Theo quan niệm của Hội đồng khoa học Đại học Kinh tế Quốc dân thì “Hội nhập kinh tế là quá trình loại bỏ dần các hàng rào thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và việc di chuyển các nhâ
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG TIẾN
TRÌNH HỘI NHẬP AFTA
1.1 BẢN CHẤT VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ.
1.1.1 Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế [14], [15], [36]
Hội nhập kinh tế quốc tế (International integration) là một xu hướng vậnđộng tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay khi quá trìnhtoàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới đang diễn ra nhanh chóng dưới sựtác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Toàn cầu hóa - hội nhập kinh
tế quốc tế là thuật ngữ xuất hiện trong một vài thập kỷ gần đây Xu thế này ngàycàng là một yếu tố quan trọng và tác động rất lớn đến tư duy và chính sách của các
Chính phủ cũng như của các tổ chức quốc tế trong thế kỷ XXI Theo tổ chức hợp
tác phát triển kinh tế (OECD) thì “ toàn cầu hóa (globalisation) là quá trình diễn ra
do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về ĐTNN và nguồn lựcquốc tế, và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với qui mô toàn cầu những hìnhthức mới về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia Sự kết hợpnày làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnhtranh toàn cầu…
Toàn cầu hoá có thể được hiểu là quá trình hoàn thiện tính chỉnh thể của nềnkinh tế thế giới để làm cho tính chất thống nhất và duy nhất của nó được gia tăngkhông ngừng Toàn cầu hoá liên quan mật thiết với quá trình tự do hoá và việc loại
bỏ dần tính tách biệt, khác biệt thành sự hội nhập tự giác và hình thành những mốiquan hệ kinh tế tương đồng có tính chất quốc tế Toàn cầu hoá trước hết được xemxét về mặt kinh tế nhưng nó cũng có những khía cạnh nhất định liên quan đến khíacạnh chính trị, lối sống, văn hoá và xã hội cũng như tâm lý, thói quen
Cho đến nay có nhiều khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế Một cách thông
thường, có thể hiểu: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ
Trang 2hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế” Theo quan niệm của Hội đồng khoa học Đại học Kinh tế Quốc dân thì “Hội nhập kinh tế là quá trình loại bỏ dần các hàng rào thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và việc di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước”.
Tuy nhiên, khái niệm tương đối phổ biến, được nhiều nước hiện nay chấp
nhận, đó là: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng buộc theo những qui định chung của khối” Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác Theo khái niệm
này, hội nhập kinh tế quốc tế vừa là một trạng thái, vừa là một quá trình của sựphát triển nền kinh tế quốc gia trong mối quan hệ thống nhất với nền kinh tế thếgiới [4], [14], [21]
Tác giả luận án cho rằng, các khái niệm nêu trên cơ bản là thống nhất vớinhau, sự khác nhau có chăng là do chúng xuất phát từ những khía cạnh khác nhau
và nhấn mạnh một đặc trưng nào đó Với cách tiếp cận của luận án này, hội nhậpkinh tế quốc tế (international integration) được hiểu như là các chính sách, biệnpháp mà chính phủ thực thi nhằm mở cửa kinh tế hay trở thành thành viên của một
hệ thống tổ chức quốc tế Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với “mởcửa” và “trao đổi nguồn lực”, không những trên cả lĩnh vực kinh tế mà còn trên cáclĩnh vực khác như văn hóa, khoa học kỹ thuật, và sẽ còn mở rộng sang các lĩnh vựckhác của đời sống xã hội
Từ khái niệm trên, đối chiếu vào quá trình diễn biến của hội nhập kinh tếquốc tế trên thế giới, có thể thấy bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện ởmột số khía cạnh sau:
- Hội nhập kinh tế quốc tế là xoá bỏ từng bước và từng phần các rào cản vềthương mại cũng như về đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá kinh tế
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo điều kiện thuận lợi và đòi hỏi hệ thốngdoanh nghiệp phải thích ứng nhanh chóng với các đổi thay của nền kinh tế thế giới,qua đó mà nâng cao sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo điều kiện thuận lợi và đòi hỏi sự cải cách
Trang 3nhất định về thể chế kinh tế, trước hết là các chính sách và phương thức quản lýkinh tế vĩ mô, qua đó phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
- Hội nhập kinh tế quốc tế là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho
sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế (khơi dậy nguồn lực bêntrong và thu hút nguồn lực bên ngoài, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ
và kinh nghiệm quản lý tiên tiến)
Tuy nhiên, bên cạnh những khía cạnh tích cực trên, hội nhập kinh tế quốc tếcũng có thể đưa tới tình trạng dễ tổn thương của nền kinh tế quốc gia, tình trạng lệthuộc bên ngoài về kinh tế và chủ quyền quốc gia, tình trạng đối xử thiếu côngbằng giữa các thành viên cũng như gây sức ép cạnh tranh đối với các doanhnghiệp Từ khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế nêu trên cần xácđịnh rõ nội dung của quá trình hội nhập kinh tế để từ đó thấy rõ những công việccần làm ở mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị Trong thực tiễn, quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế diễn ra rất phong phú và đa dạng nhưng có thể thấy nó tập trung ởnhững nội dung chủ yếu sau đây:
- Tiếp cận thị trường thế giới cả về bề rộng và bề sâu với các thông tin cậpnhật và có khả năng dự báo được Nội dung này đặt ra không những đối với cơquản lý và hoạch định chính sách mà đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vịsản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
- Thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế đề vừa đảm bảo cho sự tăngtrưởng bền vững của nền kinh tế trong nước, vừa phát huy lợi thế so sánh và chủđộng tham gia vào phân công lao động quốc tế, nâng cao khả năng xâm nhập thịtrường quốc tế của hàng hoá dịch vụ
- Nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia, của từng ngành vàtừng doanh nghiệp thông qua việc áp dụng mọi biện pháp để giảm thiểu các chiphí đầu vào, các chi phí trung gian không cần thiết, áp dụng công nghệ mới đểnâng cao chất lượng hàng hoá dịch vụ, thường xuyên cải tiến mẫu mã, kiểu dáng,bao bì hàng hoá để người tiêu dùng trong và ngoài nước chấp nhận
- Công tác quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế phải tạo nên sự phản ứnglinh hoạt, chuẩn xác trước những đòi hỏi và diễn biến của thị trường thế giới; phốihợp có hiệu quả giữa định hướng kế hoạch của Nhà nước với cơ chế thị trường;thực hiện tốt các cơ chế tự vệ, tránh sự lệ thuộc, tránh bị tổn thương trước tác động
Trang 4của thị trường thế giới
- Tạo điều kiện về thể chế, chính sách và tâm lý thuận lợi cho sự phát triểnbình đẳng mọi thành phần kinh tế, trong đó một mặt chú trọng tiếp tục cải cáchdoanh nghiệp Nhà nước, một mặt khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, lànhmạnh hoá và nâng cao sức cạnh tranh của tất cả các loại hình doanh nghiệp
- Tăng cường đầu tư cho việc phát triển nguồn nhân lực trong đó đặc biệtchú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao
Các nội dung nêu trên cần được cụ thể hoá trong kế hoạch, chương trình hoạtđộng của các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội từ Trungương đến địa phương sao cho có sự tính toán phù hợp với lộ trình hội nhập
1.1.2 Các loại hình hội nhập kinh tế quốc tế [14], [25], [30]
Hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều hình thức khác nhau, thể hiện qua các biệnpháp tự do hoá và mở cửa kinh tế đơn phương (nhất là về thương mại và nới lỏngkiểm soát FDI và các luồng vốn) hay qua việc tham gia các cam kết, thoả thuận songphương, khu vực và đa phương ở phạm vi toàn cầu Các loại hình liên kết kinh tế songphương và khu vực có thể bao gồm việc nới lỏng hoặc xoá bỏ rào cản đối với thươngmại hoặc sự luân chuyển các nhân tố sản xuất (như vốn, lao động) cho đến việc thốngnhất các chính sách kinh tế Chính vì vậy các loại hình liên kết kinh tế quốc tế cũngchính là các hình thức của hội nhập kinh tế quốc tế
Xu thế này diễn ra sâu rộng và lan truyền trên phạm vi toàn cầu trong nhữngthập kỷ cuối của thế kỷ XX đã tạo ra những xu thế mới như xu thế khu vực hóa vàtoàn cầu hóa (regionalisation - globalisation) Sau đây là các hình thức chủ yếu củahội nhập kinh tế quốc tế (hoặc liên kết kinh tế quốc tế)
Bảng 1- Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
Thống nhất chính sách thuế quan với các nước không phải thành viên
Sức lao động và vốn đầu tư
di chuyển
tự do
Thống nhất dự trữ tiền tệ, phát hành đồng tiền tập thể, thống nhất giao dịch tiền tệ và chính sách hối đoái
Thống nhất và kết hợp hài hoà các chính sách kinh tế, tài khoá, tiền tệ, hình thành cơ cấu kinh tế khu vực Khu vực
mậu dịch tự
Trang 5a-Khu vực mậu dịch tự do (The Free Trade Area - FTA)
FTA là hình thức và mức độ hội nhập đầu tiên và thấp nhất của quá trìnhliên kết kinh tế quốc tế khu vực Trong FTA, các hàng rào thương mại giữa cácnước sẽ bị dẹp bỏ, tiến hành tự do trao đổi giữa các nước Trên thực tế, FTA đượchình thành do loại bỏ hàng rào thương mại đối với một số hàng hóa hay dịch vụnào đó Ví dụ, FTA không có hạn chế về mậu dịch đối với các sản phẩm nôngnghiệp Đặc điểm đáng chú ý nhất của FTA là mỗi nước có quyền định ra chính sáchcủa chính mình có liên quan đến các thành viên không tham gia trong khu vực Nóicách khác các thành viên sẽ đặt bất kỳ thuế quan, hạn ngạch, hoặc những hạn chếkhác mà họ lựa chọn để buôn bán với các nước không thuộc FTA đó
FTA nổi tiếng nhất là FTA Châu Âu (European Free Trade Area - EFTA).FTA Châu Âu được hình thành vào năm 1960 với sự thỏa thuận của 8 nước châu
Âu (Anh, áo, Đan Mạch, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Phần Lan);giữa các nước này không có hàng rào thương mại Sau này, EFTA đã mất dần tầmquan trọng của nó vì sự ra đời của một tổ chức có mức độ hội nhập cao hơn làCộng đồng Châu Âu (European Community) và tiếp theo là Liên minh Châu Âu(EU - European Union) Hơn nữa, rất nhiều thành viên của EFTA tìm cách đểtham gia vào Liên minh Châu Âu hoặc hợp tác trong khu vực kinh tế Châu Âu nóichung
Trang 6Một Khu vực mậu dịch tự do FTA điển hình khác là NAFTA (Hiệp ướcthương mại tự do Bắc Mỹ - North American Free Trade Agreement) trên cơ sởhiệp ước thương mại giữa Mỹ, Canada có hiệu lực vào năm 1989, được mở rộngvới sự tham gia của Mêhicô vào hiệp ước này năm 1994, còn AFTA chính là Khuvực mậu dịch tự do của các nước ASEAN được khởi đầu từ 1/1/1993 và cơ bản sẽ
hoàn tất lịch trình hội nhập của nó vào năm 2003 Một số nước thành viên của khu
vực này do gia nhập chậm hơn nên tiến trình này có thể kéo dài đến năm 2006 vànăm 2008
Khu vực mậu dịch tự do là hình thức đơn giản nhất của hội nhập kinh tếquốc tế, tuy nhiên, để đi đến hình thức hội nhập ổn định này, các quốc gia thànhviên có thể áp dụng một hình thức quá độ là xây dựng khu vực ưu đãi thương mạihoặc những hình thức tương tự
b- Đồng minh thuế quan (the Custom Unions)
Đồng minh thuế quan là bước cao hơn trong việc hội nhập kinh tế quốc tế.Giống như các thành viên trong FTA, các thành viên trong đồng minh thuế quancũng loại bỏ hàng rào về thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các nước này Ví
dụ, Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) ra đời vào năm 1957 bao gồm CHLB Đức,Pháp, Ý, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg Trình độ liên kết cao hơn của loại hình đồngminh thuế quan cũng thể hiện ở việc thiết lập một chính sách thương mại chungcho các thành viên không thuộc đồng minh thuế quan đó
Với hình thức liên kết kinh tế này, chính sách mậu dịch của các nước thànhviên trở thành một bộ phận của chính sách mậu dịch của các nước trong cộngđồng Ví dụ, một hình thức thuế nhập khẩu từ các nước không thuộc đồng minhthuế quan thì chịu cùng một thuế xuất nhập khẩu khi bán cho bất kỳ thành viênnào Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT-General Agreement forTrade and Tariffs) cũng là một hình thức của liên kết này Việc chuyển từ Hiệpđịnh chung về thương mại và thuế quan lên thành Tổ chức thương mại thế giới(WTO) có thể làm tăng cường hơn đặc trưng và mở rộng phạm vi của loại hình liênkết này
c- Thị trường chung (Common Market)
Bước tiếp theo của chuỗi hội nhập kinh tế quốc tế là thị trường chung
Trang 7(Common Market) Giống như đồng minh thuế quan, thị trường chung không cóhàng rào thương mại giữa các thành viên và có một chính sách đối ngoại chung Tuynhiên, các yếu tố lao động, sản xuất, vốn và công nghệ cũng được dịch chuyển tự dogiữa các nước Vì thế việc cấm nhập cư, di cư và ngăn cản đầu tư ra nước ngoài giữacác nước thành viên bị bãi bỏ Tuy nhiên, tầm quan trọng của sự dịch chuyển giữacác yếu tố cho sự tăng trưởng kinh tế không thể đề cao quá mức
Mặc dù đạt được các lợi ích cụ thể, các thành viên trong thị trường chungphải chuẩn bị hợp tác chặt chẽ trong chính sách tiền tệ, tài chính và việc làm Thịtrường chung sẽ nâng cao năng suất của toàn thể thành viên nhưng không hẳn là bảnthân mỗi nước đạt được lợi ích như nhau Thị trường chung Châu Âu (EEC) trướcđây là một ví dụ cho hình thức hội nhập này
d-Liên minh tiền tệ (Monetary Union)
Liên minh tiền tệ là hình thức của liên kết kinh tế quốc tế diễn ra trên lĩnhvực tiền tệ Liên minh tiền tệ là một hình thức hội nhập trong đó các nước thànhviên cùng phối hợp và thống nhất các chính sách tiền tệ, giao dịch tiền tệ quốc tế,
dự trữ tiền tệ, phát hành đồng tiền tập thể Đồng thời, các quốc gia thống nhấtchính sách tỷ giá hối đoái, duy trì chế độ tỷ giá hối đoái được điều tiết trong mộtgiới hạn nhất định và có những biện pháp can thiệp trong những trường hợp nhấtđịnh để ổn định các quan hệ tiền tệ giữa các thành viên
Đây là hình thức hội nhập cao hơn so với các hình thức trên đây Liên minhtiền tệ Châu Âu là một ví dụ điển hình của loại hình này Liên minh tiền tệ Châu
Âu đã cho ra đời đồng tiền chung của các nước châu Âu (EURO) kể từ 1/1/1999.Đồng tiền EURO ra đời đã góp phần làm giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy quá trình
tự do hoá tài chính và tự do hoá thương mại, đầu tư và lao động giữa các nướcthành viên Kể từ 1/7/2002, các đồng tiền quốc gia của các nước thành viên đượcthay thế bằng đồng EURO (12/15 quốc gia)
e- Liên minh kinh tế (Economic Union)
Liên minh kinh tế là hình thức phát triển ở trình độ cao của hội nhập kinh tếquốc tế và cũng là loại hình cao nhất của liên kết kinh tế Việc tạo ra liên minhkinh tế cần sự hội nhập chính sách kinh tế hơn là sự di chuyển hàng hóa, dịch vụ
và yếu tố sản xuất qua biên giới Liên minh Châu Âu (EU - European Union) được
Trang 8thành lập từ năm 1993 được coi là một liên kết kinh tế Thông qua liên minh kinh
tế quốc tế, các thành viên sẽ hòa hợp chính sách tiền tệ, chính sách thuế và chínhsách chi tiêu Chính phủ Hơn nữa, tất cả các thành viên sẽ sử dụng chung một đơn
vị tiền tệ thống nhất Điều này có thể thực hiện trong thực tế bởi một tỷ giá hốiđoái cố định Rõ ràng việc hình thành liên minh kinh tế cần đòi hỏi các quốc gia bỏqua một phần lớn chủ quyền quốc gia Hệ thống chính trị toàn cầu cho đến nay vẫndựa trên sự tự chủ và quyền lực tối cao của các quốc gia, bởi vậy việc giảm bớtquyền lực Nhà nước sẽ chắc chắn luôn gặp phải sự phản ứng gay gắt
