Phân loại Trên động cơ đốt trong thường dùng các loại cơ cấu phối khí sau: - Cơ cấu phân phối khí kiểu supap: dùng supap đóng mở lỗ nạp và lỗ thải.. - Cơ cấu phân phối khí kiểu van trượt
Trang 1Chương 4
HỆ THỐNG PHÂN PHỐI KHÍ
I CÔNG DỤNG VÀ PHÂN LOẠI
I.1 Công dụng
Cơ cấu phân phối khí trên động cơ đốt trong có công dụng thực hiện quá trình thay đổi môi chất: thải sạch sản vật cháy ra khỏi xylanh và nạp đầy môi chất mới (không khí hoặc hòa khí) vào xylanh giúp cho động cơ làm việc liên tục
I.2 Phân loại
Trên động cơ đốt trong thường dùng các loại cơ cấu phối khí sau:
- Cơ cấu phân phối khí kiểu supap: dùng supap đóng mở lỗ nạp và lỗ thải
- Cơ cấu phân phối khí kiểu van trượt: đa số sử dụng trên động cơ hai kỳ, piston đóng vai trò như một van trượt điều khiển đóng mở lỗ nạp và lỗ thải
- Cơ cấu phân phối khí kiểu phối hợp: kết hợp hai kiểu trên, vừa có supap vừa có van trượt, được sử dụng trên các động cơ hai kỳ quét thẳng
Trong các loại cơ cấu phân phối khí trên, cơ cấu phân phối khí kiểu supap được dùng rộng rãi nhất hiện nay Cơ cấu phân phối khí này bao gồm các chi tiết: cặp bánh rang dẫn động, trục cam, con đội, lò xo supap, supap, ống dẫn hướng (ống kềm supap), hệ thống đũa đẩy,
II YÊU CẦU
Để đảm bảo tính năng làm việc của động cơ, cơ cấu phân phối khí phải thoả mãn các yêu cầu:
- Đóng mở đúng thời gian quy định và đảm bảo độ kín khít
- Độ mở đủ lớn để dòng khí lưu thông
- Làm việc êm dịu, tuổi thọ và độ tin cậy cao
- Thuận tiện trong việc bảo dưỡng, sửa chữa động cơ và giá thành chế tạo hợp lý
III CÁC PHƯƠNG ÁN BỐ TRÍ SUPAP VÀ DẪN ĐỘNG CƠ CẤU PHỐI KHÍ
III.1 Phương án bố trí supap và dẫn động supap
Các động cơ đốt trong dùng cơ cấu phân phối khí kiểu supap hiện nay đều bố trí supap theo hai phương án: bố trí supap đặt và bố trí supap treo
III.1.1 Bố trí supap đặt (hình 4.1).
Cơ cấu phân phối khí supap đặt thường dùng trên động cơ xăng có tỷ số nén thấp và số vòng quay không lớn lắm
Ưu điểm
- Giảm được chiều cao động cơ
- Kết cấu của nắp lylanh đơn giản và dẫn động supap cũng dễ dàng
Trang 2Nhược điểm
- Buồng cháy không gọn
- Diện tích truyền nhiệt lớn nên tính kinh tế của động cơ kém (tiêu hao nhiên liệu, giảm hệ số nạp, )
Trong cơ cấu phân phối khí supap đặt, supap lắp ở một bên thân máy, phía trên trục cam và được trục cam dẫn động qua con đội Supap nạp và supap thải có thể bố trí theo nhiều kiểu khác nhau: xen kẻ hoặc bố trí từng cặp một
III.1.2 Bố trí supap treo
Cơ cấu phân phối khí dùng supap
treo dùng rất phổ biến trên động cơ
Diesel và đa số các động cơ xăng hiện
nay (hình 4.2) Do kết cấu của loại này
làm cho buồng cháy nhỏ gọn, giúp động
cơ có thể tăng được tỷ số nén
Ưu điểm
- Buồng cháy rất gọn
- Diện tích bề mặt truyền
nhiệt nhỏ nên làm giảm tổn thất nhiệt
- Đối với động cơ xăng, khi
dùng cơ cấu này có thể tăng tỷ số nén thêm từ 0,5
÷ 2 so với bố trí supap đặt
Con đội con lăn Supap
Trục cam
Đũa đẩy Cò mổ
Hình 4.2 Cơ cấu phân phối khí bố trí supap treo
1 – đế supap.
