1. Trang chủ
  2. » Tất cả

bản mềm chuyên đề(1) - Copy

90 352 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng VPBank chi nhánh Bắc Ninh
Tác giả Lê Huyền Trang
Trường học Trường Đại Học XYZ
Chuyên ngành Tín dụng
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 877 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thời gian thực tập, tìm hiểu tại ngân hàng, với những kiến thức đã đượchọc tại nhà trường, đọc qua sách báo và với sự giúp đỡ của các anh các chị cán bộnhân viên trong ngân hàn

Trang 1

ra nhằm hạn chế các rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Tuy mới thành lập và đi vào hoạt động được 3 năm nhưng chi nhánh VPBankBắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Dư nợ tín dụng của chi nhánhkhông ngừng tăng nhanh qua các năm, chất lượng tín dụng ngày càng được quantâm và nâng cao nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần giải quyết, đặc biệt là vấn

đề chất lượng tín dụng trung và dài hạn, khi mà hoạt động này vẫn còn chiếm một tỉtrọng tương đối thấp trong tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh

Qua thời gian thực tập, tìm hiểu tại ngân hàng, với những kiến thức đã đượchọc tại nhà trường, đọc qua sách báo và với sự giúp đỡ của các anh các chị cán bộnhân viên trong ngân hàng; nhận thức được vai trò của tín dung trung dài hạn nên

em đã chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn đối với doanhnghiệp tại ngân hàng VPBank chi nhánh Bắc Ninh”

Ngoài phần mở đầu, kết luận cùng các loại danh mục tài liệu tham khảo, danhmục sơ đồ bảng biểu và danh mục các từ viết tắt, kết cấu của chuyên đề thực tậpgồm 3 chương:

Chương 1: Những nội dung cơ bản về tín dụng trung – dài hạn của ngân

hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh

VPBank Bắc Ninh

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn

tại chi nhánh VPBank Bắc Ninh.

Trang 2

CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TRUNG

DÀI HẠN CỦA NHTM

1.1. Tín dụng ngân hàng

1.1.1 Khái niệm tín dụng trung dài hạn của NHTM

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội loài người Tíndụng (credit) xuất phát từ tiếng Latinh là credo, có nghĩa là sự tín nhiệm, sự tintưởng Trên thực tế thì thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ này có một nội dung nhất định Trongquan hệ tài chính thì ta có thể hiểu tín dụng như sau:

- Tín dụng là mối quan hệ vay mượn dựa theo nguyên tắc hoàn trả

- Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hoặc hiện vật theonguyên tắc có hoàn trả

- Tín dụng còn là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật củamột tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong một khoảngthời gian nhất định cũng trên nguyên tắc có hoàn trả

- Ngoài ra tín dụng cũng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từngười sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian sẽ thu hồi về được một lượnggiá trị lớn hơn giá trị ban đầu

Như vậy, mặc dù tín dụng có thể được diễn tả bằng nhiều hình thức khác nhaunhưng về bản chất, tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người chovay và một bên là người đi vay dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Mục đích trong phần này là xem xét tín dụng như là một trong những chứcnăng, nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại (NHTM), vì vậy trên cơ sở tiếpcận chức năng hoạt động của Ngân hàng, tín dụng được định nghĩa như sau:

Tín dụng Ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và bên vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng gồm hai hình thức là cho vay (tiền)

và cho thuê (bất động sản và động sản) Trước những năm 1960 hoạt động củaNgân hàng chỉ có cho vay bằng tiền, vì thế mà nhiều khi thuật ngữ tín dụng và cho

Trang 3

vay được coi là đồng nghĩa Nhưng từ những năm 70 trở lại đây, dịch vụ cho thuêvận hành và cho thuê tài chính đã được các ngân hàng và các tổ chức tín dụng kháccung cấp cho khách hàng.

Tín dụng dựa trên nguyên tắc có hoàn trả, vì vậy khi người cho vay chuyểngiao tài sản cho người đi vay sử dụng thì phải có cơ sở để đảm bảo người đi vay sẽtrả đúng hạn Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng nhưhợp động tín dụng, khế ước… thực chất chính là lệnh phiếu, trong đó bên đi vaycam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

1.1.1.2 Khái niệm về tín dụng trung dài hạn

Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng được chia thành tín dụng ngắn hạn, tíndụng trung hạn và tín dụng dài hạn

+ Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống

+ Tín dụng trung hạn: có thời gian từ 1 đến 5 năm

+ Tín dụng dài hạn: có thời hạn từ 5 năm trở lên, thời hạn tối đa có thể lên đến20-30 năm, thậm chí trong một số trường hợp cá biệt còn có thể lên đến 40 năm,nhưng không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấyphép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự án phục vụđời sống

Thời hạn tín dụng là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho kháchhàng một khoản tín dụng và nó được xác định cụ thể đến ngày, tháng, năm

Có thể nói tín dụng trung dài hạn: “là hoạt động tài chính tín dụng cho kháchhàng vay vốn trung dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinhdoanh, phục vụ đời sống” Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quyđịnh cụ thể của hoạt động tín dụng trung dài hạn Ở Việt Nam, thời hạn cho vayđược xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợcủa khách hàng và tính chất nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng

Như vậy nhìn chung các khoản tín dụng trung dài hạn có các đặc trưng cơ bản sau:

- Có thời hạn trên một năm

- Được trả bằng những khoản trả vay theo thời gian (có thể theo quý, tháng,năm hoặc nửa năm) trong kỳ hạn của khoản vay

- Thường được đảm bảo bằng những tài sản lưu động đem ra thế chấp hoặcvăn tự cầm cố tài sản cố định

Mục đích của hoạt động tín dụng trung dài hạn là để đầu tư dự án, xây dựngmới, mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bị

Trang 4

công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm mục tiêu lợi nhuận phù hợp với chínhsách phát triển kinh tế xã hội và pháp luật quy định.

Tín dụng trung dài hạn cũng có thể được phân loại dựa theo các tiêu chí tương

tự tín dụng ngân hàng nói chung, như là căn cứ theo đồng tiền cho vay, theo mụcđích sử dụng vốn, theo cách thức hoàn trả, hoặc theo lĩnh vực hoạt động của người

1.1.2.2 Lợi nhuận lớn

Khi độ rủi ro của các dự án càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng mà nhà đầu tưmong đợi sẽ càng lớn Không nằm ngoài quy luật này, các khoản tín dụng trung dàihạn của ngân hàng thường mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập lớn Biểuhiện cụ thể đó là lãi xuất các khoản cho vay tín dụng trung dài hạn cao hơn rất nhiều

so với các khoản cho vay ngắn hạn Có đặc điểm này xuất phát từ mục đích bù đắpcho những chi phí trong việc huy động những nguồn vốn phục vụ cho hoạt độngcho vay trung dài hạn, chi phí bù đắp rủi ro

1.1.2.3 Vốn đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm

Nếu như tín dụng ngắn hạn được tài trợ chủ yếu cho các tài sản lưu độngcủa doanh nghiệp và được hoàn trả trong thời hạn ngắn (dưới 1năm) thì tín dụngtrung dài hạn phần lớn là tài trợ cho tài sản cố định như bất động sản, công cụlao động, hay đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Do đó việc tài trợ này đòihỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài Các khoản tín dụng trung dàihạn có nguồn trả nợ gốc và lãi chủ yếu dựa vào khấu hao và lợi nhuận của dự ánđầu tư Trong khi đó ngân hàng phải bỏ vốn trong suốt thời gian xây dựng dự án

và chỉ tiến hành thu hồi vốn đầu tư khi dự án đi vào hoạt động và đạt kết quả,dẫn đến thời hạn thu hồi vốn chậm

Trang 5

1.1.3 Phân loại tín dụng trung dài hạn

1.1.3.1 Căn cứ vào đồng tiền cho vay

Tín dụng trung dài hạn bằng nội tệ: Là việc cho vay bằng đồng nội tệ

Tín dụng trung dài hạn bằng ngoại tệ nhằm cấp tín dụng cho người vay cónhu cầu thanh toán các công trình xây dựng cơ bản, các khoản chi phí có liên quanđến nước ngoài bằng đồng ngoại tệ

1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn trung dài hạn

Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho tiêu dùng là loại tín dụng cấp cho các cánhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, các phương tiện sinhhoạt, phương tiện đi lại…

Tín dụng trung dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Là loại tín dụngcấp cho các tổ chức kinh tế để tiến hành sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá

1.1.3.3 Căn cứ vào tính chất có đảm bảo

Tín dụng trung dài hạn có đảm bảo là loại tín dụng khi cho vay bên cho vayđòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo

Tín dụng trung dài hạn không có đảm bảo: Là loại tín dụng ma khi cho vaybên cho vay không đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo Việc cho vay đượctín hành trên cơ sở lòng tin uy tín của bản thân khách hàng

1.1.3.4 Căn cứ vào cách thức hoàn trả

Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ đều nhau theo tháng, quý, năm làloại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ

Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ một lần là loại tín dụng mà bên vayphải hoàn trả cả gốc và lãi một lần vào thời điểm kết thúc khoản vay

Tín dụng trung dài hạn có kỳ hạn trả nợ có tính thời vụ là loại tín dụng mà ngườivay có thể hoàn trả vốn gốc và lãi bất cứ khi nào khi có khả năng, có thu nhập

1.1.3.5 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay

Tín dụng trung dài hạn đầu tư trong nước: Là loại tín dụng ngân hàng cấpcho người vay nhằm thực hiện các dự án đầu tư trong nước

Tín dụng trung dài hạn tài trợ xuất nhập khẩu: Tín dụng loại này có thể chia

Trang 6

Trên đây là một số cách thức phân loại tín dụng trung dài hạn mà tuỳ theotừng điều kiện cụ thể mỗi ngân hàng có thể phân chia theo những tiêu thức khácnhau phục vụ cho hoạt động của mình.

1.1.4 Quy trình tín dụng trung dài hạn

Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc và quy định của ngân hàng vềviệc cấp tín dụng Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định

kể tử khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi kết thúc quan hệ tín dụng.Đây là quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo trật tự nhấtđịnh, đồng thời có liên quan chặt chẽ với nhau

Quy trình tín dụng trung dài hạn gồm các bước sau:

Bước 1: Lập hồ sơ

- Nhiệm vụ của cán bộ tín dụng:

+ Xem xét nhu cầu của khách hàng

+ Hướng dẫn khách hàng hoàn thành hồ sơ theo quy định

- Nội dung hồ sơ:

+ Giấy đề nghị cho vay vốn

+ Các tài liệu pháp lí cần thiết

+ Tài liệu thuyết minh cho việc vay vốn

+ Các tài liệu về tài chính

+ Các tài liệu liên quan đến bảo đảm tín dụng

- Ngân hàng có thể thu thập thông tin từ các nguồn sau đây:

+ Hồ sơ vay vốn: kế hoạch kinh doanh, báo cáo tài chính…

+ Các tổ chức có liên quan như NHNN, cơ quan thuế…

+ Các hồ sơ tư liệu lưu trữ tại ngân hàng

+ Các nguồn thông tin khác từ bên ngoài

+ Các chuyến thăm quan thực tế tại cơ sở của khách hàng

Bước 2: Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là việc phân tích khả năng hiện tại cũng như tiềm năngcủa khách hàng về việc sử dụng vốn tín dụng, cũng như khả năng hoàn trả vốn vaycho ngân hàng

- Mục đích của phân tích tín dụng:

+ Giảm sự không cân xứng về thông tin giữa ngân hàng và khách hàng, từ đótạo cơ sở cho việc định giá tín dụng và thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụngmột cách phù hợp

Trang 7

+ Xác định chính xác hơn nhu cầu thực tế về vốn của khách hàng

+ Giúp cho khách hàng hiểu rõ hơn về tình hình tài chính của họ cũng như nhucầu về vốn trong thời điểm đó, vị thế cạnh tranh và nguy cơ rủi ro…

- Phân tích tín dụng gồm các nội dung sau:

