Khi đã trở thành virus ở người, virus đậu mùa phát tán ra xa khi người nhiễm mang virus trong cơ thể suốt giai đoạn ủ bệnh dài, lây cho các bạn lữ hành dọc theo đường đi.. Virus không nh
Trang 1Bệnh đậu mùa – Phần 2
Đường đi bệnh đậu mùa
Vùng hạ Sahara châu Phi dường như có nhiều khả năng là nơi xuất phát của virus gây bệnh đậu mùa ở người, nơi mà có lẽ virus đã tiến hóa từ virus đậu khỉ (monkeypox) Khi đã trở thành virus ở người, virus đậu mùa phát tán ra xa khi người nhiễm mang virus trong cơ thể suốt giai đoạn ủ bệnh dài, lây cho các bạn lữ hành dọc theo đường đi Các trận dịch tiếp nhau đã nhiều lần du nhập virus vào các vùng khác nhau Việc buôn bán nô lệ tại châu Phi có từ 1 ngàn năm trước, đã đóng vai trò tiếp dẫn sự lây truyền bệnh đậu mùa
Vào khoảng 2500 năm trước CN., các thương lộ cổ xưa, chiến tranh, di dân, hành hương cùng với các binh sĩ hồi hương, thương gia, khách lữ hành, và thám hiểm,
đã tiếp tay giúp cho virus lan truyền khắp thế giới cổ đại Khi các thành bang mọc lên dọc theo các thương lộ, thì đám dân cư đông đúc tại vùng đô thị trở thành nơi
lý tưởng ươm mầm bệnh gây nên các vụ dịch đậu mùa không dứt
Trang 2Virus di chuyển từ vùng châu thổ sông Nile đến các đô thị cổ đại vùng Lưỡng hà, vùng cao nguyên xứ Ba tư, đến vùng Biển Đen và đi vào vùng Tây Á và Trung Á,
kể cả vùng thung lũng sông Indus thuộc Pakistan ngày nay Virus không những chỉ du hành qua cơ thể người bệnh mà còn sống trong các vảy mủ khô dính trong quần áo nhiễm bẩn và các kiện hàng sợi bông được các thương đoàn mang đến tận những nơi xa xôi Giao thương thời xa xưa qua đường biển từ vùng vịnh Ba tư, dọc theo bờ biển Ả rập, Ba tư,và Ấn độ, và cuối cùng đến Trung quốc, có thể cũng
đã đóng vai trò trong việc vận chuyển virus đến châu Á
Ramses V: chết vì bệnh đậu mùa năm 1157 trước Công Nguyên
Bằng chứng xưa nhất về sự hiện diện bệnh đậu mùa được tìm thấy trên 3 xác ướp thời Ai cập cổ đại, có niên đại khoảng năm 1570-1080 trước CN., trong đó có xác ướp Pharaoh Ramses V Vị vua này chết vào năm 1157 trước CN vì bệnh đậu mùa
Trang 3khi mới hơn 30 tuổi Mặt ông ta có các dấu chứng bị sưng phù và túi mủ Xét nghiệm vi thể các thương tổn người ta tìm thấy những hạt nhỏ dạng virus đậu mùa,và những mảnh vảy cho phản ứng với kháng thể đậu mùa
Người Hittites sống tại vùng Anatolia có mô tả 1 chứng bệnh bí hiểm gây thành dịch đã tấn công họ sau khi giao chiến với quân đội Ai cập tại vùng phía bắc Syria ngày nay vào giữa thế kỷ 14 trước CN Bệnh từ các tù binh Ai cập đã lây ra và cướp đi nhiều mạng sống dân thường và binh lính Bệnh hoành hành trong cọng đồng người Hittites ít nhất là 20 năm Chúng ta đoán đây chỉ có thể là bệnh đậu mùa
Một trong các tài liệu y học Sanscrit cổ nhất, sách Susruta Aamhita, do 1 thầy thuốc Hindu soạn trước thế kỷ thứ 5, đã mô tả bệnh đậu mùa và cho biết bệnh này
