1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Acid béo OMEGA-3 và Ung thư ppsx

19 355 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 180,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số 66 thử nghiệm trên thú vật về hiệu quả của Omega-3 thì : 36 nghiên cứu ghi nhận là acid béo Omega-3 có khả năng ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư và chặn di căn = giai đ

Trang 1

Acid béo OMEGA-3 và Ung thư

Khả năng ngăn ngừa và ức chế sự phát triển ung thư của các acid béo Omega-3, nhất là EcosaPentaeonic Acid=EPA, DocosaHexaenoic Acid= DHA và Dầu cá đã được nghiên cứu khá sâu rộng Có khá nhiều nghiên cứu 'in vitro' và trên thú vật đã được thực hiện và công bố Cho đến đầu thập niên

2000, có ít nhất là 57 nghiên cứu 'in vitro' được công bố và trong số này có

47 bản ghi nhận là các Acid béo Omega-3 có tác dụng ức chế sự phát triển, ngăn chặn khả năng xâm nhập hay gây ra sự phân nhiễm của các tế bào ung thư (Oncology Số 52-1995; Cancer Research Số 49-1989) Có 11 nghiên cứu ghi nhận sự tương quan giữa tác dụng chống bội phân của tế bào ung thư bằng sự làm tăng phản ứng per-oxy hóa lipid (Cancer Letter Số 92-1995) Ngoài ra còn có ít nhất là 11 nghiên cứu cho biết acid béo omega-3 có thể giúp làm tăng hiệu quả của Hóa học trị liệu hay dùng chiếu xạ khi trị ung thư (International Journal of Cancer Số 70-1997) Hiệu ứng này có thể do ở giúp tăng peroxyd hóa các lipid và tăng sự hấp thu của thuốc

Trang 2

Trong số 66 thử nghiệm trên thú vật về hiệu quả của Omega-3 thì :

36 nghiên cứu ghi nhận là acid béo Omega-3 có khả năng ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư và chặn di căn = giai đoạn lan tràn của tế bào ung thư (metastasis), khi thử nơi chuột, bọ (Lipids Số 26-1991), tuy nhiên có

5 nghiên cứu cho lại là không có tác dụng hay còn cho thấy là metastasis còn tăng thêm (Cancer Research Số 58-1998)

7 nghiên cứu ghi nhận có sự liên quan trực tiếp giữa hoạt tính chống bội sinh tế bào với sự gia tăng peroxyd hóa lipid (Lipids Số 28-1993)

11 nghiên cứu chú trọng đến khả năng của Omega-3 ngăn cản được Suy mòn (cachexia): 10 trong 11 nghiên cứu cho thấy Omega-3 có hiệu quả tương đối tốt (Cancer Research các số 15-1990, số 51-1991; Lipids Số 24-1994)

6 nghiên cứu ghi nhận acid béo Omega-3 có khả năng ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư bằng các cơ chế tác động loại ức chế sự tạo sinh các mạch máu nuôi tế bào ung thư (angiogenesis), ức chế hoạt động của ras-protein hay ức chế các men giúp tế bào ung thư xâm lấn vào các tế bào lành mạnh khác (Cancer Research Số 57-1997)

Trang 3

5 nghiên cứu chứng minh là acid béo làm tăng sự hiệu nghiệm của các thuốc dùng trong hóa chất trị liệu (Life Science Số 62-1998)

Trong số 11 nghiên cứu thử nghiệm trên người về hoạt tính chống

ung thư của acid béo Omega-3, có 7 nghiên cứu ghi nhận EPA có thể ngăn chặn cachexia gây ra do bướu ung thư, và có 4 nghiên cứu về tác động của Acid béo Omega-3 trên hoạt động miễn nhiễm của người bị bệnh ung thư

Tóm lược: các thử nghiệm trong ống nghiệm ('in vitro'), trên thú vật

và nơi người, cho thấy các acid béo Omega-3 có thể ức chế sự bội sinh của

tế bào, ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư qua cơ chế hoạt động' trung gian điều hành các gốc tự do', (có lẽ đây là hoạt động diệt tế bào khi dùng EPA hay Dầu cá ỡ liều cao) Khi dùng liều trung bình, Acid béo Omega-3 có thể hữu hiệu qua các cơ chế hoạt động khác như ức chế tiến trình sưng-viêm,

