Cũng như mọi loại hình văn hoá khác, sự phát triển của kiến trúc Châu Âu chịu ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện về tự nhiên,kinh tế, chính trị - xã hội ,và đặc biệt là vào sự phát triển
Trang 1BÀI TẬP LỚN: L ị ch S ử Ki ế n Trúc
Đề bài :
Câu1: Trình bày lịch sử kiến trúc Châu Âu từ thiên kỷ thứ 4 trước công
nguyên đến thế kỉ 4 sau công nguyên
Câu 2 : Trình bày về 1 công trình kiến trúc của Việt Nam?
Bài Làm
Câu1 : Trình bày về lịch sử kiển trúc Châu Âu từ thiên kỷ thứ 4 trước công
nguyên đến thế kỷ thứ 4 sau công nguyên:
A.Mở đầu :
Kiến trúc Châu Âu là một trong những nền kiến trúc lâu đời nhất thế giới,có tính đa dạng cao và cótầm ảnh hưởng rộng lớn đến nhiều trường phái kiến trúc của các Châu lục khác (đặc biệt là kiến trúc hiện đại và cận hiện đại)
Cũng như mọi loại hình văn hoá khác, sự phát triển của kiến trúc Châu Âu chịu ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện về tự nhiên,kinh tế, chính trị - xã hội ,và đặc biệt là vào sự phát triển và hình thành các nền văn minh của Châu Lục Trong phạm vi của bài tập lớn này -từ thiên kỷ thứ 4 trước công nguyên đến thế kỷ thứ 4 sau công nguyên - ở Châu Âu hình thành hai nền văn minh lớn là : văn minh Hy Lạp cổ đại và văn minh La Mã…mà cho đến ngày nay tầm ảnh hưởng, cũng như quan niệm kiến trúc của chúng vẫn còn được nghiên cứu nhiều; rất nhiều công trình còn lại của cácthời kì này vẫn làm cho các kiến trúc sư ngày nay phải ngưỡng mộ bởi quy mô cũng như vẻ đẹp của nó.
B.Sự phát triển của các nền văn minh kéo theo sự phát triển của kiến trúc Châu Âu:
B.1 Nền văn minh Hy Lạp cổ đại:( Thiên kỷ thứ 3 trước công nguyên đến năm 30 sau công nguyên):
Văn minh Hy Lạp trải qua các thời kỳ phát triển rực rỡ, người ta chia làm hai thời kỳ lớn: thời kỳ Tiền Hy Lạp (kéo dài từ 3000 năm đến 1200 năm TCN) và thời kỳ Hy Lạp chính thống (từ thế kỷ
12 TCN đến thế kỷ 1 TCN)
Thời kỳ Tiền Hy Lạp (còn gọi là thời kỳ văn minh vùng biển Aegaeum) bao gồm 2 giai đoạn:
* Giai đoạn văn hóa đồ đồng, thiên niên kỷ 3, gần như còn rất ít dấu vết
* Giai đoạn văn minh Aegean (đảo Crete - Mycenae) (năm 2000 - 1600 TCN)
* Giai đoạn văn minh Mycenaean (năm 1600 TCN - 1200 TCN)
Thời kỳ Hy Lạp chính thống được phân ra 3 thời kỳ nhỏ:
* Thời kỳ Viễn cổ (còn gọi là Thời kỳ Đen tối của Hy Lạp), (thế kỷ 12 đến thế kỷ 9 TCN)
* Thời kỳ Cổ điển tin kì (Hy Lạp cổ đại), (năm 776 TCN đến 323 TCN)
Trang 2Phụ nữ HyLlạp thời kỳ Mycenaean
.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và xã hội
Đặc điểm tự nhiên:
Địa điểm xuất phát phát triển của nền văn minh Hy Lạp là đồng bằng Thessalia màu mỡ, rộng lớn
ở vùng bắc Hy Lạp cùng với các đồng bằng Attike ,Beotia ở trung Hy Lạp và bán đảo Peloponnese
ở phía nam Hy Lạp Tại đây nghề trồng trọt và chăn nuôi phát triển rất sớm Địa hình Hy Lạp có nhiều đồi núi xen kẽ, chia cắt các đồng bằng, tạo thành các tiểu vùng Các bờ biển phía đông Hy Lạp là nơi tấp nập tàu thuyền
-Lãnh thổ nền văn minh Hy Lạp thời kỳ đầu bao gồm Hy Lạp ngày nay và các đảo thuộc biển Aegaeum và vùng Tây Tiểu Á
- Nằm bên bờ Địa Trung Hải và biển Ê-giê, gồm:
•Trung tâm là nước HyLạp và đảo Crét,
•Các đảo nhỏ trong vịnh Ê-giê,
• Toàn miền nam bán đảo Ban-căng,
• Khu vực Tiểu Á, vùng ven biển Hắc Hải,
•Xứ Italia, Si-xin,
•Pháp,
Trang 3•Tây Ban Nha
•Ai Cập
Hy Lạp nằm ở vị trí thuận lợi, án ngữ trên con đường giao lưu của các dòng di cư trong lịch sủ cổ đại của các dòng người từ châu Phi lên, từ Trung Á sang, từ châu Âu xuống
Bán đảo Hy lạp và các đảo lân cận
-Hy Lạp có nhiều khoáng sản như sắt (ở Sparte ) đồng (ở đảo Kypros ) - vàng (ở Thrace ) và bạc (ở Attike ) Đó là điều kiện thuận lợi cho thủ công nghiệp phát triển khá sớm
Những điều kiện địa lý, tự nhiên rất thuận lợi cho các ngành nghề như thương mại, thủ công nghiệp và một nền nông nghiệp tuy không giàu có nhưng đủ đảm bảo các nhu cầu của cư dân trongvùng.
