Lịch sử ra đời của ngôi chùa Một số sách báo viết về chùa Tây Phương cho rằng được xây dựng vào thời nhà Mạc, nhưng không chứng minh.. Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại
Trang 1toàn trong vòng đai
nhiệt đới từ vĩ độ cao
nhất là 23o22 tới vĩ độ
thấp nhất là 8o30 Bắc
Gió mùa in dấu ấn sâu
sắc vào thiên nhiên
các vùng ven biển,
đồng bằng, miền núi
suốt từ Bắc tới Nam
Mùa lạnh, mùa nắng, mùa mưa, mùa khô ảnh hưởng lớn đến chế độ sôngngòi và chế độ sinh trưởng của sinh vật ảnh hưởng đến nếp sống sinh hoạtcủa các tộc người và hình thành những phong cách kiến trúc mang tính địaphương phong phú
Là vùng đất thuộc vùng châu thổ sông Hồng Phía bắc giáp tỉnh VĩnhPhúc, phía tây giáp tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ, phía đông giáp Hà Nội, HưngYên, phía nam giáp Hà Nam Địa hình của tỉnh tương đối đa dạng bao gồmđồi, núi và đồng bằng Hà Tây có diện tích là 2192 km, với dân số là
2452500 (theo năm 2002) Hà Tây là vùng đất trú ngụ của một số dân tộcViệt, Mường, Tày Dao
Hà Tây với nhiều ngôichùa lớn đã đi vào lịch sử vớiquá khứ anh hùng của hàngnghìn năm truyền thống dựngnước và giữ nước Qua việctìm hiểu kiến trúc tại địaphương tôi lấy kiến trúc xâydựng chùa Tây Phương, chùaThầy, chùa Hương, chùa Đậucủa quê hương mình làm nềntảng cho bài viết
Trang 2NỘI DUNG
I Chùa Tây Phương
Đã từ lâu, Phật Giáo hòa vào trong tín ngưỡng dân gian chi phối đời sốngcủa người dân Việt Nam khá sâu sắc Từ đó có rất nhiều ngôi chùa nổi tiếngvới quy mô hoàng tráng, đồ sộ trên khắp Việt Nam Nhưng chùa TâyPhương không hề to lớn, vậy chùa có gì nổi bật mà được mệnh danh la “ Đệnhất thắng cảnh?”
1 Lịch sử ra đời của ngôi chùa
Một số sách báo viết về
chùa Tây Phương cho rằng
được xây dựng vào thời
nhà Mạc, nhưng không
chứng minh Niên đại này
có thể tin được, vì đầu thế
kỷ 17 vào những năm 30
chùa đã phải sửa chữa lớn,
hơn nữa trong chùa còn hai
Trang 3Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan.Đến năm 1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tênmới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.
Thông tin trên trang web chính thức của tỉnh Hà Tây thì nói chùa đượcthành lập từ thế kỷ 6-7 nhưng đã trải qua nhiều lần trùng tu
Chùa Tây Phương dựng trên đỉnh núi Tây Phương thuộc xóm TâyPhương của thôn Yên xã Thạch Xá huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây Nhiều tưliệu thư tịch và truyền truyền thuyết cho hay núi Tây Phương còn gọi là núiCâu Lậu Sách xưa Việt sử thông giám cương mục và thơ Phan Huy Ích gọitên chùa theo tên núi là Chùa Tây Phương
Cổng chùa và một bức hoành trongchùa đều ghi rõ Tây Phương Cổ Tự.Nhưng tất cả bia và chuông hiện còn đềughi tên chùa là Sùng Phúc ở trên núi Tây.Phương Trong khu vực núi Tây Phươngxưa nay có 3 chùa : Quan Âm ở chân núi.Thanh Am ở lưng chừng và Sùng Phúc ởtrên đỉnh
Sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam(NXB KHXH, năm 1993) trang 230 giớithiệu tóm tắt 2 văn bản bia chùa QuảngPhúc và chuông chùa Sùng Phúc ở cùngmột địa phương và cho biết đều là nhữngtên của chùa Tây Phương Tấm bia mang