+ Phân tích uy tín của doanh nghiệp: nhằm đánh giá uy tín của doanh nghiệp,

quyết định thiện chí trả nợ của khách hàng

+ Phân tích năng lực pháp lí của doanh nghiệp: mục đích của việc phân tích

này là đánh giá năng lực pháp lí của doanh nghiệp nhằm ràng buộc trách nhiệm củakhách hàng trước pháp luật trong trường hợp có tranh chấp, đảm bảo phù hợp theoquy định của luật pháp Một doanh nghiệp được đánh giá là đầy đủ năng lực pháp línếu có năng lực pháp luật dân sự

+ Đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp: cán bộ tín dụng cần thực

hiện phân tích các yếu tố sau:

Thị trường và sản phẩm: Phân tích hoạt động phát triển của sản phẩm, cáckênh phân phối cũng như mức độ đa dạng hóa và sự biến động của thị trường

Các nguồn lực: gồm nguồn lực vật chất như cơ sở vật chất kĩ thuật, nguồncung ứng nguyên vật liệu; nguồn lực về con người như số lượng lao động, chấtlượng lao động, chất lượng bộ máy lãnh đạo và quản trị viên

Ngoài ra còn một số yếu tố khác như vòng đời của doanh nghiệp, khả năngquản lí của doanh nghiệp,…

+ Phân tích môi trường kinh doanh: bao gồm cả môi trường vi mô và môi

trường vĩ mô

Môi trường vi mô gồm các yếu tố như nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh…

Môi trường vĩ mô gồm các yếu tố thuộc về kinh tế, chính trị xã hội, pháp luật…

+ Đánh giá về mức độ bảo đảm tín dụng của doanh nghiệp

Bước 3: Quyết định tín dụng

- Việc đưa ra quyết định tín dụng dựa trên cơ sở:

+ Kết quả từ việc phân tích tín dụng

+ Chính sách tín dụng của ngân hàng

+ Thông tin bổ sung

+ Khả năng về nguồn vốn vay của ngân hàng

- Phân quyền phán quyết tín dụng:

+ tập trung quyền quyết định tín dụng vào một hoặc một nhóm người (hồiđồng tín dụng)

Trang 8

+ phân quyền quyết định cho các cán bộ tín dụng

- Nội dụng:

+ Có thể chấp nhận hoặc từ chối khoản cho vay

+ Nếu chấp nhận khoản vay thì đưa ra các quyết định về mức cho vay, thờihạn cho vay và lãi suất cho vay

+ Thực hiện kí kết hợp đồng tín dụng

Bước 4: Giải ngân

Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành việc cấp tiền vay cho khách hàng dựatrên cơ sở hợp đồng tín dụng đã kí kết cùng các tài liệu có liên quan

Nguyên tắc giải ngân: gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóahoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của kháchhàng và bảo đảm khả năng thu hồi nợ Đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tráchgay khó khăn phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng

Bước 5: Giám sát tín dụng

- Mục đích của việc giám sát tín dụng:

+ Ngăn ngừa các hành vi vi phạm của khách hàng, hạn chế xu hướng rủi rođạo đức

+ Phát hiện nhanh chóng kịp thời những biểu hiện vi phạm của khách hàng, từ

đó có các biện pháp xử lí thích hợp

- Nội dụng:

+ Mục đích sử dụng vốn vay: giám sát quá trình thực hiện của doanh nghiệp

để kiểm tra xem doanh nghiệp có sử dụng vốn vay vào đúng mục đích hay không+ Tình hình hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và bảo đảm tín dụngcủa khách hàng

- Phương pháp thực hiện là:

+ Trực tiếp giám sát tại cơ sở sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Gián tiếp thông qua việc phân tích các báo cáo tài chính

Bước 6: Thanh lí tín dụng

Trong bước này, ngân hàng thực hiện những nội dung sau:

- Thu hồi nợ hoặc gia hạn nợ

- Chuyển sang nợ quá hạn trong một số trường hợp sau:

+ Không có đề nghị xin gia hạn nợ

+ Khách hàng có đề nghị xin gia hạn nợ nhưng do nguyên nhân chủ quan hoặcnguyên nhân khách quan không chính đáng

Trang 9

+ Khách hàng cố tình chây ỳ, không trả nợ gốc và lãi

+ Khoản vay đã được gia hạn tối đa theo quy định của ngân hàng

- Xử lí thu hồi nợ quá hạn

1.1.5 Vai trò của tín dụng trung dài hạn

Tín dụng trung dài hạn là quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng Chứcnăng của ngân hàng là đem lại lợi ích cho cả người tiết kiệm và người đầu tư Các bêntham gia vào quan hệ tín dụng trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi Ngoài ra tham gia vàoquan hệ này cũng đem lại lợi ích cho chính ngân hàng Không chỉ vậy, ngân hàng vàdoanh nghiệp là hai chủ thể quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân, do đó việcnâng cao hiệu quả hoạt động của hai chủ thể này góp phần to lớn vào sự phát triểnchung của cả nền kinh tế Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của các NHTM, ta có thểthấy tín dụng trung dài hạn đóng một vai trò khá quan trọng đến sự phát triển của nềnkinh tế quốc gia Hoạt động tín dụng trung dài hạn của ngân hàng như một công cụ đểkhai thác một cách hiệu quả lượng tiền nhàn rỗi trong dân, phục vụ cho quá trình táisản xuất xã hội, phù hợp với quá trình vận động của vốn

1.1.5.1 Đối với doanh nghiệp

- Tín dụng trung dài hạn tạo điều kiện cho việc ứng dụng các tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất Ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt được những thànhtựu rực rỡ, đặc biệt là trong các nghành khoa học ứng dụng đã tạo ra thời cơ cũngnhư thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức trên thị truờng

Tuy việc ứng dụng này rất cần thiết, song mọi doanh nghiệp đều gặp phải khókhăn là chi phí phải bỏ ra ban đầu rất lớn, bản thân vốn tự có của doanh nghiệp lại

có hạn Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn

đã có những tác động hỗ trợ tích cực trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vàohoạt động sản xuất kinh doanh Nhờ đó doanh nghiệp không ngừng nâng cao đượcvị thế trên thị trường, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM

- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện mởrộng quy mô sản xuất và mở rộng thị trường

Bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn mở rộng sản xuất đồng thời mở rộng thịtrường hoạt động của mình Mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh không phải làviệc mà doanh nghiệp có thể tiến hành nhanh chóng trong một sớm một chiều màcòn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là cần có nguồn vốn dàihạn Để đáp ứng nhu cầu đó, doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới nhiều hìnhthức như:

Trang 10

+ Tự tích luỹ vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh Nguồn vốn này có ưuđiểm là nó giúp doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt được sự phụ thuộc vàobên ngoài nhưng nó cũng có mặt hạn chế là doanh nghiệp không thể tự tích lũy mộtlượng vốn lớn trong một thời gian ngắn Hơn nữa doanh nghiệp chỉ có thể tích lũyvốn khi nó đang hoạt động có hiệu quả, có lợi nhuận, có thể tiếp tục đầu tư

+ Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: Doanh nghiệp có thể huy động được nguồnvốn trung dài hạn để tiến hành sản xuất kinh doanh thông qua việc phát hành cổphiếu hoặc trái phiếu Tuy nhiên những hình thức huy động vốn này của doanhnghiệp cũng mang nhiều nhược điểm Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu sẽ làmloãng quyền kiểm soát của các cổ đông Còn nếu phát hành trái phiếu thì không phảilúc nào doanh nghiệp cũng có thể bán được trái phiếu trên thị trường vì còn phụthuộc vào nhiều vấn đề khác như uy tín của doanh nghiệp Các nhà đầu tư chỉ muatrái phiếu dài hạn của doanh nghiệp khi họ thực sự tin tưởng vào sự phát triển doanhnghiệp mà yếu tố này không phải doanh nghiệp muốn là có Hơn nữa khi phát hànhcổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp phải chịu chi phí giao dịch khá cao, cùng cả chiphí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng kí…

Với lợi thế đặc thù, tín dụng trung dài hạn của ngân hàng được các doanhnghiệp ưa thích để bổ sung nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh Đặc biệtđối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn xây dựng cơ bản là rất lớntrong khi các nhà kinh doanh lại chưa có nhiều thời gian để tích luỹ vốn, tâm lí củacông chúng cũng chưa muốn đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp, vì vậy tín dụngtrung dài hạn của ngân hàng là một nguồn vốn rất quan trọng đối với doanh nghiệpnhằm cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất

- Góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả

Trong thời hạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám sát hoạtđộng sử dụng vốn, với tư cách là chủ sở hữu vốn cho vay đối với doanh nghiệp.Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp sử dụngvốn đúng mục đích, có hiệu quả, đôn đốc doanh nghiệp thực hiện trả gốc và lãiđúng thời hạn thoả thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng Khác với nguồn vốn tự có

là không phải trả chi phí vốn, vốn vay ngân hàng lại phải chịu những điều kiện ràngbuộc về mặt lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay, vì vậy các doanhnghiệp vay vốn phải có sự tính toán chi phí sản xuất hợp lý, tốc độ vòng quay vốnnhanh để đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại Mặt khác,trong quá trình kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ giúp doanh

Trang 11

nghiệp phát hiện ra những nhược điểm, sai sót, từ đó có biện pháp khắc phục kịpthời nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp cũng như rủi ro liênquan với ngân hàng Có thể nói tín dụng ngân hàng đã ràng buộc trách nhiệm giữangười sở hữu và người sử dụng vốn, nâng cao năng lực quản lý vốn và quá trình sảnxuất kinh doanh Đó chính là việc giúp cho nguồn vốn đầu tư đem lại hiệu quả cao.

- Tín dụng trung dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc thoảmãn và chớp lấy các cơ hội kinh doanh Nhiều doanh nghiệp khi có các dự án đầu tưnhưng lại không có nguồn vốn để đáp ứng do lượng vốn cần đầu tư quá nhiều vàtrong một thời gian dài nên không thể thực hiện được các dự án này Cũng có những

dự án được nhiều doanh nghiệp biết đến và có cơ hội thực hiện nhưng do không cónguồn vốn để đáp ứng, các dự án này cũng không thực hiện được Tín dụng trung dàihạn giúp doanh nghiệp thỏa mãn lượng vốn đầu tư cho các dự án và chớp lấy cơ hộikinh doanh Ngoài ra khi các doanh nghiệp đi vay vốn trung dài hạn tại NHTM, họ cóthể điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, nghĩa là họ có thể trả nợ sớm hơn thời gian quy địnhtrong hợp đồng tín dụng khi họ không còn cần đến nguồn vốn nữa Ngược lại khidoanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ tại một thời điểm nhất định nào đó thì

họ cũng có thể xin ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ

Việc trả nợ vốn vay trung dài hạn cũng được xây dựng theo một sự phân chiaổn định và hợp lý, vì vậy doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm các nguồn trả nợmột cách dễ dàng hơn

1.1.5.2 Đối với Ngân hàng

Hoạt động của NHTM truyền thống là nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay Đểthực hiện việc cho vay, NHTM phả tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội và trên cơ sởnguồn vốn đó bổ sung nhu cầu thiếu hụt về vốn của các doanh nghiệp, các tổ chứckinh tế hoặc của các cá nhân trong quá trình sản xuất kinh doanh Trong quá trìnhphát triển mặc dù đã có nhiều sự thay đổi ảnh hưởng đến hoạt động của NHTMnhưng hoạt động tín dụng vẫn luôn là hoạt động cơ bản nhất Tín dụng trung dài hạn

là một hình thức tín dụng ngân hàng, có vai trò quan trọng đối với hoạt động củangân hàng

- Tín dụng Ngân hàng tạo ra lợi nhuận cho NHTM, có thể nói không có hoạtđộng tín dụng thì không thể có NHTM

Các NHTM là những trung gian tài chính lớn nhất, đóng vai trò quan trọngtrong việc khơi nguồn vốn từ những nơi chưa có điều kiện sinh lời đến những nơi

có cơ hội sinh lời Như vậy, hoạt động chủ yếu của NHTM là một mặt thu hút các

Trang 12

nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, mặt khác phân phối nó dưới hình thức cho vay đểthu lợi nhuận NHTM hoạt động theo 3 nghiệp vụ chính: nghiệp vụ nợ (huy độngvốn), nghiệp vụ có (cho vay vốn) và nghiệp vụ trung gian.