2 – supap.
3 – ống dẫn hướng supap.
4 – lò xo supap.
5 – móng hãm hình côn.
6 – đĩa chặn lò xo.
7 – bulông điều chỉnh.
8 – đai ốc hãm.
9 – con đội.
10 – trục cam.
Hình 4.1 Cơ cấu phân phối khí bố trí supap đặt.
Trang 3- Đường nạp và đường thải thông thoáng, làm cho sức cản khí động nhỏ và tăng được hệ số nạp 5 ÷ 7%
Nhược điểm
- Dẫn động supap phức tạp và làm tăng chiều cao động cơ
- Làm cho kết cấu của nắp xylanh trở nên phức tạp gây khó khăn cho gia công chế tạo
Cơ cấu phân phối khí supap treo có thể bố trí supap theo nhiều kiểu khác nhau Cách bố trí phụ thuộc vào hình dạng buồng cháy và kết cấu của cơ cấu phân phối khí Động cơ có đường kính xylanh nhỏ (D < 120 mm) thường dùng 2 supap cho một xylanh (một supap nạp và một supap thải), động cơ có đường kính lớn hơn dùng 3 (hai supap nạp và một supap thải) hoặc 4 supap cho một xylanh (hai supap nạp và hai supap thải)
III.1.3 Dẫn động supap
Để dẫn động supap, trục cam có thể bố trí trên nắp xylanh hoặc hộp trục khuỷu (OHV: Overhead Valve – supap đặt trên nắp xylanh) để dẫn động trực tiếp hay dẫn động gián tiếp qua đòn
bẩy (hình 4.2)
Số trục cam đặt trên nắp xylanh có thể một (SOHC: Single Overhead Cam) hoặc hai trục cam (DOHC: Double Overhead Cam) (hình 4.3).
Ngoài ra trục cam còn bố trí ở thân máy, supap được dẫn động gián tiếp qua con đội, đũa đẩy,
III.2 Phương án dẫn động trục cam
Trục cam được dẫn động trực tiếp hoặc gián tiếp từ trục khuỷu với tỷ số truyền 1:2 cho động
cơ 4 kỳ và tỷ số truyền 1:1 cho động cơ 2 kỳ Khi lắp ghép phải chú ý dấu trên bánh răng trục cam và bánh răng trục khuỷu để không làm sai quy luật phối khí
Như trên đã đề cập, trục cam có thể bố trí trên thân máy hay hộp trục khuỷu hoặc trên nắp máy Tùy theo yêu cầu về mặt kết cấu và khoảng cách giữa trục cam với trục khuỷu, có các phương án dẫn động trục cam sau:
Hình 4.3 Cơ cấu phân phối khí có một hoặc hai trục cam trên nắp xylanh
Trang 4III.2.1 Dẫn động trục cam bằng bánh răng
Khi trục khuỷu và trục cam gần nhau, trong cơ cấu phân
phối khí có trục cam bố trí trên thân máy hoặc ở hộp trục khuỷu
thường được dẫn động bằng bánh răng Nếu khoảng cách hai
trục nhỏ thì thường dùng một cặp bánh răng, khi khoảng cách
này lớn phải dùng thêm một hoặc nhiều bánh răng trung gian
Để giảm tiếng ồn trong quá trình truyền động, cặp bánh
răng trục cam và trục khuỷu thường làm răng nghiêng
Ưu điểm
- Kết cấu đơn giản
- Cặp bánh phân phối khí thường dùng bánh răng
nghiêng nên truyền động êm và bền
Nhược điểm
- Khi khoảng cách trục cam và trục khuỷu lớn,
phương án này phải dùng thêm các bánh răng trung gian Điều này làm cồng kềnh và phức tạp cho cơ cấu
III.2.2 Dẫn động trục cam bằng xích
Khi trục khuỷu và trục cam đặt xa nhau ta dùng xích để truyền động Nó có ưu điểm là gọn nhẹ và dùng cho các trục có khoảng cách lớn (hình 4.3)
Tuy nhiên xích có giá thành lớn hơn so với bánh răng Mặt khác khi cơ cấu làm việc xích gây tiếng ồn và dễ bị rung động làm sai lệch pha phân phối khí Để xích luôn luôn được căng, người ta phải có cơ cấu căng xích
III.2.3 Dẫn động trục cam bằng trục
Cò mổ
Đũa đẩy
mổ
Trục cam supap
Trục
vị
Trục cam
Trục khuỷu
Trục dẫn
động
Bánh răng
trục khuỷu
Bánh răng
trục cam
Hình 4.5 Dẫn động trục cam bằng trục Hình 4.6 Dẫn động trục cam bằng đai răng.