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu diễn ra đốivới các tổ chức dưới góc độ là một quốc gia Bởi vì hầu hết các nước trên thế giớiđều nhận thức rằng muốn phát triển hệ thống kinh tế xã hội của mình thì phải mởcửa ra bên ngoài, tức là tất yếu phải tham gia vào hội nhập Tuy nhiên, hội nhậpkinh tế quốc tế không chỉ có những ảnh hưởng tích cực mà còn có những ảnhhưởng tiêu cực đến các quốc gia thành viên, và tất nhiên sự tác động tích cực hoặctiêu cực này cũng ảnh hưởng tới các tổ chức có qui mô nhỏ hơn nằm trong hệthống quốc gia đó Do vậy, hoạt động quản lý các tổ chức hiện nay và tương lai tấtyếu phải phân tích và gắn với xu thế toàn cầu hóa này
Các loại hình liên kết kinh tế quốc tế nêu trên là những nấc thang của quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Chúng hoạt động dựa trên 5 nguyên tắc sau (đâycũng chính là 5 nguyên tắc hoạt động của WTO):
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳnggiữa các nước thành viên với nhau cũng như trên thị trường mỗi nước Nguyên tắcnày được cụ thể thành quy chế tối huệ quốc (tất cả hàng hoá, dịch vụ và công tycủa các nước đối tác đều được hưởng một chính sách chung bình đẳng) và quy chếđối xử quốc gia (tức là không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ và ngườisản xuất của mình với hàng hoá, dịch vụ và người sản xuất nước khác trên thịtrường nội địa)
- Nguyên tắc tiếp cận thị trường nhằm tạo ra một môi trường thương mại màbất cứ thành viên nào cũng được tiếp cận (mở cửa thị trường cho nhau và công bốcông khai chính sách và luật lệ thương mại)
- Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Trang 9- Nguyên tác áp dụng các hoạt động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết (khi
có đe doạ thái quá từ bên ngoài)
- Nguyên tắc ưu đãi giành cho các nước đang và chậm phát triển (kéo dàithời gian hoặc mức độ cam kết thấp hơn)
1.1.3 Tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tự do hóa thương mại được xem là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và nâng cao mức sống cho mọi quốc gia Hầu hết các nước trên thế giới đềuđiều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cảnthương mại, làm cho việc luân chuyển hàng hóa và các nhân tố sản xuất trên thếgiới ngày càng thông thoáng hơn Để tránh bị tụt hậu, các nước trên thế giới đangngày càng nỗ lực hội nhập vào xu thế chung để tăng cường sức mạnh kinh tế Quátrình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra từ lâu, đi từ thấp lên cao với những mức độ
và phạm vi khác nhau
Khu vực mậu dịch tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hay nhiều lãnh thổ,trong đó thuế quan và các quy định hạn chế thương mại được xóa bỏ về cơ bảntrong trao đổi thương mại các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ lập thành Khuvực mậu dịch tự do Các loại hình liên kết kinh tế tiếp theo ra đời phản ánh quátrình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu,chúng là kết quả của quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá mà động lực bên trong là
sự phát triển của lực lượng sản xuất mà trước hết là của khoa học, kỹ thuật và côngnghệ
Trên thế giới, quá trình quốc tế hóa tiếp tục đang diễn ra với quy mô ngàycàng lớn, với một tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh
tế thế giới Quá trình quốc tế hóa này diễn ra ở những cấp độ khác nhau với xuhướng toàn cầu hóa đi đôi với xu hướng khu vực hóa Xu hướng khu vực hóa thểhiện ở việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực với các hình thức đa dạng: Liênminh Châu Âu (EU), Hiệp hội mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn kinh tếChâu Á -Thái Bình Dương (APEC) Xu hướng quốc tế hóa đặt ra một yêu cầu tấtyếu: Mỗi quốc gia phải mở cửa ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vàophân công lao động quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực để pháttriển bền vững
Trang 10Hiện nay, xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏibức xúc của các dân tộc và các nước trên thế giới Các nước đều cần có môi trườnghoà bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa; các nền kinh tế ngày càng gắn
bó, tuỳ thuộc lẫn nhau, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế; các thể chể đaphương trên thế giới và khu vực có vai trò ngày càng tăng cùng với sự phát triểncủa ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường của các dân tộc
Toàn cầu hoá đang là một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệquốc tế hiện đại Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc đẩymạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lựclượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ Những tiến bộ khoa học công nghệ, đặcbiệt là lĩnh vực công nghệ thông tin, đã đưa các quốc gia gắn kết lại gần nhau, dẫntới sự hình thành những mạng lưới toàn cầu Trước những biến đổi to lớn về khoahọc công nghệ này, tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấukinh tế, điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng ràothuế quan và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, laođộng và kỹ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, mở đường cho kinh tếquốc tế phát triển
Đại diện cho xu thế toàn cầu hoá này là sự ra đời của Hiệp định chung vềthuế quan và thương mại - GATT vào năm 1948 với 23 nước thành viên sáng lậpvới mục tiêu xác lập những nguyên tắc điều chỉnh và thúc đẩy thương mại quốc tếphục vụ cho phát triển kinh tế của mỗi nước thành viên Kể từ 1/1/1995, GATT đãđược đổi thành Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) có vai trò điều tiết không chỉthương mại hàng hoá mà mở rộng sang cả thương mại dịch vụ, đầu tư, quyền sởhữu trí tuệ Đến nay, với 143 nước thành viên chiếm trên 90% tổng kim ngạchthương mại thế giới, WTO trở thành một tổ chức có qui mô toàn cầu và là nền tảngpháp lý cho quan hệ kinh tế quốc tế, là diễn đàn thường trực đàm phán thương mại
và là thể chế giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế
Xu thế khu vực hoá xuất hiện ở những năm 1950, cũng đã và đang phát triểnmạnh mẽ cho tới ngày nay, với sự ra đời của trên 40 tổ chức kinh tế, thương mạikhu vực, trong đó đáng chú ý là sự ra đời của Liên minh châu Âu - EU năm 1993với 12 nước thành viên (số thành viên dự kiến sẽ tăng lên 25 quốc gia), Hiệp hộicác nước Đông Nam Á - ASEAN năm 1967 với 10 nước thành viên, Diễn đàn hợp
Trang 11tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương APEC năm 1989 với 21 nước thành viênchiếm trên 60% GDP và 50% kim ngạch thương mại thế giới, Khu vực thương mại
tự do Bắc Mỹ NAFTA năm 1994
Các tổ chức kinh tế - thương mại khu vực đều dựa trên nền tảng của WTO,tuân thủ các nguyên tắc của WTO, được WTO công nhận, đều nhằm mục tiêu đẩymạnh hợp tác, thực hiện tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư, tạo lập lợithế cạnh tranh trên trường quốc tế Các tổ chức khu vực đều đề cập tới các nộidung trùng với WTO, nhưng mỗi tổ chức đều chọn những lĩnh vực mà mình có lợithế hơn để tập trung nguồn lực, hợp tác chiều sâu, theo những phương thức đadạng nhằm tạo lợi thế cạnh tranh riêng cho khu vực
Có thể nói bản chất của các tổ chức quốc tế và khu vực là giải quyết vấn đềthị trường Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá là sản phẩm của quá trình cạnhtranh giành giật thị trường gay gắt giữa các nước và giữa các thực thể kinh tế quốc
tế Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sức sảnxuất ngày càng phát triển kéo theo sự đòi hỏi cấp bách của vấn đề thị trường tiêuthụ Với sự hợp tác quốc tế, những hàng rào cản trở giao lưu thương mại và đầu tưngày càng giảm đi, kinh tế thế giới có xu thế ngày càng trở thành một thị trườngchung
Tất cả các nước, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển, đều phải nỗ lựchội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển củachính mình Đây thực chất là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh phân chia thịtrường Cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính - tiền tệ ở Châu Á nửa cuối thập kỷ