Ba nghiệp vụ trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó nghiệp vụ chovay vẫn đóng vai trò quan trọng nhất vì nó chính đem lại lợi nhuận chủ yếu chongân hàng Việc cho vay thường mang lại lợi nhuận cao nhưng mức độ rủi ro trongnghiệp vụ cho vay cũng thường cao hơn các loại dịch vụ hoặc các ngành sản xuấtkhác Bởi vậy, một Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển buộc phải tìm nhiều biệnpháp thực hiện việc đầu tư vốn nhằm đảm bảo vừa thu được hiệu quả cao vừa giảmrủi ro đến mức thấp nhất Đầu tư vốn là nghiệp vụ chủ yếu nhưng cũng rất phức tạpvới các ngân hàng Khi tiến hành cho vay, các ngân hàng đều phải tính toán cẩn thận

và phải tôn trọng những nguyên tắc tín dụng nhất định Hơn nữa vì đối tượng vay vốnrất đa dạng nên ngân hàng trên thực tế không thể lường trước hết mọi rủi ro

- Tín dụng trung dài hạn vừa mang lại lợi nhuận đồng thời nâng cao khả năngcạnh tranh của ngân hàng

Tín dụng trung dài hạn là hoạt động mang tính chiến lược của các NHTM Vớinhững khoản tín dụng trung dài hạn có quy mô lớn, lãi suất cao sẽ mang lại lợinhuận cao cho ngân hàng, đồng thời cũng thu hút khách hàng đến với ngân hàng,nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường

- Mặt khác tín dụng trung dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồnvốn huy động dư thừa tại mỗi ngân hàng, đồng thời là cách để ngân hàng kêu gọivốn có hiệu quả, thu được lợi nhuận cao, qua đó phát triển các hoạt động của mình,tăng cường khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác

- Khi ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng trong tương lai, tạo điều kiện đểngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động và ngày càng khẳng định vai trò, vị thế củamình trong nền kinh tế Khi ngân hàng không đa dạng hóa hoạt động cho vay màchỉ đa dạng hóa khách hàng hay thời hạn vay thì ngân hàng không thể đứng vữngđược trong nền kinh tế hiện nay với sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng khác

- Thông qua tín dụng trung dài hạn, ngân hàng thực hiện chức năng xã hội củamình Khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng đã thể hiện vai trò là người tàitrợ lớn đối với cả nền kinh tế, góp phần mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xãhội và cải thiện đời sống nhân dân

1.1.5.3 Đối với nền kinh tế

- Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu: Nhu cầu về tín dụng đặc biệt là tín

Trang 13

dụng trung dài hạn tồn tại trong tất cả các nền kinh tế, không phụ thuộc vào trình độphát triển cũng như chế độ chính trị bởi tất cả các quốc gia đều có chung một nhucầu đó là nhu cầu đầu tư để phát triển Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh vàbền vững nếu như trong nền kinh tế đó các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh Khácvới các loại hình đầu tư khác, hoạt động tín dụng trung dài hạn cho phép các doanhnghiệp có được nguồn vốn với thời hạn hoàn vốn lâu dài đủ để đầu tư vào các dự ánmang ý nghĩa chiến lược, phát huy được hiệu quả trong trung dài hạn Đối vớiChính phủ, đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng như: đường xá, sân bay, cầucảng, nâng cấp xây dựng các đô thị mới không thể đem lại hiệu quả trong chốc látnhưng sẽ mang lại ích lợi to lớn về sau Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tàichính trung dài hạn, đối với chính phủ sẽ giúp theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ

mô từ đó có thể hướng được đầu tư tư nhân vào các ngành mà họ đang khuyếnkhích phát triển, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn Với cáccông trình lớn do Chính phủ thực hiện sẽ tạo nhiều việc làm mới, hình thành nhiềucông ty đứng ra phục vụ các nhu cầu còn bỏ ngỏ Những công trình phúc lợi đượctài trợ bằng nguồn vốn trung dài hạn không đem lại lợi ích cho cá nhân thực hiệnnhưng lại tạo ra lợi ích vô cùng to lớn cho toàn bộ nền kinh tế Như vậy có thể nóitín dụng trung dài hạn đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện cácchương trình kinh tế xã hội của một quốc gia, đảm bảo cho nền kinh tế phát triểnvững chắc theo chiều sâu

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của Chính phủ:Quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới về công nghệ tạo ra nền tảng cho sựphát triển nhanh và bền vững, hiệu quả cao cho toàn bộ nền kinh tế Thông qua hoạtđộng tín dụng trung dài hạn, ngân hàng có thể cho vay đáp ứng nhu cầu phát triểncủa ngành kinh tế này cũng như hạn chế với ngành kinh tế khác Như vậy qua chínhsách tín dụng trong từng thời kỳ mà các NHTM có thể tham gia vào quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu: Nhờ có tín dụng trung dài hạn

mà các doanh nghiệp có thể ứng dụng các công nghệ mới từ đó nâng cao được nănglực sản xuất và chất lượng sản phẩm, được thị trường quốc tế chấp nhận Thị trườngcủa doanh nghiệp được mở rộng ra quốc tế góp phần tăng kim ngạch xuất nhậpkhẩu quốc gia

- Tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn: tín dụng trung dài hạn tài trợ cho một dự

án mới để đầu tư vào các máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của doanh nghiệp sẽ

Trang 14

kích thích sản xuất phát triển Khi đó nhu cầu vốn lưu động sẽ tăng lên đáp ứng nhucầu sản xuất Tốc độ phát triển sản xuất càng lớn thì nhu cầu vốn ngắn hạn càng cao.

- Đảm bảo nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thuchủ yếu của ngân sách nhà nước Khối lượng sản phẩm lớn được sản xuất và tiêuthụ sẽ tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách từ các loại thuế như VAT, thuế tiêuthụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu Trong trường hợp hàng hoá được xuất khẩu thìchúng ta sẽ thu được một nguồn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu nhập khẩu

Ngoài ra, tín dụng trung dài hạn còn mang ý nghĩa to lớn đối với các cá nhân trong

xã hội và trong toàn bộ nền kinh tế Sản xuất phát triển, các doanh nghiệp có vốn để mởrộng sản xuất, tích lũy trong xã hội tăng lên, nền kinh tế biến đổi về chất, phúc lợi xã hộiđược đảm bảo, việc làm tạo ra ngày càng nhiều, tỷ lệ thất nghiệp giảm đi đôi với chấtlượng cuộc sống ngày một tăng lên của các tầng lớp dân cư trong xã hội

1.2. Chất lượng tín dụng trung dài hạn của NHTM

1.2.1 Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn

1.2.1.1 Nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn là đòi hỏi bức thiết đối

với sự phát triển kinh tế

Trước hết, ta hiểu chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàngphù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngânhàng Chất lượng tín dụng trung dài hạn chính là vốn cho vay trung dài hạn củangân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh dv … để tạo ramột số tiền lớn hơn thông qua đó ngân hàng sẽ thu được cả gốc và lãi đúng thờihạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận Như vậy, qua một quá trình chu chuyểnvốn, ngân hàng sẽ thu hồi vốn và lãi còn khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả Xét

về tổng thể ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế vừa tạo ra được cả hiệu quả

xã hội

Sinh ra từ nền sản xuất hàng hoá, tín dụng đã có những đóng góp đáng kể trongviệc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, đẩy mạnh tiến trình phát triển của nềnkinh tế cũng như sự phát triển của XH Lịch sử đã chứng minh điều đó thông qua sự rađời và phát triển của xã hội loài người qua các hình thái kinh tế -xã hội

Ngày nay cùng với sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá, tín dụngcũng ngày càng được mở rộng nhằm cung cấp thêm các phương tiện giao dịch đểđáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng tăng trong xã hội Trong điều kiện đó, chấtlượng tín dụng ngày càng được quan tâm bởi:

+ Đảm bảo chất lượng tín dụng điều kiện để ngân hàng làm tốt vai trò trung

Trang 15

tâm thanh toán: khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tíndụng, với một khối lượng tiền như cũ, có thể thực hiện số lần giao dịch lớn, tạo điềukiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua của đồng tiền.

+ Chất lượng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăngtrưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia Xuất phát từ chức năng tập trung phân phối lạivốn trong nền kinh tế, tín dụng trung dài hạn đã thu hút những nguồn vốn dư thừa,tạm thời nhàn rỗi để đưa vào hoạt động sx kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn chodoanh nghiệp từ đó phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế Mặt khác tín dụng trungdài hạn là một trong những cách để đưa tiền vào lưu thông làm cho khối lượng tiền

tệ trong nền kinh tế phù hợp với khối lượng hàng hoá Xuất phát từ chức năng tạotiền của các NHTM, thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện thanh toán khôngdùng tiền mặt, các ngân hàng có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với số tiềnthực có hay vì lý do nào đó, các chủ tài khoản có khả năng phát hành séc và thanhtoán bằng các phương tiện khác cho phép khách hàng vượt quá số tiền gửi thực tếcủa họ nhưng khi đi vào lưu thông chúng đều có quyền thanh toán, chi trả như cácphương tiện khác và thường được chuyển thành tiền mặt Như vậy nghiệp vụ tíndụng của ngân hàng thương mại có quan hệ chặt chẽ với khối lượng tiền mặt tronglưu thông và là nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát Đảm bảo chất lượng tín dụngtạo khả năng giảm bớt lượng tiền thừa trong lưu thông, góp phần hạn chế lạm phát,ổn định tiền tệ, tăng uy tín quốc gia bằng việc phát huy tác dụng của các sản phẩm,

dv trong tương lai của các công trình đầu tư

+ Tín dụng là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng Nhà nước về phát triểnkinh tế - xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực Mặt khác, thông qua sự phân tích đánhgiá khả năng phát triển của đối tượng định đầu tư có những quyết định đầu tư đúng đắnnhằm khai thác khả năng tiềm tàng về tài nguyên, lao động, tiền vốn,… từ đó tăngcường năng lực sản xuất, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyếtcông ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Chất lượng tín dụng trung dài hạnđược nâng cao góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đốigiữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn định và phát triển kinh tế

+ Chất lượng tín dụng trung dài hạn góp phần làm lành mạnh quan hệ tíndụng: hoạt động tín dụng được mở rộng với các thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưngvẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối tượng cầnthiết, giảm thiểu và đi đến xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi chủ yếu hiện nay vẫn đangdiễn ra ở nông thôn và các vùng xa xôi hẻo lánh

Trang 16

Tín dụng nói chung và tín dụng trung dài hạn nói riêng có mối quan hệ mậtthiết với nền kinh tế - xã hội, thiết lập một mối cơ chế chính sách đồng bộ, hiệu quả

sẽ có tác động tích cực với mọi mặt của nền kinh tế - xã hội, điều đó cũng có thểhiện chất lượng hoạt động tín dụng trong nền kt thị trường

1.2.1.2 Nâng cao chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát triển của

các NHTM

Chất lượng tín dụng trung dài hạn tốt tăng khả năng cung cấp dịch vụ của cácNHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng và thu hútđược nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dv tạo ra một hình ảnh vềbiểu tượng và uy tín của ngân hàng và sự trung thành khách hàng

Chất lượng tín dụng trung dài hạn tốt làm tăng khả năng sinh lợi của sảnphẩm, dịch vụ ngân hàng vì giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phíquản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn đã cho vay Mặt khác cònđảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngânhàng trong cạnh tranh, tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngân hàng Chấtlượng tín dụng tốt tạo cho ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành và nhữngkhoản lợi nhuận để bổ xung vốn đầu tư Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng tốt giúpngân hàng củng cố mối quan hệ xã hội bằng những điều kiện tốt nhất

