1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Định giá kinh tế đất ngập nước pps

90 705 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định giá kinh tế đất ngập nước PPS
Tác giả Edward B Barbier, Mike Acreman, Duncan Knowler
Người hướng dẫn Tiến sĩ Barbier là phụ giảng và Mr. Knowler là phó giáo sư tại bộ môn Kinh tế môi trường và Quản lý môi trường, Đại học Tổng hợp York, Vương quốc Anh, Tiến sĩ Acreman là cố vấn quản lý nước ngọt của IUCN - Hội bảo tồn thế giới và phụ trách bộ môn Dòng chảy chậm, Sinh thái học và Đất ngập nước thuộc Viện Thủy văn, Wallingford, Vương quốc Anh
Trường học Đại học Tổng hợp York
Chuyên ngành Kinh tế môi trường
Thể loại Tài liệu hướng dẫn dành cho các nhà hoạch định chính sách
Năm xuất bản 1997
Thành phố Gland, Thụy Sĩ
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy, vẫn còn nhu cầu lớn về việc tuyên truyền những íchlợi của vùng đất ngập nước nhằm khuyến khích sự bảo tồn và sử dụng bền vững,thông qua các tổ chức như IUCN - Hiệp hội Bảo tồn T

Trang 1

Định giá kinh tế đất ngập nước

Tài liệu hướng dẫn dành cho các nhà hoạch định chính sách

Edward B Barbier, Mike Acreman and Duncan Knowler

Văn phòng Công ước Ramsar Gland, Switzerland

Trang 2

1.5 Vai trò của Ramsar trong bảo tồn đất ngập nước

2 Tại sao cần định giá?

2.1 Vai trò của định giá kinh tế trong việc ra quyết định

2.2 Giá trị kinh tế của đất ngập nước

2.3 Tại sao tài nguyên và hệ thống đất ngập nước bị đánh giá thấp trong các

quyết định phát triển2.4 Tại sao việc định giá lại liên quan đến Ramsar

3 Khuôn khổ thẩm định cho định giá kinh tế đất ngập nước

3.1 Giai đoạn một: xác định vấn đề và phương pháp định giá

3.2 Giai đoạn hai: xác định phạm vi và những hạn chế của định giá và nhu cầu

thông tin3.3 Giai đoạn ba: xác định các phương pháp thu thập số liệu và các kỹ thuật

định giá cần cho định giá kinh tế

4 Thực hành định giá

4.1 Đồng cỏ ngập nước Hadejia-Nguru ở Bắc Nigeria

4.2 Đánh giá đất ngập nước thảo nguyên Bắc Mỹ: ứng dụng của mô hình sinh

học kinh tế4.3 Định giá dự phòng và đất ngập nước ở Vương quốc Anh

4.4 Định giá giảm nitơ cho đất ngập nước Thụy Điển

4.5 Định giá đất ngập nước ven biển đông nam hợp chủng quốc Hoa Kỳ4.6 Định giá và bảo tồn rừng ngập mặn ở Indonesia

4.7 Kết luận rút ra từ các nghiên cứu trường hợp

5 Ghi chú hướng dẫn: những vấn đề thực tế của việc lập kế hoạch và tiến hành

một nghiên cứu định giá

5.1 Hướng dẫn từng bước để thực hiện một nghiên cứu định giá

5.2 Các nguồn lực cần thiết cho một nghiên cứu định giá

5.3 Nhóm nghiên cứu định giá và mẫu thuật ngữ bảng tham chiếu

5.4 Các yếu tố phi kinh tế

5.5 Bảo tồn các loài quý hiếm

6.1 Các nghiên cứu định giá kinh tế

6.2 Cộng tác liên ngành

6.3 Đào tạo và xây dựng năng lực thiết chế của cơ sở nghiên cứu

6.4 Công tác nghiên cứu

6.5 Hoạt động trên mạng

Trang 3

7 Bảng thuật ngữ

8 Nguồn tài liệu và đọc thêm

Các phụ lục

1 Các hợp phần, chức năng và thuộc tính của đất ngập nước và việc sử dụng

chúng bởi con người

2 So sánh các phương pháp thẩm định kinh tế

3 Ưu, nhược điểm của các kỹ thuật định giá sử dụng trong thẩm định kinh tế

đất ngập nước

Trang 4

Tiến sĩ Michele Beetham thuộc bộ môn Kinh tế môi trường và Quản lý môitrường, Đại học Tổng hợp York, khi đang làm việc với IUCN đã đề xuất xây dựng cơ sở

dữ liệu về các nghiên cứu định giá đất ngập nước và những ý tưởng ban đầu của mục lục

Những ý kiến góp ý cho bản thảo đã được gửi đến từ nhiều chuyên gia, đặc biệt làGiáo sư Kerry Turner (Trung tâm nghiên cứu kinh tế và xã hội trên môi trường toàn cầu,Vương quốc Anh), Torsten Larsson (Cục bảo vệ môi trường Thụy Điển), Tiến sĩ Robert

K Davis (Đại học bang Ohio, USA), Tiến sĩ Vilma Carande (Đại học Tổng hợp bangColorado, USA), Francis Grey (Cục bảo tồn thiên nhiên Australia), Tiến sĩ MariaZaccagnini (Viện Công nghệ Nông nghiệp quốc gia Argentina), nhiều nhân viên củaIUCN (đặc biệt là Frank Vorhies), Văn phòng Công ước Ramsar, Bộ môi trường Vươngquốc Anh, bộ môn Kinh tế môi trường và Quản lý môi trường thuộc Đại học Tổng hợpYork, và Viện Thủy văn, Vương quốc Anh

Giáo sư Kerry Turner và Gayatri Acharya (bộ môn Kinh tế môi trường và Quản lýmôi trường thuộc Đại học Tổng hợp York, Vương quốc Anh) đã cung cấp thông tin mới

về chi phí để tiến hành các nghiên cứu định giá

Văn phòng Công ước Ramsar xuất bản cuốn sách này dưới sự điều phối củaMireille Katz; Dwight Peck và Valerie Higgins hiệu đính và trình bày

Trang 5

Mở đầu

AÁn phẩm này chứa đựng nhiều thông tin hữu ích về nhiều kỹ thuật định giá kinh

tế có sẵn được dùng để định giá các vùng đất ngập nước Sách hướng dẫn đã nêu lên tầmquan trọng của việc cân đối giữa những lợi ích có được nhờ phát triển với những thiệt hại

mà quá trình phát triển có thể gây ra cho đất ngập nước

Sách hướng dẫn này là kết quả của sự hợp tác to lớn giữa các nhà khoa học và cácnhà kinh tế, và tôi hy vọng rằng nó sẽ được nghiên cứu kỹ vì ý nghĩa chính của nó là ởchỗ nó nên được thực hành

Rt Hon, Bộ trưởng Môi trường và Nông thôn

Vương quốc Anh

1996

Trang 6

Lời tựa

Ngày nay, hầu hết các quyết định về kế hoạch và phát triển đều được hình thànhtrên cơ sở kinh tế và càng ngày càng dựa trên cơ sở của những động lực đang chi phốitrong hệ thống thị trường tự do Trong khi khuôn mẫu mới này có những hạn chế và nguy

cơ riêng của nó thì vẫn là không thực tế nếu chúng ta bỏ qua các khuôn mẫu này và đặtcông cuộc bảo tồn và sử dụng đất ngập nước (ĐNN) một cách khôn ngoan dựa trên mộttập hợp các giá trị hoàn toàn khác Vì thế, hàng hóa và dịch vụ của đất ngập nước phảiđược cho một giá trị định lượng nếu muốn thiên về bảo tồn chúng hơn là các phương án

sử dụng chỉ riêng đất hoặc nước vốn đang nuôi vùng đất ngập nước

Đối với nhiều sản phẩm như cá hoặc gỗ thì có thị trường thế giới cho phép dễdàng định giá giá trị của đất ngập nước Giá trị của các chức năng đất ngập nước, như cảithiện chất lượng nước, có thể tính được từ chi phí xây dựng trạm xử lý nước để thực hiệncác công việc như vậy Nhưng định giá đa dạng sinh học hoặc vẻ đẹp thẩm mỹ của đấtngập nước là khó hơn, vì nhiều thị trường của những “sản phẩm” như vậy khó nắm bắthơn và định giá kinh tế bằng những phương pháp truyền thống là khó hơn nhiều Trở lựcchính yếu khác là các nước đang phát triển đang gặp nhiều khó khăn đáng kể trong việcgìn giữ những nguồn lợi có tính toàn cầu của bảo tồn đất ngập nước, thí dụ đa dạng sinhhọc (Pearce & Moran, 1994) Do đó cần phát triển và bổ sung những phương tiện duy trìmới

Tại hội nghị ở Brisbane, Australia tháng 3/1996, các bên tham gia Công ước vềđất ngập nước đã thông qua một kế hoạch chiến lược thừa nhận tầm quan trọng và sựkhẩn cấp tiến hành các phần việc trong định giá kinh tế đất ngập nước Chiểu theo mụctiêu hoạt động 2.4 của kế hoạch chiến lược, Công ước Ramsar sẽ xúc tiến việc định giákinh tế những nguồn lợi và chức năng của đất ngập nước thông qua truyền bá các phươngpháp định giá Cuốn sách này được ban hành để cung cấp hướng dẫn cho các nhà hoạchđịnh chính sách về tiềm năng của định giá kinh tế đất ngập nước là gì và các nghiên cứuđịnh giá có thể được tiến hành ra sao Vì các nhà hoạch định chính sách không có nhiệm

vụ phải tự mình tiến hành định giá kinh tế nên hướng dẫn về cách lập kế hoạch nghiêncứu và đề cương các tham chiếu để thuê các tư vấn kỹ thuật cũng được cung cấp

Trong lịch sử nhân loại, thuật ngữ đất ngập nước gợi cho nhiều người một vùng

đầm lầy đầy dẫy các sinh vật nhầy nhụa, là nơi chứa những bệnh như sốt rét và

schistosomiasis Chính quan niệm này về đất ngập nước như là vùng bỏ đi đã dẫn đến

việc tiêu nước tích cực và biến đổi đất ngập nước để phục vụ nông nghiệp, nuôi cá, thànhđất công nghiệp hoặc đất ở hoặc cải thiện sức khỏe cộng đồng Tuy vậy, trong những nămgần đây, ngày càng tăng nhận thức rằng đất ngập nước tự nhiên cung cấp miễn phí rấtnhiều chức năng quan trọng (như xả lũ, hồi phục nước ngầm, hạn chế các tác nhân gây ônhiễm), sản phẩm (như cá, củi đốt, gỗ, trầm tích giàu dinh dưỡng dùng cho nông nghiệpvùng đồng cỏ ngập nước, danh thắng du lịch) và thuộc tính (đa dạng sinh học, vẻ đẹpthẩm mỹ, di sản văn hóa và khảo cổ)

Xu thế bảo tồn đất ngập nước được trình diễn do nhiều nước đã chấp nhận và thựchiện chính sách là sẽ không làm tổn thất đất ngập nước thêm nữa, rằng đất ngập nướcphải được sử dụng một cách bền vững và phải tiến hành các nghiên cứu định lượng cácgiá trị của đất ngập nước Các cơ chế và tổ chức quốc tế, như Công ước Ramsar về Đấtngập nước, Công ước về Đa dạng sinh học, ủy ban LHQ về Phát triển bền vững, OECD,IUCN- Liên đoàn bảo tồn thế giới, Đất ngập nước quốc tế và Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế

Trang 7

giới WWF đang xúc tiến nghiên cứu, phân tích và truyền bá thông tin về giá trị kinh tếcủa các hệ tự nhiên trong đó có đất ngập nước Các tổ chức nói trên khuyên những người

có trách nhiệm ra các quyết định phải đánh giá đầy đủ mọi lợi ích xã hội của các hệ sinhthái tự nhiên cũng như của các đề cương phát triển đang được cân nhẵc và họ phải sửdụng triệt để những kỹ thuật hiện có để biểu thị một cách chính xác những nguồn lợi tàinguyên bằng ngôn ngữ kinh tế

Rất cần thiết phải nhấn mạnh rằng định giá kinh tế không phải là thần dược chomọi quyết định, rằng nó chỉ biểu thị một yếu tố đầu vào của quá trình ra quyết định, cùngvới những cân nhắc quan trọng về chính trị, xã hội, văn hóa và những nhân tố khác Mụcđích của tài liệu này nhằm trợ giúp cho các nhà hoạch định chính sách tăng cường đầuvào từ việc định giá kinh tế nhằm xác định được con đường tốt nhất tiến tới một tương laibền vững

Delmar Blasco

Tổng thư ký

Văn phòng Công ước Ramsar

Trang 8

Tóm tắt nội dung

Mục đích của cuốn sách này là cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách mộthướng dẫn về tiềm lực của định giá kinh tế đất ngập nước và cách thức tiến hành côngviệc này Mặc dù đã có một số nghiên cứu định giá kinh tế đất ngập nước đã được tiếnhành trên thế giới và các nhà kinh tế đã phát triển các phương pháp luận để định giánhững khía cạnh vô hình hơn của môi trường như là những nhân tố giải trí hoặc thẩm mỹ,nhưng không có ai đã tổng hợp được từ các tài liệu một phương pháp chung để chỉ ra tínhhữu hiệu tổng hợp của chúng đối với quản lý đất ngập nước toàn cầu Vì vậy, cuốn sáchnày cung cấp chi tiết của nhiều kỹ thuật khác nhau và các thí dụ về những nghiên cứuđịnh giá đất ngập nước cùng với hướng dẫn về cách quy hoạch và quản lý một nghiên cứu

và đưa các kết quả vào trong một khuôn mẫu ra quyết định rộng lớn hơn

Các vùng đất ngập nước là một trong những hệ sinh thái năng suất nhất trên tráiđất Chúng vừa được mô tả như “các quả thận của phong cảnh” vì chức năng mà chúngđảm nhiệm trong các chu trình thủy văn và hóa học, vừa được coi là “siêu thị sinh học” vìnguồn thực phẩm phong phú và đa dạng sinh học giàu có mà chúng cung cấp Trong

chương 1 đã phân nhóm các đặc điểm của hệ đất ngập nước theo hợp phần (đất, nước, thực vật và động vật), chức năng (chu trình dinh dưỡng và hồi phục nước ngầm) và thuộc

tính (đa dạng sinh học) Trước đây nhiều vùng đất ngập nước đã bị coi là đất bỏ đi nên đã

bị tháo nước và phá hoại theo nhiều cách khác nhau Công ước Ramsar về đất ngập nước

có tầm quan trọng quốc tế đã ra đời nhằm xúc tiến việc bảo tồn đất ngập nước và sử dụng

và quản lý chúng một cách sáng suốt

Chương 2 giải thích vai trò của định giá trong việc ra quyết định Rất nhiều quyếtđịnh phát triển đã được hình thành trên cơ sở kinh tế Bằng việc cung cấp một phươngtiện để đo và so sánh những lợi ích khác nhau của đất ngập nước mà định giá kinh tế cóthể là một công cụ rất mạnh mẽ nhằm trợ giúp và tăng cường sử dụng và quản lý mộtcách sáng suốt tài nguyên đất ngập nước toàn cầu Trước đây đất ngập nước bị đánh giáthấp vì rất nhiều dịch vụ sinh thái, tài nguyên sinh học và giá trị giải trí mà chúng cungcấp không được mua và bán nên khó định giá Ramsar đưa ra những phương pháp địnhgiá kinh tế mới để chứng minh rằng đất ngập nước là rất giá trị và chúng phải được bảotồn và sử dụng một cách sáng suốt

Trong chương 3 có phát triển một khuôn mẫu cho việc thẩm định những lợi íchkinh tế thực của các phương án sử dụng đất ngập nước khác nhau Giai đoạn một baogồm xác định những mục tiêu hoặc khó khăn bao quát và chọn phương pháp định giákinh tế chính xác từ ba cụm tiêu chuẩn lớn, tức là phân tích tác động, định giá bộ phận vàđịnh giá toàn phần Giai đoạn hai yêu cầu xác định phạm vi và những giới hạn của phântích và thông tin cần thiết cho phương pháp định giá đã lựa chọn Giai đoạn ba đòi hỏixác định các kỹ thuật định giá và phương pháp thu thập số liệu cần thiết cho thẩm địnhkinh tế gồm cả mọi phân tích tác động phân tán

Nhằm hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách về cách thức tiến hành một địnhgiá đất ngập nước, sáu thí dụ được trình bày trong chương 4 Đó là: đồng cỏ ngập nướcHadejia-Nguru ở phía Bắc Nigeria; thảo nguyên ngập nước Bắc châu Mỹ; vùng NorforkBroads và vùng ngập thủy triều Scotish Flow Country ở Vương quốc Liên hiệp Anh;giảm lượng nitơ ở đất ngập nước Thụy Điển; đất ngập nước bờ biển ở đông nam Hoa Kỳ

và bảo tồn rừng ngập mặn ở Indonesia Những nghiên cứu trường hợp này cung cấpnhững thí dụ thực tiễn về việc sử dụng các phương pháp khác nhau trong thực địa, trongnhững loại đất ngập nước khác nhau, sử dụng nhiều phương pháp định giá khác nhau trên

Trang 9

thực địa, với những loại đất ngập nước khác nhau, sử dụng nhiều phương pháp định giá

và bao gồm các miền địa lý đa dạng Tuy không thể nói rằng tính bao quát của các thí dụ

đã là hoàn toàn nhưng việc xem xét các nghiên cứu đó cũng làm nổi lên một số nhận xét.Trước hết, việc phối hợp các phương pháp tiếp cận sinh thái và kinh tế có tầm quan trọngquyết định, đặc biệt khi mục tiêu là định giá các chức năng sinh thái Việc này không đòihỏi nhiều kỹ thuật toán học phức tạp bằng đòi hỏi mở rộng hợp tác không ngừng giữa cácnhà kinh tế và sinh thái Những nghiên cứu này còn chứng minh rằng không nên coi địnhgiá là kết quả cuối cùng mà nó cần được hướng đến một số vấn đề chính sách Những vấn