Trang 5Khi trục cam đặt xa trục khuỷu có thể dùng trục trung gian dẫn động trục cam Việc ăn khớp giữa trục khuỷu, trục trung gian và trục cam thông qua 2 cặp bánh răng côn, có ổ bi đỡ chặn để trục trung gian không xê dịch theo chiều trục (hình 4.5)
III.2.4 Dẫn động trục cam bằng đai răng
Đa số các động cơ hiện nay đều dùng cơ cấu phân phối khí dẫn động bằng đai Ưu điểm lớn nhất của cơ cấu này là truyền động êm dịu, đai có tuổi thọ khá lớn không cần bảo dưỡng và giá thành thấp hơn xích nhiều lần
Để đai luôn căng trong quá trình làm việc, không trượt đai làm sai quy luật phối khí người ta cũng dùng bánh căng đai (hình 4.6)
IV KẾT CẤU CÁC CHI TIẾT CHÍNH TRONG CƠ CẤU PHÂN PHỐI KHÍ
IV.1 Supap
IV.1.1 Công dụng, điều kiện làm việc và vật liệu chế tạo
Trong quá trình làm việc, supap có nhiệm vụ đóng và mở các lỗ nạp và lỗ thải theo đúng thời điểm qui định Hình thành nên quy luật phối khí trên động cơ
Khi thực hiện quá trình đóng mở, mặt nấm supap chịu tải trọng va đập, lực khí thể và tải trọng nhiệt độ rất lớn
- Lực khí thể tác dụng lên mặt nấm có thể đạt 10.000 ÷ 30.000N
- Va đập mạnh với đế supap nên rất dễ bị biến dạng
- Mặt nấm supap thải tiếp xúc trực tiếp với khí cháy có nhiệt độ cao (1.100 ÷ 1.200oC đối với động cơ xăng và 700 ÷ 900oC đối với động cơ Diesel) và vận tốc lớn
- Bị ăn mòn hoá học (lưu huỳnh trong nhiên liệu cháy tạo thành axít ăn mòn mặt nấm)
Do điều kiện làm việc phức tạp như trên nên vật liệu chế tạo supap thải phải có sức bền cơ học cao, chịu nhiệt tốt và chống được ăn mòn hoá học Vật liệu thường dùng là thép hợp kim: X9C2, HX9C2, Ngoài ra để nâng cao tính chống mòn của mặt nấm supap, người ta còn dùng hợp kim cứng để mạ lên mặt làm việc của nấm một lớp khoảng 1,5 ÷ 2,5mm
Đối với supap nạp, do được làm mát bởi dòng khí nạp đi vào nên thường dùng các loại vật liệu có yêu cầu thấp hơn như thép hợp kim crôm hay crôm niken: 4CX, 37XC, 40X, 40X9C2,
IV.1.2 Phân loại supap
Nếu dùng tiêu chuẩn phân loại theo kiểu bố trí, supap có các loại sau:
- Kiểu supap đặt
- Kiểu supap treo, có các loại: OHC, SOHC, DOHC đã được giới thiệu ở phần trên
- Kiểu supap hỗn hợp: supap vừa treo và vừa đặt
Giới thiệu hệ thống điều khiển supap trên các xe hiên nay
1) Hệ thống điều khiển phân phối khí thông minh VVT-i.