Có thể nói, với những ưu thế trên đây, việc củng cố và tăng cường chất lượngtín dụng trung dài hạn của các NHTM là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại vàphát triển lâu dài của ngân hàng Vì vậy, chất lượng tín dụng luôn luôn đòi hỏi phảiđược nâng cao…

1.2.2 Chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung dài hạn

Để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn, đứng trên giác độ là một ngânhàng chúng ta phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định tính và mặt định lượng

1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính

Về mặt định tính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một số khía cạnh sau

- Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầucủa khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời,

an toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh củakhách hàng

- Mức độ phân bố các khoản tín dụng giữa các khách hàng thuộc các nhómkhác nhau Các khoản tín dụng phân bố hợp lí, phù hợp với cơ cấu của Ngân hàng,với tình hình thực tế tại địa phương

Trang 17

- Ngoài ra thì chất lượng tín dụng tốt còn được thể hiện bằng sự tuân thủ cácquy định và chính sách tín dụng của NHNN và của chính Ngân hàng Thực hiện đầy

đủ nghiêm túc theo quy trình tín dụng, theo quy định và chính sách của Hội sở cũng

là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Chi nhánh

1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng

a Mục tiêu an toàn

- Chỉ tiêu về nợ rủi ro (nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5)

Chỉ tiêu nợ rủi ro =

Nợ rủi ro của TD T-DHTổng dư nợ TD T-DH

Nợ rủi ro là nợ có dấu hiệu rủi ro mà ngân hàng đánh giá là khách hàng

có dấu hiệu khó khăn về khả năng trả nợ (Nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5) Nợ rủi rokhông nhất thiết là nợ quá hạn vì có những khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổchức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và cảphần gốc và lãi đúng thời hạn còn lại vẫn có thể cho vào Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêuchuẩn) Ngược lại, có những khoản nợ đã được cơ cấu lại thời gian trả nợ, khôngphải là nợ quá hạn nữa hoặc những khoản Nợ đủ tiêu chuẩn của khách hàng có ítnhất một món vay bị xếp vào nhóm nợ rủi ro thì tổ chức tín dụng cũng phải phầnloại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất trongcác món nợ của khách hàng đó Tỉ lệ này càng thấp thì thể hiện chất lượng tíndụng của ngân hàng càng tốt

- Chỉ tiêu về nợ xấu (nợ có rủi ro từ nhóm 3 đến nhóm 5)

Chỉ tiêu nợ xấu =

Nợ xấu của TD T-DHTổng dư nợ TD T-DH

Nợ xấu là nợ có rủi ro từ nhóm 3 đến nhóm 5, bao gồm cả các khoản nợ quáhạn lâu (trên 90 ngày) và nợ có biểu hiện rủi ro (như nợ được cơ cấu lại thời hạn trảnợ) Nợ xấu và Nợ rủi ro là chỉ tiêu phù hợp để phản ánh rủi ro tín dụng (hay độ antoàn của danh mục tín dụng) chứ không phải chỉ tiêu Nợ quá hạn Thông thườngngân hàng mong muốn tỉ lệ này là thấp nhất có thể

- Chỉ tiêu về nợ có bảo đảm

Chỉ tiêu nợ có bảo đảm

=

Nợ có bảo đảm TD T-DHTổng dư nợ TD T-DH

Trang 18

khách hàng hoặc được bảo lãnh bởi bên thứ ba Một khoản nợ có bảo đảm sẽ có độrủi ro thấp hơn, vì vậy đối với Ngân hàng, chỉ tiêu về nợ có bảo đảm càng cao sẽcàng tốt.

- Chỉ tiêu về mức độ được bù đắp tổn thất của tín dụng: ta có thể sử dụng một

trong hai chỉ số sau đây:

nợ của ngân hàng, trong khi chỉ số thứ hai thể hiện mức độ được bù đắp tổn thất củacác khoản Nợ rủi ro Cả hai chỉ số này đều phù hợp để phản ánh độ an toàn của tíndụng Nếu chỉ số trên là thấp, nó thể hiện khi khoản nợ có vấn đề, không thể thu hồiđược thì khoản tổn thất mà ngân hàng có thể được bù đắp là ít Ngược lại nếu chỉ sốnày cao tức là ngân hàng sẽ bị tổn thất ít hơn Vì vậy ngân hàng mong muốn chỉ sốtrên càng cao càng tốt

- Chỉ tiêu về món nợ phải cơ cấu lại thời gian trả nợ

ro, vì vậy thông thường ngân hàng vẫn mong muốn tỉ lệ này là thấp

- Chỉ tiêu về món nợ không trả nợ đúng hạn

Tỉ lệ này =

Số món nợ không trả nợ đúng hạnTổng số món nợ trong 1 thời kì (năm)Đến kỳ hạn trả nợ và lãi tiền vay, nếu bên đi vay không đủ tiền để trả vàkhông được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ quá hạn Nợ quáhạn là điều mà ngân hàng không mong muốn nhưng nó cũng không phải là thước đochuẩn nhất đánh giá chất lượng tín dụng của món vay Chỉ tiêu này cho ta biết trong

Trang 19

một năm thì số món nợ mà ngân hàng không thu được đúng hạn là cao là thấp Trênthực tế thì ngân hàng mong muốn tỉ lệ này càng thấp càng tốt.

- Chỉ tiêu về số ngày khách hàng phải chờ trước khi nhận được quyết định tín dụng của ngân hàng: số ngày khách hàng phải chờ càng thấp càng thể hiện chất

lượng tín dụng của ngân hàng càng tốt

b Mục tiêu sinh lợi

- Chỉ tiêu về thu nhập

Chỉ tiêu về thu nhập =

Thu lãi từ hoạt động TD T-DHTổng dư nợ TD T-DHPhản ánh tình hình thu lãi từ hoạt động tín dụng Nó cho biết một đồng dư nợ tíndụng trung dài hạn mạng lại bao nhiêu đồng lãi Thật ra chỉ tiêu này không phải là mộtchỉ tiêu hoàn hảo để phản ánh chất lượng tín dụng, vì muốn phản ánh thực chất thì thuphải đi kèm với chi, tức là nếu thu lãi cao nhưng chi phí bỏ ra cũng cao thì phần lợinhuận mà ngân hàng thực sự nhận được không chắc đã cao, hơn nữa chỉ tiêu này phảnánh phần lãi mà ngân hàng sẽ thu từ hoạt động tín dụng, không phải là lãi thực thu.Nhưng thông thường đối với ngân hàng thì tỉ lệ này vẫn càng cao càng tốt

- Chỉ tiêu về lãi thực thu

Chỉ tiêu về lãi thực thu =

Lãi từ hoạt động TD T-DH thực thuLãi dự thu từ hoạt động TD T-DHChỉ tiêu này dựa trên phần lãi từ hoạt động tín dụng mà ngân hàng thực thu

Nó cho biết ngân hàng thực sự thu được bao nhiêu lãi trên phần lãi mà ngân hàng đã

dự thu Tỉ lệ này càng cao càng chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càngtốt, vì vậy ngân hàng luôn mong muốn tỉ lệ này cao nhất có thể, tức là có thể thuđược toàn bộ số lãi dự thu

- Chỉ tiêu về lãi treo

Chỉ tiêu về lãi treo =

Lãi treo hoạt động TD T-DHLãi dự thu hoạt động TD T-DHLãi treo là lãi quá hạn mà ngân hàng chưa thu được Khi khách hàng khôngtrả được nợ lãi đúng hạn tức là khách hàng đang có vấn đề về khả năng thanh toán

nợ, kể cả nợ gốc Một ngân hàng có tỉ lệ lãi treo trên lãi dự thu cao thì không thể nóingân hàng đó có chất lượng tín dụng tốt Vì vậy Ngân hàng mong muốn tỉ lệ nàycàng thấp càng tốt

- Chỉ tiêu về lợi nhuận

Thu lãi từ hoạt động TD T-DH – Chi phí hoạt động TD T-DH

Trang 20

Chỉ tiêu về lợi nhuận = Tổng dư nợ TD T-DH

Thông qua chỉ tiêu này, ta sẽ thấy được khả năng sinh lời của tín dụng trungdài hạn Bất kỳ một khoản tín dụng nào cho dù đó là khoản ngắn hạn hay trung dàihạn không thể xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận thực tếcho ngân hàng Mặc dù với một số ngân hàng, nhất là các ngân hàng quốc doanh,lợi nhuận nhiều khi không phải là điều quan trọng nhất mà ngân hàng hướng tớinhưng nói chung vì sự tồn tại và phát triển của bản thân ngân hàng mà ngân hàngkhông thể cho vay các món vay có lợi nhuận bằng không hoặc nhỏ hơn không.Thông thường thì chỉ tiêu này càng cao càng tốt

Tóm lại, các chỉ tiêu đánh giá, xem xét chất lượng tín dụng phải luôn được phântích thường xuyên ở cả hai mặt định tính và định lượng, cả về lợi nhuận thuần tuý vàlợi ích xã hội, cả trên quan điểm ngân hàng và khách hàng Thực hiện được điều này sẽgiúp cho bản thân các ngân hàng cũng như khách hàng đánh giá được chất lượng tíndụng một cách chính xác đầy đủ nhất Qua đó có thể giải quyết được những hạn chế,vướng mắc cũng như phát huy được những ưu điểm để nâng cao chất lượng tín dụngtrung dài hạn, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn 1.2.3.1 Các nhân tố khách quan

a Môi trường pháp lí

Các nhân tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ của hệ thống PL Tính đẩy đủ vàthống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hànhpháp luật và trình độ dân trí

Môi trường pháp lý tạo hành lang kinh doanh tín dụng Ngân hàng, Ngânhàng hoạt động trong hành lang hẹp được kiểm soát chặt chẽ bởi Nhà nước vì đây

là lĩnh vực quan trọng nhạy cảm cần phải kiểm soát hậu quả của nó, tuy vậy khôngphải là không cần còn nhiều bất cập Hiện nay, điều kiện cho vay đặc biệt đối vớicác doanh nghiệp ngoài quốc doanh gần như bắt buộc phải thế chấp tài sản trongkhi đó chúng ta chưa có Luật về sở hữu nên không có cơ quan nào chịu trách nhiệmcấp chứng thư sở hữu tài sản và quản lý quá trình chuyển dịch sở hữu tài sản Vì thếnhiều trường hợp Ngân hàng khó có thể xác định chính xác chủ sở hữu của tài sản

đó, hoặc phải lấy chứng nhận của cơ quan nào về nguồn gốc tài sản thế chấp, cầm

cố hoặc nguồn gốc số tiền trả nợ là hợp pháp hay không Mặt khác, pháp luật chophép các doanh nghiệp thế chấp giá trị quyền sử dụng đất nhưng lại phải có điềukiện gắn với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho nên quy định này khó có thể

Trang 21

được áp dụng đối với các doanh nghiệp Nhà nước.