có lẽ đã tồn tại tại Ấn độ cổ đại vào khoảng năm 1500 trước CN Các thầy thuốc y học Ayuverda đã dịch các mô tả về bệnh đậu mùa được viết trong khoảng thời gian từ năm 1000 trước CN từ tiếng Sanscrit và Pali sang tiếng Sinhalese của người sống trên đảo Sri Lanka hiện nay Các thầy tu Bà la môn đã hành lễ và cầu nguyện nữ thần bệnh đậu mùa trong thiên niên kỷ cuối cùng trước CN
Bệnh đậu mùa đã đến Trung quốc khoảng năm 250 trước CN khi quân Hung nô
từ miền Trung Á tấn công nước này, và chẳng bao lâu sau đã nhanh chóng lan tràn
ra khắp miền bắc Trung quốc Bệnh đậu mùa đã tấn công quân đội của Hán Vũ đế vào năm 48-49 khi đánh dẹp các bộ tộc Vũ lăng (Wuling) thuộc vùng Hồ nam hiện
Trang 4nay Bệnh đậu mùa từ miền Trung Á đến, và có lẽ cũng đã từ nơi này lan xuống miền Đông nam Á dọc theo “ con đường Miến điện ” Bệnh đậu mùa bám trụ tại Trung quốc và đã được một thầy thuốc nước Tấn (Chin) vào đầu thế kỷ thứ 4 mô
tả đầy đủ Bệnh đậu mùa đã cùng với đạo Phật đến được Nhật bản vào thế kỷ thứ
6
Không có tài liệu cổ nào của người Hi lạp và La mã mô tả rõ ràng về bệnh đậu mùa mặc dù họ đã ghi lại vô số các trận dịch Tuy nhiên, bằng chứng về bệnh này
đã được nêu ra trong đám quân lính Carthage đóng dọc bờ biển Địa trung hải thuộc Bắc Phi vào năm 395 trước CN Carthage đem quân đội đến đảo Sicily để tấn công thành Syracuse Khi bao vây thành này, nhiều quân sĩ Carthage ngã bệnh, trên người phủ đầy các mụn mủ, nhiều người chết nên phải rút quân về
Khi Alexander Đại đế tiến vào vùng châu thổ sông Indus vào năm 327 trước CN thì quân đội bị mắc một chứng bệnh mà sử gia La mã Rufus có mô tả là người bệnh bị phủ đầy các vảy nhỏ và lây cho người khác Bệnh lui dần trước khi đoàn quân rút lui về phương Tây
Các triệu chứng bệnh đậu mùa phù hợp với những mô tả về một chứng bệnh xảy
ra trên các binh sĩ xứ Abyssinia thuộc vương quốc Aksum xứ Ethiopia hiện nay khi họ tấn công Mecca trong trận chiến Elephant vào năm 569 Bệnh này lan tràn
ra khắp các bộ lạc Ả rập khi Muhammad ra tay thống nhất vào thế kỷ thứ 7 Thầy thuốc Rhazes tại thành Baghdad vào thế kỷ thứ 10 đã ghi lại 1 vụ dịch do hậu quả
Trang 5của trận Elephant, và trở thành người đầu tiên đưa ra 1 chẩn đoán đầy đủ bệnh đậu mùa
Giám mục Gregory của thành Tours, Pháp là người châu Âu đã mô tả đầu tiên về bệnh đậu mùa vào năm 581 Ông ta viết rằng bệnh này đã lan tràn tới miền nam nước Pháp và miền bắc nước Ý Năm 622,quân Hồi giáo đã mang bệnh này từ 1
vụ dịch tại thành Alexandria,Ai cập vào Tây ban nha, Bồ đào nha, và Pháp ngang qua ngỏ Bắc Phi
Bệnh đậu mùa dần dần đã lan tràn ra khắp Tây Âu theo từng đợt Nhiều vụ dịch đã được ghi nhận tại Ireland từ năm 675 đến 778, và tại vùng Flanders vào năm 961 Tín đồ hành hương và thập tự binh lại mang bệnh đậu mùa vào Tây Âu khi từ vùng Trung đông trở về.Vào cuối thế kỷ 12 bệnh đậu mùa đã trở thành khá phổ biến tại lục địa Tây Âu
Bệnh đậu mùa theo 1 chiếc tàu Đan mạch đến Iceland vào năm 1241, và đã làm cho 20.000 người ở đây chết Nhiều trận dịch nữa đã xảy ra tại Iceland trong những năm 1257 và 1291 Các thập tự binh của vua Edward I khi trở về nước Anh năm 1300 cũng đã mang theo bệnh đậu mùa Một trận dịch từ Iceland đã đến tấn công Greenland vào năm 1430 Vào thế kỷ thứ 16, bệnh đậu mùa đã cắm chốt khắp châu Âu ngoại trừ nước Nga, nơi mà cuối cùng bệnh đậu mùa cũng đặt chân tới vào đầu thế kỷ thứ 17