+ Khí hậu Địa Trung Hải thuộc vành Á nhiệt đới, ấm áp dễ chịu Bầu trời trong xanh với
ánh sáng chan hòa Nuôi dưỡng tình cảm yêu thiên nhiên, thích hợp với nhiều hoạt
động sinh hoạt ngoài trời của cư dân: tế lễ, thuyết họp nơi công cộng, biểu diễn hát,
kịch, thi đầu thể thao
Bờ biển ở Hy Lạp
Trang 4
Hoạt động sinh hoạt tập thể của người Hy Lạp cổ đại.
2.2 Đặc điểm xã hội:
•Các thành bang có các hình thức tổ chức xã hội không hoàn toàn giống nhau, song
tất cả đều theo chế độ chiếm hữu nô lệ Thành Athen với chính thể được gọi là “Dân
chủ chủ nô”; Thành Sparta với chế độ “Cộng hòa quí tộc” của các quí tộc quân sự.•Không có nhà vua với những đặc quyền “Thần quyền, vương quyền bao trùm toàdân” kiểu Pharaon ở Ai Cập
•Người Hy Lạp thờ rất nhiều thần, không xem có môt thần độc đoán làm chúa tể vũ trụ
•Các thần là sự nhân cách hóa các hiện tượng trong tự nhiên (tính nhân văn)
•Ngoài ra còn có các thần thể hiện muôn mặt cuộc sống của con người bấy giờ như
thần săn bắn, thần rượu tiệc, thần lửa…
Nghệ thuật – Triết học
•Nghệ thuật Hy Lạp đã đặt nền móng cho nhiều ngành nghệ thuật Châu Âu sau này
•Điêu khắc:
•Văn học: thần thoại, anh hùng ca, thơ ca trữ tình Các vở bi kịch, hài kịch (cùng với
sự phát triển của loại hình kịch trường ngoài trời.)
•Sử học:Hê-rô-đôt với cuốn Lịch sử chiến tranh Hy-Ba, Tuy-xi-đi cuốn Lịch sử chiến
tranh Pêlôpôn.
•Triết học: xây dựng nền móng cho cả hai trường phái Duy vật và Duy tâm ở châu Âu:
Duy vật với Hê-ra-clít, ở Tk 5 TCN
Duy tâm với Sô-crát, 470-399 TCN (có tài liệu ghi 469-399)
3-Quá trình phát triển của kiến trúc Hy Lạp cổ đại- những công trình tiêu biểu:
Kiến trúc Hy Lạp cổ đại ra đời và hình thành trên một vùng đất đai rộng lớn, bao gồm miền Nam bán đảo Balkans, các
đảo nhỏ ở vùng biển Aegaeum (Αιγαίον, Aigaion), khu vực Tiểu Á, vùng ven Hắc Hải, Ý, Sicilia, Pháp, Tây Ban Nha
và Ai Cập.