Các qui định của pháp luật và yêu cầu giải quyết các tranh chấp tố tụng vềhợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự phát mại tài sản, bán đấu giá còn chưa rõ ràng,

cụ thể Có văn bản thì qui định cho ngân hàng có quyền phát mại tài sản trên đất để

thu hồi vốn và lãi, có văn bản qui định ngân hàng có quyền yêu cầu bán đấu giá tàisản thế chấp (cả quyền sử dụng đất - Điều 359 BLDS) Nhưng đến nghị định86/Chính phủ thì ngân hàng không lại có quyền phát mại, bán đấu giá tài sản cầm

cố, thế chấp Việc bán đấu giá quyền sử dụng đất lại phải có sự chấp nhận củaUBND cấp có thẩm quyền cho phép Thời gian khởi kiện vụ án kinh tế lại quá dài,

tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự thì rườm rà, phức tạp Quy định về vôhiệu hợp đồng quá rộng, các biện pháp cưỡng chế dân sự để thu hồi tài sản trả chongân hàng còn chưa đầy đủ và tính khả thi trong thực tế còn chưa cao Thực chất làcác ngân hàng còn ngại khởi kiện để tranh tụng về kinh tế và dân sự Đặc biệt làpháp luật chưa quy định rõ cụ thể trách nhiệm của người trực tiếp cầm tiền, người

sử dụng tiền vay để ngăn chặn hành vi lừa đảo, lẫn lộn giữa trách nhiệm của ngườivay với trách nhiệm của cán bộ ngân hàng, đồng thời rất khó phân biệt giữa kinh tếvới dân sự, hình sự, lẫn lộn trách nhiệm hành chính, hình sự

Việc quản lý của Nhà nước, quản lý kinh doanh của NHNN đối với ngân hàngcấp dưới, các ngân hàng cổ phần chưa chặt chẽ, đầy đủ đúng với chức năng là ngân

hàng của các ngân hàng NHNN chủ yếu mới chỉ quản lý điều hành bằng mệnh

lệnh, văn bản vừa cứng nhắc lại không cụ thể và không nắm được tình hình và hỗtrợ cho ngân hàng cấp dưới

b Môi trường kinh tế

Môi trường kinh doanh chưa ổn định Các chính sách và cơ chế quản lý kinh

tế vĩ mô của Nhà nước ta đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện, đòi hỏi phảithật năng động, nhiều doanh nghiệp chưa kịp điều chỉnh kế hoạch kinh doanh với sựthay đổi của chính sách kinh tế vĩ mô hoặc có trường hợp ngộ nhận nhu cầu thịtrường dẫn đến phát triển tràn lan quá mức Ví dụ các trường họp phát triển ximăng, mía đường, gốm sứ xây dựng, gạch cao cấp vẫn còn đang rất nóng hổi Vìthế có nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ do không theo kịp với quá trình thay đổi chínhsách quản lý kinh tế mà hậu quả ngân hàng cho vay phải gánh chịu Sự biến động vềchính trị, thay đổi về chính quyền cũng tác động tới niềm tin của dân chúng, của cácnhà đầu tư qua đó ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng

Nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng kinh

Trang 22

tế Một nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng ổn định, môi trường kinh doanhthuận lợi, nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đẩu

tư mở rộng sản xuất do đó nhu cầu tín dụng ngân hàng trong giai đoạn này là rất cao.Ngân hàng cũng dễ dàng cho vay vì khả năng gặp rủi ro mất vốn rất thấp Trái lạitrong giai đoạn kinh tế trì trệ, giảm phát, thất nghiệp cao, đầu tư không mang lại hiệuquả, dễ thất bại, kể cả nếu có thành công thì chưa chắc thu nhập đó đã cao bằng tiềngửi ngân hàng cùng kỳ hạn Thay vì đầu tư vào sản xuất, các doanh nghiệp đem sốtiền đó gửi vào ngân hàng hưởng lãi Ngân hàng không cho vay được cũng không thểkhông nhận tiền gửi của khách hàng, hoạt động của ngân hàng bi ngưng trệ, vốn củangân hàng nằm trong tình trạng đóng băng không cho vay được Không chỉ tình hìnhkinh tế trong nước mà tình hình kinh tế thế giới cũng có ảnh hưởng tới chất lượngcông tác tín dụng ngân hàng Khi thị trường thế giới biến động mạnh, đặc biệt ở cácthị trường xuất nhập khẩu truyền thống làm cho hoạt động xuất nhập khẩu giảm sút,các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu không bán được hàng, thua lỗ, ảnhhưởng tới công tác trả nợ ngân hàng

c Môi trường chính trị xã hội

Môi trường chính trị - xã hội ổn định giúp cho các doanh nghiệp mạnh dạnđầu tư lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu môi trường chínhtrị - xã hội mà bất ổn thì các doanh nghiệp không dám mạnh dạn đầu tư mà chỉ duytrì ở mức tái sản xuất giản đơn để bảo đảm an toàn vốn Điều này ảnh hưởng tớiquy mô các khoản tín dụng trung dài hạn của ngân hàng, các món vay chủ yếu sẽ làngắn hạn còn khoản tín dụng trung dài hạn không có hoặc rất nhỏ vì sự không ổnđịnh về chính trị - xã hội dẫn đến việc kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều rủi

ro, bất trắc hơn nên nó sẽ ảnh hưởng tới công tác thu nợ của ngân hàng

Tuy nhiên, không chỉ có tình hình chính trị xã hội mà tình hình chính trị - xãhội ở nước ngoài cũng có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung dài hạn bởi vìhiện nay các quan hệ kinh tế - xã hội ngày càng được mở rộng cho nên các loại hìnhdoanh nghiệp đa quốc gia cũng ngày càng tăng cả về số lượng và về quy mô hoạtđộng Vì vậy, mọi biến động về kinh tế - xã hội ở nước ngoài đều có ảnh hưởng tớitình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và ảnh hưởng tới chất lượng tín dụngtrung dài hạn

d Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng củangân hàng nói chung đặc biệt là tín dụng trung dài hạn nói riêng bởi vì thiên tai là

Trang 23

một yếu tố bất khả kháng, chúng ta không thể dự đoán một cách chắc chắn khi nàonhững thiên tai như bão lũ lụt, hạn hán, hoả hoạn, dịch bệnh…sẽ xảy ra và mức độảnh hưởng, thiệt hại của chúng là như thế nào Thông thường khi thiên tai xảy ra, nóthường gây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, gây ra biến động xấungoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các khách hàng củamình làm cho vốn của ngân hàng đầu tư vào các doanh nghiệp ít nhiều bị ảnh hưởng

và dẫn tới rủi ro làm giảm chất lượng tín dụng

1.2.3.2 Các nhân tố từ phía khách hàng

Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng bị hạn chế là một

nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Hồ sơ xin vay ban đầu của khách hàng có hiệuquả và có tính khả thi cao nhưng trong quá trình thực hiện do trình độ quản lý cònthấp nên năng suất, chất lượng, hiệu quả không đạt được như kế hoạch Khi thịtrường biến động lại không có biện pháp xử lý kịp thời nên không thể ứng phóđược, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ khó dẫn đến không trả được nợ đúng hạn chongân hàng

Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, không đúng với phương án kinh doanh đã đề ra Nhiều khách hàng dùng tiền vay được đầu tư những kế hoạch sản

xuất có rủi ro cao nhằm tìm kiếm nhiều lợi nhuận, sử dụng vốn của ngân hàng đểvui chơi, dùng vốn ngân hàng đầu tư tài sản cố định, kinh doanh bất động sản nênkhông trả được nợ cho ngân hàng Trong thực tế, hoạt động thẩm định đã xuất hiệnnhiều trường hợp khách hàng lập phương án kinh doanh (thực chất là phương ángiả, thậm chí nhờ tư vấn lập phương án kinh doanh chỉ để rút được tiền của ngânhàng) có vẻ rất hiệu quả, ký kết hợp đồng kinh tế chứng minh đầu vào, đầu ra rấtkhả thi, tài sản thế chấp cụ thể nhưng đến khi vay được vốn ngân hàng lại khôngkinh doanh lại cho vay lại hoặc bỏ trốn để chiếm số tiền vay, vật tư hàng hóa thếchấp là hàng chậm luân chuyển, ứ đọng hoặc bất động sản rất khó chuyển thành tiền

để thu nợ

Các doanh nghiệp chiếm dụng vốn lẫn nhau Tín dụng thương mại ngày càng

giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế Để cạnh tranh, thu hút khách hàng,tiêu thụ được sản phẩm doanh nghiệp thường chấp nhận cho khách hàng thanh toánchậm Tuy nhiên do nước ta chưa có luật về thương phiếu, việc giải quyết tranhchấp có nhiều khúc mắc nên nhiều doanh nghiệp đã sử dụng tín dụng thương mạinhư một phương tiện để chiếm dụng vốn lẫn nhau vì đây là lượng vốn không phảitrả hoặc chỉ phải trả chi phí rất thấp so với lãi suất đi vay cùng loại và các hình thức

Trang 24

hoạt động khác Thậm chí một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ có hành vi lừa đảo,

cố tình chiếm dụng vốn của người khác Chính điều này ảnh hưởng đến hoạt độngkinh doanh của khách hàng, đến các nguồn thu của khách hàng dành trả nợ qua đóảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng

Nhiều doanh nghiệp Nhà nước không theo kịp với sự đổi mới, thường có thói

quen dựa dẫm, trông chờ vào Nhà nước, vốn tự có của họ rất ít nhưng lại được giaonhững nhiệm vụ kinh doanh sản xuất lớn Hơn nữa, họ quen với kiểu làm ăn baocấp cho nên khi chuyển sang cơ chế thị trường tự hạch toán kinh doanh, họ vay vốnngân hàng để kinh doanh nhưng khi thua lỗ vẫn trông chờ vào sự giúp đỡ của Nhànước như trước đây Điều này ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạncủa ngân hàng thương mại vì tín dụng trung và dài hạn cấp cho các doanh nghiệpNhà nước đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cho vay của ngân hàng

Khách hàng thiếu các điều kiện cần và đủ để thực hiện các nguyên tắc và quy định cho vay, thế chấp ngân hàng Hiện nay hầu như các tài sản của các pháp nhân

và cá nhân khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và cả tài sản của doanh nghiệp Nhànước không có giấy chứng nhận sở hữu tài sản cố định phần lớn là nhà xưởng, máymóc, thiết bị lạc hậu không đủ các tiêu chuẩn để thế chấp Trong khi đó, yêu cầuvay vốn của khách hàng gấp 20 đến 50 lần, có doanh nghiệp lên đến hàng trăm lần,như vậy thì nếu cho vay theo đúng chế độ thì hầu hết các doanh nghiệp không đủđiều kiện để cho vay hoặc được vay không đáng kể Vì vậy chúng ta cần phải xemxét cả hai mặt cơ chế, chính sách và tồn tại thực tế khách quan để có các giải phápthích hợp hơn

1.2.3.3 Các nhân tố từ phía ngân hàng

a Chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư

Ngân hàng thẩm định dự án nhằm rút ra những kết luận chính xác về tính khảthi, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của dự án để ra quyết định chovay hay từ chối cho vay Mặt khác, thẩm định dự án là cơ sở để ngân hàng xác định

số tiền cho vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý, tạo điều kiện cho dự án hoạtđộng có hiệu quả tối ưu Qua việc thẩm định dự án, cán bộ tín dụng xác định cơ cấuvốn đầu tư của dự án, xác định tỷ trọng của vốn đầu tư từ đó đánh giá mức độ tựchủ về vốn của doanh nghiệp trong phương án đầu tư, vốn bổ sung là bao nhiêu, từnhững nguồn nào Ngân hàng rất chú ý đến cơ cấu vốn của dự án đầu tư vì nó là cơ

sở để ngân hàng hạch toán thu hồi vốn và lãi, để ngân hàng lựa chọn phương án vềthời gian và phương thức thu hồi vốn, lãi phù hợp với hoạt động của dự án

Trang 25

Do đó, công tác thẩm định dự án nếu được thực hiện một cách nghiêm túc, chặtchẽ, cẩn thận với chất lượng cao sẽ mang lại các quyết định chính xác, hạn chế đượcrủi ro đảm bảo khả năng thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận cho ngân hàng Trái lại, nếuchỉ thẩm định một cách qua loa, hình thức, thiếu cẩn thận sẽ dẫn đến sự "lựa chọn đốinghịch", cho vay những dự án khả năng hoàn vốn thấp bởi vì những cá nhân và doanhnghiệp với những dự án đầu tư rủi ro cao nhất là những người sẵn sàng vay nhất kể cảvới lãi suất cao Họ sẽ trở nên giàu có nhanh chóng nếu thực hiện thành công một cuộcđầu tư rủi ro cao nhưng đối với ngân hàng khả năng dự án không thành công là rất cao

và ngân hàng sẽ không được thanh toán Các sai lầm ảnh hưởng đến chất lượng thẩmđịnh dự án đầu tư mà ngân hàng thường gặp phải là:

Ngân hàng đánh giá sai về năng lực pháp lý của chủ đầu tư, về tư cách pháp nhân, về giấy phép thành lập, lĩnh vực và ngành nghề được phép kinh doanh, uy tín của chủ đầu tư cũng như năng lực tài chính của họ Trên thực tế, một số kẻ lừa đảo

thành lập "công ty ma" để rút vốn ngân hàng sử dụng vào các mục đích kinh doanhbất hợp pháp và khi đổ bể ngân hàng khó có thể thu hồi được vốn của mình