90 không những không đảo ngược xu thế liên kết khu vực, liên kết quốc tế vềthương mại, đầu tư trên thế giới mà thậm chí còn có phần kích thích xu thế đó pháttriển Tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước tăng lên làm cho tất cả các nước phảithường xuyên có những cải cách kịp thời trong nước để thích ứng với những sựbiến động trên thế giới
Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để gópphần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dântộc của mỗi nước thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đanxen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc với các nước khác [3], [10], [24]
Trang 121.1.4 Những tác động của việc tham gia vào khu vực Mậu dịch tự do [14], [25], [30]
Việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do có những tác động nhất định đối vớicác nước tham gia Những biểu hiện của các ảnh hưởng này rất đa dạng Nhữngảnh hưởng chủ yếu của việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do của một nướcđược thể hiện ở việc tạo lập mậu dịch và chuyển hướng mậu dịch
1.1.4.1 Tạo lập mậu dịch
Quá trình tạo lập mậu dịch thông qua việc tham gia vào Khu vực mậu dịch
tự do thể hiện ở việc mở rộng khả năng xuất-nhập khẩu giữa các nước thành viên.Nhờ việc bãi bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước mà giá cảhàng hoá lưu chuyển giữa các nước trở nên rẻ hơn trước, nhu cầu của người tiêudùng ở các nước vì thế có cơ hội tăng lên Kết quả của quá trình này là khối lượngcác hàng hoá và dịch vụ trao đổi giữa các nước được mở rộng Việc mở rộng hoạtđộng xuất nhập khẩu đã làm tăng khả năng khai thác các nguồn lực của các quốcgia một cách có hiệu quả Việc tạo lập mậu dịch còn làm tăng thêm phúc lợi củacác ngành sản xuất nội địa do việc thay thế các ngành có chi phí sản xuất cao bằngcác ngành có chi phí sản xuất thấp hơn Cơ hội có việc làm của người lao độngtăng lên
1.1.4.2 Chuyển hướng mậu dịch
Việc tạo lập Khu vực mậu dịch tự do còn góp phần chuyển hướng mậu dịchgiữa các quốc gia Điều này được thể hiện ở việc các quốc gia thành viên sẽ trởthành đối tác buôn bán với nhau thay cho cho các quốc gia không phải là thànhviên Các điều kiện buôn bán giữa các quốc gia trong khu vực trở nên thuận tiệncho sự chu chuyển thương mại nội bộ khu vực Một quốc gia thành viên sẽ thay thếviệc nhập khẩu hàng hoá từ các nước ngoài thành viên có mức giá cao hơn bằngviệc nhập khẩu các hàng hoá của các nước trong khu vực
Quá trình chuyển hướng mậu dịch do điều kiện thương mại ưu đãi đã tạođiều kiện để gia tăng lượng hàng hoá, dịch vụ được đưa ra trao đổi giữa các nướcthành viên Vì vậy, quá trình chuyển hướng mậu dịch còn bao hàm cả quá trình tạolập mậu dịch Tuy nhiên, việc chuyển hướng mậu dịch chỉ mang lại lợi ích cục bộcho các quốc gia trong khu vực Xét trên phạm vi toàn thế giới một cách tổng thể,
Trang 13khu vực mậu dịch tự do có thể làm giảm phúc lợi toàn thế giới nếu việc thành lậpkhu vực này khuyến khích phát triển các ngành sản xuất kém hiệu quả.
Như vậy, quá trình thành lập khu vực mậu dịch tự do có thể gây ra những tácđộng nhất định cả trong sản xuất lẫn tiêu dùng Sự thay thế giữa việc sản xuất cáchàng hoá phục vụ nhu cầu nội địa bằng việc sản xuất các hàng hoá phục vụ choxuất khẩu sang các nước bạn hàng thể hiện sự tác động đến sản xuất Việc chuyểnhướng tiêu dùng hàng hoá nội địa bằng hàng hoá nhập khẩu từ các nước đối tác thểhiện sự tác động đến tiêu dùng
1.1.4.3 Các tác động khác
Ngoài hai tác động chủ yếu trên đây, việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự
do còn tạo điều kiện để các nước tiếp nhận vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệmquản lý từ các nước thành viên Về lâu dài, tự do thương mại góp phần làm tăngnăng suất lao động xã hội và tăng trưởng kinh tế thông qua khai thác các lợi thế sosánh quốc gia cũng như khai thác các điều kiện thương mại có lợi giữa các nướctrong khu vực Ngoài ra, tự do hoá thương mại góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế thông qua tăng xuất khẩu và tăng năng suất cận biên của hai yếu tố sản xuất cơbản là lao động và tư bản Việc đẩy mạnh xuất khẩu làm tăng hiệu quả sản xuất củatừng quốc gia thể hiện:
- Khi tham gia vào Khu vực mậu dịch tự do, các quốc gia có xu hướng chútrọng phát triển các ngành sản xuất có hiệu quả cao nhất trên cơ sở các lợi thế sosánh của các quốc gia trong quan hệ với các nước thành viên Quá trình này cònđược tăng cường thêm khi các ngành sản xuất được mở rộng được thị trường rộngquy mô và do đó còn tạo ra được hiệu quả kinh tế mới do quy mô sản xuất tăng lênmang lại Kết quả của quá trình này còn được thể hiện ở việc tái cấu trúc nền kinh
tế và phát huy những lợi thế của cơ cấu kinh tế hướng ngoại
- Các ngành sản xuất ở các nước có thể tham gia hoạt động thương mại quốc
tế nội bộ khu vực có hiệu quả cần phải tìm mọi biện pháp để tăng năng suất laođộng và hạ giá thành sản phẩm Để đạt được mục tiêu đó, các ngành sản xuất phảinhanh chóng áp dụng khoa học – công nghệ mới, tiếp thu những kinh nghiệm quản
lý tiên tiến và phải xây dựng các chiến lược kinh doanh thích hợp
Trang 14- Việc mở rộng xuất khẩu sẽ góp phần làm thăng bằng cán cân thanh toánquốc tế của quốc gia, tăng dự trữ ngoại tệ và làm năng động hoá các hoạt động tíndụng, tài chính trong nội bộ và giữa các nước Mở rộng xuất khẩu là cơ sở để tăngnguồn vốn tích luỹ cho đầu tư phát triển Đây là cơ sở để tăng trưởng kinh tế ổnđịnh và bền vững của các quốc gia.
Bên cạnh những lợi ích kinh tế chủ yếu do tham gia vào Khu vực mậu dịch
tự do mang lại trên đây, các quốc gia khi tham gia vào liên kết kinh tế khu vực cần
xử lý không ít những vấn đề phát sinh bao gồm:
- Điều chỉnh lại các cân đối lớn trong nền kinh tế khi xoá bỏ các hàng rào thuếquan và phi thuế quan, thay đổi chính sách tài khoá, chính sách tỷ giá hối đoái
- Giải quyết tình trạng việc làm cho người lao động và tái đào tạo lại đội ngũlao động theo những mục tiêu phát triển đạt ra của các nước trong cộng đồng
- Thiết lập các khuôn khổ chung với các nước thành viên bao gồm hệ thốngpháp luật chính sách, các loại quy định về thủ tục hải quan, tiêu chuẩn kỹ thuật,môi trường sinh thái, giáo dục đào tạo, văn hoá - khoa học
- Giải quyết những vấn đề liên quan đến sự bình đẳng, công bằng giữa cácthành viên trong xã hội và giữa các nước trong nội bộ khu vực cũng như xử lýnhững vấn đề trong quan hệ giữa các nước thành viên trong khu vực với các nướcngoài khu vực
Tóm lại việc tham gia vào liên kết kinh tế quốc tế nói chung và khu vực mậudịch tự do nói riêng luôn luôn mang lại cho các quốc gia những lợi ích, thiệt hạicũng như tạo ra cho chúng những cơ hội và những thách thức nhất định Mỗi quốcgia cần phải cân nhắc, lựa chọn để đưa ra cách thức tham gia vào khu vực mậudịch tự do một cách phù hợp để vừa tối đa hoá được các lợi ích, giảm bớt nhữngthiệt hại, khai thác được các cơ hội và vượt qua được những thách thức nhằm đạtđược những mục tiêu phát triển của quốc gia cả trước mắt và lâu dài Sự khác nhau
về điều kiện phát triển của các quốc gia đưa đến một cách thức hội nhập khác nhaugiữa chúng
1.2 HỢP TÁC KINH TẾ THƯƠNG MẠI AFTA
Trang 15AFTA là tên viết tắt Tiếng Anh của Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN(ASEAN Free Trade Area - AFTA) bao gồm 10 nước ASEAN: BruneiDarussalam, Campuchia, Inđônêxia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippin,Singapore, Thái Lan và Việt Nam Để hoàn thành AFTA, các nước ASEAN cùngthực hiện Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT (CommonEffective Preferential Tariffs) Theo đó, các nước ASEAN sẽ dần dần cắt giảmthuế quan xuống 0-5%, dỡ bỏ các rào cản thương mại và hài hòa hóa các thủ tụchải quan trong vòng 10 năm để hàng hóa được tự do lưu thông giữa các nước thànhviên.