Trang 5Các quần thể kiến trúc thánh địa và kiến trúc dân dụng Hy Lạp cổ đại
Ở nơi đây, người ta thường tổ chức các lễ hội, tiến hành thi đấu thể dục thể thao, bình luận văn chương, diễn thuyết, ngâm thơ và biểu diễn kịch, ngoài ra còn có thể trao đổi, mua bán Do đó, về sau người ta đã xây thêm xung quanh các quần thể này những sân bãi thi đấu, quán trọ, hội trường,các hành lang cột và các loại đền đài
Agora ngày nay (Ảnh: wikimedia)
Hai quần thể kiến trúc công cộng phổ biến trong đô thị cổ đại lúc bấy giờ là agora (quảng trường công cộng, mang tính dân dụng) và acropol (là những quần thể kiến trúc với nhiều đền đài, được
xây dựng trên những khu đồi cao) Diện tích các agora khoảng 5% diện tích đất thành phố Nhữngagora tiền kỳ có hình dạng bất quy tắc nhưng từ cuối thế kỷ 4 TCN trở đi, nó có dạng hình họcnhất định và được bao vây bởi các hàng cột thức hai tầng Ở giữa agora có đặt bàn thờ và tượngthần Các agora quan trọng có thể kể ra là agora ở Miletos (Μίλητος), Megalopolis (Μεγαλοπολη),), Megalopolis (Μεγαλοπολη),
Trang 6Quá trình phát triển đền đài Hy Lạp cổ đại
Đền đài Hy Lạp cổ đại có đặc điểm là nhiều cột chạy vòng phía bên ngoài Các loại hình đền đài được phân theo mức độ phức tạp của cách thiết kế những cột đó như sau:Loại đền cổ nhất có dạng hình chữ nhật, lối vào chính ở cạnh ngắn và có hai cột ở chính cạnh ngắn này, gọi là dạng Distyle;
ví dụ như ngôi đền thờ thần Themis ở Rhamnus
Trang 7Loại đền giống loại đền thứ nhất, nhưng thay vì hai cột mà là bốn cột ở phía trước, gọi là dạng
Prostyle; ví dụ ngôi đền ở Selinus (Σελινοΰς), Megalopolis (Μεγαλοπολη),)
Đền ở Selinus (Ảnh: Mlahanas)
Loại đền giống loại đền thứ hai, nhưng có bốn cột ở cạnh ngắn phía trước và bốn cột ở cạnh ngắn phía sau, gọi là loại
Amphi-Prostyle (tiền tố "amphi" có nghĩa là "cả hai phía").
Amphi-Prostyle )
Loại đền hình tròn, vành ngoài có hàng cột vòng quanh gọi là Tholos; ví dụ Tholos ở Epidaurus
Trang 8Th olos ở Epidaurus (Ảnh: erasmus)
Loại đền hình chữ nhật có tường chịu lực là chính, nhưng mặt ngoài tường ghép thêm các cột, gọi
là loại đền có các cột giả, hay là đền Pseudo-Peripteral; ví dụ đền thờ thần Zeus ở Olympia
(Ολυμπία)
Đền thờ thần Zeus
Trang 9Đền Pseudo-Peripteral
Loại đền hình chữ nhật có một hàng cột chạy ở vành ngoài chu vi công trình, có tên là Peripteral;
ví dụ đền Hephaestos (hay Theseio - Θησείο) và đền Parthenon (Παρθενώνας), Megalopolis (Μεγαλοπολη),) ở Athena (Αθήνα,
Athína), đền Paestum
Đền Hephaestos (ảnh: flickr)
Loại đền hình chữ nhật, có hai hàng cột chạy bao xung quanh công trình, có tên gọi là đềnDipteral; ví dụ đền Olympeion ở Athena, đền thờ Apollo ở Miletos (Μίλητος), Megalopolis (Μεγαλοπολη),)
Trang 10Đền Olympeion (Ảnh: mff.cuni.cz)
Mặt bằng đền thờ Hy Lạp cổ đại được tạo thành bởi ba thành phần chính: pronaos (tiền sảnh), naos
(gian thờ) và pathenon (phòng để châu báu) Ngoài ra, trong một số đền còn có thêm opisthodomos
(hậu sảnh) Vẻ đẹp của đền đài Hy Lạp cổ đại gắn liền với sự ra đời và phát triển của các loại thức cột
Sự hình thành và phát triển của các loại thức cột
Thức cột là hệ thống tỷ lệ và hình thức trang trí cột, là cách người Hy Lạp cổ đại tìm kiếm đến cái đẹp lý tưởng Có 3 loại thức cột cơ bản trong kiến trúc Hy Lạp: cột Doric, cột Ionic và cột Corinth.Những thức cột Hy Lạp đã mang đến cho kiến trúc một hình thức, một sức sống, chịu đựng được thử thách của thời gian, biểu trưng cho vẻ đẹp trong sáng, khỏe mạnh và tinh tế của kiến trúc cổ điển Thức cột Hy Lạp được xem như biểu tượng của kiến trúc cổ điển
Thức cột Doric:
Trang 11Thức cột Doric
Thức cột Doric, có hậu thân là thức cột Toscan, là thức cột cổ nhất và đơn giản nhất trong hệ thống các thức cột cổ điển Thức này được hình thành từ một trụ thẳng đứng phình to ở đáy Nói chung, thức cột này không có phần đế cột (base) lẫn không có phần đầu cột (capital) Vẻ đẹp thức cột này thường được so sánh với vẻ đẹp khỏe mạnh của người đàn ông cường tráng, do nó được sửdụng ở tầng dưới cùng của đấu trường Coliseum và có khả năng chịu lực cao nhất Tỷ lệ đường kính cột trên chiều cao cột khoảng 1:4
Thức cột Lonic
Trang 12Erecteyon ở Athena.