đề này có thể từ việc đơn giản là nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đất ngậpnước đến những lựa chọn trong hàng loạt phương án để đáp ứng mục đích nào đó đã nêu

ra, với việc bảo vệ đất ngập nước tiêu biểu cho một phương án

Chương 5 hướng dẫn về lập kế hoạch và tiến hành một nghiên cứu Những việcnày gồm một hướng dẫn bảy bước để tiến hành một nghiên cứu Những bước đó là: lựachọn một phương pháp định giá thích hợp; xác định khu vực đất ngập nước; định hình vàxác định ưu thế của các thành phần, chức năng và thuộc tính; lập mối tương quan giữa cáchợp phần, chức năng và thuộc tính với giá trị sử dụng; xác định và lấy thông tin cần thiếtcho việc định giá; định lượng các giá trị kinh tế; và tập hợp các giá trị kinh tế vào trongbiểu mẫu thích hợp (ví dụ phân tích chi phí-lợi nhuận) Ngoài ra còn có chỉ dẫn các nguồnlực cần thiết và cách soạn thảo tham chiếu về nhiệm vụ của các tư vấn kỹ thuật qua mộtthí dụ giả định về một vùng đồng cỏ ngập nước Châu Phi Thêm vào đó, chương này nhấnmạnh sự cần thiết phải cân nhắc các nhân tố khác ((chính trị, xã hội, lịch sử và sinh thái)đồng thời với các kết quả định giá kinh tế trong khi ra một quyết định Cuối cùng là mộtphương pháp luận khác cho việc ra quyết định trong trường hợp các loài quý hiếm đang

bị đe dọa

Trong chương 6 có đưa ra các khuyến nghị cho những hành động trong tương lai.Những khuyến nghị ấy nhấn mạnh sự cần thiết phải: tiến hành những nghiên cứu định giákinh tế tại các địa điểm đặc thù; bảo đảm sự cộng tác liên ngành; đào tạo và xây dựngnăng lực thiết chế của cơ sở; tiến hành nghiên cứu lý thuyết và thực hành định giá kinh tế;

và thiết lập mạng lưới để trao đổi ý tưởng và kinh nghiệm áp dụng các phương pháp địnhgiá

Sau phần nội dung chính có danh mục thuật ngữ, liệt kê tài liệu tham khảo và đọcthêm Phần phụ lục có nêu các chi tiết về hợp phần, chức năng và sản phẩm của các hệ đấtngập nước khác nhau; một bảng so sánh các phương pháp thẩm định kinh tế; và bảng nêunhững ưu thế và hạn chế của các kỹ thuật định giá khác nhau được sử dụng trong thẩmđịnh kinh tế đất ngập nước

Trang 10

Định giá kinh tế đất ngập nước

1.1 Định nghĩa đất ngập nước

Rõ ràng là khi bạn phải lội chân ngập bùn đến đầu gối ở một đầm nước đọng

ở Zambia, đó đích thực là đất ngập nước Nhưng việc cố gắng tập hợp các kinhnghiệm để cung cấp một định nghĩa chính xác về đất ngập nước là cả một sự tranh cãi

và khó khăn do có quá nhiều các dạng đất ngập nước và việc xác định ranh giới củachúng Ví dụ, vùng đất đó có thường xuyên và bị ngập nước kéo dài trong bao lâutrước khi nó được coi là một vùng đất ngập nước ? Vấn đề bị phức tạp bởi sự thật lànhiều vùng đất ngập nước phát triển theo thời gian, ban đầu là nước, nhưng bị trầmtích và thực vật bồi lắng và sau đó trở thành đất nền Tuy nhiên, đất ngập nướcthường chiếm những vùng chuyển tiếp giữa đất ướt vĩnh cửu và môi trường khô - đạithể nó chia sẻ các tính chất của cả hai môi trường và không thể phân loại rõ ràng nhưnước hoặc đất liền Vấn đề mấu chốt của đất ngập nước là có nước trong một giaiđoạn thời gian đáng kể, mà thời gian này có thể làm thay đổi đất, vi sinh vật, quần hệthực vật và động vật, nói một cách khác là đất có các chức năng của môi trường sốnghoặc nước hoặc cạn

May mắn sao, đã có một số sự giúp đỡ Khoảng 100 nước đã thông qua mộtđịnh nghĩa bằng cách ký Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước có tầm quantrọng quốc tế (xem phần 1.5) Công ước đã thông qua và bảo hộ một cách tiếp cận vôcùng khái quát trong việc xác định ‘đất ngập nước’ Trong nguyên văn của Công ước(Điều khoản 1.1), đất ngập nước được định nghĩa là:

“vùng đầm lầy, bãi lầy, đất than bùn hoặc

nước, dù tự nhiên hay nhân tạo, vĩnh cửu hoặc tạm thời, có nước chảy hoặc không chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, kể cả vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét ở mức thủy triều thấp”

Ngoài ra, Công ước (Điều khoản 2.1) còn quy định rằng các vùng đất ngập nước:

“ có thể gắn kết các vùng ven biển hoặc ven sông kề sát vùng đất ngập nước, và các đảo hoặc các vùng nằm trong vùng đất ngập nước có độ sâu không quá 6 mét ở mức thủy triều thấp“

Kết quả của các điều khoản này là Công ước mở rộng định nghĩa cho nhiềuloại vùng cư trú khác nhau, bao gồm cả sông, vùng nước nông ven bờ và thậm chí cácrạn san hô nhưng không phải là vùng biển sâu

Trang 11

1.2 Các dạng đất ngập nước

Trong nỗ lực nhằm phân loại các vùng đất ngập nước theo định nghĩa Ramsar,Scott (1989) đã xác định 30 nhóm đất ngập nước tự nhiên và 9 nhóm nhân tạo Tuynhiên, để minh hoạ có thể xác định năm hệ đất ngập nước khái qúat sau :

• vùng cửa sông - nơi sông gặp biển và có độ mặn nằm giữa nước mặn

và nước ngọt (chẳng hạn, vùng châu thổ, bãi lầy nước thải, vùng đầm lầy nước mặn)

• vùng biển - không bị ảnh hưởng bởi dòng chảy của sông (ví dụ, vùngngập ven biển và các rạn san hô)

• ven sông - vùng đất bị ngập nước theo chu kỳ do mực nước sông caohơn (bãi cỏ nước, rừng ngập nước, vùng trâu đầm)

• Palustri – môi trường lầy có cỏ mọc, ở đó không ít thì nhiều thườngxuyên có nước (hồ cói, đầm lầy)

• vùng hồ - khu vực có nước thường xuyên với dòng chảy nhỏ (ao, hồ,

hồ trên miệng núi lửa)

1.3 Tầm quan trọng của đất ngập nước

Tầm quan trọng của đất ngập nước thay đổi theo thời gian Quay trở lại vớimôi trường đầm lầy của Kỷ Cacbon, khoảng 350 triệu năm trước đây, đất ngập nước

đã tạo ra và bảo tồn nhiều loại nhiên liệu hoá thạch (than và dầu) mà ngày nay chúng

ta bị phụ thuộc vào Gần đây hơn, các vùng đất ngập nước nằm dọc theo các sông lớncủa thế giới như Tigir, Euphates, Niger, Nile, Indus và Mêkông, nuôi dưỡng các nềnvăn minh lớn của lịch sử Những vùng đất ngập nước này đã cung cấp cá, nước uống,đất chăn thả và giao thông và là một phần của lịch sử văn hoá thời sơ sử của loàingười và trở thành một yếu tố trung tâm của thần thoại, nghệ thuật và tôn giáo

Vì kiến thức khoa học về đất ngập nước ngày càng tăng, nhiều loại hàng hoá

và dịch vụ tinh vi đã xuất hiện Đất ngập nước cũng được mô tả cả như là “ những quả thận của phong cảnh”, vì các chức năng mà nó có thể thực hiện trong các chu kỳ hoá học và thủy văn và như là “các siêu thị sinh học” vì có các mạng thực phẩm rộng lớn

và tính đa dạng sinh học giầu có mà các vùng ngập nước hỗ trợ (Mitsch và Gosselink,1993)

Đất ngập nước nằm giữa các hệ sinh thái mầu mỡ của trái đất Các nét đặc

trưng của hệ có thể được chia theo thành phần, chức năng và thuộc tính Thành phần

của hệ là các đặc trưng sinh học và phi sinh học bao gồm đất, nước, thực vật và động

vật Mối tương tác giữa các thành phần này chính là sự mô tả các chức năng của

chúng bao gồm chu kỳ dinh dưỡng và trao đổi nước giữa nước mặt và nước ngầm và

giữa nước mặt và nước trong khí quyển Hệ cũng còn có các thuộc tính như tính đa

dạng của các loài

Các hệ đất ngập nước đã trực tiếp cấp dưỡng hàng triệu người và cung cấpgiá trị hàng hoá và dịch vụ cho thế giới bên ngoài vùng đất ngập nước Con người sửdụng đất ở vùng đất ngập nước để cày cấy, họ bắt cá ở vùng đất ngập nước để ăn, họcắt cây của vùng đất ngập nước lấy gỗ và dùng làm nhiên liệu và cắt sậy làm thảm vàlợp mái nhà Việc sử dụng trực tiếp cũng có thể kể ra như các thú tiêu khiển như quansát chim và bơi thuyền hoặc nghiên cứu khoa học Ví dụ, đất than bùn bảo tồn những

gì còn sót lại và dấu vết của người cổ và là những mối quan tâm lớn của các nhà khảocổ

Trang 12

Ngoài việc sử dụng đất ngập nước trực tiếp, con người còn thụ hưởng cácchức năng và dịch vụ của đất ngập nước Vì nước lụt chảy qua vùng đất ngập nước,nước đã tạm thời bị giữ lại; điều này làm giảm đỉnh lũ và làm chậm thời gian caođiểm làm cho người dân ven sông vùng hạ lưu có thể tận dụng được Các vùng rừngđược giảm năng lượng sóng, nó bảo vệ cộng đồng ven biển, và vì đất ngập nước táisinh nitơ, nó cải thiện chất lượng nước vùng hạ lưu Nhờ những nguồn lợi đó, conngười đã sử dụng gián tiếp các chức năng của đất ngập nước Các chức năng này cóthể được thực hiện bằng các hệ thống kỹ thuật như các đập, các bức tường chắn sónghoặc các nhà máy xử lý nước, nhưng các giải pháp công nghệ như vậy thường đắt hơncác chức năng mà tự đất ngập nước thực hiện.

Tuy nhiên, không phải tất cả đất ngập nước thực hiện chức năng thủy văn đốivới cùng một quy mô nếu có Thực vậy, một số chức năng thủy văn đất ngập nước cóthể trái ngược với nhu cầu của con người như những vùng đất ngập nước ven sông cóthể trở thành vùng tạo dòng tràn làm tăng hiểm hoạ lũ lụt vùng hạ lưu Điều là cơ bảncần phải định lượng các chức năng của đất ngập nước trước khi đánh giá chúng

Sự tồn tại tại đơn thuần của các vùng đất ngập nước có thể có ý nghĩa lớn đốivới một số người Đối với những người đã lớn lên ở vùng đất ngập nước, nhưngchuyển vào sống ở thành phố, có thể đánh giá cao giá trị của đất ngập nước vì nó làmột phần của di sản văn hoá của họ, thậm chí cho dù họ không bao giờ quay trở lạivùng đất ngập nước

Các thành phần, chức năng và thuộc tính của đất ngập nước sẽ được mô tả chitiết hơn trong Phụ lục 1, trong khi Chương 2 thảo luận về chúng trong phạm vi đánhgiá giá trị kinh tế vùng đất ngập nước

Quan điểm đất ngập nước là vùng đất bỏ hoang là kết quả của sự ngu dốt hoặchiểu nhầm về giá trị hàng hoá và dịch vụ mà đất ngập nước đem lại, đưa đến sựchuyển đổi đất ngập nước cho mục đích nông nghiệp thâm canh, công nghiệp hoặcdân dụng Những mong ước cá nhân của những người nông dân hoặc những nhà pháttriển từng được hỗ trợ bởi các chính sách và trợ cấp của chính phủ Thêm vào cáchoạt động trực tiếp trên mặt đất, các hệ thống kỹ thuật trên sông ngòi đang trích nước

ra khỏi đất ngập nước, bởi vì người ta vẫn tin rằng nước này đang bị bỏ phí trongvùng đất ngập nước hoặc ít nhất có giá trị thấp hơn việc sử dụng chúng để tưới tiêucho lúa vùng thượng du Một số tổ chức vẫn chỉ coi đất ngập nước là tiềm năng cungcấp đất cho nông trại nuôi số dân đang phát triển thì thường đòi hỏi thay đổi các hệ tựnhiên Đất ngập nước cũng có thể bị mất bởi ô nhiễm, vứt chất thải bởi công nghiệp

mỏ hoặc trích rút nước ngầm

Bảng 1.1 Sự mất đất ngập nước ở châu Âu (CEC, 1995)

Trang 13

Bảng 1.2 Phạm vi tác động của các vụ đe doạ chính đối với đất ngập nước ở châu

Á, Mỹ Latinh và vùng Caribê (WXMC, 1992) (theo % diện tích)

Khai khẩn cho phát triển đô thị và

Khai thác gỗ thương phẩm và lâm

nghiệp

Đốn gỗ cho sử dụng trong sinh hoạt 16

Suy thoái vùng thu nước, sói mòn đất

và bùn hoá

15 Chuyển đổi thành các hồ nuôi thủy sản

hoặc lòng chảo sản xuất muối

11

Chăn thả quá mức các đàn gia súc 9

Đất ngập nước không nhất thiết cứ bị mất hoàn toàn mới bị giảm giá trị của

nó Gamelsrod (1992) chỉ ra rằng, việc sản xuất tôm trên vùng bờ sông Safala ởMozămbíc liên quan tới các dòng chảy mùa ẩm từ sau Zambezi Do việc xây dựngcác đập chính dọc theo sông làm giảm các dòng chảy tràn ra và do đó số lượng tômcũng giảm Ông đã tính toán rằng, số tiền thu được từ nuôi tôm có thể tăng 10 triệuđôla Mỹ một năm do việc tháo nước hợp lý từ đập Cabora Basa mà trước đây đãkhông được sử dụng

Hiện nay đang có nhiều trường hợp khôi phục các vùng đất ngập nước dongười ta đã nhận thức được về hậu quả suy thoái đất ngập nước Việc tháo nước mộtcách nhân tạo khỏi đập đẫn đến việc tái ngập các vùng đất ngập nước đã bị suy thoái

Trang 14

là một cơ chế (Acreman, 1994), mà các ví dụ là trên các sông Senegal, Kafue(Zambia), Logone (Camơrun) và Phongolo (Nam Phi) (Acreman & Hollis, 1996).Tuy nhiên, có nhiều ngoại lệ hơn là quy luật và các dự báo cho rằng việc gây áp lựcđến “phát triển” các vùng đất ngập nước ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở châu Á,châu Phi và Mỹ Latinh Tuy vậy, vẫn còn nhu cầu lớn về việc tuyên truyền những íchlợi của vùng đất ngập nước nhằm khuyến khích sự bảo tồn và sử dụng bền vững,thông qua các tổ chức như IUCN - Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới và Côngước Ramsar.

1.5 Vai trò của Công ước Ramsar trong việc bảo tồn đất ngập nước

Công ước về đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt đối với nơi cưtrú của các loài chim nước - thường được dẫn là Công ước Ramsar kể từ khi đượcthông qua ở Iran năm 1971 - là hiệp ước đầu tiên trong các hiệp ước liên chính phủtoàn cầu hiện đại về bảo tồn và sử dụng một một cách sáng suốt các nguồn tàinguyên thiên nhiên

Sứ mệnh của Công ước Ramsar (Ramsar, 1996) là “ việc bảo tồn và sử dụng sáng suốt các vùng đất ngập nước thông qua hành động quốc gia và hợp tác quốc

tế như một công cụ để đạt được phát triển bền vững trên toàn thế giới”.

Công ước quy định một khung cho hợp tác quốc tế và đã được thiết lập saukhi có các mối quan tâm vào những năm 1960 về sự suy giảm nghiêm trọng số lượngcác loài chim nước (chủ yếu là vịt) Công ước này được thi hành vào năm 1975 vàhiện nay có 100 bên ký kết, và có nghĩa vụ phải thực hiện bốn hoạt động chính sau:

• Chỉ định vùng đất ngập nước được đưa vào “Danh sách vùng đất ngậpnước có tầm quan trọng quốc tế (Danh sách Ramsar)” và duy trì các tính chất sinhthái của chúng

• Phát triển các chính sách đất ngập nước quốc gia, gồm đưa việc bảotồn vùng đất ngập nước vào xem xét trong quy hoạch sử dụng đất quốc gia của mình,phát triển các kế hoạch quản lý tổng hợp vùng thu nước và đặc biệt, chấp nhận và ápdụng các hướng dẫn thực thi Khái niệm Sử dụng sáng suốt, với việc sử dụng bềnvững đất ngập nước vì lợi ích của nhân loại bằng cách tương thích với việc duy trì cáctính chất tự nhiên của hệ sinh thái

• Thúc đẩy việc bảo tồn các vùng đất ngập nước trên lãnh thổ của mìnhthông qua việc xây dựng khu bảo tồn tự nhiên và thúc đẩy việc đào tạo trong nghiêncứu, quản lý và giám sát đất ngập nước

• Tham vấn với các bên đã ký kết khác về các vùng đất ngập nướcxuyên biên giới, các hệ thống tưới tiêu chung, các loài chung và hỗ trợ phát triển chocác dự án về đất ngập nước

Bằng cách này, Công ước đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡngăn chặn các thay đổi bất lợi đối với vùng đất ngập nước ở những quốc gia đã kýCông ước Sự hỗ trợ kỹ thuật để bảo tồn vùng đất ngập nước theo Công ước được các

tổ chức như IUCN và Hiệp hội Đất ngập nước quốc tế (một tổ chức được thành lập từVăn phòng Nghiên cứu Chim nước và Đất ngập nước Quốc tế, Văn phòng Đất ngậpnước châu Á và châu Mỹ) Những thành công đáng kể là:

• Ngăn chặn sự phát triển nông nghiệp tại nơi cư trú của loài cò thìa

Platalea leucorodia ở vùng Horrtobagy, thuộc danh sách Ramsar, Hungari (1985)

• ốc đảo Azraq ở Jodan được hưởng lợi do được đưa vào hồ sơMontreux (một danh sách các vùng đã hoặc đang xây và hoặc có khả năng xảy ra thay

Trang 15

đổi các tính chất sinh thái), nghiên cứu hậu quả các mối đe dọa đối với đất ngập nước,các giải pháp được khuyến nghị và kết quả là các quỹ nhận được từ Quỹ Môi trườngToàn cầu (UEF) (1990)

• Bác bỏ các đề xuất dự án phát triển có thể có tác động có hại đối vớivùng đầm lầy cửa sông thuộc danh sách Ramsar ở Anh Quốc (1992)

• Bác bỏ các kế hoạch xây dựng một trại nuôi lợn tập trung trong vùngthu nước của hồ Cundare và kết thúc bằng việc từ chối xây dựng như vậy ở sát ngay

Hồ Beeac ở Bang Victoria, Ôxtrâylia (1993)

Do vậy Công ước Ramsar đóng một vai trò quan trọng sống còn trong việcbảo tồn các vùng đất ngập nước của thế giới

2.1 Vai trò của đánh giá kinh tế trong việc ra quyết định

Chúng ta có thể định nghĩa đánh giá kinh tế là nỗ lực nhằm áp các giá trị định

lượng đối với hàng hoá và dịch vụ do các nguồn tài nguyên môi trường tạo ra, dù cóhay không có sẵn giá thị trường để giúp chúng ta Tuy nhiên định nghĩa như vậy chỉ