Hệ thống điều khiển supap trên xe Toyota Corolla Altis: kiểu cơ cấu phân phối phối khí
DOHC, dẫn động bằng xích, không có đệm chỉnh supap, bộ căng xích hoạt động bằng lò xo và áp suất dầu bôi trơn được giới thiệu trên (hình 4.7) và (hình 4.8)
Trang 6Hệ thống điều khiển phân phối khí thông minh VVT-i (VVT-i – Variable Valve Timing with intelligence): thay đổi góc phối khí của trục cam nạp một cách tối ưu theo các chế độ hoạt động của
động cơ nhằm nâng cao công suất, tính kinh tế nhiên liệu và giảm tối thiểu lượng khí xả gây ô nhiễm
2) VTEC – Variable Valve Timing and Lift Electronic Control
Hệ thống VTEC là hệ thống điều khiển sự thay đổi thời gian và độ đóng mở supap bằng điện tử để phù hợp với từng chế độ làm việc của động cơ Đây là kiểu động cơ đầu tiên trên thế giới được kết hợp giữa hệ thống phân phối khí của động cơ đang sử dụng hiện nay và động cơ tốc độ cao như xe đua, thông qua việc sử dụng một cơ cấu cam đặc biệt gồm có: cam tốc độ cao và cam tốc độ thấp Với sự trang bị cơ cấu cam đặc biệt này, động cơ sẽ tạo ra một phạm vi công suất rộng ở tốc độ thấp và trung bình để phù hợp cho việc vận hành trong thành phố, đồng thời động cơ cũng phát ra công suất tối đa khi vận hành ở đường cao tốc Hệ thống VTEC là một trong những kết quả của sự nỗ lực sáng tạo củùa các nhà chế tạo ôtô nói chung và của HONDA nói riêng
Đặc điểm của VTEC
- Vận hành và sử dụng như một động cơ thường
- Công suất cao phù hợp với từng chế độ làm việc của động cơ
- Gia tốc nhanh từ tốc độ thấp đến tốc độ cao
Bộ căng xích cam
Guốc tỳ xích cam
Giảm chấn xích cam
Vòi phun dầu Lò xo hãm Vấu hãm
Cần đẩy Lò xo
Con đội supap
Hình 4.7 Hệ thống điều khiển supap trên xe Toyota Corolla Altis
Bơm nhớt Cảm biến vị
trí trục khuỷu
Bộ điều khiển phối khí
Cảm biến nhiệt độ nước
Van điều khiển phối khí
Cảm biến VVT
ECU
Cảm biến vị trí bướm ga
Cảm biến lưu lượng không khí
Hình 4.8 Hệ thống điều khiển phân phối khí VVT-i
Trang 7- Vận hành êm dịu trong thành phố nhờ vào sự hoạt động của cam tốc độ thấp.
- Hiệu suất ưu việt ở tốc độ cao đồng thời với việc tiết kiệm nhiên liệu
- Đáp ứng nhanh không sử dụng tăng áp nhờ vào khả năng tự hút của nó
Phân loại động cơ HONDA VTEC
DOHC VTEC: là kiểu động cơ có đặc điểm nổi bật là điều khiển sự thay đổi độ mở và thời
gian phân phối khí của cả supap nạp và supap thải phù hợp với từng chế độ làm việc của động cơ Đây là loại động cơ có hiệu suất cao với khả năng tiết kiệm nhiên liệu Tính ưu việt của loại này phù hợp cho các loại xe du lịch và thể thao (hình 4.9)
Động cơ trang bị hệ thống DOHC VTEC được bố trí 4 supap cho mỗi xylanh bao gồm:2 supap nạp và 2 supap thải Mỗi một cặp supap ngoài 2 vấu cam và 2 cò mổ như động cơ thường, nó còn được trang bị thêm một cò mổ thứ 3 (cò mổ giữa) và một vấu cam thứ ba (vấu cam trung tâm) Hai vấu cam bên ngoài điều khiển sự hoạt động ở tốc độ thấp, còn vấu cam trung tâm điều khiển sự phân phối khí ở tốc độ cao Để có thể chuyển đổi sự phân phối khí này, người ta bố trí 2 piston thủy lực nằm bên trong cò mổ thứ nhất và cò mổ giữa với nhiệm vụ là kết nối các cò mổ thành một khối duy nhất hay tách chúng ra riêng rẽ với nhau dưới sự điều khiển của áp lực dầu Ngoài ra, phía dưới cò mổ giữa còn được trang bị thêm một lò xo phụ với chức năng giữ cho cò mổ giữa luôn luôn tiếp xúc với vấu cam trung gian ở tốc độ thấp đồng thời tăng sự êm dịu ở tốc độ cao
