1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình luận ngữ - Bài mở đầu ppt

7 516 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 398,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận ngữ được nghiên cứu trong hai môn: Văn học Trung Quốc và Hán cổ văn.. Nhưng ngay năm 1942, dưới áp lực của giới trí thức tiến bộ và để tranh giành họ với Nhật, người Pháp đã cho lập

Trang 1

ĐẠI HỌC AN GIANG

Phùng Hoài Ngọc Nghiên cứu- biên dịch

论语 Luận ngữ

(Văn học Trung Quốc)

AN GIANG 2010

Trang 2

LUẬN NGỮ - MỤC LỤC

 Bài mở đầu - trang 2

1 Học nhi (học thì) 16 bài

2 Vi chính (cầm quyền) 24 bài

3 Bát dật (về lễ, nghĩa) 26 bài

4 Lý nhân (về chữ Nhân) 26 bài

5 Công Dã Tràng (con rể Khổng tử) 28 bài

6 Ung dã (Nhiễm Ung trò giỏi của Khổng tử) 30 bài

7 Thuật nhi (thuật lại) 38 bài

8 Thái Bá (chú ruột vua Chu Văn vương) 21 bài

9 Tử hãn (Khổng tử ít khi…) 31 bài

10 Hương đảng (quê nhà) 27 bài

11 Tiên tiến (trước đây) 26 bài

12 Nhan Uyên (học trò giỏi nhất của Khổng tử) 24 bài

13 Tử Lộ (học trò của Khổng tử) 30 bài

14 Hiến vấn (Nguyên Hiến hỏi) 44 bài

15 Vệ Linh công (vua nước Vệ) 42 bài

16 Quí thị (dòng họ Quý, đại thần nước Lỗ) 14 bài

17 Dương Hóa (quan nước Lỗ) 26 bài

18 Vi Tử (quan chức nhà Ân xưa) 11 bài

19 Tử Trương (học trò của Khổng tử) 25 bài

20 Nghiêu viết (vua Nghiêu nói) 03 bài

Tài liệu tham khảo

8

12

18

25

30

38

46

55

60

68

75

83

90

99

111

120

126

134

139

146

149

Trang 3

BÀI MỞ ĐẦU

Văn học Trung Quốc cổ đại còn gọi Văn học tiên Tần, có 4 thành tựu chính: 1/ Thần thoại, 2/

Ca dao dân ca (Kinh Thi), 3/ Khuất Nguyên và Ly Tao, 4/ Bách gia chư tử

Trong Bách gia chư tử, quan trọng nhất là Khổng tử và Nho học, trong đó Luận ngữ còn mang tính hiện đại nhất

Luận ngữ được nghiên cứu trong hai môn: Văn học Trung Quốc và Hán cổ văn

Khổng tử- Nho học

Khổng tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước CN, mất tháng 4 năm 479 tr.CN, thọ 73 tuổi

Nho học là khoa học giáo dục do Khổng tử sáng lập, Mạnh tử đời sau nối tiếp và hoàn chỉnh

về cơ bản

Giải thích nội dung chữ “Nho” 儒 Nhà Tây Chu có một vị quan được phân công coi việc

lễ-nhạc gọi là Nho quan (儒官) Đời sau nhận thấy học thuyết Khổng tử rất coi trọng lễ lễ-nhạc (nho) nên tạm gọi tên là Nho học (Xin xem bài 1 thiên 11 Tiên tiến, Luận ngữ trang 74)

Hơn hai thế kỷ sau khi Khổng tử qua đời, Nho học mới được chính thức áp dụng (từ thời nhà Hán 206 tr.CN đến 220 sau CN) kéo dài đến nhà Thanh Qua mỗi triều đại, lại có các nhà nho

biên soạn gia giảm, chú giải, bàn luận… Tất cả những tác gia ấy được gọi chung là bậc thánh hiền, trong đó Khổng tử là đại thánh, Mạnh Tử là á thánh (hai vị đứng đầu Nho gia)