ức chế angiogenesis, ức chế hoạt động ras-protein Liều trung bình cũng có tác dụng ức chế Suy mòn do ung thư (Tumor cachexia)

Bàn luận:

- Một số lớn các nghiên cứu trên thú vật ghi nhận các acid béo Omega-3, nhất là EPA, có trong mỡ cá, có hoạt tính chống bướu ung thư (Breast Cancer Research Treatment Số 46-1997) Thí dụ, EPA, hay dầu-mỡ

Trang 4

cá chứa EPA ức chế sự phát triển của tế bào ung thư ruột già, tuyến nhiếp hộ

và lá lách; ức chế sự lan tràn (metastasis) của tế bào ung thư vú nơi chuột

Trong đa số các nghiên cứu này, liều sử dụng đều khá cao, chiếm khoảng 10 đến 20 % thực đơn, hay nếu tính theo liều tương đương dùng cho người sẽ là 120 đến 240 gram/ ngày Với liều thật sự quá cao này thì cơ chế hoạt động ức chế bướu ung thư là do ở sự làm tăng các phản ứng peroxyhóa lipid

- Cả 2 acid béo Omega-3 và Omega-6 đều có hoạt tính diệt bào đối với các tế bào ung thư vú, phổi và tuyến nhiếp hộ, khi thử trong ống nghiệm,

và không tác động trên các tế bào bình thường (Nutrition and Cancer Số 11-1998) Trên thực tế, các acid béo chưa no loại có nhiều nối đôi (polyun saturated) có hoạt tính diệt bào (in vitro) ít nhất là đối với 16 dòng tế bào ung thư nơi ngưới lấy từ các cơ quan khác nhau Các acid béo polyunsatu rated chứa nhiều nối C đôi, và mỗi nối đôi là một mục tiêu gây hư hại do các gốc tự do Vài loại tế bào ung thư có thể có một lượng cao arachidonic acid (4 nối đôi), khiến chúng trở thành dễ bị hư hại do phản ứng peroxihóa lipid hơn là các tế bào bình thường Trong một nghiên cứu, khi điều trị các tế bào ung thư máu bằng DHA : có sự gia tăng con số các nối đôi unsaturated nơi màng tế bào đến 31 %

Trang 5

- Trong cơ thể, có rất nhiều cơ cấu kháng oxyhóa hoạt động liên tục,

do đó liều bình thường EPA có lẽ sẽ không tạo được đủ hiện tượng peroxyhóa lipid để ức chế sự tăng trưởng của bướu ung thư Liều uống EPA hay DHA: 5.8 gram/ ngày (liều tương đương áp dụng cho người) không ảnh hưởng đến sự mẫn cảm của tế bào hồng cầu đối với các phản ứng oxy-hóa, cho dù nồng độ của EPA và DHA trong mô tế bào tăng cao.(Lipids Số 32-1997) Do đó các kết quả thử nghiệm nơi thú vật và trong ống nghiệm, dùng các liều quá cao acid béo Omega-3, không thể áp dụng nơi ngưới (nếu chỉ muốn dùng các phản ứng peroxyhóa lipid để trị ung thư), ngoài ra dù cho các phản ứng xẩy ra hữu hiệu cũng không thể áp dụng phương thức điều trị nảy trong thời gian lâu dài

- Điều may mắn là các liều trung bình (có thể áp dụng được) của EPA/DHA vẫn ức chế được ung thư nhưng qua một số cơ chế khác (không thuộc loại phản ứng oxyhóa), tuy các kết quả đạt được không hấp dẫn như khi dùng liều thật cao! Để đạt được kết quả thực sự, khi dùng EPA/DHA ở liều trung bình, cần phải dùng phối hợp với các chất chống ung thư khác Trong vài nghiên cứu trên thú vật, kết quả ghi nhận EPA ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư và giúp giảm sự lan tràn của tế bào ung thư (metastasis) ở liều từ 1-2 % tổng số lượng thực phẩm cho thú vật ăn (International Journal of Cancer Số 75-1998) Liều này khi chuyển sang để