đi được một phần đường Chúng ta phải định nghĩa cụ thể hơn và xem các nhà kinh tếđịnh nghĩa thuật ngữ giá trị như thế nào Giá trị kinh tế của bất kỳ loại hàng hoá vàdịch vụ nào nói chung được đo theo nghĩa chúng ta sẵn lòng trả bao nhiêu cho loạihàng hoá đó, ít hơn giá trị để làm ra nó O nơi mà, nguồn tài nguyên môi trường đơngiản là tồn tại và cung cấp cho chúng ta các sản phẩm và dịch vụ không có giá, thì chỉ

có giá mà chúng ta mong muốn trả sẽ thể hiện giá trị của nguồn tài nguyên cung cấpcho chúng ta hàng hoá đó, cho dù trong thực tế chúng ta có trả tiền hay không

Vậy thì, tại sao đánh giá giá trị các nguồn tài nguyên môi trường ? Câu trả lời

là mặc dù chúng ta biết một cách trực giác rằng nguồn tài nguyên như vậy có thể quantrọng, thì điều này cũng chưa đủ để chúng ta đảm bảo việc sử dụng chúng một cáchsáng suốt Nhiều nguồn tài nguyên môi trường là phức hợp và đa chức năng và việc

vô số hàng hoá và dịch vụ do các nguồn tài nguyên này cung cấp tác động tới phúc lợicủa nhân loại như thế nào dường như không rõ ràng Trong một vài trường hợp, việclàm cạn kiệt hoặc phá hủy các nguồn tài nguyên môi trường có thể là đáng giá; trongtrường hợp khác, cần “nắm giữ” các nguồn tài nguyên này Việc đánh giá giá trị kinh

tế cung cấp cho chúng ta một công cụ để hỗ trợ cho các quyết định khó khăn liênquan

Việc mất các nguồn tài nguyên môi trường là một vấn đề kinh tế bởi vì cácgiá trị quan trọng bị mất đi, một vài trường hợp có lẽ là không thể đảo ngược được,trong khi nguồn tài nguyên này bị suy thoái hay biến mất Mỗi một sự lựa chọn hoặcphương án cho nguồn tài nguyên môi trường - bỏ mặc nó trong hiện trạng tự nhiên để

nó bị suy thoái hoặc chuyển nó sang mục đích khác - quan hệ mật thiết với giá trịđược và mất Việc quyết định theo đuổi mục đích sử dụng nào đối với một nguồn tàinguyên môi trường đã cho, và cuối cùng liệu tốc độ mất tài nguyên hiện nay có “quáđáng” hay không, chỉ có thể được đưa ra nếu vấn đề được và mất được phân tích và

đánh giá một cách đúng đắn Điều này đòi hỏi tất cả các giá trị đang thu được hoặc

mất đi dưới mỗi phương án sử dụng tài nguyên phải được xem xét một cách cẩn thận

Ví dụ, việc bảo tồn hiện trạng tự nhiên một khu vực bao gồm chi phí trực tiếpcủa việc bảo tồn để thiết lập một vùng bảo vệ và ở các nước đang phát triển, điều này

có nghĩa là trả công cho những người canh gác và giám sát để bảo vệ và duy trì khuvực này và có thể là chi phí để xây dựng một ‘vùng đệm’ cho cộng đồng địa phươngxung quanh Các phương án phát triển sẽ bị hy sinh nếu việc bảo tồn được lựa chọn

Trang 16

và lợi ích phát triển bị mất đi (do phương án không được duyệt) sẽ là chi phí liên quantính thêm cho phương án bảo tồn Giá này dễ dàng xác định bởi nó thường bao gồmsản phẩm thị trường và phần thu nhập bên hy sinh (ví dụ, thu nhập của đánh cá và thunhập của nông nghiệp để tồn tại, trong trường hợp vùng đất ngập nước) Vì thế,không ngạc nhiên gì khi các chính phủ và các nhà tài trợ thường xem xét chi phí tổng

- chi phí trực tiếp cộng thêm lợi ích phát triển đã bị mất đi - của việc bảo tồn khi lựachọn gìn giữ một nguồn tài nguyên môi trường trong hiện trạng tự nhiên hoặc có quảnlý

Nhưng một cách tiếp cận tương tự phải được xem xét khi đánh giá cácphương án phát triển nguồn tài nguyên môi trường Ví dụ, nếu nguồn tài nguyên môitrường được chuyển đổi vào mục đích sử dụng khác, không chỉ chi phí trực tiếp việcchuyển đổi phải tính vào như một phần của chi phí cho phương án phát triển này màphải tính cả giá trị mất đi do nguồn tài nguyên đã chuyển đổi này không thể cung cấpsản phẩm như trước nữa Điều này có thể bao gồm việc mất đi các chức năng môitrường quan trọng, và trong trường hợp các hệ tài nguyên phức hợp như vùng đấtngập nước là nhiều nguồn tài nguyên sinh học quan trọng và các giá trị tiện nghi (màthu tự nhiên mang lại) Đáng tiếc, nhiều trong số các giá trị này của nguồn tài nguyênmôi trường tự nhiên hoặc được quản lý thường không được bán và mua trên thịtrường, và do vậy đa số chúng bị bỏ qua không tính tới trong các quyết định phát triểncủa nhà nước và tư nhân

Ví dụ, giá trị thị trường của các nguồn tài nguyên môi trường đã được chuyểnđổi thành một số mục đích thương mại có thể không phản ánh sự mất lợi ích môitrường Do vậy, các quyết định phát triển thường thiên về mục đích sử dụng cácnguồn tài nguyên môi trường định lại các sản phẩm thương mại Do vậy, việc thiếukhả năng đánh giá một cách đầy đủ hơn các giá trị kinh tế của việc chuyển đổi hoặcsuy thoái các nguồn tài nguyên môi trường là một yếu tố cơ bản phía sau việc thiết kếcác chính sách phát triển không phù hợp Kết qủa là có quá nhiều việc chuyển đổi vàkhai thác quá mức các nguồn tài nguyên môi trường Vì sự sai sót này là đặc hữutrong các quyết định của nhà nước và tư nhân liên quan tới việc sử dụng nguồn tàinguyên môi trường - đặc biệt các nguồn đất ngập nước - việc đánh giá một cách đầy

đủ hơn lợi ích kinh tế thực của các phương án sử dụng đất ngập nước khác nhau làđiều cần thiết

Việc đánh giá chỉ là một yếu tố trong nỗ lực nhằm cải thiện việc quản lý cácnguồn tài nguyên môi trường như đất ngập nước Đồng thời những nhà ra quyết địnhphải tính đến nhiều lợi ích cạnh tranh khi quyết định sử dụng đất ngập nước thế nào làtốt nhất Việc đánh giá kinh tế có thể giúp cung cấp thông tin cho các quyết định quản

lý như vậy, nhưng chỉ với điều kiện là nếu các nhà ra quyết định nhận thức được mụctiêu tổng quát và những hạn chế của việc đánh giá

Mục tiêu chính của việc đánh giá hỗ trợ các quyết định quản lý đất ngập nước

nhìn chung là chỉ ra hiệu quả kinh tế tổng quát của việc sử dụng cạnh tranh các nguồn

tài nguyên đất ngập nước khác nhau Có nghĩa là, những giả định ngầm là các nguồntài nguyên đất ngập nước phải được phân bổ cho những mục đích sử dụng mang lạicái được tổng thể hay lợi nhuận vòng tổng thể cho xã hội, được tính bằng sự đánh giácác lợi ích kinh tế của mỗi phương án sử dụng trừ đi chi phí của chúng1 Ai là ngườithực chất được hưởng lợi và bị thiệt hại từ một việc sử dụng đất ngập nước nào đó sẽkhông phải là một bộ phận của tiêu chuẩn hiệu quả Mặc dù việc sử dụng đất ngậpnước đang chỉ ra lợi ích ròng lứon chưa chắc đáng làm theo tiêu chí về hiệu quả, mặc

dù những người được hưởng lợi cơ bản có thể không nhất thiết là nhóm người chịugánh nặng chi phí từ việc sử dụng này Nếu thế thì việc sử dụng đất ngập nước cụ thể

1 Trong những điều kiện nào đó, điều này có thể được thể hiện là việc phân bổ các nguồn tài nguyên nhằm tối đa hoá phúc lợi sẽ thoả mãn các tiêu chuẩn mà các nhà kinh tế gọi là ‘Hiệu ứng Pareto’ có nghĩa là bất kỳ sự phân bổ nào khác trong nền kinh tế chỉ

có thể làm cho một số người được lợi hơn khi làm cho những người khác bị thiệt hơn

Trang 17

nào đó có thể là hiệu quả nhưng nó cũng có thể có những hậu quả phân phối tiêu cựcđáng kể Tuy nhiên, điều quan trọng là nhiều chính sách quản lý và đầu tư cho đấtngập nước được đề xuất thường được đánh giá không chỉ theo nghĩa hiệu quả củachúng mà còn theo các tác động phân phối của chúng.

Việc đánh giá kinh tế cũng không phải là thuốc bách bệnh cho các nhà raquyết định khi phải đưa ra có sự lựa chọn khó khăn liên quan tới việc quản lý nguồntài nguyên đất ngập nước Thường là, các nhà ra quyết định đã có quyết định theođuổi chiến lược quản lý đất ngập nước nào dù chuyển đổi hay bảo tồn và đơn giản làmong muốn đánh giá kinh tế để khẳng định lại việc lựa chọn này là có hiệu quả hồi

tố Trong bối cảnh đó, việc đánh giá được thực hiện rất ít, nhằm thông báo quy trình

ra quyết định và chủ yếu chẳng để làm gì ở thái cực kia, đôi khi các nhà ra quyết địnhđặt ra câu hỏi mà việc đánh giá kinh tế không thể thực hiện được Khó khăn cơ bảntrong việc đánh giá một hệ thống môi trường phức hợp như đất ngập nước là việcthiếu thông tin về các quá trình thủy văn và sinh thái quan trọng là nền tảng của nhiềugiá trị khác do đất ngập nước tạo ra Nếu thông tin này thiếu - thường là trong trườnghợp đối với các giá trị môi trường phi thị trường có thể rất quan trọng đối với việcđánh giá - sau đó là phận sự của các nhà phân tích tiến hành đánh giá nhằm cung cấpcác đánh giá thực tế khả năng của mình để đánh giá những lợi ích môi trường chủchốt Tương tự, những nhà ra quyết định phải nhận thức rằng trong bối cảnh như vậykhông thể mong đợi được cung cấp sự đánh giá thực tế các giá trị môi trường phi thịtrường - và ít nhất nếu thiếu sự đầu tư về thời gian, nguồn lực và các nỗ lực hơn nữatrong nghiên cứu kinh tế và khoa học

Cuối cùng, việc đánh giá kinh tế lrốt cuộc sẽ liên quan tới việc phân bổ cácnguồn tài nguyên đất ngập nước nhằm cải thiện phúc lợi của nhân dân Hậu quả là cáclợi ích môi trường khác nhau của đất ngập nước được đo bằng sự đóng góp của chúngvào việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ có giá trị cho nhân loại Tuy nhiên, một sốthành viên của xã hội có thể tranh luận rằng các hệ đất ngập nước nhất định và cácnguồn tài nguyên sinh vật mà nó chứa có thể có giá trị ‘trội hơn’ vượt xa cái mà nó cóthể cung cấp bằng việc đáp ứng nhu cầu hoặc sở thích của nhân loại Từ những triểnvọng này, việc bảo về các nguồn tài nguyên đất ngập nước là một vấn đề bổn phậnđạo đức hơn là tính hiệu quả hoặc thậm chí phân phối công bằng Có thể có nhữngđộng cơ khác để quản lý đất ngập nước bằng phương thức đặc biệt như các cân nhắc

về chính trị Bởi vậy, các giá trị kinh tế chỉ đại diện cho một loại đầu vào cho quátrình ra quyết định bên cạnh các sự cân nhắc quan trọng khác Mục tiêu của văn bảnnày là giúp đỡ nhứng nhà hoạch định kế hoạch và các nhà ra quyết định có các thôngtin ngày càng đầy đủ về đánh giá giá trị kinh tế trong quá trình ra quyết định

2.2 Các giá trị kinh tế của đất ngập nước

Nếu các nhà nghiên cứu đánh giá việc sử dụng đất ngập nước và các nhà raquyết định tính đến các đánh giá nà khi xây dựng các chính sách tác động tới đất ngậpnước, vậy thì cần phải có một khung để phân biệt và phân nhóm các giá trị này Khái

nịệm giá trị kinh tế tổng (TEV) quy định một khung như vậy và ngày càng có sự nhất

trí rằng đó là cách tiếp cận phù hợp nhất để sử dụng Đơn giản là, việc đánh giá kinh

tế tổng được phân biệt giữa các giá trị sử dụng và các giá trị phi sử dụng, giá trị sau

liên quan tới các giá trị hiện tại hoặc tương lai (tiềm năng) gắn kết với một nguồn tàinguyên môi trường đơn giản dù lệ thuộc vào sự tiếp tục tồn tại của chúng và khôngliên quan tới việc sử dụng (Peace and Warford, 1993) Điển hình, các giá trị sử dụngliên quan tới ‘sự tương tác’ của con người với các nguồn tài nguyên trong khi giá trịphi sử dụng thì không liên quan tới sự tương tác đó Khung đánh giá kinh tế tổng, khiđược áp dụng cho đất ngập nước, được minh hoạ ở Bảng 2.1

Trang 18

Các giá trị sử dụng được chia nhóm theo trực tiếp hoặc gián tiếp Giá trị sử

dụng trực tiếp đề cập tới những ứng dụng mà đa số quen thuộc với chúng ta: thuhoạch cá, thu nhặt gỗ củi và sử dụng đất ngập nước cho mục đích giải trí (Bảng 2.1liệt kê một số ứng dụng khác) Việc sử dụng trực tiếp đất ngập nước có thể bao gồm

cả các hoạt động thương mại và phi thương mại mà một số hoạt động phi thương mạithường có tầm quan trọng đối với các nhu cầu sinh tồn của dân cư địa phương ở cácnước đang phát triển hoặc phục vụ thể thao và giải trí ở các nước phát triển Việc sửdụng thương mại có thể là quan trọng cho cả thị trường trong nước và quốc tế Nhìnchung, giá trị của các sản phẩm (dịch vụ) thị trường hoá của đất ngập nước dễ đođược hơn là giá trị của việc sử dụng phi thương mại và được sử dụng trực tiếp vì sinhtồn Như đã nêu ra ở trên, đây là một nguyên nhân tại sao các nhà hoạch định chínhsách thường quên xem xét việc sử dụng trực tiếp cho sinh tồn phi thương mại và việc

sủ dụng không chính thức các vùng đất ngập nước trong nhiều quyết định phát triển

Bảng 2.1 Phân loại giá trị kinh tế tổng của đất ngập nước

Các giá trị sử dụng Các giá trị phi sử

dụng

Giá trị sử dụng trực

tiếp

Giá trị sử dụng gián tiếp

Giá trị phương án

và giá trị chuẩn phương án

Giá trị hiện hữu

Kiểm soát lũ lụt Phòng chống bão Tái phục hồi nước ngầm

Hỗ trợ hệ sinh thái bên ngoài

ổn định vi khí hậu

ổn định đường ven

bờ v v

Việc sử dụng tiềm năng tuơng lai ( sử dụng trục tiếp và gián tiếp) Giá trị tương lai của thông tin

Đa dạng sinh học Văn hoá, di sản các giá trị để lại

Nguồn: Barbier (1989b, 1993, 1994) và Scodari (1990)

Ngược lại, nhiều chức năng điều chỉnh sinh thái khác nhau của đất ngập nước

có thể có các giá trị sử dụng qgián tiếp uan trọng Các giá trị này bắt nguồn từ việc hỗtrợ hoặc bảo hộ các hoạt động kinh tế có các giá trị có thể đo được một cách trực tiếp.Giá trị sử dụng gián tiếp một chức năng môi trường liên quan tới sự thay đổi trong giátrị sản xuất hoặc tiêu dùng của hoạt động hoặc của tài sản đang được bảo hộ hoặc hỗtrợ Tuy nhiên, vì những đóng góp này không mang tính thị trường, nên cuối cùngkhông được tính tới về mặt tài chính và chỉ liên quan một cách gián tiếp tới các hoạtđộng kinh tế, các giá trị sử dụng gián tiếp này thường khó định lượng và thường bị bỏqua trong các quyết định quản lý đất ngập nước

Ví dụ, các chức năng cản bão và các chức năng ổn định dải ven bờ của đấtngập nước có thể có giá trị sử dụng gián tiếp thông qua việc giảm thiệt hại đối với tàisản, tuy nhiên thường thì các hệ đất ngập nước, ven sông hoặc ven biển đang bị pháhuỷ và san lấp nhằm mục đích xây dựng các cơ ngơi trông ra biển Các hệ đất ngậpmặn được biết đến là nơi gây giống và nuôi dưỡng tôm, cá chủ yếu cho nuôi trồng hảisản và nuôi cá ven bờ, tuy nhiên, các vùng cư trú quan trọng này thường bị chuyểnđổi khá nhanh ở nhiều vùng để nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các đầm nuôi tôm Cácvùng ngập tự nhiên có thể nạp lại nước ngầm dùng để tưới tiêu đất nông nghiệp,tvùng đất khô cằn rồng cỏ nuôi gia súc và các mục đích sử dụng cho gia đình, thậmchí sử dụng công nghiệp, tuy nhiên, nhiều vùng ngập nước này đang bị đe doạ bởi cácđập và các chướng ngại ngăn nước để tưới và cung cấp nước cho vùng thượng lưu

Trang 19

Một chuẩn mực đặc biệt của việc giá trị lựa chọn nảy sinh do một cá nhân cóthể không biết rõ nhu cầu tương lai của cô ta hoặc anh ta về một nguồn tài nguyên và/hoặc tính sẵn có của chúng trong đất ngập nước trong tương lai Trong đa số trườnghợp, cách tiếp cận được ưa thích hơn cả để tích hợp các giá trị lựa chọn vào phépphân tích là thông qua việc xác định sự khác biệt giữa đánh giá trị và giá trị2 Nếu một

cá nhân không biết rõ giá trị tương lai của một vùng đất ngập nước, nhưng tin tưởngrằng nó có thể sẽ cao hơn hoặc việc khai thác hiện hành và việc chuyển đổi có thể làkhông thể đảo ngược được, thì có thể có giá trị chuẩn phương án bắt nguồn từ việc trìhoãn các hoạt động phát triển Giá trị chuẩn phương án thường đơn giản là giá trị dựkiến của thông tin có được từ việc trì hoãn khai thác và chuyển đổi đất ngập nướcngày nay Nhiều nhà kinh tế tin tưởng rằng giá trị chuẩn lựa chọn không phải là mộtthành phần tách rời lợi ích nhưng thu hút các nhà phân tích trong việc tính toán mộtcách đúng đắn việc áp dụng thông tin bổ sung thu thập được3