Ở Việt Nam, học thuyết Khổng- Mạnh được học từ thời Lý-Trần khi nhà nước Đại Việt tự chủ,

mở đầu kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc và lên đỉnh cao ở thời nhà Lê Về sau, nhà Nguyễn lại lấy Nho học thời Tống (Tống nho) làm nền tảng giáo dục (bởi nhà Tống đạt đến trình độ cao nhất thời phong kiến Trung Hoa)

Khi đã được đông đảo dân chúng hâm mộ, coi trọng thì Nho học được gọi là Nho giáo (hoặc

Khổng giáo) xem như một tôn giáo

Nho học gồm hai bộ sách cơ bản Tứ thư (4 quyển) và Ngũ kinh (5 quyển)

Tứ thư gồm: Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh tử,

Ngũ kinh gồm: Kinh Thi, Kinh Xuân thu, Kinh Thư, Kinh Dịch và Kinh Lễ

Nếu Ngũ kinh là “phần cứng” cần học thuộc thì Tứ thư là “phần mềm” nhằm vận dụng linh

hoạt vào thực tiễn Đây là một bộ sách có tính khoa học và tính sư phạm rất cao

Trang 4

Các danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến… và nho sinh ngót nghìn năm đều là học trò nho học Di tích 82 tấm bia đá ghi tên 1304 tiến sĩ chỉ tính riêng hai triều Lê và Mạc (chưa kể nhà Trần nhà Nguyễn) đặt tại Văn Miếu Hà Nội 82 tấm bia cũng vừa được UNESCO công nhận là

di tích văn hoá thế giới vào năm 2010 Văn Miếu Huế lưu giữ 32 tấm bia ghi tên hơn 293 tiến

sĩ thời Nguyễn

Năm 1919 kỳ thi Hán học cuối cùng diễn ra ở Việt Nam Nhưng chữ Hán vẫn còn được dạy như môn học bình thường ở bậc trung học Năm 1940 chính quyền thực dân Pháp xoá hẳn mấy tiết chữ Nho cuối cùng trong chương trình trung học Nhưng ngay năm 1942, dưới áp lực của giới trí thức tiến bộ và để tranh giành họ với Nhật, người Pháp đã cho lập ra chuyên ban Cổ

học Á Đông, học 6 năm với 5 tiết chữ Hán /tuần ở bậc trung học theo chương trình do tiến sĩ

Nguyễn Văn Huyên và nhà Hán học Trần Văn Giáp biên soạn Sau Cách mạng tháng 8, trong vùng kháng chiến, bậc trung học cấp II nhiều nơi vẫn học chữ Hán, mỗi tuần 3 tiết, nhưng sau

đó thì bỏ Đặc biệt đến năm 1950, khi có cải cách giáo dục thì chữ Hán bỏ hoàn toàn

Có những gia đình nho phong tiếc rẻ vẫn lặng lẽ dạy con trẻ các bài học cơ bản rút trong Luận ngữ vì họ coi đó là cái gốc rễ của con người phương Đông

Ngày nay trong việc xây dựng một nền văn hoá tiên tiến giữ vững bản sắc dân tộc, chúng ta cần đãi cát tìm vàng, xác định những tinh hoa quá khứ làm hành trang cho thế hệ trẻ đi vào hiện đại Trong hành trang đó, có truyền thống quí báu của Nho học - bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc Việt Nam

Giáo viên dạy Văn ở nước ta đôi khi cần thiết vẫn nhắc đến Khổng tử hay nhà Nho trong bài giảng cho học trò Tuy nhiên nhiều người chỉ đọc sách của các nhà nghiên cứu bình luận đánh giá ưu điểm, nhược điểm của Nho học mà chưa có dịp đọc trước tác của thầy Khổng tử Nếu đọc trực tiếp lời văn Khổng tử thì sẽ thấy nhiều thú vị sống động Không khó để đọc quyển

Luận ngữ chỉ dày hơn một trăm trang

Luận ngữ - cuốn sách tiêu biểu của Nho học

Luận ngữ (Lời nói để bàn luận) là sách do học trò và hậu thế ghi chép lại những lời nói, hành

vi của Khổng tử, học trò của ông và người đương thời

Luận ngữ gồm 20 thiên (tương đương với 20 chương), mỗi thiên gồm nhiều bài Cách đặt tên thiên rất lạ: lấy ngay hai chữ xuất hiện đầu thiên làm tên thiên Bởi thật khó đặt một cái tên bao

quát nội dung phong phú của thiên Mỗi thiên có nhiều bài (mỗi bài chỉ là một câu nói hoặc

một đối thoại, một câu chuyện rất ngắn)