Thức cột Corinth
Trang 13Thức cột Corinth (Ảnh: flickr) Thức cột Corinth ra đời sau hai cột trên, vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, có đường nétmảnh mai, giàu trang trí, đầu cột có nhiều chi tiết hoa lệ, giống như một lẵng hoa kết hợp cùng với
mấy tầng là phiên thảo diệp (acanthe) Thức cột này do kiến trúc sưCallimachus sáng tạo ra Cột
này có ưu điểm hơn hai cột trên là đối xứng nhiều chiều và có thể cảm nhận được trong không gian Có thể thấy công trình sử dụng loại cột này tại đền Olympeion ở Athena và đền Apollo ở Bassae
Các loại cột trên sau này được người La Mã cổ đại kế thừa và phát triển, đồng thời sáng tạo thêm hai loại thức cột mới là Toscan và Composite
Trang 142- Các công trình tiêu biểu cho kiến trúc thời kỳ này:
Đền Acropolis (Ακρόπολη) ở Athena Kiến trúc La Mã cổ đại
Đề
n Acropolis (Ảnh: fulbright)
Trang 15Đền Propylaia (Ảnh: flickr)
Đền Athena Nike (Đền thờ thần Athena Chiến thắng)
Trang 16Đền Athena Nike
Đền Parthenon
Đền Parthenon (Ảnh: greciantiga)
Đền Parthenon, công trình quan trọng và nổi tiếng nhất của nền văn minh Hy Lạp cổ đại là nơi thờ Athena, nữ thần bảo hộ của thành phố, hoàn thành năm 438 trước Công nguyên sau 15 năm xây dựng
Trang 17Ngôi đền được làm bằng đá hoa cương trắng lấy từ đỉnh Pentelicus gần Athens, kiến trúc theo hệ thống kiểu cột Đôrich mạnh mẽ và trang nghiêm, có tỷ lệ đẹp nhất đã trở thành chuẩn mực của kiến trúc cổ điển phương Tây Phần điêu khắc được nghệ sĩ bậc thầy Phidias hoàn thành vào năm
431 trước Công nguyên gồm nhiều hình ảnh tinh xảo: hình những nữ thần Hy Lạp cổ đại, thân hình tuyệt mỹ, đầu đội những cổng vòm, hình những vị thần cưỡi ngựa sống động…
Những loại hình kiến trúc khác trong thế giới Hy Lạp cổ đại
Hội trường và kịch trường ở Megalopolis (Μεγαλοπολη, Megalopoli) và ở Epidaurus
Đi
ện thờ ở Bergama (hay Πέργαμος), Megalopolis (Μεγαλοπολη),, Pergamos)
Lăng mộ ở Halicarnassus
Trang 18Ag ora ở Assos và ở Miletos (Μίλητος), Megalopolis (Μεγαλοπολη),)
Agora ở Assos (Ảnh: flickr)
Trang 19B.2 Nền văn minh La Mã cổ đại (753 TCN -476 SCN):
2.Nền Văn Minh La Mã (753TCN -476SCN):
1.Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và xã hội:
Điều kiện tự nhiên:
Bán đảo Italia (Ý), nơi hình thành nhà nước La Mã cổ đại nằm ở Nam Châu Âu như một chiếc ủngchìa ra Địa Trung Hải Bán đảo Italia có nhiều đồng bằng, tương đối thuận lợi cho việc phát triểnnông nghiệp, trong lòng đất lại chứa nhiều khoáng sản, thuận lợi cho nghề luyện kim
Bản đồ lãnh thổ La Mã
Địa hình ở đây lại không bị chia cắt, tạo điều kiện cho sự thống nhất Bờ biển ở phía nam bán đảo
có nhiều vịnh, cảng thuận tiện cho tàu bè trú ẩn khi thời tiết xấu Do điều kiện địa lí như vậy nênbán đảo Italia có điều kiện tiếp xúc với những nền văn minh phát triển sớm ở phương Đông
Trang 20
Đặc điểm xã hội:
Người dân có mặt sớm nhất ở trên bán đảo Italia (Ý) được gọi là Italiot, trong đó bộ phận sống trên