Khi hoạt động ở tốc độ thấp, hai vấu cam bên ngoài tác dụng trực tiếp lên hai cò mổ Những vấu cam tốc độ thấp này tối ưu hóa cho hoạt động êm dịu và tiết kiệm nhiên liệu cho động cơ Vấu cam tốc độ cao lúc này tiếp xúc với cò mổ giữa nhưng cò mổ này không nối với chi tiết nào do đó không xảy ra quá trình truyền công suất (hình 4.10)
Tại các số vòng quay cao, áp suất dầu đẩy một chốt kim loại xuyên qua hai cò mổ và cò mổ trung tâm, lúc này cả 3 cò mổ được liên kết thành một khối (hình 4.11) Từ vấu cam tốc độ cao đẩy
xa hơn so với vấu cam tốc độ thấp, hai cò mổ bây giờ hoạt động theo biên dạng của vấu cam tốc độ cao Biên dạng của vấu cam tốc độ cao được thiết kế sao cho có thể mở các supap rộng hơn, và thời gian mở lâu hơn, do đó cho nhiều hỗn hợp không khí và nhiên liệu đi vào bên trong xylanh hơn
Chú ý là có hai trục cam, một điều khiển các supap hút và một điều khiển các supap xả Mỗi một cặp supap có 3 vấu cam: 2 vấu cam tốc độ thấp bên ngoài và một vấu cam tốc độ cao ở giữa
Cả hai supap đều đóng
Vấu cam tốc
thấp
độ thấp
Vấu cam tốc
thấp độ cao
Cò mổ giữa
Cò mổ
Trục cam
Trang 8Với sự cải tiến việc nạp và
thải cho phép động cơ duy trì mômen
xoắn của động cơ khi số vòng quay
tăng, kết quả là công suất đầu ra cao
hơn DOHC được sử dụng trên các
xe: 160HP Civic Si, 170HP Integra
GS-R, 195HP Integra Type-R,
SOHC VTEC: Sau những thành công của các động
cơ DOHC VTEC, hãng HONDA đã có thêm sự tự tin với
việc sử dụng công nghệ VTEC Nó đã chứng tỏ được sự
tin cậy và tính kinh tế so với việc tăng dung tích hoặc sử
dụng tăng áp HONDA quyết định áp dụng công nghệ
VTEC rộng hơn với việc giới thiệu hệ thống SOHC
VTEC Cũng giống như các chức năng của DOHC, SOHC
VTEC việc tăng hỗn hợp không khí và nhiên liệu ở tốc độ
cao trong khi vẫn giữ được tính êm dịu và kinh tế ở tốc độ
thấp Nhưng thiết kế của nó đơn giản với hiệu quả khiêm
tốn và đặc biệt là công suất đầu ra không cao bằng động
cơ DOHC VTEC (hình 4.12)
Trong động cơ SOHC, bố trí một trục cam cho từng
dãy xylanh Vì vậy cả các vấu cam hút và cam xả đều
được bố trí giống nhau trên trục cam Ba vấu cam ở giữa
là vấu cam hút, hai vấu cam tốc độ thấp tiếp xúc với hai
cò mổ, nó xoay và mở các supap hút Vấu cam tốc độ tiếp
xúc với một cò mổ trung tâm Có sự giống nhau giữa các vấu cam của các supap hút của hai hệ thống SOHC VTEC và DOHC VTEC Tính năng cơ bản để tiến tới kỹ thuật cao ở kiểu động cơ là chỉ điều khiển sự thay đổi trạng thái của cặp supap hút còn cặp supap thải làm việc bình thường ở tất cả các
Hình 4.12 SOHC VTEC.
Vấu cam tốc
độ thấp
Vấu cam tốc
độ cao
Cò mỗ giữa
Cò mỗ
Chốt nối Trục cam
Cam không đội
Chốt nối
di chuyển
Cam đội
Áp suất dầu supap mở
supap đóng
Hình 4.11 VTEC hoạt động ở tốc độ cao.
Hình 4.10 VTEC hoạt động ở tốc độ thấp.
Vấu cam tốc độ thấp
độ thấp Vấu cam tốc độ thấp độ cao
Cò mỗ giữa
Cò mỗ
Trục cam
Trang 9tốc độ Hoạt động của các supap hút trong hệ thống này tương tự như trong hệ thống DOHC VTEC.