Toàn bộ Luận ngữ có 511 bài, tức là 511 câu nói hoặc đối thoại, mẩu chuyện cực ngắn Nội dung bao trùm hầu hết những quan niệm về nhân, đức, trung, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm… cho đến âm nhạc, giải trí, ăn uống và những tình huống đối nhân xử thế phong phú trong cuộc sống Qua những câu chuyện ngắn, hình ảnh người quân tử và tiểu nhân hiện lên tương phản rõ nét, trong đó tấm gương vua hiền, quan cai trị mẫu mực và kẻ sĩ chân chính được đặt ở vị trí trung tâm của cuốn sách

Trang 5

Đọc qua Luận ngữ, ta thấy nội dung các thiên dường như rời rạc, không có liên hệ với nhau

Thực ra, người quân tử chính là sợi chỉ đỏ kết nối, xuyên suốt tập sách Chữ nhân (hai chữ

nhân:人, 仁) là phẩm chất của quân tử, là khái niệm mở ra từ hẹp tới rộng, đến vô cùng

Nội dung chính của Luận ngữ là Quân tử Chữ Hiếu là điều kiện tiên quyết của quân tử Khổng tử coi chữ Hiếu là tiên quyết thì các vua chúa đời sau như Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đẩy nó xuống hàng thứ 2 và đặt chữ Trung (trung quân: trung thành với nhà vua)

lên hàng đầu (1)

Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách của thầy trò Khổng tử và những người khác Về phương pháp giáo dục, Khổng tử thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người Có khi cùng một câu hỏi

mà ông trả lời cho mỗi người một cách khác nhau

Luận Ngữ trình bày đạo quân tử qua lời nói, câu chuyện sinh động, không giảng giải lý thuyết

dài dòng nhưng rất ấn tượng, dễ hiểu Nhân vật chính là thầy Khổng tử với bao vui, buồn, lo

âu, lạc quan, thất vọng Thầy Khổng cũng mắc khuyết điểm mà không giấu diếm

Luận ngữ có 5 mục tiêu rõ rệt:

Học làm người

Học làm công dân

Học làm quan

Học làm vua

và học làm thầy giáo

Luận ngữ là một trong những giá trị quí báu độc đáo của các nền văn hóa khu vực đồng văn (Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản)

Đọc Luận ngữ, chúng ta có thể tưởng tượng ngôn ngữ và tư duy của một xã hội cách đây 2500 năm Luận ngữ gọi là cổ văn, vì nó khác xa với ngôn ngữ hiện đại (kim văn, tân văn)

Thế hệ sau đọc Luận ngữ tuy biết phát âm nhưng khó hiểu nghĩa lý, ấy là bởi từ ngữ cổ, ngữ

pháp cổ thô sơ Vậy nên cần phải có thầy ngồi trên giảng sách Thầy sẽ giảng bằng kim văn,

tiếng nói đương thời thì học trò mới hiểu được Nói cách khác, giảng bài tức là thầy đang

“phiên dịch” cổ văn thành kim văn vậy Lời văn của Luận ngữ rất ngắn gọn, nếu ta giải thích

rõ ràng bằng tiếng ngày nay thì phải dài dòng hơn Lời Khổng tử được dân gian coi như thành ngữ, tục ngữ khi truyền bá trong cuộc sống… Sau khi phiên dịch “cổ văn” thành “kim văn”, thầy liên hệ với thực tế (tùy theo vốn sống của thầy) và cho học trò thảo luận, tự liên hệ thực

tế Phương pháp dạy học như vậy đã trở thành truyền thống dạy học xưa nay

Trang 6

Thầy giáo Trung Quốc ngày nay vẫn phải giảng (dịch) cổ văn cho học trò Trung Quốc, cũng như thầy giáo phong kiến Việt Nam từng giảng sách cho học trò thời xưa.Có lẽ đó là một lí do của thành ngữ “Không thầy đố mày làm nên” (Ta càng cảm phục tiến sĩ thời Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn đã khổ công biết bao khi học và làm bài thi Trong số họ, có hơn 200 người từng làm sứ giả nước Việt sang Tàu với một món hành trang Khổng tử-Nho học “đem chuông đi gõ

xứ người” khiến giới trí thức phong kiến Trung Hoa không thể không công nhận trí thức Việt Nam)