Trang 6

áp dụng cho người là khoảng 12-14 gram /ngày EPA DHA cũng có thể hiệu nghiệm khi sử dụng ở liều trung bình, như lượng 2% trong thực phẩm có thể

ức chế metastasis của tế báo ung thứ vú của người (khi thử trên chuột) và ức chế được angiogenesis (International Journal of Oncology Số 15-1999); trong một nghiên cứu khác lượng 4% DHA trong thực phẩm ức chế được sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú nơi người, (ghép vào chuột) Liều tương ứng của 2-4% tổng số lượng thực phẫm khi cho chuột ăn là 24-48 gram/ ngày DHA

EPA và Eicosanoids:

Một số nhà nghiên cứu đã ghi nhận là Acid béo Omega-3 có thể ngăn cản sự tạo thành các prostanoids nhóm 2 và các leukotrienes nhóm 4 nơi các

tế bào bình thường và các tế bào ung thư Các chất eicosanoids này có thể hổ trợ phản ứng angiogenesis và tiến trình phát triển ung thư Ngay cả liều thấp của acid Omega-3 cũng có ảnh hưởng trên sự quân bằng của các acid béo và

sự sản xuất PGE2 Ví dụ : liều 3 gram dầu cá (chứa 540 mg EPA và 360 mg DHA) sẽ làm tăng tỷ lệ giữa omega-3/omega- 6 trong mô tế bào vú và trong huyết tương người bị ung thư vú; liều 11 gram (chứa 2.1 g EPA và 1.9 g DHA) gây ra sự giảm sản xuất PGE2 trong tế bào ruột của người bình thường (Gastroenterology Số 105-1993)

Trang 7

Khả năng ức chế sự tạo eicosanoids của acid béo Omega-3 tùy thuộc vào tỷ lệ của omega-3/omega- 6 trong thành phần thực phẩm Tỷ lệ lý tưởng nhất để ức chế tạo eicosanoid, giúp trợ lực sức khoẻ, và trị bệnh là 1:1 đến 1:2 (Prevention Medicine Số 16-1987) Tỷ lệ omega-3/omega- 6 hiện nay trong chế độ ăn uống tại Âu Mỹ thấp hơn rất nhiều, chỉ khoảng 1:20 đến 1:30 (American Journal of Clinical Nutrition Số 70-1999)

Gia tăng độ chảy của huyết tương trong màng tế bào (Plasma membrane Fluidity)

Acids béo loại polyunsaturated có thể làm tăng độ chảy của huyết tương màng tế bào của các tế bào bướu ung thư Độ nhớt của màng tế bào được xem là một thông số để đo khả năng di chuyển của phân tử lipid (và cả các protein mà lipid bao bọc) Do đó độ nhớt này sẽ ảnh hưởng đến sự di động của các proteins nơi màng tế bào như các thụ thể (receptors), men (phân hóa tố=enzyme), sinh kháng thể và các phân tử kết dính tế bào (Cell Adhesion Molecules = CAMs

Sự gia tăng, một cách vừa phải, của độ chảy đã được chứng minh là

có liên hệ đến sự di chuyển tự do hơn của các phân tử sinh học, các phân tử thuốc được vận chuyển dễ dàng hơn qua thành vách tế bào, gia tăng sự biến dưỡng trong tế bào, khả năng phân cắt tế bào cũng gia tăng, đồng thời tế bào

Trang 8

trong khi di chuyển cũng tăng thêm khả năng chuyển dạng để 'len lỏi'giữa các tế bào khác Hậu quả do việc gia tăng độ chảy tương đối phức tạp, tuy nhiên, không nhất thiết là tất cả các hiện tượng vừa kể phải cùng xẩy ra một lúc Huyết tương màng tế bào của tế bào ung thư có khuynh hướng dể chảy hơn so với của tế bào bình thường, có lẽ do ở chúng chứa nhiều arachidonic acid hơn Hơn nữa, huyết tương màng tế bào của các tế bào ung thư loại lan tràn mạnh thường có độ chảy cao hơn là các tề bào ung thư loại lan chậm (Invasion and Metastasis Số 11-1991)