SOHC VTEC được trang bị trên các loại xe: Civic EX, Accord LX/EX/V6, Odyssey LX/EX,
VTEC-E: Tính ưu việt ở động cơ này là công suất động cơ cao đồng với việc tiết kiệm nhiên
liệu Cơ cấu phân phối khí của động cơ này gần giống như kiểu phân phối khí của động cơ 4 supap thông thường, nhưng nó được cải tiến để phân phối khí tốt hơn Ở tốc độ thấp, lượng hòa khí nạp vào trong xylanh được tiết kiệm do chỉ mở một trong hai supap hút Kiểu động cơ VTEC-E được kết hợp từ 2 loại động cơ SOHC VTEC và DOHC VTEC để tạo thành loại động cơ mang ưu việt của 2 động cơ này
Các chế độ làm việc của cơ cấu VTEC được thể hiện trên (hình 4.14)
IV.1.3 Kết cấu supap nạp, supap thải và khe hở nhiệt của cơ cấu phân phối khí
Về kết cấu, supap được chia ra 3 phần : nấm supap (đầu), thân supap và đuôi supap
1) Nấm supap (đầu supap)
Mặt nấm supap tiếp xúc với đế supap, đây là bề mặt làm việc quan trọng nhất của supap có dạng mặt côn với có gócα = 15 ÷ 450 (đa số supap đều dùng góc α = 450) Nếu gócα càng nhỏ thì
Hình 4.13 Bố trí vấu cam trên hệ thống SOHC VTEC.
Cò mỗ supap xả Vấu cam tốc độ thấp Vấu cam tốc độ cao
Cò mỗ supap nạp Cò mỗ giữa
Trục cam
Hình 4.14 Các chế độ hoạt động của động cơ VTEC.
Áp suất dầu
Áp suất dầu
Biên dạng cam tốc độ cao
Biên dạng cam tốc độ thấp Hoạt động
của supap nạp Hoạt động của supap nạp Hoạt động của supap nạp
Chế độ tốc độ thấp Chế độ tốc độ trung
bình
Chế độ tốc độ cao
Trang 10tiết diện lưu thông càng lớn, tuy nhiên khi α nhỏ thì phần nấm càng mỏng và độ cứng vững càng kém
Góc của mặt côn trên nấm thường làm nhỏ hơn góc của mặt côn trên đế supap khoảng 0,5 ÷ 10
để đảm bảo kín khít, cho dù mặt nấm có bị biến dạng nhỏ Kết cấu của nấm supap thường có ba loại:
- Nấm bằng: chế tạo đơn giản, có thể dùng cho cả supap nạp và supap thải Đa số các động cơ hiện nay đều dùng loại này (hình 4.15)
- Nấm lõm: kết cấu này cải thiện tình trạng lưu thông của dòng khí nạp vào xylanh và tăng độ cứng vững cho phần nấm Tuy nhiên, mặt chịu nhiệt của supap lớn nên dễ bị quá tải nhiệt và chế tạo khó khăn (hình 4.16a)
- Nấm lồi: tuy kết cấu nấm lồi có cải thiện tình trạng lưu động của dòng khí nhưng nấm lồi khó chế tạo và mặt chịu nhiệt lớn (4.16b)
Trong một số động cơ cường hoá công suất supap thải thường làm rỗng, bên trong chưa Na (50
÷ 60% thể tích) Tác dụng là để truyền nhiệt tốt, tránh cho supap thải bị quá nhiệt vì Na nóng chảy ở
970C nên khi thành thể lỏng, điều kiện truyền nhiệt sẽ nhanh và supap được giải nhiệt tốt hơn
2) Thân supap
Thân supap có tác dụng dẫn hướng và tản nhiệt, vì vậy để phát huy vai trò này phần thân thường có xu hướng làm tăng đường kính Tuy nhiên phần thân cũng không được làm quá lớn vì supap có yêu cầu phải gọn nhẹ và dòng khí lưu thông dễ dàng
- Khi supap được dẫn động bằng con đội, hệ thống đòn bẩy thường là lực điều khiển theo phương trục supap do đó không có lực nghiêng hoặc lực nghiêng nhỏ thì thân supap có đường kính: d =(0,16÷ 0,25).dn với dn– đường kính của nấm supap
- Khi trục cam trực tiếp dẫn động supap, lực nghiêng xuất hiện ở thân supap lớn nhất nên có thể tăng cường đường kính thân supap: d =(0,3÷ 0,4) dn
- Chiều dài thân supap: lt =(2,5÷ 3,5) dn
Nấm supap
Thân supap
Phốt supap
Đuôi supap
Ống dẫn hướng supap Lò xo supap
Hình 4.15 Kết cấu supap.
Hình 4.16 Supap đỉnh lõm (a)
và đỉnh lồi (b).
b) a)