chữa mà hình dạng loét trong phim điện quang không thay đổi sau 2 - 3 tháng

+ Tương đối ít tái phát hơn vì thế thời gian chữa chủng cố ngắn hơn

* Loét tá tràng

Không ung thư hoá nhưng:

+ Dễ Chảy máu

+ Dễ tái phát hơn cho nên thời gian chữa củng cố lâu hơn

Trang 11

2 Chứng chảy máu dạ dày và tá tràng

Chảy máu dạ dày và tá tràng là một trường hợp cấp cứu có rất nhiều nguyên nhân: thông thường như là dạ dày, có thể chữa khỏi bằng Nội khoa, hiếm lắm mới phải dùng phẫu thuật

a Lâm sàng (nhắc lại lâm sàng)

Biểu hiện lâm sàng bằng nôn và đi ngoài ra máu, xảy ra bất thình lình lúc bệnh nhân đang khoẻ mạnh

* Nôn ra máu

Bệnh nhân có khi ngất, chóng mặt rồi nôn ra nhiều máu đỏ, mấy ngày sau đi ngoài ra phân đen

* Đi ngoài ra máu

Có khi bệnh nhân không nên ra máu mà đi ngoài ra phân đen, và khi ấy có thể ngất ngay trong nhà xí

Dù trong trường hợp nào, lúc bấy giờ khám bệnh chúng ta sẽ thấy triệu chứng mất máu ở người bệnh như :

- Người xanh xao, mặt tái nhợt, môi trắng bệch

- Chân, tay, mũi lạnh toát

- Mạch nhanh, huyết áp hạ

Trang 12

- Nắn bụng bệnh nhân vẫn mềm nhưng hơi đau ở thượng vị hoặc hố chậu

- Nếu day trở nhiều, bệnh nhân lúc đứng lên ngồi xuống có thể bị ngất trở lại

b Biến chuyển

Sau 10 - 15 ngày, bệnh nhân có thể hồi phục :

- Da đỏ trở lại

- Mạch và huyết áp trở lại bình thường

- Số hồng cầu tăng dần lên

- Bệnh nhân có thể ngồi dậy và đi đứng được Nhưng vài ngày sau bệnh có thể tái phát và tái phát là một yếu tố tiên lượng xấu, chúng ta phải nghĩ đến đặt vấn đề phẫu thuật

c Nguyên nhân

Có thể do một bệnh trong dạ dày hoặc ngoài dạ dày

* Nguyên nhân trong dạ dày

+ Loét dạ dày hay tá tràng là nguyên nhân thông thường nhất

- Loét cũ, sâu, tổ chức xung quanh xơ cứng, mạch máu cứng, máu ra nhiều, khó tự dừng lại

- Loét mới, rộng, tổ chức xung quanh còn mềm, dễ phù nề, ứ máu, máu ra ít hơn, dễ ngừng lại hơn

Trang 13

Một số thuốc có thể gây chảy máu ở bệnh nhân có loét dạ dày như Atporin, antipirin, phenylboutazon, cortizon, có khả năng gây loét nhẹ

+ Ung thư dạ dày

+ Viêm dạ dày - tá tràng

Nguyên nhân ngoài dạ dày

+ Tăng áp lực tĩnh mạch gây :

- Giãn tĩnh mạch thực quản và sau đó vỡ ra

- Chảy máu dạ dày lan tràn

+ Trong bệnh xơ gan, bệnh Banti cũng có thể gây chảy máu do thiếu protrombin vì gan suy

+ Máu từ gan hay mật quản theo mật (hémogéme), trong áP xe gan, ung thư gan

+ Những bệnh chảy máu Bệnh: Bệnh sinh chảy máu(hémogéme), bệnh ưa chảy máu (hémogéme) hay bệnh nhiễm trùng nặng gây chảy máu, thường không nguy hiểm

+ Không tìm thấy nguyên nhân: (20o/o):

Những nguyên nhân chảy máu đường tiêu hoá thường gặp nhất là loét dạ dày - tá tràng và tăng áp lực tĩnh mạch

Đứng trước sự chảy máu đó, dù cho nguyên nhân gì, mục tiêu chủ yếu là:

- Bảo vệ cơ thể khỏi bị mất máu

Trang 14

Làm ngừng chảy máu

Bằng biện pháp nội khoa và Ngoại khoa khi cần thiết

KINH NGHIỆM ĐIỀU TRỊ CỦA TÁC GIẢ

Xuất huyết dạ dày tá tràng

+ Châm bồ: Đại lăng, Khích môn

+ Cứu: Ẩn bạch Đại đôn

Ngày đăng: 02/08/2014, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN