1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò kinh tế tư nhân ở nước ta

27 527 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò kinh tế tư nhân ở nước ta
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 295,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò kinh tế tư nhân ở nước ta

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Sau khi chiến tranh kết thúc, toàn Đảng toàn dân ta bước vào một

cuộc chiến mới, một cuộc chiến không hề có tiếng súng nhưng cũng rất gian

nan và vất vả Đó là cuộc chiến chống đói nghèo, chống lại sự tụt hậu để

phát triển, để mọi người dân đều được ấm no, hạnh phúc, để đưa đất nước ta

vững bước đi trên con đường XHCN, tiến lên CNXH và CNCS-con đường

mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn Để thực hiện được những mục

tiêu đó chúng ta cần phải cố gắng trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, có những

chiến lược cụ thể và khôn khéo Trong đó Kinh Tế được coi là ngành tiên

phong, mũi nhọn Hiện nay đất nước chúng ta đang trong thời kì quá độ nên

Kinh tế vì thế cũng có những đặc điểm riêng của nó, nhiều thành phần kinh

tế cùng song song tồn tại trong nền kinh tế, các thành phần kinh tế này bổ

xung, hỗ trợ cho nhau nhưng đôi khi giữa chúng cũng có những mâu thuẫn

đòi hỏi sự điều tiết của Nhà nước Nhưng liệu rằng sự điều tiết của Nhà nước

có công bằng? Kinh tế tư nhân là một “mảng”, một “bộ phận” còn lại của

CNTB theo quan điểm của Lênin trong nền Kinh tế quá độ này có được đối

xử ngang hàng như các thành phần kinh tế khác không? tại sao lại giữ Kinh

tế tư nhân trong nền kinh tế không lấy bóc lột làm nền tảng? Kinh tế tư nhân

có vai trò gì đối với nền kinh tế và đối với sự phát triển nói chung? Kinh tế

đất nước đang trong quá trình hội nhập với Kinh tế thế giới liệu rằng Kinh tế

tư nhân có còn phù hợp? Phải làm gì để phát huy những mặt tốt và hạn chế

những mặt chưa tốt?…

Những câu hỏi đó đã làm em quyết định chọn đề tài này để hiểu rõ hơn

về nền Kinh tế đất nước cũng như vai trò của một bộ phận Kinh tế đã từng bị

coi là không thể tồn tại trong một nền kinh tế lấy công hữu là nền tảng

Trang 2

Mong rằng đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích đối với những người

muốn tìm hiểu về Kinh tế tư nhân

PHẦN NỘI DUNG

I, Những vấn đề lý luận và vai trò của Kinh tế tư nhân ở nước ta

1, Lý luận về Kinh tế tư nhân

Trước hết chúng ta phải tìm hiểu khái niệm Kinh tế tư nhân, theo Văn

kiện hội nghị lần thứ năm, ban chấp hành trung ương khóa IX, “Kinh tế tư

nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới

hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân”

Với khái niệm này khu vực Kinh tế tư nhân bao gồm những nội dung

sau:

_ Về lĩnh vực sản xuất kinh doanh: kinh tế tư nhân bao gồm những hộ gia

đình hoặc doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh

doanh phi nông nghiệp như công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, chế

biến nông lâm sản, du lịch, dịch vụ… _ Về mô hình tổ chức: Kinh tế tư nhân

gồm các hộ kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp tư

nhân bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần, công ty hợp doanh) Ngoài ra còn bao gồm cả phần đầu tư của tư

nhân vào khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư

nước ngoài”

Qua khái niệm trên chúng ta có thể thấy được quy mô cũng như tầm

quan trọng của kinh tể tư nhân, nó len lỏi trong mọi ngành nghề của xã hội,

mọi gia đình có xu hướng kinh doanh nên những đóng góp của kinh tế tư

Trang 3

nhân vào GDP của đất nước là không nhỏ, nó góp phần giải quyết công ăn

việc làm, ổn định kinh tế, xã hội

Khi cách mạng tháng 10 kết thúc Lênin đã mời những nhà tư bản làm

kinh tế giỏi ra giúp đất nước Xô Viết non trẻ xây dựng những chính sách về

kinh tế tư nhân để áp dụng vào thực tiễn Theo ông trong thời kì quá độ lên

CNXH sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần là một tất yếu khách quan

bởi trong nền kinh tế còn tồn tại nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu

sản xuất Đã có nhiều ý kiến không tán thành việc làm trên của Lênin nhưng

những gì mà nước Nga đạt được trong công cuộc xây dựng đất nước đã là

một minh chứng hùng hồn cho sự tồn tại cần thiết của kinh tế tư nhân

Ở nước ta trước đây trong thời kì kinh tế bao cấp, kinh tế tư nhân

không được chú

trọng phát triển do những ác cảm in sâu trong nếp nghĩ, cái gì liên quan đến

tư bản đều không tốt đẹp Từ khi đất nước mở của kinh tế tư nhân đã có cơ

hội để phát triển, từ chỗ chỉ được coi là kẻ lót đường, là một giải pháp tạm

thời để giải quyết những mục tiêu cấp bách trước mắt thì ngày nay kinh tế tư

nhân càng ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc xây

dựng kinh tế đất nước, một nhân tố quan trọng không thể thiếu khi xây dựng

nền kinh tế nhiều thành phần đinh hướng XHCN ở nước ta Nghị quyết Đại

hội Đảng IX đã khẳng định: “Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân

rộng rãi trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm

Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp luật để kinh tế tư

bản tư nhân phát triển len và những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả

đầu tư ra nước ngoài, khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán

cổ phiếu cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập

thể và kinh tế Nhà nước, xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và

Trang 4

người lao động” Đảng và Nhà nước đã tạo nhiều điều kiện để kinh tế tư

nhân có thể phát triển hơn nữa, phát triển đúng tầm, để nó trở thành một bộ

phận kinh tế quan trọng nhằm giải quyết công ăn việc làm, ổn định kinh tế

chính trị, xây dựng một nền kinh tế phát triển tạo cơ sở vật chất nhất định để

tiến vào CNXH

Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuât kinh doanh

dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc

lột sức lao động làm thuê nhưng nó là một thành phần kinh tế năng động, có

nhiều đóng góp cho nền kinh tế và giải quyết tốt các vấn đề xã hội nên sẽ là

một sai lầm nếu chúng ta bỏ qua thành phần kinh tế này

Kinh tế tư nhân cũng tạo điều kiện tốt để thu hút vốn đầu tư từ nước

ngoài, là một cơ sở quan trọng để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, còn

nhiều điều kiện để phát triển hơn nữa Trong nền kinh tế hiện nay, kinh tế tư

nhân cũng góp phần làm cho TLSX, sức lao động được sử dụng tốt hơn, đời

sống vật chất và tinh thần được cải thiện… Sự tồn tại của kinh tế tư nhân

trong nền kinh tế quá độ là cần thiết

2, Vai trò của kinh tế tư nhân trong kinh tế thị trường định hướng

XHCN ở nước ta:

Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta

đã được quan tâm khuyến khích phát triển Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí

thư Trung ương Đảng khóa IV (1981) và nghị quyết 10 của Bộ Chính trị

Ban chấp hành Trung ương khóa VI (1988) đã cho phép khoán sản phẩm

cuối cùng đến tận hộ gia đình nông dân và hộ gia đình nông dân trở thành

đơn vị kinh tế tự chủ là những bước đột phá để phát triển kinh tế tư nhân

trên lĩnh vực nông nghiệp Trên những lĩnh vực phi nông nghiệp, sự phát

triển của kinh tế tư nhân được đẩy mạnh nhờ có Luật Doanh nghiệp tư nhân;

Luật Công ty; Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Doanh nghiệp

Trang 5

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã

chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành

phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu

thành quan trọng của nền kinh tế thị trường theo định huớng xã hội chủ

nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh… (văn kiện

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX; tr.95-96- NXB Chính trị quốc

gia – Hà Nội 2001) Những nỗ lực trên nhằm tạo ra hành lang pháp lý để

kinh tế tư nhân phát triển nhanh chóng và vững chắc

2.1, Khu vực kinh tế tư nhân góp phần quan trọng để tăng trưởng kinh

tế:

Kinh tế tư nhân cung cấp cho xã hội sản phẩm vật chất và dịch vụ để

thỏa mãn nhu cầu về đời sống, nhu cầu cho quá trình tái sản xuất của xã hội

Với ưu thế nổi trội của khu vực kinh tế tư nhân: suất đầu tư thấp, dễ chuyển

đổi phương hướng sản xuất cho phù hợp với năng lực quản lý của các hộ gia

đình, nên đã thu hút được đông đảo các tầng lớp dân cư Tốc độ tăng trưởng

kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân khá ổn định Kinh tế tư nhân cũng đóng