Tuy nhyiên, ngược lại có những cá nhân hiện hường không sử dụng đất ngậpnước tuy thế mà lại mong muốn nhìn thấy nó đựoc bảo tồn ‘vì quyền của chính vùngđất ngập nước’ Một giá trị nội tại như vậy thường được gọi là “giá trị hiện hữu” Đó

là một hình thức của giá trị phi sử dụng rất khó đo lường, vì các giá trị hiện hữu baogồm các đánh giá mang tính chủ quan bởi những cá nhân có muốn sử dụng khôngliên quan tới bản thân nó hoặc tới những người khác, dù là đang xảy ra trong hiện tạihay trong tương lai Một tập hợp con rất quan trọng của giá trị phi sử dụng hoặc cácgiá trị bảo tồn là giá trị di tặng, có được từ việc các cá nhân đặt ra một giá trị cao choviệc bảo tồn các vùng đất ngập nước nhiệt đới để cho các thế hệ tương lai sử dụng.Trong khi có một số nghiên cứu về các giá trị phi sử dụng liên quan tới đất ngập nước(xem nghiên cứu điển hình do Ban Norfolk của Anh thực hiện ở phần 4.3 làm ví dụ),các cuộc vận động của các nhóm môi trường Bắc Mỹ và châu Âu đã lập quỹ để hỗ trợviệc bảo tồn đất ngập nước nhiệt đới dù chỉ ở qui mô của sự việc 4 Ví dụ, một vàinăm trước đây Hội Bảo về Chim của Hoàng gia Anh (RSPB) đã thu được 500 nghìnbảng Anh (800 nghìn USD) từ các chiến dịch gửi thư vận động hội viên để giúp bảo

về vùng đất ngập nước Hadejia-Nguru của Bắc Nigiêria ở Tây Phi5

2.3 Tại sao các nguồn tài nguyên và các hệ đất ngập nước bị đánh giá

thấp trong các quyết định phát triển

Nói tóm lại, các nguồn tài nguyên đất ngập nước thường đặc biệt dễ bị tổnthương bởi các quyết định phân bổ sai lầm do bản chất các giá trị liên quan tới nó.Đất ngập nước là nguồn tài nguyên đa chức năng do các tính chất nổi bật của chúng

Nó không chỉ cung cấp cho chúng ta một số các nguồn tài nguyên quan trọng như cá,

gỗ củi, động vật hoang dã, mà còn thực hiện một số lượng lớn không ngờ các chứcnăng sinh thái hỗ trợ hoạt động kinh tế Nhiều trong số các dịch vụ này là không theothị trường hoá vì chúng không thể bán và mua được vì những hỗ trợ mà chúng manglại cho hoạt động kinh tế không trực tiếp và nhiều khi không nhận thấy được Trongtrường hợp đất ngập nước nhiệt đới, nhiều công dụng sinh tồn của tài nguyên đất ngậpnước thường không được thị trường hoá và do vậy thường bị bỏ qua trong các quyếtđịnh phát triển

2 Điều này được thực hiện bởi việc phát triển các mô hình chuyên sâu về sự lựa chọn cá nhân, thôngqua lý lẽ về tính hữu dụng cận biên của thu nhập khác nhau theo các dạng tái dự phòng khác nhau (Smith, 1983, Freeman, 1984)

3 Giá trị lựa chọn chuẩn có thể được tính toán bằng việc phân tích giá trị điều kiện của thông tin trong vấn đề ra quyết định (Fisher and Hanemann, 1987)

4 Nói một cách nghiêm ngặt, tổng số thu được do các nhóm môi trường thông qua thư từ và các công cụ khác không thể dịch đưọc ngay lập tức thành :các giá trị phi sử dụng’ do những động cơ phức tạp mà của người đóng góp Ví dụ, một vài cá nhân đang lấy cái gọi là “điểm sáng” (warm glow) như một nguyên nhân tốt mà không liên quan trực tiếp tới bản thân nguyên nhân.

5 Ken Smith, RSPC, thư từ cá nhân

Trang 20

Một số chức năng sinh thái, tài nguyên sinh học và các giá trị tiện nghi do đất

ngập nước cung cấp có chất lượng mà các nhà kinh tế gọi là hàng hoá công cộng, do

vậy hầu như là không thể thương mại hoá dịch vụ, thậm chí nếu chúng ta mongmuốn6 Ví dụ, nếu đất ngập nước hỗ trợ tính đa dạng sinh học có giá trị, việc tất cảmọi các cá nhân đều có thể thụ hưởng lợi ích từ dịch vụ này và không một cá nhânnào có thể bị loại trừ ra khỏi dịch vụ Tình trạng như vậy làm cho việc thu thập phí trảcho dịch vụ đó cực kỳ khó khăn bởi vì dù bạn có trả hay không, thì bạn vẫn có thểhưởng lợi ích này Trong tình trạng như vậy, các dịch vụ của đất ngập nước có khảnăng bị đánh giá thấp

Có một số khó khăn xuất hiện từ chất lượng hàng hoá công cộng của các giátrị đất ngập nước có thể là không quan trọng nếu tất cả các lợi ích của đất ngập nước

có thể được hoàn một cách đồng thời, không có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa cácmục đích sử dụng khác nhau Kết hợp tất cả các giá trị sử dụng lại cùng nhau trongmột tình huống đa sử dụng tự do chấp nhận sẽ dẫn tới sự nhận thức được tầm quantrọng của việc bảo tồn một vùng đất ngập nước trong tình trạng tự nhiên hoặc bán tựnhiên Tuy nhiên, giữa nhiều cách sử dụng đất ngập nước, có những mâu thuẫn haynhững sự thay đổi cố hữu, thậm chí cả khi đất ngập nước được duy trì trong một tìnhtrạng ít nhiều vẫn là tự nhiên (Turner, 1991) Chẳng hạn, việc quản lý đất ngập nước

để giải trí hoặc đánh cá thương mại là không thể được khi cùng một lúc sử dụng để xử

lý nước thải Thậm chí nếu ngay cả trong trường hợp xử lý nước thải có giá trị hơn thìcác tính chất hàng hoá công cộng và phi thị trường của chúng cũng có nghĩa là các giátrị của chúng không chắc chắn được phản ánh một cách tự động trong các quyết địnhmang tính thị trường Nếu chính sách nhà nước cho phép các cá nhân hưởng ứng vớicác tín hiệu thị trường để xác định phân bổ sử dụng đất ngập nước - gọi là giải pháp

‘thị trường tự do’ - thì không chắc đất ngập nước sẽ bị sử dụng để xử lý nước thải Vìvậy, kết quả là việc ‘đánh giá thấp’ một dịch vụ sinh thái cơ bản một lần nữa có thểdẫn tới việc sử dụng đất ngập nước không thích hợp

Đất ngập nước và tài nguyên của chúng cũng có thể bị đánh giá thấp và do

vậy bị phân bố sử dụng sai do chế độ quyền sở hữu chi phối việc tiếp cận và sử dụng đất ngập nước Ví dụ, vùng đất ngập nước được quan tâm có thể được tiếp cận tự do

ở nơi không áp dụng các quy định và việc sử dụng nguồn tài nguyên này có thể được

mở rộng cho tất cả mọi người và không bị quy định ràng buộc Đối lại, các thu xếpphi chính thức theo truyền thống có thể chi phối việc sử dụng chúng như các nguồn

tài nguyên sở hữu công cộng hoặc cộng đồng Cuối cùng, việc sở hữu nhà nước hoặc

tư nhân có thể đặc trưng cho cơ sở tài nguyên đất ngập nước (Bromley, 1989) Mỗihình thức của quyền sở hữu có thể được đặc trưng bởi các điều kiện khai thác tàinguyên riêng Chẳng hạn, các nguồn tài nguyên có thể tiếp cận tự do thường bị khaithác quá đáng, do vậy các giá trị sử dụng được giám sát có thể là rất thấp Kết quả là,nếu các nỗ lực nhằm đánh giá tài nguyên môi trường dựa trên sự quan sát đơn giản về

tỉ lệ sử dụng hiện hành mà không xem xét đến bối cảnh tổ chức, thì có thể dẫn tới việcđánh giá thấp nguồn tài nguyên này Điều này có thể đặc biệt quan trọng nếu việc sắpxếp tổ chức được thay đổi một cách không chính thức, khi mà các hệ thống sở hữucông cộng bản xứ được đánh giá lại sau một giai đoạn đắm chìm, hoặc một sự đổimới được yêu cầu như là một yếu tố trong một dự án hoặc chương trình tác động tớimôt vùng đất ngập nước và khi đất đai bất thình lình bị tư nhân hoá hoặc quốc hữuhoá

6 Hàng hoá công cộng tồn tại ở nơi mà một cá nhân có thể hưởng từ sự tồn tại của một số dịch vụ hoặc thuộc tính môi trường và điều này không làm giảm sự hưởng lợi mà các cá nhân khác có thể nhận được từ cùng một dịch vụ hoặc thuộc tính đó Tình trạng này tương phản với hàng hoá tư nhân là nơi mà ở đó hai cá thể không thể cùng thụ hưởng hàng hoá đó Một cách phân loại các tiếp cận này được tham chiếu đối với mức độ của tính độc nhất của nó (liệu một số người có thể bị từ chối tiếp cận tới các nguồn tài nguyên) hoặc tính cạnh tranh (liệu việc sủ dụng tài nguyên bởi một cá nhân có làm giảm khả năng sử dụng chúng của người khác) Nhiều ứng dụng tài nguyên đất ngập nước không mang tính độc nhất nhưng sự cạnh tranh mà nó mở ra cho tất cả mọi người nhưng giảm bớt do sự tăng sử dụng Một số là không cạnh tranh và không độc nhất - đó là các đặc tính của hàng hoá công cộng ‘sạch’ như

đa dạng sinh học và các giá trị phi mục đích (Aylward, 1992).

Trang 21

Việc đánh giá thấp đất ngập nước có thể là một vấn đề nghiêm trọng khi màmột vùng đất ngập nước đang bị đe doạ chuyển đổi hoàn toàn Như đã được chỉ ra ởcác phần trước, sự phát triển hoặc chuyển đổi đất ngập nước có khuynh hướng sảnsinh ra các sản phẩm thị trường hoá, trong khi việc duy trì đất ngập nước trong tìnhtrạng tự nhiên hoặc tình trạng được quản lý thường dẫn đến việc bảo tồn các sảnphẩm và dịch vụ phi thị trường7 Sự phân rẽ thường xuất hiện trong phương án pháttriển - sự khai khẩn thành đất nông nghiệp, ao nuôi cá và các công trình sinh hoặthoặc thương mại - đang được nhìn nhận rộng rãi là những giá trị sử dụng lớn nhất củađất ngập nước Vì những hoạt động như vậy cũng sinh nguồn thu cho chính phủ nênkhông có gì ngạc nhiên khi các nhà ra quyết định cũng ủng hộ việc chuyển đổi đấtngập nước thành việc sủ dụng ‘thương mại’.

Thậm chí ngay ở cả những nơi mà doanh thu không phải là mục đích đầu tiêncủa việc khai thác và chuyển đổi đất ngập nước thì canh tác, nuôi trồng thủy sản, pháttriển các khu bất động sản và các hoạt động chuyển đổi khác nhìn chung được xem làquan trọng cho phát triển kinh tế và tăng trưởng khu vực Nó dường như thường có

‘mối quan hệ’ đáng kể với các ngành khác, đặc biệt là chế biến và xây dựng, và có thểcung cấp những công việc sau đó được ưa thích ở những vung có ít phương án côngnghiệp khác nhau Đang có những lý lẽ hoàn hảo cho các nhà lập kế hoạch và ra quyếtđịnh ở nhiều nước để hỗ trợ việc chuyển đổi đất ngập nước để đổi lấy những giá trịkhác của vùng đất ngập nước khác Đối lại, các chức năng sinh thái phi thị trường vàcác giá trị để giải trí do đất ngập nước tự nhiên hay vùng được quản lý đem lại có thểtạo nên một ít lợi ích phụ trợ và thay vào đó thậm chí có thể thay thế cho các hoạtđộng tạo công ăn việc làm (như xử lý nước, kiểm soát lũ và chống bão) hoặc đòi hỏi

sự đầu tư bổ sung các nguồn tài nguyên công cộng khan hiếm (như các khu du lịch vàđường xá cho mục đích giải trí) Một số vùng đất ngập nước cũng có thể có các tácđộng bên ngoại ứng tích cực dưới dạng hỗ trợ các vectơ bệnh như muỗi mang bệnhsốt rét có thể dễ dàng nhận thấy trong khi các chức năng hỗ trợ gián tiếp khác lại bịlãng quên

Tóm lại, việc đánh giá thấp tài nguyên đất ngập nước và các chức năng củachúng là nguyên nhân cơ bản tại sao các hệ đất ngập nước bị phân bố sử dụng sai -thường đối với các hoạt động chuyển đổi hoặc khai thác có thu nhập và doanh thutrực tiếp Việc đánh giá giá trị kinh tế có thể cung cấp cho các nhà ra quyết định thôngtin sống còn về chi phí và lợi ích của các phương án sử dụng đất ngập nước khác nhau

mà có thể không được tính đến trong các quyết định phát triển Trong Chương 3,chúng tôi cung cấp một khung thẩm định chung để tiến hành đánh giá giá trị đất ngậpnước có thể hỗ trợ cho các nhà ra quyết định trong việc đánh giá lợi ích kinh tế tịnhcủa các phương án sử dụng đất khác nhau

2.4 Tại sao việc đánh giá liên quan tới Công ước Ramsar

Một khái niệm chính ẩn chứa trong các nguyên tắc của Công ước Ramsar làđất ngập nước có giá trị lớn Việc bảo tồn chỉ có thể đạt được nếu đất ngập nước cóthể được chỉ ra là có giá trị và trong một vài trường hợp là có giá trị lớn hơn việc sửdụng các phương án sử dụng đất được đề xuất hoặc lớn hơn giá trị nửa dương vùngngập nước Liên quan tới vấn đề này các bên tham gia Công ước được đề nghị cungcấp các giá trị vật lý và xã hội của đất ngập nước như là một phần của thông tin đểđưa vùng đất ngập nước vào Danh sách vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc

tế Các bên tham gia Công ước cũng cam kết tiến hành các đánh giá tác động môitrường, trước khi bắt đầu triển khai các kế hoạch có thể có tác động lên đất ngậpnước, được chú ý đặc biệt để duy trì các giá trị của đất ngập nước

7 Rõ ràng là vẫn có các cơ hội để khai thác bền vững một số sản phẩm thị trường như đánh bắt cá thủ công hoặc thu nhặt củi gỗ nhưng các giá trị này chắc chắn là thấp hơn là lợi nhuận thị trường từ các phương án phát triển hoặc chuyển đổi.

Trang 22

Nhằm hỗ trợ các bên tham gia vào nỗ lực này, Công ước dự định thúc đẩy sựphát triển, phổ biến một cách rộng rãi và áp dụng các tài liệu chỉ dẫn về việc tiến hànhđánh giá giá trị kinh tế của các hàng hoá và dịch vụ mà đất ngập nước đem lại nhưmột phần của việc áp dụng kế hoạch chiến lược của Công ước trong giai đoạn 1997-

2002 Do vậy, tài liệu này cung cấp sự hứớng dẫn cụ thể về kỹ thuật đánh giá kinh tế

và về sử dụng các nghiên cứu đánh giá trong các chính sách đất ngập nước quốc gia,các kế hoạch khu vực, các đánh giá tác động môi trường và quản lý lưu vực sông

Trong chương này chúng tôi xây dựng một khuôn mẫu chung để đánh giánhững lợi ích kinh tế của những phương thức sử dụng khác nhau đối với các vùngđất ngập nước8 Nói một cách lý tưởng thì bất kỳ đánh giá nào phải đưa đến việcđịnh giá trị kinh tế của tất cả các lợi ích và chi phí gắn với từng phương án sử dụngvùng đất ngập nước sẽ được đưa ra đánh giá Phương pháp luận đánh giá được pháttriển ở đây nhất quán với kỹ thuật kinh tế của phân tích chi phí-lợi nhuận Tuynhiên, biết rằng sự hạn chế về số liệu thường bó buộc khả năng của các nhà phântích trong việc định giá nhiều chức năng của môi trường và nguồn tài nguyên, cầnphải làm thích nghi phương pháp luận đánh giá trong các trường hợp như vậy đểcung cấp thông tin tốt nhất có thể trợ giúp cho việc ra quyết định Phụ lục 2 có miêu

tả những phương pháp luận đánh giá khác, gồm cả phân tích chi phí-hiệu suất, phântích đa diện, và những phân tích khác

Một cách tiếp cận không có trong phụ lục 2 là quy tắc quyết định theo Chuẩn

An toàn Tối thiểu (SMS) Kỹ thuật này thích ứng ở những chỗ mà số phận củanhững nguồn tài nguyên đất ngập nước rất độc đáo đang bị đe dọa và cần phải cókhuyến cáo để tránh cho xã hội những tổn thất to lớn không thể đảo ngược đangtiềm tàng (xem bảng 3.1) Hiển nhiên là không phải có thể áp dụng chuẩn an toàntuyệt đối trong tất cả mọi vấn đề của việc quản lý đất ngập nước, nhưng khi đượclàm như vậy thì các nhà phân tích có thể thay đổi cách tiếp cận chi phí-lợi nhuậnchuẩn cho tương xứng Dù bất cứ phương pháp nào được lựa chọn thì cũng cần phải

có một cách tiếp cận liên ngành ở mọi giai đoạn của đánh giá, và như vậy phải có

sự hợp tác giữa các nhà kinh tế và sinh thái học Hình 3.1 tóm tắt khuôn mẫu chung

để định giá kinh tế đất ngập nước 9

Hộp 3.1 áp dụng nguyên tắc phòng ngừa cho các quyết định quản lý vùng đất

ngập nước

ở những nơi mà quyết định về sự tổn thất của những nguồn tài nguyên sinh thái hoặc những thuộc tính độc đáo, ví dụ đa dạng sinh học, mà còn mang nhiều điều không chắc chắn thì có thể cần đến các phương pháp thay thế khác bên cạnh phép phân tích chi phí-lợi nhuận chuẩn Những quy tắc

ra quyết định như vậy phải thừa nhận rằng chúng ta không am hiểu đầy đủ cả về chi phí và lợi ích tiềm tàng của việc sử dụng hoặc cải tạo đất ngập nước cũng như những xác suất sẽ xảy ra Tuy rằng loại thông tin như thế này sẽ có trong tương lai, nhưng trong khi chờ đợi thì vẫn phải ra những quyết định quan trọng về cải tạo hay bảo tồn nguồn tài nguyên hết sức độc đáo của đất ngập nước Thiên hướng về quy tắc quyết định chống nguy cơ (nghiêng về phòng ngừa) trong những hoàn cảnh như thế này đưa đến việc áp dụng những nguyên tắc phòng ngừa Trên thực tế, việc áp dụng quy tắc

8 Khuôn khổ thẩm định được trình bày trong chương này đã được E Barber phát triển cho IIED (1994) Cách tiếp cận này ban đầu được phát

triển cho định giá kinh tế đất ngập nước nhiệt đới; ví dụ xem Barber (1989b, 1993 và 1994).