Sách Luận ngữ (cùng với sách khác) được dạy trong các nhà trường từ thời nhà Hán do học trò đời sau của Khổng tử biên soạn lại, truyền đến đời Tống mới biên tập thành sách Những người biên soạn cố giữ nguyên lời nói Khổng tử xưa Lời cổ nhân được truyền bá nguyên văn, mang tính cổ kính thiêng liêng thì có trọng lượng và sức thuyết phục hơn

Luận ngữ đem lại sự sâu rễ bền gốc cho con người mọi thời đại, mọi chế độ

Ngày nay bạn có thể thấy vài điều trong Luận Ngữ đã lạc hậu thì cứ bỏ qua đi Chỉ giữ lại những bài học đã trở thành hằng số của con người và xã hội

Người Việt đã từng quen sử dụng khá nhiều “thành ngữ, tục ngữ” như:

Tứ hải giai huynh đệ (anh em bốn bể một nhà)

Dục tốc bất đạt (muốn nhanh lại không đến / hỏng việc)

Nhân chi sơ, tính bản thiện (người mới sinh thì tính hiền lành)…

Tam thập nhi lập, Tứ thập bất hoặc, Ngũ thập tri thiên mệnh (Ba mươi tuổi lập thân,

bốn chục tuổi hết nghi ngờ, năm chục tuổi biết mệnh trời…)

Ôn cố tri tân (ôn cũ để biết mới)

Kiến nghãi bất vi, vô dũng dã ! (thấy việc nghĩa không dám làm, chẳng phải người dũng) Con chim sắp chết, tiếng kêu bi thương, con người sắp chết thì lời nói phải (Tăng Tử học

trò Khổng tử nói: Điểu chi thương tử, kỳ minh dã ai; Nhân chi thương tử, kỳ ngôn dã thiện)

Hậu sinh khả úy (Kẻ sinh sau thật đáng sợ…)

V.v…

Thực ra đó là lời văn trong Luận ngữ

Người Trung Quốc ngày nay có kỳ vọng lập ra các “Viện Khổng tử” ở ngoài nước để phổ biến tinh hoa Nho học ra khắp năm châu Trung Quốc đã có dự án xây dựng Trung tâm văn hoá Trung Quốc tại Hà Nội, chắc hẳn trong đó có Viện Khổng tử

Sức ảnh hưởng của Khổng tử trên thế giới như thế nào, thật khó biết rõ Nhưng có thể nêu một

ví dụ Tổng thống Mỹ Barak Obama trong bài diễn văn giao lưu với thầy trò trường đại học Cairo Ai cập có câu: There is also one rule that lies at the heart of every religion – that

University ngày 4.6.2009) Nghĩa là: Một nguyên tắc trọng tâm của mọi tôn giáo là đừng làm

cho người khác điều gì mình không muốn người khác làm cho mình Do tâm đắc ý kiến của

Trang 7

Khổng tử mà không biết xuất xứ, tổng thống Obama gọi câu ấy là “Một nguyên tắc trọng tâm

của mọi tôn giáo” Còn trong nguyên tác Luận ngữ câu ấy vốn là “Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân: Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” được lặp lại hai lần (trong thiên

12 Nhan Uyên và thiên 15 Vệ Linh Công)

Chúng tôi biên dịch toàn bộ quyển Luận ngữ, phiên âm Hán Việt, in song ngữ, đưa vào tủ sách

điện tử của trường Đại học An Giang với tâm niệm rằng Luận ngữ là của mọi người, mọi thời

đại

Đại học An Giang mùa hè năm 2010

Biên giả

Ngày đăng: 28/07/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w