góp không nhỏ vào GDP của Việt Nam

Trang 6

Đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP của Việt Nam

Qua bảng trên cho chúng ta thấy vai trò to lớn của kinh tế tư nhân trong

lĩnh vực nông nghiệp, nhưng trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ thì cần

phải phát triển hơn nữa để đáp ứng yêu cầu của hội nhập

Theo tính toán của các nhà thống kê, để tăng trưởng 1% GDP của Việt

Nam cần tăng trưởng tiêu dùng 2,1 đến 2,2% ( kể cả tiêu dùng cho sản xuất

và tiêu dùng cho đời sống) Khu vực kinh tế tư nhân phát triển làm cho nhu

Trang 7

cầu các yếu tố đầu vào gia tăng, đồng thời thu nhập của người lao động tăng

do sản xuất phát triển và số lao động được huy động vào làm việc tăng thêm

2.2, Phát triển khu vực kinh tế tư nhân sẽ huy động được nhiều hơn

nguồn lực hiện còn ở dạng tiềm năng

Tính đến thời điểm 31-12 năm 2000, khu vực kinh tế tư nhân đã thu hút

được trên 4,6 triệu lao động, chiếm 12% trong tổng số lao động xã hội (xem

bảng) Nếu so với khu vực Nhà nước thì số lao động làm việc trong khu vực

kinh tế tư nhân bằng 1,36 lần Trong những năm gần đây, lao động trong khu

vực kinh tế tư nhân tăng nhanh So với năm 1996 thì năm 2000 số lao động

của toàn khu vực kinh tế tư nhân tăng 20,14%; trong đó số lao động làm việc

trong các doanh nghiệp tư nhân tăng 137,57% Số lao động ở hộ kinh doanh

cá thể chỉ tăng 8,29%.Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, số lao động làm

việc trong các hộ kinh doanh cá thể trong thực thế lớn hơn nhiều so với số

đăng ký kinh doanh nêu trong bảng Bởi lẽ, hộ kinh doanh cá thể sử dụng

nhiều lao động thời vụ, lao động gia đình, dòng họ… mà chủ hộ không đăng

ký lao động

Trang 8

Tình hình thu hút lao động trong khu vực kinh tế tư nhân (tính đến thời

- Khu vực kinh tế tư nhân sử dụng lao động tại chỗ nên hầu như không

phải giải quyết ăn ở, các điều kiện về cơ sở hạ tầng khác như phương tiện

giao thông, trường học, trạm xá,…

- Điều kiện để đào tạo tay nghề cho người lao động thuận lợi hơn so với

các khu vực kinh tế khác, hầu hết được đào tạo tại chỗ, thông qua kèm cặp

của người nhà đã có tay nghề Chi phí cho đào tạo không đáng kể, đồng thời

qua truyền nghề như vậy sẽ duy trì được những làng nghề truyền thống, góp

phần cùng xã hội dạy nghề mà chi phí chung của xã hội (kể cả chi phí của tư

nhân và nhà nước) không đáng kể

- Nhu cầu về vốn để tạo ra một chỗ làm việc của khu vực kinh tế tư nhân

cũng thấp hơn nhiều so với khu vực kinh tế Nhà nước hoặc khu vực có vốn

đầu tư nuớc ngoài

Trang 9

2.3, Phát triển khu vực kinh tế tư nhân góp phần xóa đói giảm nghèo,

tăng thu ngân sách cho nhà nước

Phát triển khu vực kinh tế tư nhân góp phần rất quan trọng để tạo ra

việc làm tại chỗ cho gia đình và địa phương, đem lại thu nhập cho người lao

động Theo kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2000 của Tổng cục thống kê,

mức thu nhập trung bình 1 tháng/1 lao động (1000 đ) của các doanh nghiệp

nói chung là 1041,1; DNNN là 1048,2; Doanh nghiệp tư nhân là 651,1; Cty

cổ phần là 993,0; tập thể là 529,3; Cty TNHH là 801,8; Doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài là 1754,5 Mức thu nhập của khu vực kinh tế tư nhân

tuy thấp hơn các DNNN nhưng cao hơn khu vực kinh tế tập thể Thu nhập

trung bình của 1 lao động trong khu vực kinh tế tư nhân cao gấp 2 đến 3 lần

so với mức lương cơ bản mà nhà nuớc quy định

Việc mở mang khu vực kinh tế tư nhân đem lại một nguồn thu ngân

sách đáng kể Cũng theo kết quả điều tra trên, trong tổng số nộp ngân sách

năm 2000 của các loại hình doanh nghiệp thì DNNN chiếm 52,77%; Doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 37,42%; khu vực kinh tế tư nhân