9 Hình 3.1 được lấy từ IIED (1994) vốn được E Barber, R Costanza và R Twilley xây dựng cho IUCN ORMA 1991 (Văn phòng vùng

Meso-America) và hội thảo CATIE về định giá kinh tế đất ngập nước vùng Trung Mỹ.

Trang 23

quyết định quản lý như thế này gợi ý rằng xã hội sẽ sẵn sàng trả, với ý nghĩa tương tự việc chúng ta mua bảo hiểm bảo vệ cho mỗi người, để bảo tồn những nguồn tài nguyên mà giá trị đầy đủ của chúng vẫn còn chưa được biết đến hoặc đánh giá Trong trường hợp này, xã hội có thể muốn tiến hành các bước cần thiết để bảo tồn những nguồn tài nguyên đất ngập nước quan trọng, chừng nào

mà giá bảo hiểm không quá cao Việc xác định ngưỡng của bảo hiểm này có thể không dễ dàng, nhưng có thể theo khả năng chi phí thấp nhất Sử dụng nguyên tắc phòng ngừa là hiển nhiên trong những thỏa thuận quốc tế, ví dụ Nghị định thư Montreal về những chất có thể phá hoại tầng ozon, hoặc Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba về vùng biển Bắc liên quan đến việc thải các vật liệu độc hại tiềm tàng (O’ Riordan và Cameron, 1994)

Lý luận để áp dụng nguyên tắc phòng ngừa phụ thuộc vào một nghịch lý là hiện tại chúng ta chưa biết gì về các nguy cơ hoặc mức độ của những tổn thất tiềm tàng của việc không làm gì cả Chúng ta có thể đoán rằng những nguy cơ ấy khá lớn, và chúng ta có thể bỏ qua những nguồn lợi rất

có ý nghĩa hoặc phải gánh chịu những tổn thất ghê gớm nếu những nguồn tài nguyên đất ngập nước trọng yếu không được bảo tồn Như vậy, có ý kiến cho rằng nghĩa vụ chứng minh phải chuyển cho những người chống lại mức an toàn bảo tồn những vùng đất ngập nước quan trọng Nói như vậy thì chúng ta có thể xem chi phí cơ hội của việc trì hoãn hoặc cấm biến đổi những vùng đất ngập nước rất độc đáo như là một phần của phí bảo hiểm mà chúng ta sẵn lòng trả để bảo tồn những vùng đất ngập nước ấy cho tương lai.

Khi chúng ta không biết hình thái hoặc mức độ của những tổn thất gắn với việc biến đổi một vùng đất ngập nước thì chúng ta phải tìm những phương pháp đánh giá khác nhau để thay thế hoặc

bổ sung cho cách tiếp cận phân tích chi phí-lợi nhuận chuẩn (Tisdell, 1990) Một cách tiếp cận đặc biệt và nhất quán với nguyên tắc phòng ngừa là chuẩn an toàn tối thiểu của bảo tồn được bắt nguồn

từ Ciriacy-Wantrup (1952) Thuật ngữ này lúc đầu đề cập tới một chiến lược bảo tồn được áp dụng cho các loài hoang dã, với một quy mô quần xã ngưỡng tới hạn dưới mức có thể phục hồi (quần xã sống còn tối thiểu) Mục đích của cách tiếp cận này là khẳng định rằng ít nhất thì quần xã tối thiểu này phải được duy trì cho tới chừng nào mà chi phí cho việc đó không quá cao đến mức không chấp nhận được Một cách tiếp cận như thế có thể được áp dụng tương tự cho những nguồn tài nguyên đất ngập nước độc đáo, đặc biệt là nếu nó được sử dụng kết hợp với phân tích chi phí-lợi nhuận thông thường (Tisdell, 1990) Phương pháp chuẩn an toàn tối thiểu (SMS) thường được trình bày như là một kỹ thuật ra quyết định Nó sử dụng lý thuyết trò chơi để dễ dàng thích ứng với những hoàn cảnh

mà xác suất được hay mất không được xác định (Bishop, 1978; Ready và Bishop, 1991) Vì thế, lý thuyết trò chơi đã cung cấp một khuôn mẫu hữu ích để phân tích những vấn đề liên quan đến những vùng đất ngập nước rất độc đáo

Quá trình đánh giá này gồm có 3 giai đoạn phân tích:

Giai đoạn 1 - Xác định vấn đề và chọn phương pháp đánh giá kinh tế

đúng đắn

Giai đoạn 2 - Xác định phạm vi vấn đề và những giới hạn cho phương

pháp phân

tích và thông tin yêu cầu cho đánh giá đã chọn

Giai đoạn 3 - Xác định những phương pháp thu thập số liệu và những kỹ

Mặc dầu 3 giai đoạn trong phân tích dường như nối tiếp nhau, cũng như ấntượng do hộp 3.1 gây ra, nhưng trong thực thi việc đánh giá phải có quá trình lặp

Trang 24

lại, hay gọi là quá trình “phản hồi” Nghĩa là ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trìnhphân tích cũng có thể cần phải quay lại giai đoạn trước đó để xét lại quá trình đánhgiá, cải tiến phân tích, xác định lại các nhu cầu thông tin, và cứ như thế Có thể cầnđến mấy vòng lặp lại như thế trước khi đưa ra kết luận về định giá kinh tế.

Mục đích của quá trình 3 giai đoạn nêu trong hình 3.1 là đánh giá kinh tếnhững giá trị của đất ngập nước Tất cả những giá trị được đánh giá phải phản ánh

“ý nguyện chân thực của xã hội trả tiền” cho những lợi ích của chúng Điều đó đòihỏi việc xác định giá trị kinh tế thực của những nguồn lợi về căn bản không đượcthị trường hóa và điều chỉnh giá thị trường của một số hàng hóa và dịch vụ củavùng đất ngập nước theo những sự bóp méo gây ra bởi chính sách của Chính phủhoặc sự thiếu hoàn hảo của thị trường Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhữnghạn hẹp về số liệu và tài nguyên có thể sẽ giới hạn phép phân tích ở đánh giá tàichính Chỉ những hàng hóa và dịch vụ được thị trường hóa mới có thể được định giáthông qua việc sử dụng những giá thị trường “chưa được chỉnh”

Trong mỗi trường hợp, cách làm bình thường là giảm những trị giá thườngniên xuống bằng trị giá hiện tại Việc này đòi hỏi nhà phân tích lựa chọn một tỷ lệchiết khấu (xem hộp 3.2) Tuy không thể xác định được cả trị giá tài chính lẫn trịgiá kinh tế nhưng người ta có thể chỉ ra những thay đổi vật lý trong hàng hóa vàdịch vụ do đất ngập nước cung cấp hay trong bất cứ tác động môi trường nào.Trong phần thảo luận tiếp theo, ba giai đoạn trong quá trình thẩm định đượcminh họa bằng cách giả định rằng một đánh giá kinh tế hoàn chỉnh là mục tiêu cuốicùng

3.1 Giai đoạn một: Xác định vấn đề và phương pháp đánh giá

Giai đoạn đầu của một quá trình đánh giá là xác định mục tiêu hoặc vấn đềchung Như đã chỉ trong hình 3.1, loại phương pháp đánh giá kinh tế được chọn sẽphụ thuộc trực tiếp vào vấn đề trước mắt nhà phân tích

Ba phân loại bao quát của vấn đề là thích hợp nhất với định giá kinh tế củađất ngập nước Tương ứng với mỗi mục tiêu định giá thì có một phương pháp đánhgiá đặc thù Trong hình 3.1 thì chúng là:

đặc biệt từ môi trường xung quanh (ví dụ sự cố tràn dầu tại một vùng đất ngập nướcven biển)

nước (ví dụ khơi nước từ vùng đất ngập nước cho các mục đích sử dụng khác hoặccải tạo/phát triển một phần của đất ngập nước thay cho các sử dụng khác)

thuần, của hệ đất ngập nước đối với xã hội (ví dụ đóng góp cho thu nhập quốc giahoặc xác định giá trị của đất ngập nước như là một vùng được bảo vệ)

Ưu thế của khuôn mẫu này là tính mềm dẻo của nó Các số liệu và phân tích

có thể được điều chỉnh phù hợp với những nhu cầu đặc biệt của các nhà hoạch địnhchính sách

Trang 25

Hình 3.1 Khuôn mẫu đánh giá đối với định giá kinh tế đất ngập nước.

Nguồn: sửa từ IIED (1994)

Hộp 3.2 Thời gian và chiết khấu trong định giá kinh tế

Khi các nhà kinh tế định giá lợi ích và chi phí được kéo dài trong nhiều quãng thời gian thì họ

có thể sử dụng một trong hai cách tiếp cận Trong trường hợp thứ nhất, họ coi là các cá nhân nhận thức về lợi ích và chi phí về lâu dài khác với lợi ích và chi phí tức thời trước mắt Nói chung, xu hướng quan sát được là chúng ta muốn hoãn chi phí và muốn thu lợi càng sớm càng tốt (phân tích

cách tiếp cận này xem Price (1993)) Ngữ cảnh này được gọi là ưu tiên thời gian và nó được các cơ

quan tài chính bắt chước họ phải trả lãi cho tiền đặt cọc, phản ánh nhu cầu hoàn trả một khoản tiền lớn hơn cho một cá nhân vào một thời điểm muộn hơn để sử dụng nguồn vốn trong khoảng thời gian cho tới ngày đó Để tính tới ưu tiên thời gian trong định giá và trong các nghiên cứu về chi phí-lợi nhuận, các nhà kinh tế dùng một tỷ lệ chiết khấu để cân đối lợi ích và chi phí xảy ra trong những khoảng thời gian khác nhau, tương tự như trả lãi cho tài khoản ngân hàng Vì chúng ta thích có một món tiền ngay hơn là phải chờ đến lúc muộn hơn, chúng ta cân những giá trị hiện tại nặng hơn giá trị này tại thời điểm xa hơn Để thực hiện việc này, chúng ta dùng một hệ số chiết khấu được đưa vào trong tỷ lệ chiết khấu đã chọn Cân đối một loạt các giá trị lợi ích và chi phí, và cộng chúng lại sẽ

cho giá trị hiện tại Khi ta đã tính được các giá trị hiện tại của lợi ích và chi phí, chúng ta có thể lấy hiệu của hai giá trị ấy, gọi là hiệu thuần (net present value), và coi là chỉ số cho sự sống còn của một

dự án, nói theo ngôn ngữ kinh tế

Cách tiếp cận thứ hai là xem xét chi phí cơ hội của vốn được đầu tư vào một dự án, đề cập tới

lợi tức có thể thu được bằng cách đầu tư khoản vốn này vào cơ hội tốt nhất tiếp theo Phần lợi tức bị mất đi này đại diện cho chi phí của khoản vốn được sử dụng trong dự án, và lợi tức thuần (nghĩa là lợi tức trừ đi chi phí) của dự án của chúng ta ít nhất phải bằng lợi tức mất đi này nếu dự án được coi

là khả thi Như vậy, khi cân đối lợi nhuận và chi phí trong những khoảng thời gian khác nhau chúng

ta sử dụng chi phí cơ hội của vốn như là tỷ lệ chiết khấu của ta để phản ánh những lợi ích mà dự án phải sinh ra được, nếu đó là một đầu tư hấp dẫn.

Lựa chọn tỷ lệ chiết khấu là một vấn đề có nhiều tranh cãi, và sẽ phụ thuộc một phần vào việc chúng ta sử dụng cách tiếp cận ưu tiên thời gian hay chi phí cơ hội của vốn Thêm vào đó, một số nhà nghiên cứu lại lý luận rằng tỷ lệ chiết khấu phải cao vì có nhiều dự án gây thiệt hại cho môi trường và phải bị phạt, trong khi đó một số khác lại cho rằng không nên sử dụng bất kỳ một tỷ lệ chiết khấu nào để kết hợp đánh giá tính bền vững và lợi ích của những thế hệ tương lai Những ảnh hưởng của các dự án đối với môi trường là trên một dải rất rộng lớn, nghĩa là việc lựa chọn một tỷ lệ chiết khấu thích hợp cũng có thể sẽ thay đổi theo hoàn cảnh Tuy vậy, điều đó gây ra khó khăn vì nói chung người ta ưa dùng chỉ một tỷ lệ chiết khấu cho tất cả các dự án được đưa ra đánh giá nhằm đảm bảo tính nhất quán và cho phép so sánh các dự án với nhau Nếu thực hiện như vậy (nghĩa là ngược với việc dùng từng tỷ lệ chiết khấu riêng cho mỗi dự án) thì tác động tổng thể của tỷ lệ chiết khấu cao hay thấp đối với môi trường sẽ trở nên mơ hồ: ví dụ với tỷ lệ chiết khấu cao thì các dự án hại tới môi trường sẽ bị phản đối và mức độ đầu tư tổng thể, và do đó tốc độ sử dụng tài nguyên thiên nhiên, sẽ giảm, nhưng điều đó sẽ được đổi lấy cân đối mức tiêu thụ của thế hệ hiện tại cao hơn các thế hệ tương lai (Pearce, Markandya và Barbier, 1989) Kết quả là làm xuất hiện sự nhất trí rằng không cần chỉnh lại tỷ lệ chiết khấu chuẩn khi định giá những giá trị môi trường, thay vào đó, các kỹ thuật khác sẽ được dùng để điều chỉnh cho mọi điều kiện liên quan đến lợi ích và chi phí môi trường (Markandya và Pearce, 1988).

Ví dụ, có thể không cần định giá các phương án sử dụng đất khác nếu vấn đềliên quan là tác động bên ngoài của một hoạt động đặc biệt nào đó Tương tự, có thểkhông cần ước tính tổng giá trị của đất ngập nước trong tất cả các phương án sửdụng tiềm tàng nếu các nhà hoạch định chính sách muốn so sánh chi phí và lợi íchtương đối của một số hữu hạn các phương án đề nghị

Trang 26

Trước khi xem xét giai đoạn 2 và 3 của quá trình đánh giá, rất đáng giải thích

sơ bộ về những gì liên quan đến từng phương pháp tiếp cận đã nêu

Phân tích tác động

Cách tiếp cận thứ nhất, phân tích tác động, là phương pháp phù hợp nhất

trong các hoàn cảnh khi việc xáo trộn một vùng đất ngập nước nào đó sẽ dẫn đếnnhững tác động đặc biệt cho môi trường cụ thể10 Ví dụ, giả sử là dầu thải thườnglàm ô nhiễm vùng đất ngập nước cửa sông, ảnh hưởng đến cả sản xuất cá và chất

lượng nước trong vùng đất ngập nước Các mức giá (chi phí) của việc này là tổn

thất các giá trị của đất ngập nước do hệ sinh thái và các tài nguyên của nó bị tổn

hại Những tổn hại này có thể hợp thành những tổn thất của lợi tức sản xuất thực

(nghĩa là những lợi tức kinh tế của sản xuất trừ đi chi phí) do tác động của dầu

loang ra trên vùng đánh cá, cộng với tổn thất của lợi tức môi trường thực nghĩa là

sự giảm chất lượng nước cung cấp cho vùng đất ngập nước và các vùng dân cưxung quanh, cũng như cung cấp cho cả vùng sinh thái chung hoạt động Như vậy,qua đánh giá và định giá những tổn thất đó, chúng ta có thể đánh giá ước tính đượclợi nhuận sản xuất và môi trường thực của vùng đất ngập nước bị mất đi do tràndầu Tổng chi phí của tác động này tính theo thiệt hại đối với đất ngập nước là lợiích thực đã được tính là mất đi

Về bản chất, phân tích tác động cho thấy khai thác dầu gây ra chi phí ngoạibiên cho hệ đất ngập nước Những chi phí ngoài dự đoán này phải được cân đối với

lợi tức thực thu được từ công trình ản xuất dầu bổ sung Như vậy, chỉ bằng cách

đánh giá và định giá các tổn thất ngoại biên từ việc giảm chất lượng nước và giảmsản lượng cá trong vùng đất ngập nước, chúng ta có thể có đánh giá đúng về lợi tứcthuần của công trình phát triển khai thác dầu (xem hộp 3.5) Thậm chí nếu nhữnglợi tức đó vượt quá chi phí của tác động hoặc thải dầu, thì việc tính toán những tácđộng đó đối với đất ngập nước có thể là quan trọng để xác định xem có đáng đầu tưvào việc giảm ô nhiễm dầu hay không

Như đã nói trong mục 2.1, từ góc độ chính sách thì việc đánh giá các tác độngphân bố của việc khai khẩn đất ngập nước cũng có thể là quan trọng, tính theo khuvực cộng đồng nào bị ảnh hưởng xấu nhất Cuối cùng, nếu chi phí ngoài dự kiếncủa việc xáo động đất ngập nước là không thể tránh được thì có thể vẫn là hiệu quảkinh tế nếu tiếp tục xây dựng công trình phát triển dầu trong thời gian ngắn, nhưnggiải pháp này có thể là không bền vững trong thời gian dài11

Định giá bộ phận

Loại đánh giá chi phí-lợi ích thứ hai là định giá bộ phận, là phương pháp

chính được dùng để đánh giá các phương án sử dụng đất ngập nước khác nhau Nhưvậy, những phương án lựa chọn bao gồm đổi hướng, phân bổ hoặc cải tạo tàinguyên đất ngập nước phải so sánh lợi tức thuần tái tạo bởi từng phương án sử dụngđất ngập nước Ví dụ, giả định là có một dự án về thủy lợi vùng thượng lưu trên mộtcon sông đang cung cấp nước cho nông nghiệp Nếu dự án này lấy mất nước cấp

10 Phân tích tác động, như được đề cập đến ở đây, không được lẫn với Đánh giá tác động môi trường (EIA), đại diện cho một phương pháp thẩm định, như được mô tả trong Phụ lục 2 ở đây, chúng tôi chỉ quan tâm tới việc xác định cách thức nhìn nhận vấn đề một cách thích hợp, trong khi EIA lại đại diện cho một công cụ để hiểu một thẩm định.

11Với những thảo luận kỹ hơn về vấn đề này, xem Barber, Markandya và Pearce (1990).