1.2.1 Mục tiêu của AFTA [64], [65]
Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã đặt ra những thách thức to lớnđối với ASEAN trong việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá ASEAN trên thịtrường quốc tế và tính hấp dẫn đối với đâù tư nước ngoài Chính vì vậy, tại Hộinghị thượng đỉnh lần thứ tư tại Singapore, ngày 28/1/1992, nguyên thủ các nướcASEAN đã có một quyết định quan trọng nhằm nâng cao hơn nữa mức độ hợp táctrong lĩnh vực thương mại, đó là thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA) thông qua việc ký kết Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệulực chung (CEPT)
Những mục tiêu kinh tế trực tiếp của AFTA là:
- Tự do hoá thương mại ASEAN thông qua việc loại bỏ các hàng rào thuếquan trong nội bộ khu vực và sau đó là các hàng rào phi thuế quan;
- Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khốithị trường thống nhất;
- Tạo điều kiện để ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tếđang thay đổi, đặc biệt là việc phát triển các thoả thuận thương mại khu vực (RTA)trên thế giới
Trong ba mục tiêu trên, mục tiêu đầu tiên không phải và mục tiêu quan trọngnhất của AFTA bởi vì thị trường của ASEAN không lớn vì nguồn cung các sảnphẩm chế tạo nằm ngoài khu vực Hơn nữa mặc dù có tốc độ tăng trưởng cao, songphần lớn các nước trong khu vực vẫn là các nước đang phát triển cho nên phụthuộc nhiều vào đầu tư, công nghệ, bí quyết quản lý của nước ngoài
Trang 16Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngo ài là mục tiêu trung tâm của AFTA Điềunày chủ yếu là do áp lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài của các nước.Khi AFTA trở thành một khu vực sản xuất thống nhất, quá trình chuyên môn hoásản xuất nội bộ khu vực và khai thác các thế mạnh của các nền kinh tế khác nhautrở nên hợp lý hơn.
Mục tiêu thứ ba gắn với các yếu tố không thuận lợi của môi trường thương mại.Các nước phát triển trên thế giới thiên về phát triển các thoả thuận thương mại khuvực để bảo hộ thị trường đối với các sản phẩm của các nước Đông á Sự ra đời củaAFTA đáp lại khuynh hướng tăng lên của chủ nghĩa khu vực trên thế giới
Theo xu hướng mở rộng liên kết giữa các nước, đặc biệt là với sức ép củacác tổ chức thương mại khác như tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Diễn đànhợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đã đẩy nhanh tốc độ thực hiệncủa AFTA và chắc chắn sẽ đưa AFTA tiến tới cấp độ liên kết kinh tế cao hơn theođúng quy luật vận động kinh tế quốc tế
Các quy định chung về AFTA
Khu vực mậu dịch tự do AFTA được hình thành thông qua các yếu tố sauđây:
- Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT - The CommonEffective preferential Tariff Scheme);
- Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hoá giữa các nước thành viên;
- Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hoá của nhau;
- Xoá bỏ những quy định hạn chế đối với ngoại thương
- Hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô
Để thực hành thành công Khu vực mậu dịch tự do AFTA, Hội nghị Bộtrưởng kinh tế các nước ASEAN (AEM) đã quyết định ký chương trình thuế quan
ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) vào năm 1992 Trong thời kỳ 15 năm kể từ1/1/1993, thuế xuất - nhập khẩu giữa các nước trong khu vực sẽ được giảm xuốngcòn 0-5% và các hàng rào phi thuế quan sẽ được loại bỏ đối với một diện rộng cácsản phẩm chế tạo Vào năm 1994, ASEAN đã quyết định đẩy nhanh kế hoạch cắtgiảm thuế quan này ở mức 0-5% vào năm 2003 Như vậy, công cụ chính để thực
Trang 17Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế (ASEM) Các nước ASEAN
UB Điều phối về
đầu tư (AIA)
Hội đồng AFTA (AFTA Council)
Phòng Thương mại và công nghiệp ASEAN (CCI)
UB Điều phối về dịch vụ (CCS)
Ban thư ký ASEAN (ASEAN Secretariat)
hiện AFTA là cắt giảm thuế quan trong thương mại nội bộ khu vực xuống còn 5% Gắn với việc cắt giảm thuế quan, việc loại bỏ các hàng rào thương mại và việchợp tác trong lĩnh vực hải quan cũng đóng vai trò quan trọng trong khi xây dựngmột khu vực mậu dịch tự do Điểm cần lưu ý ở đây là AFTA không phải và mộtliên minh thuế quan, vì vậy từng nước trong khu vực vẫn có quyền tự do thực hiệnchính sách thuế của mình đối với từng phần còn lại của thế giới
0-AFTA được thành lập nhằm đạt được những mục đích kinh tế sau:
- Tăng cường buôn bán trong nội khối ASEAN bằng việc cắt giảm thuế quan
và dỡ bỏ các rào cản thương mại;
- Biến ASEAN thành khu vực hấp dẫn đầu tư nước ngoài để hợp lý hóa sảnxuất, chuyên môn hóa trong nội khối ASEAN và khai thác các thế mạnh của cácnền kinh tế trong khu vực
1.2.2 Cơ cấu tổ chức của AFTA [30], [32], [46], [55], [66]
Hội đồng AFTA được thành lập theo quyết định của Hội nghị Thượng đỉnhASEAN lần thứ tư ngày 28/1/1992 tại Singapore để theo dõi, phối hợp và báo cáoviệc thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) Hội đồngAFTA là cơ quan cấp Bộ trưởng, gồm đại diện của các nước thành viên và Tổngthứ ký ASEAN Hội đồng họp khi cần thiết, nhưng ít nhất mỗi năm một lần và báocáo trực tiếp lên Hội nghị Bộ trưởng kinh tế (AEM) Việt Nam cử Bộ trưởng BộTài chính tham gia Hội đồng AFTA
Sơ đồ 1- Cơ cấu thể chế của hợp tác kinh tế ASEAN
Trang 18Ban thư ký ASEAN (ASEAN Secretariat)
Các thể
chế khác
Các nhóm công tác
Các UB
Tư vấn
1.2.3 Những đặc điểm chủ yếu của AFTA
Khối mậu dịch tự do (AFTA) ban đầu gồm những thành viên của Hiệp hộicác nước Đông Nam Á (ASEAN) và sau đó kết nạp thêm Việt Nam, Lào,Campuchia và Mianma Với 430 triệu dân, diện tích 3,5 triệu km2, thu nhập bìnhquân đầu người là 1.680USD (số liệu năm 2000), khu vực mậu dịch tự do AFTAlớn hơn Khu vực buôn bán tự do bắc Mỹ (NAFTA) và Liên minh Châu âu (EU) vềdân số và diện tích nhưng thấp hơn về thu nhập bình quân đầu người từ 10-15 lần
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN nằm trong vòng cung Châu Á- Thái BìnhDương, là khu vực phát triển năng động nhất thế giới trong hai thập kỷ vừa qua.với vị trí đầy triển vọng này, khu vực AFTA là nơi thu hút sự chú ý của các liênminh kinh tế thế giới, các công ty, các tập đoàn đa quốc gia cũng như cả cộng đồngquốc tế AFTA sẽ là khối mậu dịch “hạt nhân” của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình dương (APEC)
Các nền kinh tế của các thành viên ASEAN vừa bổ sung cơ cấu kinh tế lẫnnhau, vừa cạnh tranh kinh tế với nhau Thái Lan xuất khẩu gạo sang Malaysia ViệtNam xuất khẩu gạo sang Phipippin Thái Lan và Việt Nam có sự cạnh tranh vớinhau trong xuất khẩu gạo ngay trong nội bộ khối AFTA Việc thực hiện Hiệp địnhAFTA sẽ vừa mở rộng mậu dịch vừa chuyển hướng mậu dịch trong khối và giữakhối AFTA với các phần còn lại của thế giới
Trang 19Lĩnh vực hợp tác trong khối AFTA rất đa dạng bao gồm hợp tác trong lĩnhvực thương mại, đầu tư dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giao thông vận tải, bưu chính viễnthông, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ,trao đổi thông tin nhưng việc thực hiện tự do hoá thương mại thông qua việc tiếnhành cắt giảm thuế quan theo Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung(CEPT) dự kiến sẽ hoàn tất việc cắt giảm thuế quan đến mức 0-5% voà năm 2003(trừ Việt Nam kéo dài đến năm 2006) quyết định trực tiếp đến tiến trình liên kếtthực thế của khối mậu dịch AFTA trong nền kinh tế thế giới Chắc chắn rằng,AFTA không chỉ dừng lại ở một Khu vực mậu dịch tự do mà sự phát triển toàndiện các lĩnh vực đã được đặt ra sẽ dẫn AFTA đến một Liên minh kinh tế theođúng quy luật của sự hội nhập kinh tế quốc tế.