chiếm 9,34% Về số tuyệt đối, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp cho

ngân sách trên 5800 tỷ đồng Về lượng tuyệt đối và tương đối, số nộp ngân

sách của khu vực kinh tế tư nhân không nhiều như khu vực DNNN, nhưng

nhà nước không phải trợ cấp trở lại cho doanh nghiệp khu vực tư nhân như

đối với DNNN

Trang 10

II, Thực trạng kinh tế tư nhân ở nước ta từ sau đổi mới đến nay

Ở Việt Nam nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp

những năm 70-80 của thế kỷ 20 cũng đã được thay thế bằng chính sách kinh

tế nhiều thành phần từ Đại hội toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 6

(12/1986) Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ

nghĩa có sự điều tiết của nhà nước ngày càng được khẳng định trong lý luận

cũng như trong thực tiễn Đại hội 7 và 8 (1991 và 1996) đã xác định rõ hơn

cơ cấu và bản chất của con đường phát triển các thành phần kinh tế trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là, thực hiện nhất quán

lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và cần

phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, thừa nhận trên thực tế còn có

bóc lột và sự phân hóa giàu nghèo nhất định trong xã hội

Gần đây hội nghị TW lần thứ năm (khóa 9) của Đảng một lần nữa

khẳng định: kinh tế tư nhân (gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư

nhân) thực sự là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân

Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền

kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Qua hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới kinh tế (1986 – 2002), khu

vực kinh tế tư nhân bao gồm thành phần kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá

thể và tiểu chủ đã được khẳng định là một bộ phận cấu thành không thể thiếu

của nền kinh tế quốc dân Việt Nam Sự phát triển rộng khắp trong cả nước

của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng cho sự tăng trưởng của

nền kinh tế Việt Nam, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh

doanh, tạo thêm hàng triệu công ăn việc làm, góp phần cải thiện thu nhập và

đời sống nhân dân, tăng thu hàng ngàn tỷ đồng cho ngân sách nhà nước Có

Trang 11

thể thấy những kết quả đạt được của khu vực kinh tế tư nhân qua các mặt

sau:

1,Những thành tựu:

* Về số lượng cơ cấu đơn vị sản xuất kinh doanh

Số hộ kinh doanh cá thể hoạt động từ 1.498.611 hộ năm 1992 lên

2.016.259 năm 1996, tốc độ bình quân 7,68%/năm; mỗi năm tăng 129.412

hộ Từ năm 1996 đến năm 2000, số lượng hộ kinh doanh cá thể hoạt động

tăng chậm, từ 2.016.259 hộ năm lên 2.137.731 hộ năm 2000, tăng bình quân

1,47%/năm, mỗi năm tăng 30.364 hộ

Trong cơ cấu ngành nghề thời điểm 31/12/2000, các hộ kinh doanh

thương mại , dịch vụ chiếm tỷ trọng 51,9% (1.109.293 hộ) tiếp đến là các hộ

sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng 30,2% (645.801)

Tính chung cả thời kỳ 1991-2000, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh

tăng bình quân 96,19%/năm Trong giai đoạn 1991-2000, số doanh nghiệp

đăng ký kinh doanh từ 132 lên 30.897 Đặc biệt là giai đoạn 1996-2001,

kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh, mạnh cả về số lượng và chất lượng, đạt

được những thành tựu quan trọng trên nhiều mặt, góp phần nâng cao khả

năng cạnh tranh của nền kinh tế Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến

cuối năm 2000 cả nước có khoảng 59.473 doanh nghiệp tư nhân với số vốn

52.000 tỷ đồng, sử dụng 600.000 lao động và đóng góp 7,6% GDP Sự tăng

trưởng mạnh mẽ này chủ yếu là do môi trường đầu tư và môi trường kinh

doanh của kinh tế tư nhân đã được cải thiện một cách cơ bản, Luật Doanh

nghiệp và các nghị định số 57 và 44 có vai trò quan trọng nhất, tạo ra những

bước ngoặt phát triển Tính từ năm 2000 đến hết 9 tháng đầu năm 2001, số

Trang 12

doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh là 24.384, nhiều hơn cả số doanh

nghiệp đăng ký kinh doanh 5 năm trước đó cộng lại (22.747 doanh nghiệp)