Trang 27

cho vùng đất ngập nước vùng hạ lưu thì mọi hậu quả là tổn thất về lợi ích của đấtngập nước phải được tính vào như là một phần chi phí tổng thể của dự án Nếu phầnlợi ích bị mất đicủa đất ngập nước là đáng kể thì mọi sai lầm trong việc đánh giá tổnthất của đất ngập nước rõ ràng sẽ dẫn đến việc đánh giá quá cao lãi thực (netbenefits) của các dự án phát triển (xem hộp 3.5) Điều này ngang với việc cho rằngkhông có chi phí kinh tế nào cho việc lấy nước ngập từ vùng đất ngập nước, màthực ra thì rất hiếm khi là như vậy Hơn thế, cũng có thể không cần thiết phải tínhtoán tất cả mọi lợi ích của vùng đất ngập nước bị ảnh hưởng, ví dụ, một hoặc hai tácđộng sẽ tỏ ra đủ lớn để cho dự án phát triển là không kinh tế Trong mọi trường hợpthì không cần thiết phải xem xét tất cả mọi lợi ích của đất ngập nước mà chỉ nhữnglợi tức nào bị ảnh hưởng bởi dự án phát triển - đó là lý do vì sao cách tiếp cận nàyđược gọi là “định giá bộ phận”.

Hộp 3.3 Ví dụ áp dụng phân tích tác động áp dụng trong định giá kinh tế

Hộp 3.4 Ví dụ về áp dụng phân tích bộ phận trong định giá đất ngập nước

Trang 28

Định giá tổng thể (Total valuation)

Cách tiếp cận đánh giá thứ 3 - định giá tổng thể - là thích hợp nhất khi cần

đến việc tính toán chi tiết chi phí và lợi ích gắn với việc gìn giữ một vùng đất ngậpnước cụ thể

Hộp 3.5 Các định giá tác động, bộ phận và tổng thể - một phép phân tích hình

thức hơn.

Các cách tiếp cận đánh giá đã được mô tả trong bài là đánh giá tác động, bộ phận vàtổng thể có thể được định nghĩa theo một cách hình thức và toán học hơn để trợ giúp ta thấy

rõ các đặc điểm phân biệt Đối với phân tích tác động thì chúng ta có thể dùng ví dụ về

việc thường xuyên thải dầu làm ô nhiễm đất ngập nước như đã nêu ở trên Những tổn thấtcủa lãi sản xuất thực do tác động của tràn dầu đối với ngành ngư nghiệp của vùng đất ngậpnước cộng với thất thoát của lợi ích môi trường thực (net environmental benefits) (nghĩa làlàm giảm chất lượng của nguồn nước cung cấp cho vùng đất ngập nước và xung quanh,cũng như cung cấp cho hoạt động chung của hệ sinh thái) có thể được gọi là NBW Tổngchi phí của tác động đối với đất ngập nước, gọi là CI, chính là lợi ích đã bị mất đi:

CI = NBWNếu NBD là lợi nhuận ròng trực tiếp của sản xuất dầu, thì xét từ khía cạnh xã hội,việc tăng cường khai thác dầu chỉ đáng làm nếu:

NBD > CI

Đối với định giá bộ phận, giả định như trong bài đã nêu là một dự án thủy lợi vùng

thượng lưu lấy nước từ vùng đất ngập nước hạ lưu dẫn tới thiệt hại nguồn lợi đất ngậpnước Những thiệt hại này phải được đưa vào là một phần của chi phí tổng thể của dự án.Gọi lợi ích trực tiếp (nghĩa là nước thủy nông cho các trang trại) là BD và chi phí trực tiếp(nghĩa là chi phí cho xây dựng đê, các kênh thủy nông, v.v.) là CD, như vậy lợi nhuận ròngtrực tiếp của dự án là:

NBD = BD - CD

Một vài ví dụ có thể giúp minh họa cho cách tiếp cận định giá bộ phận Một phân tích do Barbie và cộng sự (1993) theo cách tiếp cận này đã được tiến hành cho đồng cỏ ngập nước Hadejia- Jama’are ở Bắc Nigeria có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi công trình phát triển nước thượng nguồn Phân tích cho thấy lãi thực (net benefits) của nông, ngư nghiệp và chất đốt (củi) của vùng này lớn hơn nhiều so với lãi thực của dự án thủy lợi thượng nguồn với dự tính lấy nước từ đất ngập nước.

Ví dụ, các tác giả ước tính hiệu giá thuần (net present value) của lãi từ nông, ngư nghiệp và chất đốt của vùng đất ngập nước này là từ 523 đến 381 naira (35 đến 51 USD) trên 1 ha (theo giá năm 1989/90), trong khi đó hiệu giá thuần của lợi ích từ việc lấy nước cho công trình thủy lợi chỉ có 153 đến 233 naira (20 đến 31 USD) trên 1 ha Sự khác biệt còn lớn hơn nếu tính lãi theo lượng nước sử dụng (tức là tính trên nghìn mét khối nước) chứ không theo đơn vị diện tích.

Hanley và Craig (1991) tiến hành một định giá bộ phận của các phương án sử dụng than bùn của vùng “Flow Country”, Bắc Scotland Vùng này có than bùn bao phủ hơn 400.000 ha, có nhiều thực vật độc đáo và là sân chim quan trọng Người ta đã biến đổi vùng này bằng việc trồng thông

và cây vân sam theo các khu rừng trồng Vùng này đã bị thiệt hại bởi xáo động sinh cảnh, gián đoạn chế độ nước và đất, tăng quá trình lắng và xói mòn, và thải carbon vào không khí Các tác giả

tính lãi thực của việc trồng cây và ước tính rằng hiệu giá thuần của sự quay vòng vô tận là âm,

khoảng 895 bảng Anh (1595 USD) trên 1 ha (thời giá 1990), gợi ý rằng đó chỉ là kết quả của những khoản tiền do chính phủ chi cho việc trồng cây được khởi công (những khoản chi này đã phải bãi bỏ sau đó) Lợi ích của việc gìn giữ khu vực này trong trạng thái tự nhiên của nó được

đánh giá thông qua điều tra ý kiến các cá nhân về mức thuận trả (willingness-to-pay) để bảo tồn

khu vực này (xem hộp 3.8) Hiệu giá thuần của việc bảo tồn khu vực này được ước tính là 327 bảng Anh (580 USD) trên 1 ha, ngược với giá trị âm của phương án biến khu sình lầy này thành khu trồng cây

Trang 29

Tuy nhiên, việc lấy nước lẽ ra sẽ chảy vào đất ngập nước vùng hạ lưu sẽ khiến choviệc phát triển của dự án làm tổn hại đến nông nghiệp của vùng đồng cỏ ngập nước và cáchoạt động sản xuất sơ cấp khác, làm giảm hồi phục nước ngầm và nhiều tác động ngoại vi

khác Tính các thiệt hại đó vào trong lợi ích môi trường và sản xuất thực (net production

and environmental benefits), NBW, của vùng đất ngập nước, như vậy lãi thực của việc triểnkhai dự án (NBP) là NBD - NBW Dự án chỉ được chấp thuận triển khai nếu:

NBP = NBD - NBW > 0Một mục tiêu cần đến định giá tổng thể có thể (như trong bài đã nêu) là sự cần thiếtphải xác định xem một vùng đất ngập nước có nên trở thành vùng được bảo vệ hay không.Muốn vậy thì lợi nhuận thực tổng thể của đất ngập nước, NBW, phải lớn hơn chi phí trựctiếp, CP, của việc lập khu bảo vệ, bao gồm mọi chi phí để di chuyển và đền bù cho nhữngngười đang sử dụng vùng đất này, cộng thêm với những lợi ích bị mất đi, NBA, của cácphương án sử dụng khác của vùng đất ngập nước đó:

NBW > CP + NBA

Ví dụ, như là một phần của bài toán kế toán nguồn tài nguyên thiên nhiên, cóthể cần tính tổng đóng góp về kinh tế của một vùng đất ngập nước nào đó đối vớiphúc lợi của toàn xã hội Trong trường hợp này, mục đích là tính càng nhiều lợi íchthực từ sản xuất và môi trường gắn với vùng đất ngập nước đó thì càng tốt12

Mục tiêu khác cần đến định giá tổng thể là nhu cầu xác định xem vùng đấtngập nước nào đó có nên trở thành khu vực được bảo vệ, chỉ được phép sử dụnghạn chế hay sử dụng có kiểm soát Như vậy thì tổng lợi ích thực của đất ngập nướcphải cao hơn chi phí trực tiếp, CP, cho việc lập khu bảo vệ (bao gồm mọi chi phí để

di chuyển và đền bù cho những người đang sử dụng vùng đất này), cộng với lợi ích

bị mất đi của các phương án sử dụng khác của vùng đất ngập nước đó.

Hộp 3.6 Ví dụ áp dụng định giá tổng thể cho đất ngập nước

Có thể trích dẫn nhiều ví dụ về những nghiên cứu định giá tổng thể đất ngập nước Costanza, Farber và Maxwell (1989) xem xét các vùng đất ngập nước ven biển Louisiana đã thử làm một định giá toàn phần trong đó bao gồm ước tính lãi suất của đánh cá, thương mại, săn bắt, giải trí và chống bão Bằng nhiều kỹ thuật khác nhau, các tác giả đã ước tính trị giá toàn phần của những nguồn lợi chính từ đất ngập nước là 2,429 USD / mẫu Anh (dùng tỷ lệ chiết khấu là 8%) Ngành đánh cá và săn bắt chiếm 19% tổng trị giá, giá trị giải trí chiếm 2% và chống bão lụt chiếm phần còn lại Trong chương 4 có mô tả kỹ trường hợp nghiên cứu này.

Green (1994) tiến hành nghiên cứu định giá toàn phần của những đồng cỏ ngập nước sông Danube để trợ giúp cho việc xác định những nguồn lợi tiềm tàng của việc cải thiện chất lượng nước

và quản lý tổng thể sông Danube Tuy rằng một số giá trị dựa trên chuyển số liệu về lợi ích (xem hộp

3.7), tác giả đã làm những tính toán xác đáng về các sản phẩm chủ chốt thu hoạch từ đồng cỏ ngập nước (ví dụ gỗ, cỏ khô và cá), cũng như giá trị giải trí và giữ nitơ là một chức năng sinh thái quan trọng trong một hệ sông ô nhiễm như ở đây Tổng giá trị kinh tế của những phương án chính sử dụng đồng cỏ ngập nước là 458 USD / ha/ năm (thời giá 1993) Trong đó giá trị của vai trò của vùng này như là một bể chứa nitơ chiếm tới 56% tổng số và giá trị giải trí chiếm 29% 15% còn lại thu từ các sản phẩm gỗ, cỏ khô và cá.

12 Luận bàn thêm về các phương pháp kiểm toán nguồn tài nguyên áp dụng với các nguồn tài nguyên môi trường, xem Lutz (1993).

Trang 30

3.2 Giai đoạn hai: xác định phạm vi và giới hạn của việc định giá và các nhu cầu

về thông tin

Sau khi đã xác định được phương pháp tiếp cận đánh giá kinh tế thích hợpcho vấn đề được đặt ra thì bước tiếp theo là xác định phép phân tích và nhu cầuthông tin cần dùng để tiến hành đánh giá Bước một là hoạch định khu vực đất ngậpnước được xét, thang thời gian của việc phân tích và những giới hạn địa lý và giớihạn phân tích của hệ thống Những thông số này sẽ khác biệt phụ thuộc vào loại vấn

đề cần được phân tích Ví dụ, một phép phân tích tác động của việc thay đổi chấtlượng nước và dòng chảy đối với một vùng đất ngập nước sẽ phải bao gồm cảnhững hoạt động trong phạm vi “phân tích” của vùng ấy và khung thời gian đủ đểthâu tóm quá trình thay đổi của chế độ dòng chảy và những tác động của sự suythoái chất lượng nước Ngược lại, mọi cố gắng đo lường mức đóng góp tổng thể vềkinh tế của một vùng đất ngập nước nào đó cho phúc lợi của toàn xã hội sẽ phải cógiới hạn phân tích vô cùng rộng lớn, đủ để bao gồm toàn bộ giá trị xã hội khả quancủa đất ngập nước cũng như khung thời gian rất dài, đủ dài để thâu tóm những ýnghĩa liên thế hệ

Khi những giới hạn về hệ thống và giới hạn phân tích đã được vạch ra thì cần

có phân tích tiếp theo để xác định những đặc trưng cơ bản của vùng đất ngập nướcđược đánh giá Trong một đánh giá kinh tế, chúng ta hết sức quan tâm đến việc

“định giá” những đặc trưng này Trong sinh thái học, người ta thường phân biệtgiữa các chức năng điều chỉnh môi trường của một hệ sinh thái (ví dụ chu kỳ dinhdưỡng, chức năng tiểu khí hậu, dòng năng lượng v.v.) và các thành phần cấu tạo của

nó (ví dụ sinh khối, vật chất vô sinh, các loài động, thực vật v.v.) Sự phân biệt này

là hữu ích từ khía cạnh kinh tế vì nó tương đương với những phân loại tiêu chuẩncủa dự trữ tài nguyên hoặc hàng hóa (ví dụ những thành phần cấu trúc) phân biệtvới các dòng môi trường hoặc dịch vụ môi trường (ví dụ các chức năng sinh thái).Các nhà kinh tế cũng có xu hướng phân biệt giữa sử dụng mang tính tiêu thụ các tàinguyên (ví dụ cá, củi, thức ăn rừng v.v.) và sử dụng phi tiêu thụ của các dịch vụ của

hệ tự nhiên (ví dụ giải trí, du lịch, sử dụng giáo dục v.v.) Thêm nữa, về tổng thể,các hệ sinh thái nhìn chung thường có những thuộc tính nhất định (đa dạng sinhhọc, tính độc đáo và di sản văn hoá) có giá trị kinh tế vì chúng dẫn tới một số sửdụng nhất định về kinh tế hoặc vì chính chúng đã có giá trị

Hộp 3.7 Phép chuyển số liệu về lợi ích: cách làm tắt hay là một kỹ thuật sai

lệch?

Phép chuyển số liệu về lợi ích (benefits transfer) đề cập tới việc sử dụng những giá trị đã được tính toán cho một tình huống chính sách hay một địa điểm làm cơ sở chuẩn để đánh giá một tình huống chính sách hay một địa điểm đang được xét Những nghiên cứu chuyển giao số liệu lợi ích thường là cách duy nhất khi số liệu quá nghèo nàn hoặc nguồn vốn không đủ để tiến hành đánh giá đầy đủ Ví dụ, Gren (1994) trình bày một nghiên cứu định giá tổng thể trong đó lợi tức của việc giảm lượng nitơ ở đất ngập nước dọc sông Danube đã được đánh giá thông qua việc sử dụng thông tin về đất ngập nước trên đảo Gotland, Thụy Điển Việc có nên theo cách làm này hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố chứ không chỉ là sự tương đồng giữa hai địa điểm Chuyển giao số liệu lợi ích có thể là không đáng tin cậy và gây hiểu nhầm trong một số trường hợp, vì thế biện luận quen thuộc là một ít số liệu vẫn tốt hơn không có số liệu nào có thể không đứng vững Khi quyết định xem

có nên tiến hành phân tích với số liệu gốc thu được để ước tính một số giá trị của đất ngập nước thì phải có sự cân nhắc và so sánh giữa chi phí cho việc thu thập thông tin và những bất lợi nếu không

có thông tin đó Trong trường hợp sau thì dùng phép chuyển số liệu lợi ích có thể là một phương án

Trang 31

khả thi, nhưng điều này phụ thuộc vào vấn đề chính sách được xem xét và tính sẵn có của các mức lợi ích ước tính trước đây được dùng làm cơ sở cho nghiên cứu chuyển giao số liệu này.

Krupnick (1993) 1 phân tích những hoàn cảnh mà ở đó phép chuyển số liệu lợi ích có thể là phù hợp và chỉ ra rằng việc đánh giá những tác động tới sức khỏe có thể dễ sử dụng phép chuyển giao dữ liệu hơn là việc đánh giá những tác động khác, ví dụ những thay đổi về các giá trị giải trí Vì tác động của sự thay đổi môi trường ảnh hưởng tới các cá thể là gián tiếp, thông qua tính mẫn cảm của thể trạng sức khỏe, nên những nghiên cứu về giá trị mà các cá nhân gán cho việc tránh những vấn đề về sức khỏe có thể được sử dụng độc lập với nguồn gốc một vấn đề đặc thù nào đó, với điều kiện có sự cẩn trọng thỏa đáng Một nghiên cứu trường hợp về giảm lượng nitơ ở vùng đất ngập nước được mô tả ở chương 4 (Gren, 1995) đã sử dụng cách tiếp cận này, nghĩa là sử dụng các ước tính về giá trị mà các cá nhân gán cho của việc giảm nồng độ nitơ trong nước uống mà điều này độc lập với việc loại nitơ ra khỏi nước như thế nào Đối với giá trị giải trí là một giá trị quan trọng của việc sử dụng đất ngập nước thì các khó khăn trong việc dùng phép chuyển giao số liệu lớn hơn nhiều

vì các giá trị có khuynh hướng phụ thuộc rất chặt chẽ vào địa điểm và các đặc thù của nhóm người được phỏng vấn Các nghiên cứu có thể có trọng tâm khác nhau, như trong việc phân tích những thay đổi về lượng đối lập thay đổi về chất Ở những chỗ mà các thuộc tính thấy được đang bị đe dọa thì càng có nhiều khó khăn hơn trong việc dùng phép chuyển giao số liệu về lợi ích.

Hiện tại vẫn đang thiếu những quy trình rõ ràng như quy trình mới nổi dùng trong kỹ thuật

định giá là định giá ngẫu nhiên (xem hộp 3.8) Krupnick gợi ý một số hướng dẫn khả quan cho các

nhà hoạch định chính sách cân nhắc khả năng sử dụng phép chuyển giao số liệu lợi ích Hiển nhiên

là nếu càng có nhiều sự tương đồng giữa hai nơi, không chỉ về địa điểm mà còn về thị trường và người sử dụng, thì phương pháp chuyển giao số liệu càng thích hợp hơn Ở những chỗ mà yêu cầu hoặc những chức năng giá trị đã được nêu trong những nghiên cứu khởi thủy thì chúng phải được sử dụng đồng thời với những quan sát về biến thiên ở địa điểm hay quần thể đang được nghiên cứu chứ không chỉ dùng trung bình của các giá trị lấy từ nghiên cứu nguồn Một điều quan trọng hơn, nhu cầu sử dụng phép chuyển giao số liệu gợi ý cần phải chú ý nhiều hơn đến thiết kế các nghiên cứu thu thập số liệu nguồn để kết hợp các tính toán sao cho dễ sử dụng hơn trong khi làm phép chuyển giao

dữ liệu sau này Một bước tiến theo đúng hướng là báo cáo chi tiết hơn về các phương pháp luận và

số liệu đã sử dụng trong các nghiên cứu khởi thủy, bao gồm giá trị trung bình của các tham số độc lập và các phương trình đã sử dụng dể tính các giá trị kinh tế Tất nhiên là mỗi nhà quy hoạch khi định sử dụng phép chuyển dữ liệu lợi ích để ước tính các giá trị của đất ngập nước phải đánh giá cẩn thận các bộ số liệu gốc sẽ được sử dụng nhằm bảo đảm cho tính thích hợp của việc làm với nhiệm vụ này

1. Số đặc biệt của tạp chí Water Resources Research (vol 28, no 3) cũng có một loạt bài về phép chuyển giao số

liệu lợi ích.