Các nền kinh tế thành viên trong khối mậu dịch tự do AFTA có sự chênhlệch về trình độ phát triển, khác nhau về khả năng xuất khẩu, về mức độ cạnh tranhcủa hàng hoá trên thị trường, tiềm lực tài chính, tiềm lực công nghệ, những nguyêntắc ứng xử tối cao trong nội bộ khối là nguyên tắc “đối đẳng”, “ tôn trọng lẫn nhau
và các bên cùng có lợi”
AFTA đang ở trong giai đoạn đầu của sự thành lập và hoạt động do đó sẽcòn chịu sự ảnh hưởng của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp táckinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) có quy mô và phạm vi lớn hơn mànhững tổ chức này đang trong quá trình hoàn thiện cho nên việc phát triển AFTAcũng gần với việc tạo ra những khuôn khổ mới cả về chiều rộng và chiều sâu cho
sự phát triển lâu dài của khối thích hợp với điều kiện trong nội bộ khối và thíchhợp với khuôn khổ chung của cơ chế thương mại liên châu lục và cơ chế thươngmại toàn thế giới
Tiến trình hội nhập vào AFTA của các nước ASEAN
Tiến trình hội nhập vào AFTA của các nước ASEAN thể hiện tập trung ởtiến trình cắt giảm thuế quan và các hạn chế phi mậu dịch Tiến trình cắt giảm thuếquan được chia làm hai loại:
- Đối với danh mục hàng hoá cắt giảm bình thường:
Các loại sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống dưới 0% vào ngày1/11/1998 và sau đó xuống còn 0-5% vào 1/1/2003
Trang 20Các loại sản phẩm có thuế suất 20% hoặc dưới mức 20% được giảm xuốngđến 0-5% vào 1/1/2000
- Đối với danh mục hàng hoá cắt giảm nhanh: Các sản phẩm có tỷ lệ thuếtrên 20% được giảm xuống 0-5% vào 1/1/2000 Các sản phẩm có tỷ lệ thuế ở mức20% hoặc thấp hơn được giảm đến 0-5% vào 1/1/1998
Điểm cần lưu ý ở đây là tiến trình cắt giảm thuế quan của AFTA đã rútxuống từ 15 năm đến 10 năm Các nước trong khối AFTA ứng xử với tiến trìnhnày ở những mức độ khác nhau
Đối với các nước như Malaixia, Sigapore, Thái Lan,, Brunei là những nướcphát triển nhất trong khối có thu nhập bình quân đầu người trên 3.000 USD thamgia vào tiến trình hội nhập AFTA một cách khá thuận lợi Hầu như sự chuẩn bị củacác nước này đã khá ổn định và được sắp đặt theo một kế hoạch lâu dài và rộng lớncho cả việc gia nhập vào AFTA lẫn cho APEC và WTO Các nước này đang cókhả năng đầu tư lớn ra nước ngoài (Brunây có dự trữ ngoại tệ khoảng 30 tỷ USD).Đây là những nước khá “bình tĩnh và hăng hái” trong gia nhập vào AFTA Tiếntrình hội nhập vào AFTA chủ yếu do các nước này thiết kế theo phương châm rútngắn tối đa thời gian hội nhập Hai nước Philippine và Indonesia có thu nhập bìnhquân đầu người thấp nhất trong khối trước khi có Việt Nam tham gia, nhưng vẫntrên 1.000 USD (nghĩa là cao hơn Việt Nam khoảng 4 lần) và mong muốn hội nhậpvào AFTA một cách chậm hơn Đây là những nước có tiến trình hội nhập sát vớiViệt Nam hơn do có những vấn đề của nền kinh tế trong nước phải tiếp tục giảiquyết
Indonesia có số dân khoảng 200 triệu người, nước có số dân lớn nhất trongkhối AFTA hiện đang có chính sách giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng để giảm bớtthâm hụt ngân sách quốc gia Indonesia vẫn còn thâm hụt ngân sách do nhập khẩu
tư liệu sản xuất ở nước nước ngoài tăng lên Chính sách cổ phần hoá đang đượctăng cường ở Indonesia để tăng thu cho ngân sách của chính phủ
Philippin có thu nhập bình quân đầu người 1070 USD, dân số tương đươngvới Việt Nam đang cố gắng thực hiện cải cách hệ thống thuế và áp dụng thuế giátrị gia tăng (VAT) Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế Philippin, 10% lượngthuế VAT sẽ áp dụng cho các hàng hoá và dịch vụ tính từ thời điểm có hiệu lực củaAFTA (1/1/1996) lượng thuế này dự kiến sẽ thu được 300 triệu USD mỗi năm áp
Trang 21dụng thuế VAT là điểm then chốt của cải cách hệ thống thuế của Philippin.Khoảng thời gian được tính toán để thực hiện thành công chính sách cải cách thuếnày là 5 năm trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài, Philippin quy định mộtcông ty nước ngoài muôn tham gia khu vực bán lẻ dưới hình thức doanh nghiệp100% vốn nước ngoài phải có số vốn ít nhất là 10 triệu USD Đồng thời, Philippincòn cho phép các ngân hàng nước ngoài thành lập các chi nhánh trong nước và cảicách thị trường chứng khoán để thu hút vốn đầu tư dưới các kênh khác nhau.