Trang 6Bệnh đậu mùa lai vãng các hải cảng xứ Tây ban nha, và người nước này lại xuất khẩu sang vùng Tây Ấn (West Indies) năm 1507 Tình trạng nhiễm trùng hàng loạt trên tàu cộng với đồ vải bị vấy nhiễm các vảy mủ đã cho phép virus di chuyển an toàn sang Tân Thế giới.Virus cũng theo đám nô lệ da đen gốc bờ biển Tây Phi được người Tây ban nha mang đến làm việc trong các hầm mỏ tại đảo Hispaniola (Haiti và Dominica hiện nay) ngay từ năm 1510 Chẳng mấy chốc Hispaniola trở thành cái ổ ươm mầm (breeding ground) bệnh đậu mùa
Căn bệnh này chẳng bao lâu tiến vào đất liền Mexico qua ngã Yucatan, mở đường cho đám Tây ban nha đến chính phục vùng đất này Cortés đến Campoula là nơi gần Vera Cruz hiện nay vào năm 1519, tại đây ông ta được 1 nhóm Tây ban nha khác nhập bọn, trong nhóm này có 1 nô lệ da đen mang bệnh Bệnh đậu mùa đã chạy nhanh trước các tay chinh phục, tạo nên sự kinh hoàng và giết chết nhiều tộc trưởng, và sau đó tàn sát một nửa số dân bản xứ của Mexico Nhờ vậy mà Cortés với chưa đầy 500 quân sĩ đã chinh phục được đế quốc rộng lớn Aztec vào năm
1521
Bệnh đậu mùa, cùng với những bệnh khác của Cựu thế giới, đã mở đường cho người Tây ban nha đi chinh phục khắp châu Mỹ La tinh, dọn đường cho công cuộc chinh phục Bệnh đậu mùa đã quét sạch dân cư dọc theo bờ biển xứ Peru, và quấy nhiễu các bộ tộc Incas ở vùng cao Pizarro đến lãnh thổ của người Incas vào năm
1532 khi vùng này bị hoảng loạn vì bệnh tật và nội chiến Đám nô lệ châu Phi vẫn tiếp tục cung cấp nguồn bệnh gây dịch hoành hành khắp vùng Mỹ La tinh trong
Trang 7nhiều năm trời, tạo điều kiện cho người Tây ban nha và Bồ đào nha dễ dàng chiếm đoạt
Bệnh đậu mùa cũng không chừa Bắc Mỹ Những người khai hoang châu Âu, nhất
là người gốc Anh nơi mà bệnh đậu mùa vẫn tiếp tục hoành hành, đã mang mầm bệnh đến các bờ biển Bắc Mỹ Các trận dịch đậu mùa cứ đến rồi đi, và nhiều tàu thuyền phải chịu cách ly kiểm dịch nếu nghi ngờ có mang bệnh đậu mùa.Tuy nhiên, quần áo và những bành bông vải bị vấy nhiễm các vảy mủ bệnh đậu từ những tàu này lại được mang lên bờ Các vụ dịch nỗ ra một phần cũng do sự du nhập đám nô lệ da đen bị nhiễm bệnh
Vào cuối thế kỷ 17, bệnh đậu mùa bắt đầu tiến về phía tây Ở miền bắc Canada, các giáo sĩ dòng Tên và các công ti buôn bán lông thú vô tình đã làm cho bệnh lan tràn sang các bộ lạc bản xứ Vào năm 1731, bệnh đậu mùa đã lan khắp các khu thực địa và làng mạc thổ dân Bắc Mỹ Có khi bệnh đậu mùa được cố ý đưa vào các bộ lạc cứng đầu chống đối sự cai trị thực dân qua hình thức đem tặng chăn mền đã được người mắc bệnh đậu mùa sử dụng
Công nhân hái bông và công nhân nhà máy dệt bị nhiễm bệnh đậu mùa cũng tiếp tay làm lây truyền bệnh này Thói quen nhổ nước bọt vào bàn tay trước khi nối sợi chỉ đứt và những mụn vảy tróc trên bàn tay người vừa khỏi bệnh đậu mùa, là 2 yếu
tố làm cho vải và sợi bông bị vấy bẩn virus Việc mua bán vải vụn lấy từ quần áo