Bước tiếp theo là xác định loại của giá trị gắn với từng bộ phận cấu thành, cácchức năng và thuộc tính của hệ đất ngập nước Một cách làm hữu ích trước đây là

phân biệt giữa các giá trị sử dụng trực tiếp (ví dụ các giá trị xuất phát từ việc sử

dụng trực tiếp hoặc tương tác với một nguồn tài nguyên hay dịch vụ của đất ngập

nước); các giá trị sử dụng gián tiếp (hỗ trợ gián tiếp và bảo vệ nhờ các chức năng tự

nhiên của đất ngập nước hoặc dịch vụ điều chỉnh môi trường cung cấp cho hoạt

động kinh tế và tài sản); và các giá trị phi sử dụng (là các giá trị không xuất phát từ

sử dụng trực tiếp hay gián tiếp đất ngập nước) Nên dùng cách phân nhóm này khichuyển các đặc thù của đất ngập nước sang ngôn ngữ kinh tế

Trong mục 2.2 có nêu những loại giá trị kinh tế chính gắn với đất ngập nước,

đó là tài nguyên chung, chức năng và thuộc tính của đất ngập nước được liệt kêtrong phụ lục 1 Tùy thuộc vào hệ đất ngập nước và vấn đề quản lý mà các đặc thùsinh thái và giá trị kinh tế khác nhau sẽ được coi là quan trọng Khi mà những đặcthù và giá trị chủ yếu đã được xác định thì chúng cần được xếp hạng Cơ sở để xếphạng cũng thay đổi tùy theo phương pháp đánh giá Ví dụ, trong một đánh giá tácđộng thì tiêu chuẩn để xếp hạng hầu như chắc chắn sẽ dựa trên loại tài nguyên, chứcnăng và thuộc tính nào của đất ngập nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các tác độngđang được đánh giá Đối với định giá từng phần thì điều quan trọng là xác định tầm

Trang 32

quan trọng tương đối của các giá trị khác nhau và xác định “hiệu quả chi phí” củaviệc tích lũy và đánh giá số liệu Như vậy, khi so sánh các phương án sử dụng đấtngập nước khác nhau người ta phải xác định được những tài nguyên, chức năng vàthuộc tính nào của đất ngập nước là thiết yếu đối với việc đánh giá những phương

án lựa chọn khác nhau và việc định lượng và định giá chúng dễ dàng đến mức nào.Đối với định giá toàn phần thì các tiêu chuẩn cũng tương tự, nhưng vì mục đích làước tính tổng mức đóng góp kinh tế của đất ngập nước nên ít nhất người ta phảiđánh giá những đặc thù mà có đóng góp nhiều nhất cho giá trị tổng thể và nếu cóthể thì thử định giá tất cả các giá trị chủ yếu Ngược lại, trong khi định giá bộ phậnthì trước tiên người ta sẽ định giá những đặc thù đồng thời là quan trọng và thíchhợp, sau đó mới định giá những giá trị khó hơn nếu thấy cần thiết Chẳng hạn, việctính các giá trị sinh tồn là khó và chỉ nên coi là phương sách cuối cùng khi nhữnggiá trị dễ đo đếm hơn không thuyết phục được rằng bảo tồn là phương án nên chọn.Đồng cỏ ngập nước Hadejia-Nguru (xem mục 4.1) là một thí dụ sử dụng cách tiếpcận này, nhưng lại có khả năng chỉ trình diễn rằng bảo tồn là phương án nên chọn

mà không cần viện đến các tính toán về các giá trị sinh tồn

Trong bảng 3.1 và 3.2 có sử dụng các thí dụ của vùng Trung Mỹ để minh họatầm quan trọng của việc xác định và xếp loại những giá trị sử dụng trực tiếp và giántiếp và phi sử dụng đối với các hệ đất ngập nước khác nhau Hai thí dụ trong đó là

hệ đất ngập nước ngọt ở Guatemala và hệ rừng ngập mặn ven biển ở Nicaragua Vùng đất ngập nước Petexbatun là hệ nước ngọt nằm trong bang Peten ở miềnbắc Guatemala (Bảng 3.1) Vì đó là một hệ xa xôi trong vùng rừng rậm nhiệt đớinên các giá trị sử dụng trực tiếp quan trọng nhất xuất phát từ tài nguyên rừng vùngđất ngập nước và nguồn cung cấp nước của hệ thống Các chức năng sinh thái quantrọng nhất là kiểm soát lũ và dòng chảy của sông Petexabatun, bảo vệ bờ biển/ sông,giữ trầm tích và là nguồn bổ sung “dinh dưỡng” cho các vùng cá cửa sông quantrọng Một dịch vụ thiết yếu do vùng đất ngập nước này cung cấp là nó được sửdụng trực tiếp cho giao thông đường thủy của dân địa phương Các giá trị sử dụngtrực tiếp, gián tiếp và phi sử dụng của đa dạng sinh học của hệ đất ngập nước nàykhông thực sự đáng kể, và hầu như không có gì để cho rằng nó có giá trị về văn hoá

và di sản đặc sắc

Vùng rừng ngập mặn ven bờ biển Bắc Thái Bình Dương nằm gần cảng lớn ởCorinto, Nicaragua (Bảng 3.2) Hệ rừng ngập mặn này có những giá trị sử dụng trựctiếp quan trọng tương tự như vùng đất ngập nước ngọt của Guatemala như khai tháctài nguyên rừng, cung cấp nước và giao thông đường thủy Tuy nhiên, vị trí củavùng đất ngập nước gần cảng Corinto và trong khu vực có hoạt động nông nghiệp

và ngư nghiệp quan trọng đã gợi ý rằng vùng này cung cấp một số dịch vụ môitrường then chốt Trong một vùng rất dễ bị ảnh hưởng của dông bão và gió xoáynhiệt đới thì vai trò chống bão, cản gió và chức năng kiểm soát dòng chảy của vùngrừng ngập mặn là hết sức quan trọng Tương tự như trên, khả năng giữ trầm tích vàdinh dưỡng của rừng ngập mặn có thể làm giảm chi phí nạo vét cảng và các đườngthủy quan trọng Cuối cùng, vì là khu sinh sản của tôm cá nên vùng rừng ngập mặnnày là nguồn hỗ trợ bên ngoài rất quan trọng cho các bãi cá ngoài khơi trong khuvực Đa dạng sinh học của hệ này không có gì đặc biệt, nhưng vì đây là địa điểmđịnh cư và đường thủy từ lâu đời ở Nicaragua nên vùng đất ngập nước này cũng cóthể có một số giá trị di sản

Trang 33

Bảng 3.1 Sử dụng các đặc thù của đất ngập nước: Petexbatun, Peten

4 Thức ăn cho gia súc

5 Tài nguyên nông nghiệp

Khóa: ♦ = thấp ♦♦ = trung bình ♦♦♦ = cao

Nguồn: Barbier (1989a và 1989b)

Nhận dạng giới hạn của hệ thống và giới hạn phân tích, liệt kê các đặc thù vàgiá trị và xếp loại chúng theo tầm quan trọng đối với phép đánh giá đều là nhữngbước quan trọng trong việc xác định loại thông tin yêu cầu cho phân tích Nếunhững nhu cầu thông tin trên được thẩm định chính xác thì sẽ dễ dàng hơn trongviệc xác định sự hạn hẹp của những nguồn lực đối với việc lấy thông tin, phươngpháp cần thiết để thu thập số liệu và sự lựa chọn thích đáng các kỹ thuật định giá

Bảng 3.2 Sử dụng các đặc thù của đất ngập nước: rừng ngập mặn ven

bờ Bắc Thái Bình dương, vùng 1, Nicaragua Giá trị kinh tế trực tiếp gián tiếp không sử dụng

Trang 34

5 Tài nguyên nông nghiệp

5 Duy trì dinh dưỡng

6 Bảo trì chất lượng nước

Khóa: ♦ = thấp ♦♦ = trung bình ♦♦♦ = cao

Nguồn: Barbier (1989a và 1989b)

3.3 Giai đoạn ba: Xác định các phương pháp thu thập số liệu và các

kỹ thuật định giá cần thiết để đánh giá kinh tế

Giai đoạn cuối cùng là thực hiện chính việc định giá trị thực Cần phải đặt cấp

độ ưu tiên cao nhất để định giá các tài nguyên, các chức năng và các thuộc tính này.Tuy nhiên, những hạn chế về tài lực, như là về thời gian, nguồn tài chính và các kỹnăng, cũng làm ảnh hưởng tới việc các tham số nào có thể sẽ được định giá và làmảnh hưởng cỡ nào tới độ chính xác của các tham số Một tài nguyên, một chức nănghay một tham số có thể được coi có một cấp độ ưu tiên cao lúc đầu, nhưng những hạnchế về tài lực trên thực tế có thể ngăn cản việc định giá trị của nó

Các hạn chế về tài lực cũng sẽ quyết định các phương pháp thu thập số liệuthích hợp và làm thế nào để thực hiện Lấy ví dụ, như cho rằng việc định giá chứcnăng bảo vệ mực nước ngầm của một vùng đất ngập nước là quan trọng Nếu các hạnchế về tài lực mang tính ẩn, thì đầu tiên cần xác định những công việc gì về thuỷ văn

và kinh tế đã được thực hiện đối với mực nước ngầm, điều đó sẽ giúp ích cho việcđịnh giá Nếu như thông tin từ những nghiên cứu trước đây không đủ, có thể cần phảitiến hành các nghiên cứu thí nghiệp có chọn lọc về luồng chảy và những tỉ lệ bồi lắngtại những điểm khác nhau của tầng nước ngầm tại các vị trí khác nhau của vùng đấtngập nước Tại một số vị trí, có thể cần tới việc sử dụng các hệ thống định vị vệ tinh(GIS) và những kỹ thuật khác để mô phỏng các tác động được quan sát và những tácnhân cản trở tới chức năng bảo vệ tầng nước ngầm

Các hạn chế về tài lực và các phương pháp thu thập dữ liệu sẽ ảnh hưởng tới

việc lựa chọn các kỹ thuật định giá sẽ được chọn Vấn đề cung cấp một mô tả chi tiết

tất cả các phương pháp mà các nhà kinh tế thường áp dụng để định giá các loại hànghoá và dịch vụ môi trường không thuộc phạm vi của những hướng dẫn này, Hình 3.2tóm tắt các kỹ thuật chung sẵn có cho việc định giá các giá trị đất ngập nước khác

Trang 35

nhau13 Phụ lục 3 trình bày vắn tắt những ưu, nhược điểm của các kỹ thuật đánh giákhác nhau.

Như đã trình bày trong Chương 2, để áp dụng các kỹ thuật định giá cần phảihiểu một khái niệm kinh tế về “Mức thuận trả” (WTP), đây là sở cứ cho việc định giákinh tế cho bất kỳ một loại hàng hoá hay dịch vụ nào Trong một nền kinh tế cạnhtranh, nếu không có sự điều tiết cơ chế giá cả, thì có thể cho rằng giá cả thị trườngphản ánh “Mức thuận trả” cho các loại hàng hoá và dịch vụ Với những loại hàng hoádịch vụ có giá trị sử dụng trực tiếp liên quan trước hết tới việc khai thác các tàinguyên đất ngập nước, giá cả thị trường cần phải được sử dụng như là các đơn vị đolường giá trị Tuy nhiên, hai yếu tố phức tạp có thể nảy sinh liên quan tới việc sửdụng giá cả thị trường cho mục đích này

Yếu tố thứ nhất là giá cả thị trường có thể bị điều tiết do những can thiệp cóchủ ý hoặc do sự cạnh tranh không hoàn hảo, như là sự hiện hữu của việc điều tiết tỉgiá hối đoái (thường là vấn đề tại các nước đang phát triển), các loại trần giá hay sựtrợ giá (nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp), các khoản trợ cấp hay các loại thuế, tìnhtrạng độc quyền, v.v Trong những trường hợp như vậy, người ta thường chủ trươngdùng các loại giá ẩn (Shadow prices) Đó là những giá trị thực được điều chỉnh nhằmloại bỏ mọi bóp méo do sự điều tiết của Chính phủ hay do sự thiếu hoàn hảo của thịtrường sao cho nó phản ánh “Mức thuận trả” Tuy vậy, cần phải thận trọng khi sửdụng giá ẩn thay cho giá cả thị trường

Như đã lưu ý trong Chương 2, yếu tố phức tạp thứ hai là nhiều giá trị của đấtngập nước không hề được phản ánh trực tiếp trong giá cả thị trường Điều này đúngcho mọi chức năng môi trường, đối với mọi nguồn tài nguyên đđược thu hoạch cho sửdụng cá nhân của các hộ gia đình, cho hầu hết các dịch vụ vận tải thuỷ và các dịch vụgiải trí, và cho mọi giá trị phi sử dụng Trong một số trường hợp, các kỹ thuật địnhgiá như kỹ thuật xác định chi phí vận chuyển, định giá dự phòng và định giá theo giảitrí có thể được áp dụng để ước tính một cách trực tiếp mức thuận trả Như trên đã lưu

ý, tuy vậy, các phương pháp phức tạp hơn này có thể phù hợp hơn với đất ngập nướcvùng ôn đới hơn là đất ngập nước vùng nhiệt đới

13 Bàn kỹ hơn về các ứng dụng của các kỹ thuật định giá các chức năng môi trường, hãy xem Freeman (1993), Hufschmidt và cộng sự (1983), và Johansson (1993).

Trang 36

Các giá trị sử dụng gián tiếp (Các giá trị chức năng)

Các lợi ích:

Kiềm chế lụt, bảo vệ bão, các hỗ trợ từ bên ngoài,

Lựa chọn Các giá trị lựa chọn xấp xỉ

(Nguồn: theo Barbier(1989a).

Các phương pháp xác định giá trị như vậy không phải là dễ áp dụng ở cácvùng nông thôn và vùng sâu vùng xa thuộc những quốc gia đang phát triển Trongnhững trường hợp nhất định, nhà phân tích có thể cần phải sử dụng những phươngpháp xác định khác, như là các phương pháp thay thế gián tiếp (indirect substitute),chi phí cơ hội gián tiếp (indirect opportunity cost), các chi phí di chuyển (relocationcosts) và các chi phí thay thế (replacement costs), không liên hệ trực tuyến với Mứcthuận trả Ví dụ, một số giá trị phi thị trường có thể tính xấp xỉ thông qua việc sử

dụng các mức giá thị trường đại diện (surrogate market prices), đó là việc sử dụng

một giá thị trường thực của một loại hình hàng hoá hoặc dịch vụ liên quan để định giátrị sử dụng phi thị trường của đất ngập nước Trong trường hợp các tài nguyên đấtngập nước được sử dụng ngay hay để dành không mang tính thị trường (ví dụ nhưcủi), giá trị sử dụng của chúng có thể ước lượng theo giá thị trường của những loạihàng hoá cùng loại (ví dụ như củi được mua từ những vùng khác) hay của loại hàng

có thể thay thế tốt nhất sau đó hoặc các loại gỗ thay thế (như là than củi hay là dầuhoả) Nếu như thực sự không có các loại hàng hoá thay thế trên thị trường thì có thểphải sử dụng những phương pháp khác định giá trị phi thị trường của tài nguyên đất

ngập nước Một trong những phương pháp đó là phương pháp chi phí cơ hội gián tiếp, trong đó thời gian để thu lượm và thu hoạch được định giá theo phần thu nhập

mất đi do không canh tác mà đi hái lượm - Chi phí cơ hội cho lao động dựa trên hình

thức thuê mướn khác Một phương pháp khác là phương pháp thay thế gián tiếp,

trong đó chi phí cơ hội của việc sử dụng một hình thức thay thế cho tài nguyên đấtngập nước được sử dụng như một phép đo giá trị của nó Ví dụ, chi phí cơ hội củaviệc sử dụng phân gia xúc thường được sử dụng làm nhiên liệu thay thế cho củi có thể

sử dụng để định giá củi, hoặc các chi phí cho việc cấp nước từ bên ngoài vùng đầm cóthể định giá như một giải pháp thay thế cho việc sử dụng vùng đầm như một nguồncấp nước

Các chi phí thực tế cho các dịch vụ sử dụng trực tiếp của đất ngập nước (ví dụnhư giải trí/ du lịch, vận tải đường thuỷ) có thể không phản ánh Mức thuận trả của các

cá nhân cho những dịch vụ này bởi vì chúng có thể không có giá trên thị trường vàbởi vậy chi phí đầu vào cũng không có giá xác định Nếu đúng như vậy thì có thể cầntới các phương pháp định giá thay thế Với vận tải đường thuỷ, giá trị có thể thể hiện

Trang 37

dưới dạng chi phí các phương tiện vận tải thay thế/loại trừ Với giải trí/du lịch, có thể

sử dụng phương pháp chi phí vận chuyển, trong đó giá du lịch khu đất ngập nướcđược tính từ chi phí vận chuyển, bao gồm cả sự thừa nhận chi phí cơ hội tính cho thờigian bỏ ra để đi du lịch

và cộng sự, 1993) Các nguyên tắc đó như sau:

1 Với một bảng các câu hỏi hai chọn một dạng câu trả lời có hoặc không, cần một điều tra mẫu với ít nhất 1000 người trả lời Cần phải tính tới việc phân nhóm và phân lớp và cần có các kiểm tra đối với những người phỏng vấn và các hướng diễn đạt không mang tính thiên vị

2 Tỉ lệ không trả lời cao cho thấy việc điều tra không đáng tin cậy.

3 Việc phỏng vấn trực tiếp chắc chắn sẽ cho các kết quả đáng tin cậy nhất.

4 Để thực hành tốt cần phải báo cáo hoàn chỉnh về số liệu và các bảng hỏi.

5 Việc điều tra thử nghiệm và kiểm tra trước là những yếu tố cơ bản cho bất cứ đánh giá dự phòng nào.

6 Một thiết kế thận trọng chắc chắn sẽ đánh giá thấp mức thuận trả được ưu tiên hơn là thiết kế đánh giá cao mức thuận trả.

7 Ưu tiên một mẫu biểu mức thuận trả.

8 Các câu hỏi định giá cần được đưa ra như một phiếu cho một cuộc trưng cầu dân

ý, ví dụ như một câu hỏi lựa chọn hai trạng thái liên quan tới việc thanh toán một mức thuế nhất định.