Sai lầm thứ hai có thể ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động thẩm định dự án đầu tư là phân tích đánh giá sai về thị trường Phần lớn các dự án cấp thẩm định

tín dụng trung và dài hạn là các kế hoạch của doanh nghiệp cung cấp trong tươnglai Thị phần sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp trong tương lai tất nhiên sẽ khácrất nhiều với thị phần trong giai đoạn hiện nay Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.Đánh giá, dự đoán không chính xác về thị trường tương lai có thể dẫn đến sau khiđầu tư, sản phẩm sản xuất ra khó tiêu thụ, doanh nghiệp hoạt động không có lãi,không thu hồi được vốn do đó không trả nợ được cho ngân hàng

Một sai lầm nữa là đánh giá sai về phương diện kỹ thuật và phương diện tài chính của dự án Máy móc, trang thiết bị mà doanh nghiệp đầu tư quá hiện đại,

doanh nghiệp chưa có khả năng sử dụng, sửa chữa, không phù hợp với cơ sở vậtchất, trang thiết bị hiện có hay quá lạc hậu, sử dụng không hiệu quả Năng suất dựkiến đặt quá cao không thể thực hiện được, phân bổ chi phí, xác định giá thành sảnphẩm không hợp lý, sự sẵn có hay khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào của sảnphẩm tất cả sẽ tác động tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thẩmđịnh dự án đầu tư về khía cạnh kỹ thuật là một điểm hạn chế vượt quá khả năng củacán bộ tín dụng do đó đây cũng là một khâu rất dễ dẫn đến sai lầm

Định giá tài sản cầm cố chênh lệch so với giá trị thực tế của nó Giá trị của tài

sản thế chấp, cầm cố là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền cho vay, là vật đảm bảo

Trang 26

ngân hàng thu hồi vốn đầu tư khi khách hàng mất khả năng trả nợ Định giá tài sảnthế chấp quá cao sẽ dẫn tới quyết định cho vay quá nhiều không phù hợp với khảnăng trả nợ của khách hàng Ngược lại, định giá tài sản quá thấp thì khách hàngkhông vay được đủ lượng vốn cần thiết cho đầu tư, họ phải đi vay thêm ở ngoài haydùng vào việc khác dẫn đến việc sử dụng vốn không đúng với mục đích xin vay.Cung cấp thừa hoặc thiếu vốn cho khách hàng đều ảnh hưởng tới chất lượng tíndụng Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng cũng không thực sự có nhiều kinh nghiệm,chuyên môn trong việc định giá tài sản nên rất dễ sai sót nhất là khi giá trị tài sản lạiphụ thuộc vào rất nhiều yếu tố không định lượng được như tiến bộ của khoa học kỹthuật, ý thức bảo quản giữ gìn của công nhân, giá trị tài sản, cách thức khấu haomáy

b Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng của một ngân hàng là kim chỉ nan cho hoạt động tín dụngcủa ngân hàng đó Bên cạnh việc phải phù hợp với đường lối phát triển của nhànước thì chính sách tín dụng còn phải đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của ngườigửi tiền, người đi vay và quyền lợi của chính bản thân ngân hàng Chính sách tíndụng phải tạo ra sự công bằng, không những phải đảm bảo an toàn cho hoạt độngcủa ngân hàng mà còn phải đảm bảo đủ sức hấp dẫn đối với khách hàng Một chínhsách tín dụng đồng bộ, thống nhất và đầy đủ, đúng đắn sẽ xác định phương hướngđúng đắn cho cán bộ tín dụng Ngược lại, một chính sách tín dụng không đầy đủ,đúng đắn và thống nhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫnđến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng tạo kẽ hở cho người sử dụng vốnkhông đem lại hiệu quả kinh tế, dẫn đến rủi ro tín dụng

Ví dụ về chính sách lãi suất, khi lãi suất cho vay quá cao thì khách hàng sẽkhông đến vay ngân hàng, ngân hàng sẽ bị ứ đọng vốn gây một hiệu quả tồi tệ đếnhoạt động của ngân hàng Ngược lại, nếu lãi suất cho vay quá thấp thì sẽ có rấtnhiều khách hàng đến vay và lúc này ngân hàng khó có khả năng đáp ứng hết khảnăng về vốn trung - dài hạn cho khách hàng vì hiện nay tỷ trọng khoản tiền gửitrung - dài hạn so với tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng là không lớn Mặtkhác, lãi suất cho vay thấp dẫn tới việc ngân hàng không bù đắp được việc phải trảlãi tiền gửi…

c Công tác tổ chức của ngân hàng

Công tác tổ chức không chỉ tác động tới chất lượng tín dụng mà còn tác độngtới mọi hoạt động của ngân hàng Nếu công tác tổ chức không khoa học sẽ làm ảnh

Trang 27

hưởng tới thời gian ra quyết định đối với món vay, không đáp ứng kịp thời các yêucầu của khách hàng, không theo dõi sát sao được công việc.

Sự phân công công việc nếu không hợp lý, khoa học sẽ dẫn đến sự không rõràng, chồng chéo khiến cho các cán bộ tín dụng ỷ lại, thiếu trách nhiệm đối vớicông việc của mình Công tác tổ chức ở đây cũng đề cập tới vấn đề giao việc đúngngười, đúng việc Mỗi một cán bộ cần được giao cho công việc phù hợp để có thểphát huy hết khả năng và giữa các bộ phận cần có sự phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ

để công việc tiến hành nhanh chóng, chính xác Nếu được tổ chức tốt, các công việcđối với một món vay sẽ được thực hiện tuần tự, chặt chẽ, vừa đảm bảo về mặt thờigian vừa không có sự sơ hở nên sẽ làm cho chất lượng của món vay được nâng cao

d Đội ngũ cán bộ tín dụng

Khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức của cán bộ tín dụng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng trung dài hạn nói riêng Cán bộ tín dụng mà không có đạo đức nghề nghiệp, coi tiền ngân

hàng như thứ "tiền chùa", coi việc cho vay như là một sự ban phát, làm việc thiếutinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái, thậm chí tham nhũng, nhận phong bao, quà cáp

để rồi cho vay trái pháp luật: cho vay không cần thế chấp, nhận thế chấp không cầnkiểm soát để rồi đến khi vụ việc đổ bể thì để lại cho ngân hàng cả một khoản nợkhông thu hồi được ảnh hưởng đến uy tín chất lượng hoạt động của ngân hàng

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng quyết định đến sự thành công của côngtác tín dụng Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, kinhnghiệm đánh giá chính xác tính khả thi của dự án, xác định được tính chân thực củacác báo cáo tài chính, phát hiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng như: sửachữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ thế chấp giả, dùng một tài sản thế chấp để đi vay ởnhiều nơi từ đó phân tích được khả năng quản lý doanh nghiệp và năng lực thực

sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay không

Ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trường kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, của thị trường dự đoán trước được những biến động có thể xảy ra từ đó tư vấn

cho khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp Nghiệp vụ hoạtđộng ngân hàng càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để sửdụng các phương tiện, phương pháp làm việc hiện đại thích ứng với sự phát triểnkhông ngừng của xã hội Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạođức nghề nghiệp và sự hiểu biết rộng chính là cơ sở để nâng cao chất lượng công

Trang 28

tác tín dụng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.

e Thông tin tín dụng

Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng theo nghĩa rộng.Nhờ có thông tin tín dụng, ngân hàng có thêm cơ sở để đánh giá uy tín, năng lựcthực sự của khách hàng Thông tin tín dụng càng nhanh càng chính xác và toàn diệnthì khả năng phòng chống rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng tốt Hiện naypháp lệnh kế toán thống kê chưa đủ hiệu lực bắt buộc các doanh nghiệp thực hiệnchế độ kế toán thống kê kịp thời Do số liệu báo cáo tài chính của doanh nghiệpchưa thực hiện chế độ kiểm toán do vậy không phản ánh chính xác tình trạng tàichính của doanh nghiệp khi xét duyệt cho vay thậm chí họ còn cố tình đưa số liệusai lệch Những món vay trên thiếu cơ sở thiếu thông tin sẽ gặp rủi ro Thông tin tíndụng có thể thu thập được từ rất nhiều nguồn: từ trung tâm thông tin tín dụng củaNgân hàng Nhà nước, từ phòng thông tin tín dụng của các ngân hàng thương mại,qua báo chí, các tổ chức nghề nghiệp Tương lai với sự phát triển của khoa học kỹthuật, với sự lớn mạnh trong hoạt động và sự hợp tác mạnh mẽ giữa các ngân hàngthì việc khai thác và xử lý thông tin sẽ đem lại kết quả tích cực đối với các hoạtđộng tín dụng của ngân hàng

f.Các yếu tố khác

Tình hình huy động vốn cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung vàdài hạn Vốn huy động trung và dài hạn là nguồn chủ yếu để cho vay trung dài hạn.Vốn huy động càng lớn, ngân hàng càng có khả năng cho vay những dự án có quy

mô lớn, mở rộng hoạt động thẩm định Nếu ngân hàng sử dụng những nguồn vốnhuy động ngắn hơn kỳ hạn mà ngân hàng cho vay đối với khách hàng mà không dựkiến được nguồn vốn bù đắp thì rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra Tương tự như vậy,nếu ngân hàng cho vay dài hạn với lãi suất cố định trong khi lãi suất huy độngthường xuyên thay đổi thì tiền thu được từ cho vay có khi không đủ trả lãi tiền gửicho khách hàng

Công tác phát triển tiền vay, kiểm soát sau khi cho vay, theo dõi nợ góp phầnngăn chặn, hạn chế khách hàng sử dụng tiền vay sai mục đích, đảm bảo đồng vốnđược sử dụng đúng kế hoạch đã định

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI

HẠN TẠI CHI NHÁNH VPBANK BẮC NINH

2.1. Giới thiệu về chi nhánh VPBank Bắc Ninh

2.1.1 Tổng quan về VPBank

VPBANK được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0042/NH-GP củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với thờigian hoạt động 99 năm Ngày mùng 4 tháng 9 năm 1993 ngân hàng chính thức đivào hoạt động theo giấy phép số 1535/QĐ-UB

*Tên gọi: Ban đầu ngân hàng có tên là Ngân hàng Thương mại cổ phần các

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, tên quốc tế là Vietnam Joint – stockCommercial Bank for Private Enterprises viết tắt là VPBank Ngày 27/7/2010Thống đốc NHNN chính thức chấp thuận cho VPBank đổi tên thành Ngân hàngViệt Nam Thịnh Vượng

*Trụ sở chính: của VPBank hiện nay là số 8 Lê Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm Hà Nội

* Biểu tượng hình ảnh:

* Phương châm hoạt động: “Hành động vì ước mơ của bạn”

* Các sản phẩm dịch vụ chính của VPBank

- Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng VNĐ, ngoại tệ và vàng

- Sử dụng vốn ( cung cấp tín dụng, hùn vốn, liên doanh) bằng VNĐ và ngoại tệ

- Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiệndịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh qua ngân hàng

- Kinh doanh ngoại tệ

- Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ

750 tỉ đồng Ngày 31/7/2007 vốn điều lệ của ngân hàng đã tăng lên đến 1.500 tỉ đồng.Ngày 07/11/2007, VPBank cho biết, theo đề nghị của Ngân hàng OCBC, VPBank đãchính thức đồng ý bán thêm cổ phần cho OCBC để nâng tỷ lệ sở hữu của cổ đôngchiến lược này tại VPBank từ 10% lên 15%, vốn điều lệ của VPBank tăng lên 2000 tỉ

Trang 30

đồng vào ngày 31/12/2007 Kể từ ngày 01/10/2008, vốn điều lệ của VPBank đạt hơn2.117 tỉ đồng Tính đến 31/12/2010 VPBank đã tăng vốn lên 4.000 tỉ đồng, nếu tính cảthặng dư vốn, vốn tự có của ngân hàng hiện là 5200 tỉ đồng