Việc gia tăng độ chảy có thể ảnh hưởng phần nào trên các tế bào ung thư, và acid béo omega-3 có thể làm tăng độ chảy nơi màng tế bào, hiệu ứng này không ảnh hưởng trên tiến trình phát triển của bướu ung thư, nhưng lại giúp làm tăng sự chuyển vận của thuốc qua vách tế bào: EPA giúp tăng sự hấp thu của mitomycin (một dược phẩm dùng trong hóa chất trị liệu) nơi các

tế bào ung thư ruột già, nhưng không ảnh hưởng trên các tế bào bình thường (International Journal of Cancer Số 70-1997) Tác dụng tương tự cũng xẩy ra nơi một số dòng tế bào ung thư khác Hơn nữa, các acid béo omega-3 không giúp tăng khả năng đổi dạng của tế bào ung thư để len lỏi qua các chướng ngại: Trong một nghiên cứu về tế bào ung thư máu (leukemia), nồng độ DHA càng cao thì tế bào leukemia càng khó đổi dạng (Cancer Letters Số 119-1997) Mặt khác, các acid béo omega-3 còn có khả năng thay đổi cấu

Trang 9

trúc của sinh-kháng thể của tế bào ung thư khiến chúng dễ thành mục tiêu cho các phản ứng miễn nhiễm: tế bào leukemia nơi chuột được cho ăn liều cao dầu cá (58-120 gram/ ngày) trở thành dễ bị hủy diệt hơn do hoạt động của các Diệt bào loại T (T-cell)

Từ các nghiên cứu trên, có thể kết luận là EPA và DHA giúp tăng độ chảy nơi màng tế bào nhưngtrong phương thức ngăn chặn hơn là làm tăng sự phát triển của ung thư Tác dụng trợ giúp sự chuyển vận thuốc của chúng khiến chúng có thể sẽ hữu dụng khi dùng trợ lực cho các chương trình hoá chất trị liệu (chemotherapy)

Tác dụng làm giảm Suy mòn (Cachexia):

Nguyên do gây ra Suy mòn:

Tình trạng Suy mòn xẩy ra nơi người bệnh ung thư là một hội chứng biến dưỡng phức tạp với những đặc điểm như kém,suy dinh dưỡng và hao mòn mô tế bào của thân thể (xuống cân từ 10 đến 15 %) Không phải tất cả mọi loại ung thư đều liên hệ đến Suy mòn: hiện tượng suy mòn ít xẩy ra nơi người bị ung thư vú và ung thư loại sarcoma, tuy nhiên Suy mòn vẫn góp trách nhiệm trong từ 4 đến 23 % tổng số các trường hợp tử vong do ung thư

Trang 10

(theo Medical Oncology của P Calabresi & P Schein) Có khá nhiều nghiên cứu nơi người và thú vật cho thấy EPA có thể giúp làm giảm Suy mòn

Những người bệnh ung thư đường tiêu hóa thường bị suy mòn, vì hội chứng suy mòn gây ra những trục trặc trong chức năng tiêu hóa Tuy nhiên tình trạng Suy mòn toàn diện vẫn có thể xẩy trong các trường hợp ung thư khác, nhất là ung thư phổi Những bệnh nhân ung thư không bị suy mòn thường có thể tương đối sống dài hơn

Các rối loạn về biến dưỡng carbohydrates, proteins và chất béo là nguyên do đưa đến Suy mòn Người bệnh Suy mòn không thể tăng cân dù ăn uống và dinh dưỡng đầy đủ