9 Thông tin chính xác về tình trạng định giá cần được trình bày cho những người

đã trả lời, cùng với sự thận trọng đặc biệt trong việc sử dụng những bức ảnh

10 Những người trả lời cần được nhắc nhở về tình trạng của mọi loại hàng hoá thay thế khả dĩ không bị hư hại.

11 Cần phải giảm thiểu độ ồn của phép đo phụ thuộc thời gian bằng cách tính trung bình trên các mẫu độc lập thực hiện tại các thời điểm khác nhau.

12 Phương án “Không trả lời” cần bổ xung thêm vào các phương án trả lời “có” và

“không” với câu hỏi định giá chính.

13 Các câu trả lời “có” và “không” cần được kéo theo câu hỏi mở là tại sao bạn lại chọn trả lời như thế

14 Trên các bảng tính chéo, cuộc điều tra phải bao gồm nhiều loại câu hỏi khác nhau sao cho có thể giúp diễn giải những câu trả lời cho các câu hỏi định giá chính, ví dụ như về thu nhập, khoảng cách tới địa điểm, hiểu biết trước về địa điểm được hỏi, v.v

15 Những người trả lời cần được nhắc nhở về các khả năng chi tiêu thay thế, nhất là khi hiệu ứng Suối ấm “warm glow” được hiện diện (ví dụ như có được sự thoả mãn

Trang 38

Phương pháp định giá dự phòng (CVM) từng được sử dụng để đánh giá giá trịgiải trí liên quan tới đất ngập nước vùng ôn đới Việc định giá dự phòng là một kỹthuật khảo sát sử dụng việc đặt câu hỏi trực tiếp cho những cá nhân tại hiện trườnghay qua thư tín nhằm ước lượng Mức thuận trả của các cá thể cho các loại hàng hoádịch vụ có giá trị đối với họ - trong trường hợp này, chính là các cơ hội giải trí đượccải thiện hay đơn giản là duy trì các cơ hội giải trí tại các cơ sở hiện có Mặt khác, cóthể hỏi các cá nhân xem họ cần một sự bồi thường là bao nhiêu nếu họ không còn cơhội tới nghỉ tại vùng đất ngập nước Các nghiên cứu cụ thể được trình bày chi tiếttrong Chương 4 sử dụng phương pháp định giá dự phòng, nhưng thay vì ứng dụngrộng rãi của nó, nó vẫn là một kỹ thuật ở một chừng mực nào đó còn cần phải xemxét, một phần bởi vì bản chất đang ttranh cãi của bản thân các giá trị phi sử dụng, mà

kỹ thuật này thường được dùng để xác định (Xem Hộp 3.8)

Các giá trị mà những chức năng môi trường đất ngập nước đem lại một cáchgián tiếp thông qua sự hỗ trợ hay bảo vệ các hoạt động kinh tế và tài sản kinh tế Ởđâu có sự hỗ trợ quá trình sản xuất kinh tế, giá trị của những chức năng này có thểđược đo bằng sự thay đổi giá trị năng xuất gắn liền với các chức năng này khi chúnghoạt động bình thường, ở đâu hoạt động kinh tế và tài sản kinh tế được bảo vệ, các giátrị có thể được thể hiện dưới hình thức các chi phí ngăn chặn cần thiết khi các chứcnăng của vùng đất ngập nước này bị suy thoái hay bị phá vỡ không cứu vãn được,Các chi phí để có thể tránh hư hại khi các chức năng này tiếp tục hoạt động một cáchbình thường, các chi phí thay thế/loại trừ để thay thế những chức năng này hoặc cácchi phí di chuyển cần thiết nếu những chức năng này bị mất đi Ví dụ, một trường hợpđược xét trong Chương 4 bao gồm một đánh giá những thiệt hại do bão, tránh đượcbằng cách duy trì những dải đất ngập nước ven bờ để giảm cường độ bão vào đất liền(Costanza và cộng sự, 1989)

Việc ước lượng các giá trị phi sử dụng sẽ đặc biệt khó trừ khi sử dụng các kỹthuật như là kỹ thuật định định giá dự phòng (CVM) Cách tiếp cận chung cũng giốngnhư cách tiếp cận đã miêu tả ở trên cho mục đích giải trí bao gồm sự xác nhận củatừng cá nhân cả về việc họ thuận trả với giá bao nhiêu để bảo đảm rằng các thuộc tínhcủa vùng đất ngập nước được bảo tồn, nói một cách khác, cả về mức độ họ chấpthuận đền bù cho những tổn thất một phần hay toàn bộ của các thuộc tính vùng đấtngập nước này Các Ông Hanlay và Craig (1991) và Bateman (1995) sử dụng phươngpháp định giá dự phòng nhằm xác định các giá trị phi sử dụng của hai vùng đất ngậpnước tại Anh Trong cả hai trường hợp, người ta đã phải đối mặt với những khó khănthực tế trong việc nắm bắt các giá trị thuần phi sử dụng

Bất kỳ giá trị lựa chọn nào liên quan tới phương án bảo tồn đều rất khó đánhgiá và định lượng Giả thuyết chung là các giá trị lựa chọn (bao gồm cả giá trị giả lựachọn) gắn liền với phần lớn các vùng đất ngập nước đặc biệt ở vùng nhiệt đới , đều cóthể có giá trị khá cao khi chúng đại diện cho các tài nguuyên đặc sắc và không thể bịthay thế đem lại những lợi ích môi trường đáng kể Giá trị hoàn chỉnh của các lợi íchnày hiện không phải lúc nào cũng được thừa nhận, mà có thể chỉ trở nên rõ ràng khicác vùng đất ngập nước này được bảo tồn Nhưng bởi vì các giá trị lựa chọn nảy sinh

từ việc không dự báo trước được những lợi ích chưa biết tới của vùng đất ngập nướctrong tương lai thì chúng đặc biệt khó có thể ước tính

Một vấn đề cần xem xét kỹ hơn nữa là liệu rằng những sử dụng hiện tại củamột vùng đất ngập nước có khả năng bền vững không Những sử dụng trực tiếp củamột vùng ngập nước, như là thu hoạch cá hay gỗ, có thể ảnh hưởng lớn tới những mốiquan hệ sinh thái về lâu dài Việc thoả hiệp giữa việc sử dụng trực tiếp hiện tại và tínhbên vững về lâu dài những chức năng môi trường quan trọng có thể là không dễ thấy

Trang 39

ngay Bởi vậy, cần phải lưu ý tới việc xác định mức khai thác bênf vững nguồn tàinguyên vùng đất ngập nước phù hợp với sử dụng trực tiếp trong hiện tại Ở đâu thấyđược mức độ thu hoạch hay khai khẩn vượt quá giới hạn khả năng duy trì các tàinguyên vùng ngập nước thì điều này cần thiết phải được đưa vào phân tích Hiện cóhai cách tiếp cận để tiến hành việc này Cách tiếp cận thứ nhất là phải đưa kịch bảnbền vững thay thế vào phép đánh giá và tiến hành một phép so sánh Nếu phép phântích so sánh cho thấy rằng kịch bản bền vững thay thế đạt được những mục tiêu xã hộicao hơn phương án sử dụng hiện tại, thì rõ ràng là kịch bản bền vững thay thế tối ưuhơn về mặt xã hội Cách tiếp cận thứ hai là phải đưa vào trong danh mục các dự án ítnhất một dự án bồi thường về môi trường nhằm cải thiện sự suy thoái của môi trường

do các dự án khác gây ra, bởi vậy bảo đảm tính bền vững tổng thể của các hệ thống tựnhiên (Babier, Markandya và Pearce, 1990)

4 Định giá trong thực tiễn:

Chương trước trình bày một khung đánh giá tổng thể cho việc định giá kinh tếvùng đất ngập nước Tuy nhiên, để làm sáng tỏ vai trò của việc đánh giá về kinh tếđối với các quyết định quản lý đất ngập nước cũng như việc áp dụng các kỹ thuật địnhgiá riêng, sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta xem xét tỉ mỉ một vài ví dụ nghiên cứu Đâychính là mục đích của chương này Các trường hợp được chọn nhằm đại diện chonhiều dạng đất ngập nước khác nhau, tại các vùng địa lý khác nhau, các vấn đề chínhsách khác nhau và sử dụng các kỹ thuật định giá khác nhau Từ các vùng ôn đới nơicác trường hợp nghiên cứu bao gồm các vũng sâu trên thảo nguyên miền Bắc Mỹ vàcác bãi than bùn Bắc Âu, cũng như những đất ngập nước rộng lớn của vùng phíaĐông Anglia ở Anh quốc Các vùng đất ngập nước ven biển cận nhiệt đới của miềnĐông nam nước Mỹ (bang Louisiana) cũng được xem xét Các đồng trũng vùng nhiệtđới và các khu rừng ngập mặn ven biển được đại diện cho cả châu Phi và Đông Nam

Á Để nghiên cứu tổng quan rộng lớn hơn nhiều về đánh giá vùng đất ngập nước, hãyxem tài liệu Gren and Sodergvist (1994)

Nhiều vấn đề về chính sách và các hệ phương pháp luận thẩm định khác nhaucũng được trình bày ở đây Tất cả những vấn đề đánh giá từ việc liệu có thể cải tạonhững vùng đất ngập nước cho các mục đích sử dụng khác nhau, bao gồm việc phântích từng phần, cho tới việc đánh giá các chức năng nhất định của đất ngập nước (ví

dụ như làm giảm Nitơ) như một yếu tố trong việc thực hiện lập kế hoạch rộng rãi hơn.Những nỗ lực đang ngày càng tiệm cận hơn với việc đánh giá tổng thể, trong đóngười ta cố gắng xác định giá trị mọi chức năng của đất ngập nước Một trường hợpnghiên cứu đánh giá khai khẩn vùng đất ngập mặn tại Indonesia, đã đưa ra mộtphương pháp tiếp cận vấn đề chính sách một cách sáng tạo hơn trong điều kiện thiếucác dữ liệu liên quan tới những mối liên kết giữa các hệ thống sinh thái và các hệthống kinh tế liên quan

Điều cuối cùng là trình bày việc chọn lựa các phương pháp định giá, bắt đầubằng việc sử dụng thẳng các số liệu giá cả thị trường, cùng với thông tin về nhữngthay đổi về năng xuất đạt được từ việc khai khẩn đất ngập nước cho sử dụng khác.Những kỹ thuật đánh giá phức tạp hơn nhiều, như là việc mô hình hoá tổng hợp củacác hệ thống thuỷ văn và kinh tế, được sử dụng để đánh giá các chức năng sinh tháiphức tạp, như là sự làm giảm lượng Nitơ chẳng hạn Phương pháp định giá dự phòng,bao gồm phép đo lường trực tiếp giá trị Mức thuận trả, cũng được trình bày một cáchđầy đủ, nhất là trong các trường hợp nghiên cứu về đất ngập nước vùng ôn đới

4.1 Vùng đồng trũng Hadejia-Nguru ở miền Nam Nigeria

Trang 40

Tại vùng Đông Bắc Nigeria, một vùng đồng trũng rộng lớn được hình thànhtại nơi hợp nhất của các con sông hadejia và Jama tạo thành sông Komadugu-Yobechảy vào hồ Chad Mặc dù được xem như là khu đất ngập nước Hadejia-Nguru, nằmphía sau hai thành phố chính trong khu vực, hầu hết vùng đồng trũng hoàn toàn khôráo theo thời kỳ hoặc quanh năm Trong những năm gần đây, qui mô của vùng ngậpnước đã mở rộng từ 70,000 lên tới 90,000 hecta do các công trình phát triển trênthượng nguồn và những trận hạn hán, nhưng khu đồng trũng này đã từng có lúc rộngtới 300,000 hecta (Hollis và cộng sự, 1993) Ông Barier và cộng sự (1993) đã thựchiện một cuộc định giá từng phần để đánh giá tầm quan trọng kinh tế của vùng đồngtrũng Hadejia-Nguru, và bởi vậy đánh giá chi phí cơ hội của việc mất diện tích ngậpnước này đối với Nigeria Các tác giả đã ước tính một số giá trị sử dụng trực tiếp quantrọng mà vùng đồng trũng này đem lại cho dân địa phương thông qua việc khai tháccác tài nguyên của nó.

Vùng đồng trũng Hadejia-Nguru cung cấp nguồn thu nhập cần thiết và nhữnglợi ích dinh dưỡng dưới hình thức nông nghiệp, các tài nguyên đồng cỏ, các sản phẩmrừng không phải là gỗ, củi và cá cho cư dân địa phương Vùng đồng trũng ngập nướcnày cũng phục vụ cho các mục đích kinh tế vùng rộng rãi hơn, như là cung cấp cỏ vàomùa khô cho những người dân nửa du mục, những sản phẩm nông nghiệp dôi dư chocác bang láng giềng, và bổ xung nước ngầm cho tầng ngậm nước tạo thành hồ Chad

và các nguồn nước bảo đảm cho những lúc bị hạn hán Thêm vào đó, khu ngập nước

là môi trường sinh sống duy nhất cho các loài chim nước di trú, nhất là các loài chimcao cẳng từ những vùng Cổ Bắc cực, và bao gồm các khu bảo tồn rừng Khu vực nàybởi vậy có tiềm năng lớn về du lịch, khoa học và giáo dục

Nước là nguồn tài nguyên hạn hẹp cho sự phát triển trong khu vực Trong vàithập niên gần đây, các vùng ngập nước Hadejia-Nguru đã trải qua áp lực ngày cànggia tăng do hạn hán và cơ cấu nguồn nước Việc lưu giữ nước ở những đập chứa nướcthượng nguồn được sử dụng cho việc tưới tiêu, đã làm giảm đi quy mô của các dòngchảy tràn vào đầm Thêm vào đó, nhu cầu gia tăng về nước tưới tiêu thuỷ lợi chonông nghiệp vùng hạ lưu có thể dẫn tới việc dẫn nước vòng qua khu đầm thông quaviệc xây dựng những kênh dẫn nước Nhu cầu sử dụng của con người ngày càng lớntrong chính khu vực đồng trũng cũng đang tạo ra áp lực đối với khu ngập nước

Những công trình phát triển này đang được xây dựng một cách thiếu cân nhắckhông tính tới những tác động của nó tới khu vực ngập nước Hadejia-Nguru haynhững tổn thất tất yếu về kinh tế hiện đang diễn ra do việc khai thác khu đồng trũng.Nước bị dẫn ra để sử dụng trên vungf thượng lưu và hạ lưu rõ ràng làm phát sinh mộtchi phí cơ hội dưới hình thức các lợi ích khác nhau của đất ngập nước tạo bởi vùngđồng trũng Những công trình phát triển ở thượng lưu và hạ lưu không nên tiến hànhtrừ khi người ta có thể chứng minh được rằng những lợi ích tổng cộng đạt được donhững công trình phát triển đó lớn hơn những lợi ích ròng đã bị mất đi do tổn thất đấtngập nước tại vùng đồng trũng Hadejia-Jama’are

Một đánh giá bộ phận đã được tiến hành nhằm xác định tầm quan trọng kinh

tế của khu ngập nước Hadejia-Nguru, và tại đó xác định chi phí cơ hội do tổn thấtvùng ngập nước đối với Nigeria, bằng cách ước tính một số giá trị sử dụng trực tiếpquan trọng mà vùng đồng trũng cung cấp cho cư dân địa phương thông qua các sảnphẩm hoa màu, củi đun và thuỷ sản Phân tích kinh tế chỉ ra rằng những lợi ích nàythiết yếu trên cả phương diện yếu tố hoa lợi trên mỗi hecta và nguồn nước đầu vào -nghĩa là lượng nước tràn cực tiểu và cực đại cần thiết để duy trì những lợi ích này.Điều này tỏ ra là đúng kể cả khi các lợi ích nông nghiệp được điều chỉnh tính tới tínhkhông lâu bền của sản xuất lúa mì đòi hỏi bơm tưới tiêu quá nhiều trong khu vựcngập nước Như trình bày trong bảng 4 dưới đây, hiện giá trị thuần của các lợi ích tích

Ngày đăng: 01/08/2014, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2 Phạm vi tác động của các vụ đe doạ chính đối với đất ngập nước ở châu Á, Mỹ Latinh và vùng Caribê (WXMC, 1992) (theo % diện tích) - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 1.2 Phạm vi tác động của các vụ đe doạ chính đối với đất ngập nước ở châu Á, Mỹ Latinh và vùng Caribê (WXMC, 1992) (theo % diện tích) (Trang 13)
Bảng 2.1 Phân loại giá trị kinh tế tổng của đất ngập nước - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 2.1 Phân loại giá trị kinh tế tổng của đất ngập nước (Trang 18)
Bảng 3.1  Sử dụng các đặc thù của đất ngập nước: Petexbatun, Peten State, Guatemala - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 3.1 Sử dụng các đặc thù của đất ngập nước: Petexbatun, Peten State, Guatemala (Trang 33)
Bảng 4.1 - So sánh hiện giá thuần các lợi nhuận về kinh tế tổng cộng  của Dự án sông Kano và vùng ngập nước Hadejia-Nguru, ở Nigeria* - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 4.1 So sánh hiện giá thuần các lợi nhuận về kinh tế tổng cộng của Dự án sông Kano và vùng ngập nước Hadejia-Nguru, ở Nigeria* (Trang 41)
Bảng 4.2 - Các kết quả mô hình sinh thái kinh tế cho các khu đất ngập nước thảo nguyên và Vịt trời Mallard - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 4.2 Các kết quả mô hình sinh thái kinh tế cho các khu đất ngập nước thảo nguyên và Vịt trời Mallard (Trang 45)
Bảng 4.3 Ước lượng các giá trị sử dụng nghỉ ngơi giải trí cho vùng đầm lầy Norfolk Broads, miền Đông Anglia (1991) * - đơn vị tính theo Bảng Anh thời giá 1991 - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 4.3 Ước lượng các giá trị sử dụng nghỉ ngơi giải trí cho vùng đầm lầy Norfolk Broads, miền Đông Anglia (1991) * - đơn vị tính theo Bảng Anh thời giá 1991 (Trang 46)
Bảng 4.4 Các giá trị liên quan tới sự suy giảm khí Nitơ ở Gotland, Thuỵ diển (Curon/Kg Nitơ, thời giá 1990*) - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 4.4 Các giá trị liên quan tới sự suy giảm khí Nitơ ở Gotland, Thuỵ diển (Curon/Kg Nitơ, thời giá 1990*) (Trang 51)
Bảng 4.5 Các giá trị đất ngập nước ven biển ở Louisiana, Mỹ (US$/ mẫu Anh, thời giá 1983) - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 4.5 Các giá trị đất ngập nước ven biển ở Louisiana, Mỹ (US$/ mẫu Anh, thời giá 1983) (Trang 56)
Bảng 5.1 Công thức xác định cấp độ ưu tiên của các loài đang bị đe doạ  (theo IUCN, 1990) - Định giá kinh tế đất ngập nước pps
Bảng 5.1 Công thức xác định cấp độ ưu tiên của các loài đang bị đe doạ (theo IUCN, 1990) (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w