cũ bị vấy nhiễm virus, rồi đem đóng lại thành bành và lưu kho để làm giấy, cũng
Trang 8làm cho bệnh phát tán Ở trạng thái khô trong nhà kho và trong hầm tàu, virus sống được hàng tháng, thậm chí đến hàng năm Vào thế kỷ 19, tàu thuyền đã mang bệnh đậu mùa đến khắp nơi trên thế giới khi chở những bành bông, vải vụn, quần
áo, cùng với nhiều trường hợp lây nhiễm giữa thủy thủ đoàn và hành khách
Các biện pháp vô vọng
Khó mà phân biệt rõ bệnh đậu mùa với bệnh sởi và thủy đậu tại châu Âu, mãi cho đến khi Sydenham nêu ra được những khác biệt vào khoảng thập niên 1660 Tuy nhiên, vẫn còn nhầm lẫn đến tận cuối thế kỷ 18, vì lẽ bệnh đậu mùa không chừa một ai, giàu nghèo cũng mặc
Trong khi châu Âu vừa vật lộn với chứng bệnh mới này, vừa phải đối phó với những bệnh dịch khác từ bên ngoài đưa vào khu vực này, thì phần lớn châu Á đã quen mặt bệnh đậu mùa từ lâu và đã có ý tưởng tiêm chủng để ngừa bệnh này Ý tưởng về tiêm chủng dường như đã hình thành tại Ấn độ trong hàng ngũ các tu sĩ
Bà la môn khi cầu nguyện nữ thần bệnh đậu mùa Họ nhận thấy rằng không phải tất cả các nạn nhân mắc đậu mùa đều có mức độ nặng giống nhau, một số chỉ mắc phải thể bệnh nhẹ mà thôi Bằng cách chọn lọc cẩn thận các vảy mủ khô từ những bệnh nhân hồi phục sau khi mắc bệnh đậu mùa thể nhẹ, họ bắt chước cách lây truyền virus tự nhiên bằng cách đặt những mảnh vảy mủ khô nhỏ vào bên trong mũi của những người chưa hề bị mắc bệnh trước đó Kết quả đạt được là 1 thể bệnh đậu mùa nhẹ có khả năng bảo vệ những người này khỏi bị mắc thể bệnh nặng
Trang 9hơn Mỗi khi mùa xuân đến, các tu sĩ đi khắp các làng mạc chủng ngừa cho trẻ em Các tu sĩ nam nữ của đạo Phật tiếp tục truyền thống chủng ngừa cổ xưa này, và sau đó đem phương pháp này vào miền Trung Á và Trung quốc Các tài liệu thời nhà Tống cho biết phương pháp chủng ngừa này đã được một ni sư Phật giáo đem
từ Tây tạng vào Trung quốc
Sau này xuất hiện một dạng chủng ngừa mới, thay vì lấy các vảy mủ khô, người ta lấy chất dịch từ các túi mủ ngoài da của người bị đậu mùa thể nhẹ và chủng ngừa được tiến hành bằng cách đưa dịch mủ đó vào dưới da của người chưa bị nhiễm Hình thức chủng ngừa sử dụng dịch mủ lấy từ các thương tổn đậu mùa này được mang sang Ba tư và Anatolia thông qua các thương lộ đi từ Ấn độ và miền Trung
Á, đến tận thành Constantinople vào khoảng cuối thế kỷ thứ 16
Dường như hình thức chủng ngừa này cũng đã có tại vùng tây Phi Một chủ đồn điền tại Boston tên là Cotton Mather, đã học được phương pháp này từ 1 nô lệ da đen vào năm 1706 và sau đó khuyến khích những người khai hoang khác áp dụng George Washinton đã cho đám quân cách mạng của mình chủng ngừa vào năm
1777 sau khi quân đội bị mấy trận dịch đậu mùa Nông dân tại một số vùng ở châu
Âu cũng áp dụng kỹ thuật này
Các thầy thuốc châu Âu tuy có biết đến phương pháp chủng ngừa này nhưng lại không muốn áp dụng Lady Mary Wortley Montague, vợ của Đại sứ Anh tại Thổ nhĩ kỳ vào đầu thế kỷ thứ 18, biết được phương pháp chủng ngừa này khi theo