Về cơ cấu các loại hình doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh trong tổng

số 66.777 doanh nghiệp (30/9/2001): số lượng doanh nghiệp tư nhân

(DNTN) chiếm tỷ trọng lớn nhất 58,76% (39.239 doanh nghiệp), công ty cổ

phần chiếm 2,55% (1.700 doanh nghiệp), công ty hợp danh chỉ chiếm

0,004% (3 doanh nghiệp)

Về số doanh nghiệp thực tế hoạt động: Tính đến 31/2/2000, cả nước có

56.831 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, nhưng số doanh nghiệp thực tế

hoạt động là 29.548 doanh nghiệp (51,99%), còn lại là 9.581 doanh nghiệp

chưa hoạt động doanh nghiệp (16,85%), số doanh nghiệp giải thể, chuyển

sang loại hình khác là 13.887 doanh nghiệp (24,43%), số doanh nghiệp chưa

tìm thấy là 3.815 doanh nghiệp (6,17%) Số lượng các doanh nghiệp thực tế

hoạt động tập trung cao ở ngành thương mại, dịch vụ: 17.535 doanh nghiệp

(59,34%): còn lại là các ngành khác: 5.034 doanh nghiệp (17,03%)

* Về kết quả sản xuất kinh doanh

Tổng sản phẩm trong nước của khu vực KTTN tăng trưởng liên tục trong

những năm gần đây Năm 1996, GDP khu vực KTTN đạt 68.518 tỷ đồng,

đến năm 2000 lên 86.929 tỷ đồng, tăng bình quân 6,12%/năm.Trong đó

GDP của các hộ kinh doanh cá thể từ 52,169 tỷ đồng năm 1996 lên 66.142

tỷ đồng năm 2000, tăng bình quân 6,11%/năm; của DNTN từ 16.439 tỷ đồng

lên 20.787 tỷ đồng, tăng bình quân 6,18%/năm Tốc độ tăng trưởng GDP

của khu vực KTTN nói chung xấp xỉ tốc độ tăng GDP toàn nền kinh tế

Năm 1999, tổng vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân đạt 31.542 tỷ

đồng, chiếm 24,05%; năm 2000 đạt 35.894 tỷ, tăng 13,8% so với năm 1999,

Trang 13

chiếm 24,31% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trong đó: Vốn đầu tư phát

triển của hộ kinh doanh cá thể năm 2000 là 29.267 tỷ đồng, tăng 12,93% so

với năm 1999 Vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể năm 2000 chiếm

81,53% trong tổng số vốn đầu tư của khu vực KTTN và chiếm 19,82 %

trong tổng số vốn đầu tư toàn xã hội

Tổng vốn dùng vào sản xuất, kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể là

63.3668 tỷ đồng, chiếm 36,61% trong tổng số vốn dùng vào sản xuất, kinh

doanh của khu vực KTTN.Tổng số vốn đăng ký của các loại hình doanh

nghiệp của tư nhân từ năm 1991 đến hết tháng 9 năm 2001 đạt 50.795,142 tỷ

đồng.Trong đó, doanh nghiệp tư nhân 11.470,175 tỷ, chiếm 2,58%; công ty

TNHH 29.064,160 tỷ đồng, chiếm 57,21%; công ty cổ phần 10.260,770 tỷ

đồng, chiếm 20,20%

Năm 2000, tổng số vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp là 110.071,8 tỷ

đồng, tăng 38,46% so với năm 1999; trong đó của công ty TNHH tăng

40,7%, DNTN tăng 37,64%, công ty cổ phần tăng 36,79%

Từ năm 1999 đến năm 2000, tổng số vốn đầu tư phát triển của doanh

nghiệp tăng từ 5.628 tỷ đồng lên 6.627 tỷ đồng, tăng 17,75%; tỷ trọng trong

khu vực KTTN tăng 17,84% lên 18,46%, tỷ trọng trong vốn đầu tư toàn xã

hội tăng 4,29% lên 4,48%

* Về số lượng lao động

Nếu xét về mặt góp phần giải quyết việc làm, có thể thấy tác dụng thu

hút lao động và vốn của các đơn vị kinh tế tư nhân qua các số liệu sau: Bình

quân một doanh nghiệp tư nhân có thể thu hút 37 lao động Một công ty cổ

phần có quy mô lớn thu hút 155 lao động Một cơ sở hành nghề ở nông thôn

Ngày đăng: 16/03/2013, 20:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tình hình thu hút lao độ ng trong khu vực kinh tế tư nhân (tính đến thời - Vai trò kinh tế tư nhân ở nước ta
nh hình thu hút lao độ ng trong khu vực kinh tế tư nhân (tính đến thời (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w