Trang 4tên “Quảng Phúc tự hưng công tu
tạo thạch bi” ở tình trạng “bia vỡ”,
“chữ mờ” vì thế có lẽ chữ Quảng
chính là chữ Sùng, dựng năm 1639
Trong bài thơ Qua Tây
Phương Sơn tự ( Thăm chùa núi Tây
Phương) làm năm 1788, Phan Huy
ích viết ở câu 3 : “Cát lệnh dư sa đôi
xích nhưỡng” đã tả cảnh núi: Đan sa
còn dư của quan lệnh họ Cát chất
thành đống đất đỏ Và ông ghi chú :
“Núi Tây Phương xưa có tên là núi
Câu Lậu Sách sử chép rằng : Đời
Tấn có Cát Hồng thích việc luyện
đan, biết núi Câu Lậu có đan sa bèn
xin làm chức lệnh Giao Chỉ, tức là
vùng đất này” Đá núi xám đỏ nay
vẫn còn, song không có dấu tích gì
của việc luyện đan ở đây
Trong sách Sơn Tây địa chí (1939), Phạm Xuân Độ dẫn lời tâu củaCao Biền với vua Đường ghi trong truyện Kiều Cao Vương: “ Tại cấp giữanúi Câu Lậu có huyệt đế vương, thần đã làm chùa để yểm” Trần Trọng Kimtrong sách Phật lục cũng dẫn truyền thuyết trên, song nghi ngờ ngay: “ Kểthực ra, thì không có di tích gì làm bằng chứng cả”
Một số sách báo viết về chùa Tây Phương cho rằng được xây dựng vàothời Mạc, nhưng không chứng minh Niên đại này có thể tin được, vì đầu thế
kỷ XVII vào những năm 30 chùa đã phải sửa chữa lớn, hơn nữa trong chùacòn hai tấm bia đều bị mờ hết chữ nhưng còn đọc được rõ tên bia ở mặtngoài là Tín thí và Tây Phương sơn Sùng Phúc tự thạch bi (mặt bia kia ápvào tường hồi toà chùa giữa nên không đọc được), các hoa văn trang tríthuộc phong cách nghệ thuật cuối TK XVI sang đầu TK XVlI Ngoài sânvườn, cạnh gốc cây sung có tấm bia Tây Phương sơn Sùng Phúc tự bị mờgần hết nhưng còn vài dòng in rập cẩn thận có thể đọc được những thông tinrất quý: “Đại Việt quốc Sơn Tây trấn Quốc Oai phủ Ngày 12 tháng 11 nămNhâm Thân trùng tu chùa Sùng Phúc núi Tây Phương, dựng Thượng điện 3gian, Hậu đường và hành lang 22 gian Ngày 2 tháng 2 năm Âất Hợi đặthội an tượng, khai quang điểm nhỡn Nguyên soái tổng quốc chính sư phụThanh Vương ” Thanh Vương là niên hiệu của chúa Trịnh Tráng (1623-
Trang 52 Không gian kiến trúc ngôi chùa
Đường lên chùa Tây PhươngTừ chân
núi, qua 239 bậc lát đá ong thì đến đỉnh
núi và cổng chùa
Chùa Tây Phương gồm ba nếpnhà song song: bái đường, chínhđiện và hậu cung Mỗi nếp có haitầng mái kiểu chồng diêm, tườngxây toàn bằng gạch Bát Tràngnung đỏ, để trần tạo thành mộtkhông khí rất thô sơ mộc mạc,điểm những của sổ tròn với biểutượng sắc và không; các cột gỗđều kê trên đá tảng xanh trongkhắc hình cánh sen
Mái lợp hai lớp ngói: mái trên
có múi in nổi hình lá đề, lớp dưới
là ngói lót hình vuông sơn ngũ sắc
như màu áo cà sa xếp trên những
hàng rui gỗ làm thành ô vuông vắn
đều đặn Xung quanh diềm mái
của ba toà nhà đều chạm trổ tinh tế
theo hình lá triện cuốn, trên mái
gắn nhiều con giống bằng đất
Trang 6nung, các đầu đao mái cũng bằng đất nung đường nét nổi lên hình hoa, lá,rồng phượng giàu sức khái quát và khả năng truyền cảm Cột chùa kê trênnhững tảng đá chạm hình cánh sen Toàn bộ ngôi chùa toát ra một tínhhoành tráng và phóng khoáng phù hợp với triết lý "sắc sắc không không"của nhà Phật.