1.2.4 Chương trình CEPT [2], [6], [7], [32], [49]
a Nội dung loại bỏ hàng rào thuế quan:
Những nội dung chính trong việc loại bỏ hàng rào thuế quan của AFTAđược hoạch định như sau:
Các nước thành viên ASEAN sẽ thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu cho hànghoá có xuất xứ ASEAN theo lộ trình trong vòng 15 năm để xuống tới 0-5% Việccắt giảm thuế bắt đầu từ ngày 1/1/1993 và hoàn thành vào ngày 1/1/2008
Tuy nhiên, trước xu hướng tự do hoá thương mại toàn cầu đang được thúcđẩy mạnh mẽ và xuất phát từ nhu cầu tăng cường hợp tác phát triển của các thànhviên, ASEAN đã quyết định đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại trong khuvực Đặc biệt, sau Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 năm 1998, thời hạn này đã đượcđẩy nhanh, đến ngày 1/1/2003 cho 6 thành viên cũ, bao gồm Indonesia, Malaysia,Philippines, Singapore, Thailand và Brunei Với Việt Nam thời hạn hoàn thành cắtgiảm thuế quan là năm 2006
Phạm vi áp dụng của Hiệp định CEPT trong AFTA bao gồm tất cả các hànghoá có xuất xứ ASEAN, bao gồm hàng hoá công nghiệp, các sản phẩm nôngnghiệp chế biến Riêng đối với nông sản chưa chế biến mang tính chất nhạy cảmvới nền kinh tế của các nước ASEAN, tới tận AEM - 26 ngày 22-23/9/1994, cácnước mới đưa loại sản phẩm này vào phạm vi thực hiện Hiệp định CEPT vớinhững qui định đặc biệt riêng về thời hạn bắt đầu và kết thúc cắt giảm thuế, mứcthuế suất bắt đầu và khi hoàn thành cắt giảm Các sản phẩm được xác định là cầnthiết để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộcsống của con người và động thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật,lịch sử và khảo cố học của các nước thành viên ASEAN sẽ không được đưa vàoHiệp định CEPT
Trang 22 Các danh mục hàng hoá:
Để triển khai AFTA, các nước ASEAN phân loại các hàng hoá trong biểuthuế nhập khẩu thành bốn danh mục với lộ trình cắt giảm được xây dựng cho từngdanh mục cụ thể Nội dung và lộ trình cắt giảm thuế của từng danh mục như sau:
Danh mục cắt giảm ngay (IL-Inclusion list): gồm các sản phẩm mà các nướcthành viên đã sẵn sàng cắt giảm thuế Việc cắt giảm thuế của các sản phẩm thuộcDanh mục này được chia thành hai lộ trình: lộ trình cắt giảm bình thường và lộtrình cắt giảm nhanh
+ Lộ trình cắt giảm bình thường: theo Hiệp định được ký kết, việc cắt giảmthuế xuống 0 – 5% sẽ được thực hiện trong vòng 15 năm, sau đó đẩy nhanh mốchoàn thành vào ngày 1/1/2003 đối với ASEAN-6 Đối với các nước thành viên mớigia nhập ASEAN, thời hạn này chậm hơn, tới ngày 1/1/2006 cho Việt nam, ngày1/1/2008 cho Lào, Mianma và ngày 1/1/2010 cho Campuchia
+ Lộ trình cắt giảm nhanh: Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư đã xácđịnh 15 nhóm mặt hàng cần cắt giảm thuế nhanh trong vòng bảy năm, đó là: dầuthực vật, hoá chất, phân bón, sản phẩm cao su, giẩy và bột giấy, đồ gỗ và songmây, đá quí và đồ trang sức, xi măng, dược phẩm, chất dẻo, các sản phẩm bằng da,hàng dệt, các sản phẩm gốm và thuỷ tinh, điện cực đồng, hàng điện tử (Việt Namkhông tham gia lộ trình cắt giảm nhanh)
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL- Temporary Exclusion List): là danh mụcgồm các sản phẩm mà các nước chưa sẵn sàng cắt giảm thuế ngay Theo quyếtđịnh của Hội nghị Bộ trưởng AEM – 26 từ ngày 22 đến 23/9/1994, danh mục này
sẽ được chuyển dần sang Danh mục cắt giảm ngay trong vòng 5 năm, kể từ ngày1/1/1996 đến ngày 1/1/2000 đối với ASEAN-6
Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL - General Exception List): là danh mụccác sản phẩm sẽ không được đưa vào tham gia AFTA vì lý do bảo vệ an ninh quốcgia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và độngthực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ học
Danh mục nhạy cảm (SEL - Sensitive Exception List): Hiệp định CEPT khiđược ký kết không bao gồm các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến trong phạm
vi từng nước Tuy nhiên, xuất phát từ nhận thức về vai trò của hàng nông sản chưa
Trang 23chế biến đối với phần lớn các nước ASEAN, cũng như do số lượng các nhóm mặthàng lớn, thuế quan nhập khẩu cao được các nước áp dụng đối với những mặt hàngnày, tại hội nghị AEM–26 ngày 22-23/9/1994, các Bộ trưởng Kinh tế đã quyết địnhđưa nông sản chưa chế biến vào phạm vi của Hiệp định CEPT để thực hiện AFTA.Theo quyết định tại Hội nghị này, các sản phẩm nông sản chưa chế biến được phânloại thành ba danh mục: Danh mục cắt giảm ngay, Danh mục loại trừ tạm thời vàDanh mục nhạy cảm.
Đối với hai danh mục đầu, lộ trình cắt giảm thuế sẽ thực hiện theo lộ trìnhchung cùng với các mặt hàng khác thuộc danh mục, tức là sẽ đạt đến mức thuế 0 –5% vào năm 2002 cho các nước ASEAN-6, năm 2006 cho Việt nam, năm 2008cho Lào và Mianma
Đối với các sản phẩm trong Danh mục nhạy cảm, việc cắt giảm sẽ được xử
lý theo cơ chế riêng Các nước đã nhất trí về sự cần thiết phải có một thoả thuậnđặc biệt đối với việc cắt giảm thuế cho Danh mục này Tại Hội nghị Hội đồngAFTA lần thứ 4 năm 1996, các nước đã nhất trí thời hạn để đưa các sản phẩm hànghoá trong Danh mục này vào Hiệp định CEPT từ 1/1/2010 Trên cơ sở các tiếntriển từ Hội nghị này, tại Hội nghị AEM-31 tháng 9/1999, các Bộ trưởng kinh tếASEAN đã chính thức ký kết Nghị định thư về các sản phẩm nhạy cảm và nhạycảm cao để thể chế hoá lộ trình cắt giảm thuế quan các sản phẩm nông nghiệp nhạycảm theo Hiệp định CEPT
Vấn đề dành thời gian cho thành viên mới để triển khai các chương trình hợptác:
Một nguyên tắc được các nước ASEAN chấp thuận đó là căn cứ vào thờiđiểm gia nhập, tình hình phát triển kinh tế – xã hội của các thành viên mới mà cácnước thành viên luôn tạo điều kiện về mặt thời gian để các thành viên mới này có
đủ thời gian thực hiện các chương trình hợp tác
Đối với Việt Nam, vì tham gia thực hiện Hiệp định CEPT chậm hơn cácnước thành viên khác 3 năm (bắt đầu tư ngày 1/1/1996), do đó thời hạn thực hiệncác lộ trình cho các danh mục bên trên, cũng như thời hạn hoàn thành AFTA đượcchấp nhận sẽ chậm hơn các nước thành viên cũ ở mức tương ứng Thời hạn hoànthành AFTA (tức là tất cả các dòng thuế trong IL đạt 0 – 5%) của Việt Nam là năm
2006 Cũng như vậy, thời hạn hoàn thành chuyển toàn bộ các dòng thuế từ TEL
Trang 24sang IL là năm 2003, mỗi năm 20% số sản phẩm trong Danh mục này phải đượcchuyển vào IL.