* Mạng lưới hoạt động:

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn luôn chú ý đếnviệc mở rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các tỉnh, thành phố trên

cả nước Tính đến nay thì số lượng chi nhánh và phòng giao dịch của VPBank đãlên đến con số 150 trong đó riêng thủ đô Hà nội đã tập trung gần 50 chi nhánh vàphòng giao dịch nằm rải rác khắp các quận, huyện

Năm 2010, tổng tài sản của VPBank đạt 57.000 tỉ đồng, cho vay tính đến cuốinăm 2010 là 25.000 tỉ đồng, huy động vốn đạt 26.000 tỉ đồng, tỉ lệ nợ xấu đượckhống chế ở mức 1,3%

Tính đến 31/12/2010 VPBank đã tăng vốn lên 4.000 tỉ đồng, nếu tính cả thặng

dư vốn, vốn tự có của ngân hàng hiện là 5.200 tỉ đồng

Qua 17 năm xây dựng và trưởng thành, Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng đãđạt được những thành tựu nhất định: nhiều năm liền nhận được Cúp vàng nhãn hiệunổi tiếng quốc gia, được chứng nhận là Ngân hàng thanh toán xuất sắc do The Bank

of New York, Citibank… của Mĩ trao tặng, đạt được kỉ lục Guinness Việt Nam chosản phẩm thẻ chip VPBank Platinum (2007), đạt danh hiệu Đại lý Xuất sắc nhấtViệt Nam về hiệu quả mạng lưới năm 2009 cùng rất nhiều thành tích đáng kể khác,góp phần đắc lực cùng toàn ngành Ngân hàng thực hiện chính sách tiền tệ quốc giaphát triển kinh tế xã hội của đất nước

Bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của công nghệ và tri thức, với một nềntảng vững chắc, VPBank tự tin hướng tới mục tiêu trở thành Ngân hàng bán lẻ hàngđầu Việt Nam, có uy tín trong khu vực và vươn ra cả thế giới

2.1.2 Chi nhánh Bắc Ninh- Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng

2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển

Bắc Ninh được coi là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, gần sân bay Quốc

tế Nội Bài, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.Bắc Ninh có các trục đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh vớicác Trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc - Việt Nam Thành phốBắc Ninh dân cư đông đúc, cơ sở hạ tầng phát triển, có tiềm năng kinh tế lớn

Chi nhánh VPBank Bắc Ninh có trụ sở tại số 253 trục đường Ngô Gia Tự,thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Đây là trục đường quốc lộ 1A cũ đi qua thànhphố, là một vị trí địa lý đẹp, đông dân cư, giao thông rất thuận lợi

Trang 31

tâm, hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp từ phía VPBank cũng như các tổ chức tài chính,các ngân hàng khác Vận dụng tốt lợi thế đó cùng với khả năng nội lực của mình,chi nhánh đã không ngừng cố gắng vươn lên phát triển mạnh mẽ.

Với mục đích là cầu nối thân thiện và hiệu quả giữa khách hàng và các dịch

vụ tài chính, Ban lãnh đạo Chi nhánh VPBank Bắc Ninh luôn cố gắng quán triệtthực hiện các nguyên tắc: tập trung thống nhất trong toàn hệ thống, sử dụng có hiệuquả các đòn bẩy kinh tế, khuyến khích tính năng động sáng tạo, chủ động trong kinhdoanh của mỗi cán bộ công nhân viên

Bên cạnh sự phát triển về cả chiều rộng và chiều sâu của hoạt động kinhdoanh, Ban lãnh đạo Chi nhánh luôn quan tâm và chú trọng tới công tác pháttriển nguồn nhân lực và luôn coi đây là yếu tố quyết định tới thành công của chinhánh VPBank Bắc Ninh hôm nay và cả sự phát triển bền vững trong tương lai.Cán bộ công nhân viên luôn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo của những ngườigiàu kinh nghiệm hơn, luôn có các buổi tổng kết, trao đổi, chia sẻ và đưa ranhững sáng kiến kinh nghiệm để nâng cao trình độ Bên cạnh đó cán bộ côngnhân viên còn được tạo điều kiện để tham gia các khóa học ngắn hạn về nghiệp

vụ hay học lên cao học, tiến sĩ…

Sau 3 năm hoạt động, Chi nhánh VPBank Bắc Ninh đã và đang phát triểnkhông ngừng, ban đầu đạt được những thành công đáng ghi nhận Cùng với sựphát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, của ngành dịch vụ tài chính cũng như của hệthống Ngân hàng thương mại, Chi nhánh VPBank Bắc Ninh đã phần nào đónggóp vai trò trong kênh cung ứng vốn của nền kinh tế, góp phần thực thi chínhsách tiền tệ Quốc gia

2.1.2.2 Bộ máy tổ chức

Về cơ cấu tổ chức, ban lãnh đạo chi nhánh VPBank Bắc Ninh bao gồm 1 giámđốc, 1 phó giám đốc và các trưởng phòng các phòng ban

- Giám đốc: Ông Nguyễn Đường Lâm

- Phó giám đốc: Bà Trần Thị Thu Bình

Các phòng ban bao gồm : Phòng khách hàng (phòng tín dụng), phòng kế toánngân quỹ, phòng hành chính nhân sự, phòng kiểm soát nội bộ, phòng kinh doanhngoại hối, phòng kế hoạch tổng hợp cùng các phòng giao dịch trực thuộc, các phòngban thực hiện nhiệm vụ dưới sự quản lý điều hành của ban giám đốc

Trang 32

Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Nguồn: phòng hàng chính nhân sự chi nhánh VPBank Bắc Ninh

2.1.3 Thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh VPBank Bắc Ninh những năm gần đây

2.1.3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh

Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh từ 2008 – 2010

Đơn vị: triệu đồng

II Lãi/lỗ thuần từ HĐ dịch vụ 339,891.000 750,058.000 889,213.000

Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh VPBank Bắc Ninh

Qua bảng số liệu ta có thể thấy tình hình kinh doanh của Chi nhánh VPBank

Ban Giám Đốc

Ban Giám Đốc

Phòng

khách

hàng

Phòng kế toán và ngân quỹ

Phòng Hành chính nhân sự

Phòng kiểm soát nội bộ

P Kinh doanh ngoại hối

P Kế hoạch tổng hợp

Phòng Giao dịch Từ Sơn

Trang 33

Bắc Ninh trong 3 năm qua đã có những bước chuyển biến rõ rệt.

Năm 2008 lợi nhuận của chi nhánh đạt giá trị âm, thu nhập từ các hoạt độngkinh doanh ko đủ để bù đắp cho chi phí hoạt động, điều này có thể hiểu được do đây

là năm đầu chi nhánh đi vào hoạt động, các hoạt động tín dụng cũng như dịch vụchưa đi vào ổn định, chưa nhận được sự tín nhiệm từ bên ngoài

Năm 2009 chi nhánh đã đạt lợi nhuận dương, dù con số này mới chỉ dừng lại ởmức khiêm tốn là 633 triệu đồng nhưng cũng đã thể hiện thấy hoạt động của chinhánh bước đầu đã đi vào ổn định Thu nhập chủ yếu là từ hoạt động tín dụng, cáchoạt động khác tuy cũng có lãi nhưng không cao

Sang đến năm 2010, lợi nhuận của chi nhánh đã tăng cao, lên đến trên 3 tỉđồng, gấp gần 5 lần lợi nhuận năm 2009, cho thấy rõ chi nhánh đã có những pháttriển đáng ghi nhận

2.1.3.2 Nguồn vốn

Ý thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn, ngay từ khi mớithành lập, chi nhánh VPBank Bắc Ninh đã rất quan tâm đến việc huy động vốn, đặcbiệt trong điều kiện hiện nay khi số lượng các Ngân hàng và các tổ chức tín dụngngày càng tăng, cạnh tranh ngày càng quyết liệt, đòi hỏi chi nhánh phải nỗ lực phấnđấu nhằm thu hút vốn, đảm bảo cho nhu cầu đầu tư mở rộng tín dụng trên địabàn Cùng với những biện pháp hợp lý tình hình huy động vốn của Chi nhánh đã thuđược những kết quả như sau:

Trang 34

Thực hiện31/12/2010

- Tổ chức kinh tế (TCKT) 26.474 53.277 108.913

Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh VPBank Bắc Ninh

Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình huy động vốn theo cơ cấu như sau:

Tổng nguồn vốn:

Tổng nguồn vốn của chi nhánh tăng nhanh theo các năm Năm 2010 đã đạthơn 128 tỉ đồng, tăng 2.89 lần so với năm 2008 (hơn 44 tỉ đồng) và tăng 1.94 lần sovới năm 2009 (hơn 66 tỉ đồng)

Cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền:

Dễ thấy nguồn vốn của chi nhánh phần lớn là vốn nội tệ, vốn ngoại tệ tuy cónhưng chiếm một tỉ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, gần như không đáng kể.Năm 2008 nguồn vốn nội tệ của chi nhánh đạt gần 44 tỉ đồng, chiếm đến 99%tổng nguồn vốn, tỉ trọng của nguồn vốn này trong năm 2009 và 2010 tương ứng là97% và 98% Đây là những con số rất lớn, gần như chiếm toàn bộ tỉ trọng tổngnguồn vốn Điều này có thể hiểu được do Bắc Ninh tuy giáp Hà Nội nhưng nguồnngoại tệ là tương đối ít Hơn nữa thì chi nhánh VPBank Bắc Ninh mới thành lậpđược 3 năm, so với các chi nhánh của các ngân hàng lớn như Vietcombank,Agribank, BIDV, Vietinbank… đã thành lập lâu đời tại đây thì xét về cả quy mô và

uy tín trong nhân dân đều chưa bằng

Cơ cấu nguồn vốn theo thành phần kinh tế:

Năm 2008, tiền gửi của dân cư đạt 18 tỉ, chiếm 40% tổng nguồn vốn, tiền gửi

Trang 35

của các TCKT đạt 26 tỉ chiếm 60% tổng nguồn vốn.

Năm 2009, tiền gửi của các TCKT tăng mạnh (từ 26 tỉ đồng lên 53 tỉ đồng,tương ứng 101%), trong khi đó tiền gửi của dân cư lại giảm xuống (từ 18 tỉ đồngxuống 13 tỉ đồng, giảm tương ứng 28%) Tiền gửi TCKT chiếm 81% tổng nguồn,tiền gửi dân cư chiếm 19% Tuy nhiên trên thực tế nguồn vốn huy động từ thịtrường liên ngân hàng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn nội tệ Nguồn vốncủa Chi nhánh dựa chủ yếu vào thị trường liên ngân hàng

Năm 2010, tiền gửi của TCKT đạt 109 tỷ, tăng 56 tỷ (tương ứng tăng 104%)

so với năm 2009, tiền gửi dân cư đạt 19 tỷ, tăng 6 tỷ (tương ứng tăng 52%) Tỉ trọngtiền gửi của TCKT chiếm đến 85% còn tiền gửi từ dân cư chỉ chiếm 15% Như vậy,

cơ cấu nguồn vốn năm 2010 vẫn không có thay đổi gì rõ rệt, tỷ trọng tiền gửi củadân cư tiếp tục giảm, tỷ trọng nguồn vốn của các TCKT tiếp tục tăng

Những mặt đạt được:

Do đã tận dụng triệt để những yếu tố thuận lợi và khắc phục những khó khăn,công tác nguồn vốn trong thời gian vừa qua của Chi nhánh cũng đã thu được một sốkết quả nhất định:

- Tổng nguồn vốn không ngừng tăng nhanh qua các năm

- Việc điều hành công tác nguồn vốn về cơ bản được thống nhất từ Hội sở đếnphòng giao dịch

- Có nhiều chương trình khuyến mại, quảng cáo sản phẩm mới độc đáo của chinhánh, tạo được sức hấp dẫn với khách hàng

- Chất lượng, thái độ làm việc của cán bộ tương đối tốt, nhiệt tình tận tụy vớicông việc

- Tính chủ động trong huy động vốn và nắm bắt thị trường tại các PGD chưa cao

- Chưa vận dụng triệt để phương pháp quản lý dòng tiền, dẫn tới không chủđộng đàm phán trước với khách hàng khi những hợp đồng tiền gửi lớn đến hạn