Trang 10chồng đến Constantinople Chính bà cũng đã bị đậu mùa để lại vết sẹo rất xấu, bà
ta nguyện áp dụng cách chủng ngừa cho các con mình hầu tránh cho họ khỏi những kinh khiếp của bệnh này Khi trở về London vào năm 1721, bà đã trình bày
ý tưởng chủng ngừa cho triều đình nước Anh Tuy nhiên do quá sợ bị mắc bệnh đậu mùa, cho nên ít ai dám chịu thử
Trong khi đó, khắp châu Âu đầy những tin đồn rằng những người vắt sữa đã bị đậu bò đều không bị hề hấn gì trong các trận dịch đậu mùa Các nông dân nuôi bò vắt sữa bắt đầu đem bệnh đậu bò chủng ngừa cho con cái họ Các thầy thuốc biết được việc này qua các thông báo của 1 bác sĩ người Anh vào năm 1765, và 1 thầy thuốc người Đức vào năm 1769, nhưng thảy đều vô ích Cuối cùng, vào năm 1798, một thầy thuốc người Anh tên là Edward Jenner công bố 1 báo cáo về tính hiệu quả và an toàn khi sử dụng đậu bò làm vaccin ngừa bệnh đậu mùa Trong khi giới thầy thuốc người Anh chần chừ chưa chấp nhận ý tưởng này, thì các nước châu Âu khác đã nhanh chóng sử dụng đậu bò để làm vaccin phòng bệnh đậu mùa
Bất chấp thông tin về chủng ngừa, tại châu Âu người ta vẫn tranh cãi rất nhiều về việc áp dụng phương pháp này Có người chất vấn về tính an toàn, kết quả miễn dịch đạt được, và có phù hợp về mặt tôn giáo hay không khi làm ngược lại với ý muốn của Chúa Tính an toàn quả thật gây nhiều lo ngại nhất là khi việc chủng ngừa lại không may bị thao tác vụng về, và “ chất dịch” dùng để chủng lại thường quá mạnh hoặc bị nhiễm bẩn Không phải lúc nào người ta cũng chăm chút khi lấy
“ chất dịch ” dùng để tiêm chủng Nhân viên tiêm chủng ít kinh nghiệm thường chỉ
Trang 11lấy chất mủ từ bệnh nhân mắc thể đậu mùa nặng thay vì từ nạn nhân bị thể bệnh nhẹ “Dịch” lấy được thường có chứa các tác nhân sinh bệnh khác, hoặc thậm chí chỉ là dịch mủ của các nhiễm trùng khác Các phản ứng có hại đối với chất lạ cũng gây ra nhiều vấn đề
Nhiều năm sau khi chủng ngừa với đậu bò, các thầy thuốc không biết rằng miễn dịch tạo ra có thể yếu dần đi và cần phải chủng bổ sung để ngừa khỏi mắc bệnh trong những vụ dịch sau đó Miễn dịch tạo ra sẽ yếu dần cho nên người đã tiêm chủng vẫn có thể bị nhiễm virus và mắc bệnh đậu mùa nhẹ hoặc thể biến đổi nhưng thường lại không được chẩn đoán, khiến họ vô tình gây nhiễm cho người khác
Lo ngại về tình trạng thổ dân cứ tiếp tục giảm tại các thuộc địa Tân Thế giới năm
1803 người Tây ban nha ra tay hành động theo lệnh của vua Carlos IV đem vaccin của Jenner tiêm chủng cho dân chúng tại thuộc địa Vận chuyển và bảo quản vaccin Jenner sống qua Đại tây dương là cả 1 vấn đề Họ chọn đám trẻ con mồ côi
để mang vaccin theo cách truyền bệnh đậu từ cánh tay đứa này sang đứa khác trong suốt chuyến hải hành dài và trong hành trình xuyên qua các thuộc địa để có thể lấy được vaccin ở dạng còn hoạt tính Về sau, người ta tìm được 1 đàn bò bị nhiễm đậu bò tại vùng Tây ban nha mới, và đem tiêm đậu bò vào những con bê để sản xuất và duy trì vaccin Người Tây ban nha cũng làm như thế đối với Philippines và 2 thành phố cảng của Trung quốc