Đối với các thành viên mới là Lào và Mianma sẽ bắt đầu thực hiện Hiệpđịnh CEPT từ ngày 1/1/1998 và kết thúc vào ngày 1/12008 Campuchia bắt đầuthực hiện CEPT từ ngày 1/1/2000 và kết thúc vào ngày 1/1/2010
Vấn đề đẩy nhanh AFTA
Hiện nay trong ASEAN có xu hướng thúc đẩy nhanh hơn nữa việc triển khaithực hiện AFTA để thúc đâỷ thương mại trong nội bộ khu vực, tăng tính cạnhtranh, thu hút đầu tư nước ngoài và đáp lại thách thức của các khu vực kinh tếkhác Cho tới nay, nội dung này tập trung vào một số điểm chính như sau:
Đẩy nhanh mốc thời gian hoàn thành AFTA, tức là thời điểm mà các thànhviên đạt thuế nhập khẩu CEPT từ 0 – 5% như vừa trình bày ở trên Từ mốc thờigian là năm 2008 trước đây, đến nay các thành viên ASEAN đã đẩy nhanh thời hạnnày tới năm 2002 cho ASEAN-6, năm 2006 cho Việt Nam và năm 2008 cho Lào
Rà soát lại và giảm các mặt hàng trong Danh mục loại trừ hoàn toàn, chỉ giữlại những mặt hàng được xác định theo Điều 9 của Hiệp định CEPT
Giảm thuế các mặt hàng theo CEPT xuống 0% vào năm 2010 đối với cácnước thành viên cũ ASEAN-6 và năm 2015 với các thành viên mới
Thực hiện các chương trình thuận lợi hoá thương mại, bao gồm các thoảthuận công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn và hợp chuẩn, hài hoà về hải quan và nhiềuchương trình khác
Điều kiện để các sản phẩm được hưởng ưu đãi trong khuôn khổCEPT/AFTA
Trang 25Để được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu theo Hiệp định CEPT, các sản phẩmcần phải thoả mãn đồng thời các điều kiện cơ bản sau đây:
Thực hiện nguyên tắc có đi có lại, tức là: một sản phẩm muốn được hưởng ưuđãi thuế nhập khẩu phải là sản phẩm đồng thời có trong danh mục cắt giảm thuế của
cả nước xuất khẩu và nhập khẩu, và sản phẩm đó phải có thuế suất dưới 20%
Sản phẩm đó phải thoả mãn qui chế xuất xứ ASEAN, tức là phải có ít nhất40% thành phần của nó có xuất xứ từ các nước ASEAN (tính gộp các nước) Trên
cơ sở thành phần xuất xứ này, các sản phẩm phải có giấy chứng nhận xuất xứ (mẫuD) do cơ quan được chính phủ của từng nước cho phép cấp
b Nội dung loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (NTBs):
Để tiến tới việc hoàn thành AFTA, Điều 5 của Hiệp định CEPT còn xác địnhmục tiêu loại bỏ các hàng rào phi thuế quan như hạn chế số lượng, hạn ngạch giátrị nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế định lượng… trong vòng 5năm sau khi một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan
Với mục tiêu được đưa ra theo Hiệp định, năm 1995 các nước ASEAN đãthành lập Nhóm công tác về vấn đề các hàng rào phi thuế quan để xác định và xâydựng chương trình huỷ bỏ các hàng rào phi thuế quan ảnh hưởng đến thương mạikhu vực Dựa trên kết quả làm việc của Nhóm công tác, các nước đã xác địnhnhiều biện pháp ảnh hưởng rộng và chủ yếu đối với thương mại hàng hoá trongkhu vực ASEAN là phụ thu haỉ quan và các hàng rào cản trở thương mại (TBT).Năm 1995, phụ thu hải quan được áp dụng trên 2683 dòng thuế và các hàng ràocản trở thương mại (bao gồm cả các yêu cầu về đặc điểm sản phẩm) ảnh hưởng tớitrên 975 dòng thuế của các nước Trên cơ sở đó, tại phiên họp Hội đồng AFTA lầnthứ tám, các nước ASEAN đã thống nhất quyết định thời hạn loại bỏ các hàng ràocản trở thương mại là hết năm 2003
Bảng 2 - Các hàng rào phi thuế quan phổ biến nhất của ASEAN theo dòng thuế Hàng rào phi thuế quan Số dòng thuế bị ảnh hưởng
Trang 26Điều hành của thương mại nhà nước 10
Các hàng rào cản trở thương mại (TBT) 568
Nguồn: Ban Thư ký ASEAN (Năm 1995)
Cùng với nhóm công tác về vấn đề các hàng rào phi thuế quan, các cơ chế tổchức khác cũng được giao nhiệm vụ tham gia vào thực hiện mục tiêu này tronglĩnh vực cụ thể Uỷ ban tư vấn ASEAN về tiêu chuẩn và chất lượng (ACCSQ) hỗtrợ cho việc thống nhất các tiêu chuẩn kỹ thuật và các thoả thuận thừa nhận lẫnnhau giữa các nước ASEAN Hội nghị các quan chức cấp cao trong nông và lâmnghiệp (SOM AMAF) đảm nhiệm việc loại bỏ các hàng rào về kiểm dịch động,thực vật (SPS) trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp
ACCSQ đã đưa ra 20 nhóm sản phẩm để ưu tiên hài hoà tiêu chuẩn ASEAN,
Trang 2712 Linh kiện TV và radio
13 Loa và linh kiện loa
để thúc đẩy trao đổi buôn bán mặt hàng này trong khu vực
Các hàng rào phi thuế quan đối với thương mại khu vực ASEAN có thể nói
là rất đa dạng và tạo ra nhiều trở ngại, nó có thể làm giảm đáng kể, thậm chí triệttiêu các ý nghĩa của việc cắt giảm thuế quan Do đó, vấn đề loại bỏ các hàng ràophi thuế quan được các nước ASEAN rất chú trọng trong quá trình thực hiệnAFTA
1.2.5 Một số lĩnh vực hợp tác khác trong ASEAN có liên quan với AFTA [8], [30], [32], [46]
a Hợp tác trong lĩnh vực hải quan
Để tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu theo Chương trình CEPT, cácnước ASEAN đã nhất trí cùng nhau hợp tác trong các lĩnh vực sau:
- Thống nhất biểu thuế quan:
Trang 28Do mỗi nước thành viên ASEAN đang sử dụng Biểu thuế quan theo Hệthống hài hòa (HS) khác nhau, các nước ASEAN đã quyết định thống nhất Biểuthuế quan ASEAN ở mức 8 chữ số Biểu thuế quan chung ASEAN (AHTN) này sẽgồm khoảng 10.000 dòng thuế và sẽ được thực hiện từ ngày 1/1/2003 Đối với ViệtNam, ta sẽ bắt đầu thực hiện AHTN từ ngày 1/7/2003
- Thống nhất hệ thống tính giá hải quan:
Các nước thành viên ASEAN (trừ Việt Nam chưa là thành viên của GATT/WTO) đã cam kết trong Vòng đàm phán Uruguay của GATT vào năm 2000 sẽ thựchiện phương pháp xác định trị giá hải quan theo GATT1 Đối với Việt Nam, Chínhphủ đã đồng ý việc áp dụng tính thuế nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định trịgiá tính thuế hải quan (ACV) của Tổ chức Thương mại thế giới bắt đầu từ 1/7/2001đối với tất cả hàng hóa có xuất xứ ASEAN (tức là áp dụng đối với hàng hóa sử dụngmẫu D có xuất xừ từ ASEAN) Việc áp dụng tính thuế nhập khẩu theo trị giá hảiquan sẽ tạo thuận lợi cho đầu tư, thương mại và dịch vụ phát triển, đảm bảo cho trịgiá tính thuế phản ánh đúng nhất, sát thực nhất với giá mua bán thực tế và hạn chếthấp nhất thất thu thuế cho ngân sách quốc gia
- Xây dựng Hệ thống Luồng xanh hải quan và thống nhất thủ tục hải quan:
Do có sự khác biệt giữa hàng hóa được hưởng ưu đãi theo Chương trìnhCEPT và các hàng hóa khác như tiêu chuẩn về hàm lượng xuất xứ, mức thuế suất,các nước ASEAN đã nhất trí đơn giản hóa và thống nhất thủ tục hải quan và xâydựng Hệ thống Luồng xanh hải quan dành cho các hàng hóa thuộc diện đượchưởng ưu đãi theo Chương trình CEPT như:
+ Mẫu tờ khai hải quan chung cho hàng hóa thuộc diện CEPT: tất cả cáchàng hóa giao dịch theo Chương trình CEPT trước tiên bắt buộc phải có Giấychứng nhận xuất xứ (C/O) Mẫu D (Form D) để xác định mặt hàng đó có ít nhất40% hàm lượng ASEAN Sau đó, hàng hóa này phải được hoàn thành thủ tục xuấtnhập khẩu (Tờ khai hải quan xuất khẩu và Tờ khai hải quan nhập khẩu) Do các tờkhai hải quan của các nước thành viên tương tự giống nhau nên thủ tục được đơngiản hóa, gộp 3 loại Tờ khai trên thành một Mẫu tờ khai hải quan chung cho hànghóa CEPT;
1 Được nêu trong Hiệp định thực hiện Điều khoản VII của Hiệp định chung về thương mại v thu à thu ế quan 1994