Trang 36

2.1.3.3 Tín dụng

Nhờ có nguồn vốn lớn, ổn định ngân hàng đã áp dụng nhiều hình thức tíndụng đa dạng và phong phú phù hợp với mỗi loại khách hàng như cho vay ngắn,trung, dài hạn Việc thu hút khách hàng vay vốn được gắn liền với thu hút kháchhàng mở tài khoản tiền gửi và thiết lập mối quan hệ lâu dài, thông qua biểu sốliệu sau:

a Tình hình thực hiện dư nợ

Bảng 3: Tình hình thực hiện dư nợ từ 2008 – 2010

Đơn vị: tỷ đồng

31/12/2008

Thực hiện 31/12/2009

Thực hiện 31/12/2010

Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh VPBank Bắc Ninh

* Tổng dư nợ: không ngừng tăng nhanh trong 3 năm Năm 2008 mới đạt 42 tỉđồng, năm 2009 đã tăng lên 95 tỉ đồng (tăng 53 tỉ đồng, tương ứng tăng 126%), đếnnăm 2010 tổng dư nợ của chi nhánh đã đạt 168 tỉ đồng, tăng 73 tỉ so với năm 2009,tương ứng tăng 77%

* Nợ xấu: vấn đề nợ xấu vẫn luôn được chi nhánh khống chế tốt, tỉ lệ nợ xấugần như không đáng kể ở cả 3 năm

* Những mặt đã làm được:

- Chi nhánh mới thành lập 3 năm, tốc độ tăng trưởng dư nợ tương đối cao

- Tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo về cho vay hỗ trợ lãi suất, quyđịnh về lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, kiểm tra đánh giá và khắc phụcchỉnh sửa những tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện

- Kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu ở mức tương đối thấp

- Thực hiện rà soát, chỉnh sửa hồ sơ tín dụng sau thanh tra, kiểm tra

- Thực hiện đúng chỉ đạo thu nợ đến đâu, giải ngân đến đó, tăng trưởng tíndụng trên cơ sở có tăng trưởng nguồn vốn

* Những mặt hạn chế:

- Một số dự án đã cam kết giải ngân nhưng do hạn chế về vốn nên gây khó

Trang 37

khăn trong việc tăng trưởng tín dụng theo đúng tiến độ.

- Công tác thống kê, báo cáo số liệu chưa đảm bảo yêu cầu về chất lượng vàthời gian

- Đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm, chưa vachạm nhiều, còn thiếu thực tế và mang nặng lí thuyết, còn lúng túng trong khi giảiquyết công việc

- Chưa chú trọng khai thác các khách hàng tín dụng sử dụng các dịch vụ ngânhàng (tiền gửi, thẻ…)

2.1.3.4 Thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ

Hoạt động thanh toán quốc tế của chi nhánh chưa phát triển, do địa bàn hoạt động là Bắc Ninh, mặc dù giáp ranh với Hà Nội nhưng các hoạt động liên quan xuất nhập khẩu không nhiều.

2.1.3.5 Công tác khác

* Kế toán – Ngân quỹ: Việc thanh toán được hiện đại hóa, đáp ứng được kịpthời nhu cầu của khách hàng và đảm bảo tuyệt đối an toàn Khả năng tác nghiệp củacán bộ được nâng lên một bước rõ rệt Tuy nhiên việc thực hiện công tác kế toán -ngân quỹ còn mang tính chất giải quyết sự vụ, chưa chủ động trong việc phân tíchtài chính đơn vị

* Kiểm tra, kiểm soát: Chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra và tổ chức triển

khai thực hiện, thực hiện tốt vai trò kiểm soát, tham mưu cho Ban giám đốc trongviệc điều hành an toàn mọi mặt của hoạt động kinh doanh của Chi nhánh

* Tổ chức, hành chính: Thực hiện tốt các nhiệm vụ dù vẫn còn hạn chế do

tính chất công việc của phòng gồm nhiều mảng công việc khác nhau, thường xuyênphát sinh sự vụ nên việc tham mưu cho lãnh đạo nặng tính tình thế, chưa có phương

án chủ động

2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh VPBank Bắc Ninh

2.2.1 Một số quy định về cho vay trung dài hạn tại VPBank

- VPBank luôn chủ động tìm kiếm các dự án khả thi, có khả năng hoàn trả nợvốn vay và tự chịu trách nhiệm về các quyết định cho vay của mình

- VPBank xem xét và quyết định cho vay khi các khách hàng thoả mãn:

Các pháp nhân phải có trách nhiệm dân sự: Cá nhân và chủ doanh nghiệp tưnhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự

Có khả năng tài chính trong thời hạn cam kết (tình hình tài chính lành mạnh,kinh doanh có hiệu quả, các báo cáo tài chính định kỳ phải phù hợp với quy định

Trang 38

- Thời hạn cho vay được xác định như sau:

Đối với cho vay trung hạn: từ trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm), nhưngkhông được quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấyphép thành lập đối với pháp nhân

Đối với cho vay dài hạn: từ trên 60 tháng (5 năm) nhưng cũng không đượcvượt quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thànhlập đối với pháp nhân

- Mức lãi suất cho vay do VPBank cùng khách hàng thoả thuận, đồng thờiphải phù hợp với quy định của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng

và phù hợp với biểu lãi suất công bố của ngân hàng do Tổng giám đốc VPBank quyđịnh trong từng thời kỳ

- Đối tượng cho vay trung và dài hạn: Cho vay để đầu tư dự án, xây dựng mới,mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cải tiến thiết bịcông nghệ,… Cho vay với các đối tượng không trái với quy định về quản lý củaNhà nước và được Thống đốc NHNN chấp nhận

- Mức cho vay: được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệcho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo theo đúng luật định và tuỳ thuộc vào vốn tự

có của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của VPBank.Mức cho vay tối đa do Tổng giám đốc VPBank quy định Thông thường là:

Mức cho vay= Tổng nhu cầu vốn của dự án (vốn cố định và lưu động) – Vốn tự có của các bên tham gia – Nguồn vốn huy động khác (vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác)

Trang 39

xin gia hạn nợ nếu không ngân hàng sẽ tự động trích tiền trong tài khoản tiền gửicủa khách hàng tại ngân hàng (nếu có) để thu nợ gốc và lãi Nếu khách hàng không

có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc số dư trong tài khoản không đủ thu nợ thìkhoản nợ này có thể chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng phải chịu mức lãi suấtcủa nợ quá hạn

- Phương thức cho vay:

Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, thì ngân hàng sẽ ápdụng hình thức cho vay từng lần Trong thời hạn rút vốn của hợp đồng khách hàng

có thể rút vốn nhiều lần hoặc một lần nhưng tổng số tiền rút ra không vượt quá sốtiền vay Mỗi lần rút vốn vay, khách hàng nhận giấy tờ nhận nợ theo mẫu quy địnhcủa ngân hàng cùng các giấy tờ cần thiết khác

VPBank có thể cho vay theo hạn mức khi giữa ngân hàng và khách hàng cómột thoả thuận về một hạn mức cho vay trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳsản xuất kinh doanh áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên và

có tín nhiệm với ngân hàng

+ Đối với các dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, hợp lý hoá sản xuấtphải có vốn tự có tối thiểu tham dự dự án bằng 15% tổng mức vốn đầu tư

+ Đối với dự án mới khách hàng phải có tối thiểu bằng 20% tổng mức đầu tư

- Tài sản đảm bảo (TSĐB): Theo quy định hiện nay của NHNN và VPBank,tài sản dùng để đảm bảo cho các khoản vay trung và dài hạn là tài sản hình thành từbản thân vốn vay, các tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay, cũng có thểbảo đảm được bởi bên thứ 3

- Giới hạn cho vay: Tổng dư nợ cho vay với một khách hàng không được vượtquá 15% vốn tự có của VPBank tại thời điểm xét cho vay

Ngoài ra còn một số các quy định khác như lập hồ sơ vay vốn, thẩm định vàquyết định cho vay, gia hạn nợ

2.2.2 Cách thức Ngân hàng thực hiện hoạt động tín dụng trung dài hạn đối với doanh nghiệp

Quy tr×nh tín dụng được bắt đầu từ khi các cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơkhách hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán - thanh lý hợp đồng tín dụng Quytrình này được Ngân hàng tiến hành theo ba bước chính:

- Thẩm định trước khi cho vay

- Kiểm tra, giám sát trong khi cho vay

- Kiểm tra, giám sát, tổ chức thu hồi nợ sau khi cho vay

Trang 40

Khách hàng vay vốn là dân cư có hai loại mục đích chính:

- Vay vốn phục vụ đời sống, sinh hoạt

- Đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh

Xét với các doanh nghiệp, vay vốn thường với mục đích phát triển sản xuấtkinh doanh, các cán bộ tín dụng của Ngân hàng thường phân tích và thẩm địnhkhách hàng vay vốn theo những nội dung cụ thể sau:

2.2.2.1 Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và hồ sơ

vay vốn

- Đối với khách hàng quan hệ tín dụng lần đầu: cán bộ tín dụng hướng dẫn

khách hàng đăng ký những thông tin về khách hàng, các điều kiện vay vốn và tưvấn việc thiết lập hồ sơ vay

- Đối với khách hàng đã cã quan hệ tín dụng: cán bộ tín dụng kiểm tra các

điều kiện vay, bộ hồ sơ vay, hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ vay

- Khách hàng đủ hoặc chưa đầy đủ điều kiện hồ sơ vay đều được cán bộ tíndụng báo cáo lãnh đạo trong chi nhánh và thông báo lại cho khách hàng (nếu không

đủ điều kiện vay)

- Cán bộ tín dụng làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ; kiểm tra tính đầy đủ, hợppháp, hợp lệ với những nội dung thuộc:

+ Danh mục hồ sơ pháp lý

+ Danh mục hồ sơ khoản vay

+ Danh mục hồ sơ bảo đảm tiền vay

2.2.2.2 Tiến hành kiểm tra hồ sơ và mục đích vay vốn

a Kiểm tra hồ sơ vay vốn

Cán bộ tín dụng kiểm tra tính xác thực của hồ sơ vay vốn qua cơ quan pháthành ra chúng hoặc qua các kênh thông tin khác

Kiểm tra hồ sơ pháp lí

Cán bộ tín dụng kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các giấy tờ văn bản trongdanh mục hồ sơ pháp lí Ngoài ra còn kiểm tra thêm một số vấn đề khác như:

- Văn bản quy định quyền hạn, trách nhiệm của các bên trong hợp đồng liêndoanh đối với doanh nghiệp liên doanh

- Điều lệ doanh nghiệp, đặc biệt các điều khoản quy định về quyền hạn, tráchnhiệm

- Quyết định bổ nhiệm Giám đốc (Tổng Giám đốc), kế toán trưởng hoặc ngườiquản lý về tài chính của doanh nghiệp và người đại diện pháp nhân của doanh

Ngày đăng: 18/03/2013, 07:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.3. Thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh VPBank Bắc Ninh những năm gần đâyBắc Ninh những năm gần đây - bản mềm chuyên đề(1) - Copy
2.1.3. Thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh VPBank Bắc Ninh những năm gần đâyBắc Ninh những năm gần đây (Trang 32)
Ban Giám Đốc - bản mềm chuyên đề(1) - Copy
an Giám Đốc (Trang 32)
a. Tình hình thực hiện - bản mềm chuyên đề(1) - Copy
a. Tình hình thực hiện (Trang 34)
Nhờ có nguồn vốn lớn, ổn định ngân hàng đã áp dụng nhiều hình thức tín dụng đa dạng và phong phú phù hợp với mỗi loại khách hàng như cho vay ngắn,  trung, dài hạn - bản mềm chuyên đề(1) - Copy
h ờ có nguồn vốn lớn, ổn định ngân hàng đã áp dụng nhiều hình thức tín dụng đa dạng và phong phú phù hợp với mỗi loại khách hàng như cho vay ngắn, trung, dài hạn (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w