3 Đặc điểm kiến trúc
Vị trí
Vị trí khéo léo khi chọn nơi xây dựng chùa trên một quả đồi yên tĩnh,không gian kiến trúc được sáng tạo từ lối chân đồi lên tới cổng chùa Đồngthời, khu chùa chính được xác lập thành một khu riêng trong bố cục chung
và tạo ra ở đấy một không gian khác Nằm trên một vị trí cao, chùa có thểtránh cho chùa ngập lụt
Bố cục
Bố cục công trình gồm 3phần song song nhau kiểu chữTam, xung quanh 3 mặt tườngxây gạch để trần có chạm trổcác ô cửa sổ trang trí hình tròn
“bán âm bán dương” hay “sắcsắc không không” theo triết lýnhà Phật Khối Chùa trước và
Trang 7khối chùa giữa gồm 3 gian 4 hàng cột Các ngôi nhà này cách nhau 1,6 m tạothành một sân Thiên tỉnh đủ để ánh sáng thiên nhiên lọt vào tạo nên cảmgiác kỳ ảo, trang nghiêm.
Từ bố cục mặt bằng 3 toà
nhà, mỗi toà nhà có 2 tầng
mái, mỗi tầng có 4 lá mái
có người đã nghĩ đến một vũ
trụ luận Tam tài (Thiên - Địa
- Nhân) với sự phát triển
Lưỡng nghi sinh Tứ tượng,
sinh Bát quái rồi biến hoá vô
cùng Nếu điều suy luận này
tin được thì kiến trúc chùa
Tây Phương đã lồng được ý
nghĩa triết học vào trong giá
trị nghệ thuật để càng đẩy
cao tính nhân văn
Mặt bằng
Đi hết 200 bậc thang xây bằng
đá ong, hai bên đường là thành đất,vườn cây là tới khu đất nơi Chùatoạ lạc, công trình được bố trí ngoài
có cổng chùa nhỏ, không Tamquan, không gác chuông
Giữa sân là một hồ nước nhỏ, vào
mùa khô hồ luôn giữ được độ ẩm nhất
định, chống nứt nẻ của các kết cấu và
tượng gỗ bên trong công trình
Trang 8Chùa gồm 3 lớp chính, song song theohình chữ "Tam", xây thành các khu biệtlập Chùa và sân thông suốt nhau, tứ phíaquây lại kín sân thiên tỉnh thành hìnhkhung cửa sổ dài, mở thẳng lên trời đónkhí và ánh sáng Tuy nhiên ánh sáng vừaphải để tạo được vẻ thâm nghiêm chocông trình
Bộ mái của chùa được coi là
đoá hoa đao đình bởi sự xử lý và
thủ pháp nghệ thuật, tỷ lệ chuẩn
mực
Trung tâm của chùa có 3 lớp
chùa đã xây gần như sát vách,
Trang 9Hệ thống kết cấu của chùa theo
lối “chồng rường giá chiêng”
nhưng thay cho “kẻ” thì lại dùng
“bẩy”, bẩy không nằm nghiêng
mà nằm ngang để đỡ phần mái
đua ra Đối với mái tầng trên cột
quân còn đứng trên xà nách của
mái tầng dưới… đây là kiểu dáng
kiến trúc độc đáo thế kỷ XVII
Ngoài bố cục kiến trúc đẹp,
chùa Tây phương còn nổi tiếng vì
có hệ thống tượng độc đáo như tượng Tuyết Sơn, Mã Minh và 18 vị La Hán
là những kiệt tác nghệ thuật điêu khắc đương thời mang đậm tính dân gian, ýnghĩa triết lý nhân sinh, cuộc sống dân giã đời thường và tính thiêng liêngcủa Phật pháp
Chùa Tây Phương là chùa lớn cólịch sử lâu đời, song cả chùa chỉ cómột tháp mộ sư, hiện mới được xâylại ở vườn cạnh hồi bên trái khu Tambảo, mang tên Phương viên bảo tháp Tháp bình diện vuông, trên phần nềncao là 3 tầng thu nhỏ dần ngăn cách bởi các hàng mái có góc đao uốn conglên ở tầng 1 có bia dựng năm Khải Định 9 (1924) Lòng tháp có sá lị thiền
sư Thanh Ngọc và di hài các thiền sư khác nhau là cụ Thanh Túc rồi cụ PhúcHải Tháp và tường hoa bao quanh đều được xây khá muộn (cụ Hải Tịchnăm 1971) Không có tư liệu gì - kể cả trí nhớ của nhân dân về các thiền sưtrước cụ Ngọc (cụ Ngọc về đây trụ trì năm 1893), thậm chí sau khi cụ Túc
Trang 10tịch, một thời gian dài do các ông thống trong làng quản lý, mãi sau mới có
cụ Hải về
Tháp mới, song nhờ gắn với cây xanh vươn cành xoè tán ra để cùng hoànhập đã nhân lên cả vẻ đẹp và thời gian Cũng cần biết cây tháp mộ này tuyxây sau 1971 nhưng tiền thân của nó đã có trước năm 1943, vốn ở sát hồi toàchùa giữa khu Tam bảo
Vật liệu gỗ và gạch đã được tận dụng để sử dụng trong công trình tạo tínhhiệu quả đặc biệt
được xây trần và ô cửa tròn
(tượng trưng cho sắc sắc không
không), được trổ bên đốc
tường lại là có tác hiệu lực
đáng kể Lớp gạch này đã cách
nhiệt cho toàn bộ công trình, còn ô cửa trổ nhỏ có thể cung cấp chút ánhsáng nhỏ bên trong nội thất kết hợp với ánh sáng được rọi từ trên mái xuống.Công trình vì thế mà đủ ánh sáng soi rọi bên trong và tăng thêm tính thiêngliêng cho hệ thống tượng Đây cũng là một thủ pháp xử lý ánh sáng đượccha ông vận dụng ở loại hình chùa như thế này
Kết cấu
Chùa Tây Phươngkhông lớn, đất xây chùahẹp và ở trên cao, nênkhó vận chuyển vật liệu
để có thể nghĩ đến khảnăng đồ sộ của côngtrình Vì thế, để tạo rađược một công trình mẫumực, các kiến trúc sư dângian dường như đã tậptrung mọi cố gắng vào
Trang 11khai thác những khía cạnh khác nhau của nghệ thuật kiến trúc dân gian cổtruyền
Để hiểu rõ hơn, chúng ta quan sát kĩ sẽ thấy rằng đó là ba tòa tách biệtđược bố trí song hành gồm chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng Nhưngđiều đặc biệt ở đây là ba tòa được liên kết với nhau bởi tường bao đóngthành một khối kín, có cửa nghách thông sang hai bên, rất dễ khiến người taliên tưởng đến không gian chật chội và bó hẹp…
Tuy nhiên, người thợ xưa đã biết cách sử dụng nghệ thuật đối lậpngay trong kiến trúc, bởi
chỉ có chùa hạ là có 9 cửa
(nhưng thường đóng), còn
hai chùa trong chỉ có cột mà
không có cửa có vách nên
chúng được liên thông với
nhau, tạo cảm giác rộng và
thoáng Hơn nữa giữa mỗi
tòa nhà đều có một khoảng
sân hẹp thông với không
gian mở rộng lên trời hứng
ánh sáng gọi là sân “Thiên
Tỉnh“ (giếng trời) ở mỗi
khoảng sân này lại được thiết kế một cái bể nước khiến cho lớp gạch lót máisắc không tượng trưng cho tấm áo cà sa của đức Phật như ánh lên thứ ánhsáng muôn màu Từ ngoài bước vào cái cảm giác về khoảng tối như dần
Trang 12được mở ra khi bước qua những khoảng sân thiên tỉnh để dần vào trongchiêm ngưỡng những pho tượng Phật, khiến cho cảm giác về thế giới Phật
pháp như mở cõi lòng đến sự rộnglớn vô biên
Nhìn từ ngoài vào, ta còn thấymột sự khác biệt nữa trong kiếntrúc: đầu hồi của chùa Trung lùivào khiến những đầu đao máichùa sinh động trong nhịp điệu đãđược thay đổi một cách cơ bản Tường bao của ngôi chùa đãliên kết ba tòa Hạ Trung Thượngthành dạng thức mặt bằng gần vớichữ công rất phổ biến trong kiếntrúc cổ truyền Việt Nam Nhưng
ta lại không thể quy mặt bằng nàyvào hình chữ công được, vì ba lớpchùa lại hoàn toàn tách bạch trongnội thất Điều này làm nên lốikiến trúc đặc biệt hiếm thấy củachùa Tây Phương, như cái lý vềsắc sắc không không vậy
tạp của trang trí và sự đơn giản từ
kết cấu mặt bằng, sự yên tĩnh của
đường thẳng và sự sinh động của
Trang 13mái cong Tất cả những yếu tố đó cộng hưởng một cách nhuần nhuyễn, tựnhiên sống động một cách lạ thường
II Chùa Thầy
Nằm gọn dưới chân một dải núi đá vôi hình vòng cung nổi lên giữavùng đồng bằng xã Sài Sơn, chùa Thầy (Thiên Phúc tự) thuộc địa phận haithôn Đa Phúc và Thụy Khuê, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, là một vùng nonnước hữu tình, cảnh trí như chốn bồng lai Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy,nên chùa được gọi là chùa Thầy Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý Đây lànơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, lúc này núi Thầy còn gọi là núi Phậttích
2.1 Lịch sử hình thành của chùa
Chùa Láng gắn liền
với giai đoạn đầu của cuộc
đời Từ Đạo Hạnh, còn chùa
Thầy lại chứng kiến quãng
đời sau cùng cho đến ngày
thoát xác của vị sư thế hệ
thứ 12 thuộc dòng Thiền
Ti-ni-đa-lưu-chi này
Trang 14Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơiThiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồmhai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả,tên chữ là Thiên Phúc Tự) Đầu thế kỷ 17, Dĩnh Quận Công cùng hoàng tộcchăm lo việc trùng tu, xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu,nhà bia, gác chuông
Theo thuyết phong thủy,
chùa được xây dựng trên thế đất
hình con rồng Phía trước chùa,
bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng
chùa và bên phải dựa vào núi
Sài Sơn Chùa quay mặt về
hướng Nam, trước chùa, nằm
giữa Sài Sơn và Long Đẩu là
một hồ rộng mang tên Long
Chiểu hay Long Trì (ao Rồng)
Sân có hàm rồng
Trong Chùa hiện còn lưu giữ 7 tấm bia đá đều có niên đại vào khoảngthế kỷ 17, trong đó có một tấm bia "Hưng tạo sự công" dựng năm DươngĐức thứ 7 (1673) nói về việc xây dựng nơi thờ Thánh và tên người cúngruộng công đức Từ niên đại được ghi trên bia đá, và những vết tích trênkiến trúc, ta có thể hình dung rằng chùa Thầy vốn được xây dựng trên nền
tảng cũ đời Trần, chỉđến khi có đợt trùng tulớn vào thế kỷ 17, chùamới có dạng “nội côngngoại quốc” như ngàynay Cũng từ đợt trùng
tu này, hai cụm kiếntrúc thờ Phật và thờThánh đã được táchthành hai công trìnhriêng biệt, đánh dấu sự
ra đời chính thức củakiểu thức chùa tiềnPhật - hậu Thánh
Chùa Thầy rộng 2.400m2 gồm ba toà nhà chạy song song với nhau
Trang 15kèm hai bên đầu hồi, với nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc khá độc đáo mangphong cách kiến trúc nghệ thuật của thế kỷ XVIII.
Ngoài ra bối cảnh xã hội thế kỷ XVII khi kinh tế phát triển, quyền tựchủ của các làng, xã trở nên mạnh mẽ hơn Đây cũng là thời điểm, văn hóaViệt Nam có những sự khẳng định quyền tự chủ dân tộc trước ngoại bang
Do vậy, người ta đã đặc biệt quan tâm tới các vị Thánh, không có xuất xứ từĐạo giáo Trung Hoa, mà là những người có công với nước, với dân Do vậykhi được đưa vào thờ trong các ngôi chùa, các vị thánh này không chỉ đượcthờ theo kiểu thờ Hậu Phật rất phổ biến trong thế kỷ XVII, mà được thờ nhưnhững vị tổ nghề của cả một vùng đất Như truyền thuyết về Dương Không
Lộ, khiến cho dân gian coi ông là tổ của nghề đúc đồng, làm nón, đánh cá,trị thuỷ Còn Đức Thánh Từ Đạo Hạnh thì không chỉ là một vị Thiền sư màcòn được xem là ông tổ của nghề múa rối nước Thế nên, đôi khi việc thờThánh ở đây lại được đặt ở một vị thế cao hơn thờ Phật
2.2 Không gian kiến trúc ngôi chùa
Trên khung cảnh núi non hùng vĩ của Sài Sơn, chùa Thầy hiện ratrong sự yên tĩnh, dưới những làn sương mờ mờ ảo ảo hay trong những dòngngười tấp nập đi lễ chùa
Ngôi chùa cổ, mái ngói cong được xây dựng khá khang trang với lốikiến trúc độc đáo kiểu chữ Tam gồm chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượngsong song với nhau Bao quát chùa là không gian thoáng đãng với hồ nướctrong xanh có hoa khoe sắc nở, có thuỷ đình, nơi múa rối nước và hai chiếc
Trang 16cầu nhỏ là Nhất tiên kiều trông vào đền Tam phủ còn Nguyệt Tiên kiều nốivới đường lên núi.
Chùa Hạ là nơi lễ
bái của các tăng ni phật
tử và là nơi giảng đạo
của các nhà sư còn chùa
Trung là nơi thờ Tam
Bảo Lớn nhất to nhất là
chùa Thượng – nơi đặt
ba pho tượng chuyển
kiếp của thiền sư Từ Đạo
Hạnh Ở chính giữa là
ngôi bảo điện đồ sộ được
trang hoàng rất nguy nga
Phía trên đặt hòm sắc
linh triều tôn phong của Thiền sư Phía dưới là tượng Thiền sư nhập đinhtrên toà sen vàng đầu đội mũ hoa sen, tay chắp trước ngực, mình khoắc áo càsa
Trong khảm thờ ởphía tay trái của toà bảođiện là tượng toàn thâncủa Thiền sư Bức tượngđẹp và được tạc bằng gỗchiêu dâu với nhữngđường nét chạm trổ khéoléo và tinh vi Đặt songsong với nó là tượng thiền
sư đã hoá kiếp thành vua
Lý Nhân Tông, đầu đội
mũ bình thiên, ngồi oainghi trên ngai vàng
Chùa Thầy còn thờ
tượng cha mẹ thiền sư Từ Đạo
Hạnh là ông Từ Vinh và bà
Tăng Thị Loan cùng hai người
bạn đồng đạo thân thiết của