đồng bằng latium là người gốc Latinh (Latin), ngoài ra còn có một số nhỏ người gốc Gôloa và gốc
Hy Lạp
Khoảng TK 10 TCN, người Ê-tơ-rút-xcan từ vùng Tiểu Á cũng thiên di sang bán đảo Ita-li-a sinhsống, định cư chủ yếu ở vùng giữa sông Ác-nơ và Ti-bơ-rơ (miền trung bán đảo)
Bản đồ lãnh thổ La Mã
Theo truyền thuyết, năm 753 TCN người dân ở đồng bằng Latium đã dựng nên một toà thành bên
bờ sông Tibơrơ (sôngTiber), họ đã lấy tên người cầm đầu là Romulus để đặt cho toà thành đó, vìvậy có tên là Roma
Roma ngày nay trước kia từng là vùng đất trung tâm của sự phát triển trong thời kỳ Lã mã cổ đại
Giai đoạn 753 - 510 TCN, đứng đầu nhà nước là vua, dưới vua có Viện nguyên lão và Đại hộinhân dân Vì vậy thời kì này còn được gọi là thời kì Vương chính
Trang 21Thời kì Cộng hoà La Mã vào khoảng từ năm 510 đến năm 30 TCN (thế kỉ ITCN) Giai đoạn này quyền lực tối cao nằm trong tay Viện nguyên lão dodân bầu, đứng đầu Viện nguyên lão là hai quan chấp chính có quyền lựcngang nhau Từ đó, việc chính quyền trở thành việc chung của dân (respublica) Đây cũng là giai đoạn La Mã sử dụng sức mạnh quân sự của mình
để mở rộng lãnh thổ Thế kỉ VIII TCN, La Mã chỉ là một thành bang nhỏ bé năm ở miền trung bánđảo Ý thì đến thế kỉ I TCN, La Mã đã trở thành một đế quốc rộng lớn bao trùm toàn bộ nhữngvùng đất quanh bờ Địa Trung Hải.nắm hết quyến lực vào tay mình nhưng không thành, ông ta bị
ám sát bởi những người bảo vệ cho nền Cộng hoà Năm 27 TCN, cháu của Xêda là Ôctaviut, bằngnhững biện pháp khôn khéo hơn đã lôi kéo dần những nhân vật của Viện nguyên lão, loại trừnhững người không thể lôi kéo Năm 27 TCN, Viện nguyên lão đã suy tôn Ôctaviut là Augustus(Đấng tối cao) Vậy là từ năm 30 thuộc thế kỉ I TCN nền Cộng hoà La Mã đã bị xoá bỏ
Thế kỉ III sau Công nguyên, chính quyền La Mã bắt đầu bước vào giai đoạn suy yếu Chiến tranhquanh Địa Trung Hải không còn cung cấp đủ số lượng nô lệ cho các đại điền trang và các khu mỏ
để bù lại số lượng nô lệ đã chết Số nô lệ còn lại do cuộc sống quá cực khổ nên cũng nổi loạn hay
bỏ trốn rất nhiều Nền kinh tế bị khủng hoảng, quân đội suy yếu Nhân cơ hội đó, các bộ tộcGermanie từ bên ngoài tràn vào cướp phá Năm 330, Hoàng đế La Mã Constantine rời đô từ Rômasang Constantinople thuộc khu vực Byzantine Năm 395, đế quốc La Mã bị chia ra làm hai, Đông
La Mã và Tây La Mã Nhà nước Tây La Mã định đô ở Ravenna, sau đó vào năm 476 thì bị ngườiGermanie tiêu diệt Còn nhà nước Đông La Mã lấy Bizantine làm trung tâm, thì đến năm 1453 bị
và trong thời gian đầu của thời kỳ Hiện đại là Luật La Mã Trong thời gian cuối của thời Cổ đạiHoàng đế Justinian I đã ra lệnh sưu tập lại các bản văn luật cũ Tác phẩm luật mà sau này được biếtđến dưới tên Corpus Iuris Civilis bao gồm các quyển sách dạy về luật (công bố năm 533), tập sancác bài văn của các luật gia La Mã (tiếng La Tinh: digesta hay pandectae), các đạo luật do hoàng
đế ban hành (Codex Iustinianus, công bố năm 534) và các đạo luật đã được sửa đổi bổ sung