Các thay đổi về biến dưỡng glucose chiếm phần quan trọng nhất trong tiến trình Suy mòn Bướu ung thư có thể tạo ra những yếu tố gây ra sự giảm mẫn cảm với insulin nơi các tế bào bình thường, đưa đến tình trạng đối kháng insulin, cao đường trong máu và sự bài tiết thêm insulin Insulin có thể hoạt động như một yếu tố tăng trưởng cho tế bào ung thư: nhu cầu glucose của các tế bào ung thư tăng cao vì chúng biến dưỡng glucose một cách thiếu hữu hiệu Nhu cầu cao về glucose được đáp ứng một phần bằng

sự biến đổi chất béo và bắp thịt sang thành glucose và bằng tiến trình 'gluconeogenesis' (đây là tiến trình mà các chất thải trong sự biến dưỡng kỵ

Trang 11

khí (anaerobic) như lactic acid, được đưa trở lại về gan rồi được chuyển biến lại thành glucose) Tiến trình gluconeogenesis, tự nó, đã là một hoạt động đòi hỏi nhiều năng lượng, làm hao hụt năng lượng tích trữ và gây thêm sư hao hụt mô tế bào

Sự thay đổi về biến dưỡng thứ nhì, đưa đến tình trạng hao hụt mô tế bào là 'biến đổi' trong vấn đề biến dưỡng chất béo Cơ chế thực sự để gây ra

sự thay đổi này chưa được biết rõ Cho đến nay, giả thuyết được đưa ra là nơi tế bào ung thư có sự gia tăng sản xuất cytokines như TNF (Tumor Necrosis Factor) và Interleukin- 6= IL-6 (chất này cũng gây ra mất cảm giác thèm ăn) Chính do ở hoạt tính gây ra Suy mòn nên TNF, trước đây, được gọi tên là Cachectin TNF, do các Đại thực bào tiết ra, có thể diệt được tế bào ung thư và giúp tạo tiến trình angiogenesis, TNF còn có thêm tác dụng khác là tạo sự chuyển động năng lượng dự trữ của chất béo và protein, có thể

để cho các tế bào của hệ miễn nhiễm sử dụng được các năng lượng này Trong các trường hợp nhiễm bệnh ngắn hạn như nhiễm trùng, sự biến dưỡng quá mức Chất béo không đưa đến một tình trạng mất mô tế bào đáng ngại, nhưng trong trường hợp bệnh kinh niên như ung thư, sự tăng biến dưỡng chất béo sẽ đưa đến sự mất mỡ và bắp thịt

Trang 12

Nơi các bệnh nhân ung thư, tình trạng đối kháng insulin, cũng như Suy mòn được xem là có liên quan đến các gia tăng sản xuất TNF và IL-6 (British Journal of Surgery Số 85-1998) Ngoài ra, một giả thuyết mới lại cho rằng, cả 2 chất trên đều chưa phải là các thủ phạm gây ra Suy mòn: một yếu tố mới: PIF = Proteolysis- inducing Factor có lẽ mới là tác nhân chính (Nutrition Số 12-1996): và PIF gây ra suy mòn là do làm tăng sản xuất leukotriene 15-HETE (Cancer Research Số 59-1999)

Sự ức chế Suy mòn do EPA:

EPA có hoạt tính khá hữu hiệu tạo ra sự nghịch đảo Suy mòn gây ra

do Ung thư ruột già (thử trên chuột) (British Journal of Cancer Số 68-1993) Các acid béo Omega-3 và Omega-6 khác không có hoạt tính này Liều tạo ra hiệu ứng tối ưu chống Suy mòn được ghi nhận là từ 1.2 đến 5 g/kg (Cancer Research Số 51-1991) Liều thấp nhất, tính ra để áp dụng tươong đương, nơi người là 12 gram/ ngày Nơi chuột được cho dùng EPA, khả năng sinh tồn kéo dài gấp đôi so với chuột đối chứng, và không thấy có sự Suy mòn EPA, cho uống (liều 4.8 gram/ ngày, tính ra cho người) cũng ngăn chặn Suy mòn gây ra bởi PIF (khi thử trên chuột) Tuy có thể có một số cơ chế khác nhau liên quan đến hoạt tính chống Suy mòn của EPA, nhưng cơ chế chính có lẽ

Ngày đăng: 01/08/2014, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN