1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Độc học môi trường part 2 pdf

110 521 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Độc Học Môi Trường Part 2 PDF
Trường học Trường Đại học Xây dựng
Chuyên ngành Độc học môi trường
Thể loại Tài liệu hướng dẫn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn nguyên liệu sản xuất được tận dụng thủy tinh phế liệu từ kính vỡ, chai lọ và các phụ gia hóa chất có trong thị trường nước ta.” Kết quả nghiên cứu thành công cho thấy chúng ta hoàn

Trang 1

• Ở Hoa Kỳ, giới hạn tối đa cho phép cho mọi loại bụi amiăng trong 8 giờ lấy mẫu là 5 sợi/ml, loại sợi dài trên 5 micromet và kể từ tháng 6–1976, số sợi rút xuống là 2 sợi/ml (Utidjian, 1973)

• Ở Việt Nam, giới hạn tối đa cho phép đối với amiăng và hỗn hợp trên 10% amiăng là 2 mg/m3

10.5.4 Giải pháp thay thế cho amiăng

10.5.4.1 Gốm tổ ong cách điện và chịu nhiệt

Sau nhiều năm thử nghiệm, Gideon Grader và cộng sự thuộc Viện Công nghệ Israel đã đưa ra sáng kiến sản xuất loại gốm tổ ong làm chất cách điện, thay cho amiăng, chất cách điện được coi là nguyên nhân gây ra bệnh phổi, suy tim và ung thư hiện nay Gốm tổ ong có thành phần gồm 4–5% oxit nhôm, 94–95% không khí Nhờ cấu trúc nhiều lỗ, gốm xốp nhẹ, rẻ tiền, an toàn hơn amiăng và các vật liệu hiện đang sử dụng Ngoài khả năng cách điện, cách âm, gốm tổ ong còn chịu được nhiệt độ 1.700 độ C và hấp thụ các chất ô nhiễm môi trường như bụi, khói xe… Tháng 6 năm nay, gốm tổ ong sẽ được sản xuất hàng loạt để làm mẫu và thử nghiệm tại nhiều nơi ở Australia và châu Âu

Hơn 3.000 sản phẩm cách nhiệt, cách âm mà chúng ta sử dụng hiện nay đều có chứa amiăng Theo các nhà khoa học, chất này rất nguy hại cho sức khoẻ con người Các kỹ sư đã thử dùng sợi gốm Cellaris thay thế cho amiăng, tuy nhiên bụi gốm cũng độc hại không kém

10.5.4.2 Tấm lợp thực vật

Sợi khoáng Wollastonite và vật liệu bổ sung là sợi đay, sợi tre, bột giấy đã được nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm thành công ở Việt Nam Chúng có khả năng thay thế amiăng, loại vật liệu mà Tổ chức Y tế thế giới khẳng định là một trong những tác nhân gây bệnh ung thư phổi và trung biểu mô

Các loại sợi thực vật được nghiên cứu và ứng dụng trong dự án

“Nghiên cứu hiện trạng sử dụng amiăng và thử nghiệm vật liệu thay thế tại Việt Nam” rất sẵn có tại Việt Nam như bột giấy, bột tre, sợi đay Về mặt công nghệ, đây là thử nghiệm đầu tiên đối với việc ứng

Trang 2

dụng sợi thực vật trong sản xuất vật liệu xây dựng bằng công nghệ xeo cán Do khối lượng riêng của sợi thực vật khá thấp nên tấm lợp sản xuất ra nhẹ (1,35 m2 nặng khoảng 11,5–12,5 kg) Các tấm lợp có bề mặt nhẵn, hơi bóng, màu ghi nhạt và dễ dàng sơn phủ màu để trang trí theo sở thích người sử dụng Theo đánh giá của các chuyên gia, chất lượng sản phẩm sợi thực vật bước đầu đã đáp ứng được đa số tiêu chuẩn Việt Nam Nhưng điều quan trọng hơn cả là vẫn tận dụng được dây chuyền sản xuất tấm amiăng – ximăng sẵn có mà không cần thay đổi nhiều công nghệ cũ Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu sợi thực vật ở Việt Nam khá phong phú, gồm các sợi xơ gỗ sinh

ra từ quá trình chế biến gỗ, các phụ phẩm nông nghiệp như sợi cây ngô, rơm rạ

10.5.4.3 Sử dụng sợi PVA

Viện Khoa học công nghệ vật liệu xây dựng đã phối hợp với công ty Nam Việt (Thủ Đức – TP HCM), sản xuất thử nghiệm 1.500 tấm lợp và 500 tấm phẳng sử dụng sợi PVA Ông Trần Quốc Tế, tác giả của loại vật liệu mới này, cho biết, PVA là vật liệu dẻo có độ bền cao, bám dính tốt với ximăng và có khả năng chịu đựng điều kiện khí hậu khắc nghiệt của nước ta Đối với ngành tấm lợp Việt Nam, sản xuất fibro ximăng hay tấm lợp PVA đều phải nhập khẩu sợi nguyên liệu, ông Tế cho rằng nên nhập PVA là thứ không gây tranh cãi thì hơn Những tấm lợp sản xuất thử tại Công ty Nam Việt đã được kiểm nghiệm theo TCVN 4434/2000 cho tấm lợp fibro ximăng Vì sợi PVA có nhược điểm là khả năng giữ hạt ximăng kém nhiều lần so với sợi amiăng nên nhóm nghiên cứu đã bổ sung phụ gia dàn sợi (bột giấy) và phụ gia trợ lọc TT–01 Trên cơ sở quy trình sản xuất fibro ximăng hiện nay, chỉ cần đầu tư thêm hai cụm thiết bị đánh nhuyễn bột giấy và pha chế phụ gia trợ lọc Tuy nhiên giá thành cho sản xuất tấm lợp là khá cao, chênh lệch chi phí nhập khẩu vật liệu PVA là 45.000 đồng/kg; trong khi fibro ximăng chỉ có 5.000 đồng/kg

Như vậy, ba yếu tố cần hội đủ để một vật liệu mới có thể thay thế fibro ximăng trên thị trường là giá chấp nhận được, độ bền bằng hoặc hơn tấm lợp này và không độc hại Nhưng hiện nay chưa có sản phẩm nào có đủ cả ba yếu tố đó Vì thế, nếu cấm sản xuất fibro

Trang 3

ximăng vào năm 2004 mà chưa có vật liệu thay thế hữu hiệu, thị trường tấm lợp sẽ có những biến động lớn

10.5.4.4 Sử dụng sợi thủy tinh kiềm

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ký quyết định 115, một số nhà khoa học – đi tiên phong là thạc sĩ Trần Ngọc Mỹ – đã nghiên cứu thử nghiệm và sản xuất sợi thuỷ tinh kiềm chất lượng cao thay thế sợi amiăng Kết quả đề tài này được Viện Vật liệu (Bộ Xây dựng) cấp giấy chứng nhận số 195 VLXD/P14 và đã có nhận xét: “Đây là loại thuỷ tinh kiềm chất lượng cao có thể sử dụng các loại vật liệu có tính kết dính là ximăng, các loại keo hữu cơ và sử dụng trực tiếp làm vật liệu cách âm, cách ẩm, cách nhiệt Trong quá trình chuyển đổi công nghệ có thể giữ nguyên dây chuyền thiết bị cũ, chỉ cần bổ sung thiết

bị ở công đoạn phối trộn phụ gia với nguyên liệu chính Qua thử nghiệm, các nhà khoa học tính toán khi chuyển đổi công nghệ thì chỉ cần đầu tư thêm 420 triệu đồng cho dây chuyền công suất 1 – 1,5 triệu m2/năm và thời gian ổn định công nghệ này trong vòng ba tháng Như vậy chi phí giá thành dùng tấm lợp thủy tinh sẽ rẻ hơn tấm lợp Proximăng cốt sợi amiăng từ 6.300 đồng/tấm xuống 4.800 đồng/tấm Nguồn nguyên liệu sản xuất được tận dụng thủy tinh phế liệu từ kính vỡ, chai lọ và các phụ gia hóa chất có trong thị trường nước ta.” Kết quả nghiên cứu thành công cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng năm 2004 vật liệu amiăng sẽ được thay thế như tinh thần Quyết định 115 của Chính phủ

10.5.4.5 Dùng đinh hương để trung hòa amiăng

Trước đây, amiăng (một loại chất sợi độc hại có thể gây ung thư phổi) thường được dùng làm vật liệu chống cháy trong các tòa nhà Thông thường khi dỡ bỏ các tòa nhà, người ta phải phong tỏa chúng và ngăn không cho các sợi amiăng độc hại lọt ra ngoài Giờ đây, các nhà khoa học Italy đã tìm được cách trung hòa chúng bằng cách sử dụng một chất chiết xuất từ cây đinh hương Khi chất lỏng này chạm vào bề mặt amiăng, ngay lập tức nó sẽ làm amiăng rắn lại thành một loại polymer, không thể lơ lửng ra ngoài không khí

Trang 4

10.5.5 Xử lý chất thải từ các nhà máy sản xuất tấm lợp

fibro–ximăng

Trong quá trình sản xuất, các nhà máy đã thải ra gần 10 ngàn tấn chất thải rắn dưới dạng cục và mảnh vỡ Đây là một hỗn hợp gồm 10% sợi amiăng trắng và 90% ximăng Pooclăng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng Để xử lý chất thải này, một số ít nhà máy đã chở chất thải đi nơi khác để chôn lấp như chôn lấp rác thải; một số khác thì tận dụng lại một phần để làm tấm lợp, còn hầu hết thì dồn thành đống, lưu trữ và chưa có hướng giải quyết

cơ bản Ngay cả việc chôn lấp cũng không thể duy trì mãi được, cũng như việc chôn lấp rác thải vậy Nội dung, ý tưởng này là có thể tận thu để xử lý lượng chất thải này để tái chế clinke và phân bón cho cây trồng Ý tưởng này có thể áp dụng để xử lý chất thải tại các nhà máy sản xuất vật liệu cách điện, bảo ôn và sản xuất má phanh ôtô Quá trình xử lý như sau:

Xử lý sợi amiăng trắng: Amiăng độc là do cấu trúc dạng sợi,

nếu phá vỡ cấu trúc đó thì sẽ phá vỡ được khả năng gây nguy hiểm của nó Như ta đã biết, amiăng trắng có công thức là

3MgO.2SiO 2 2H 2 O, trong đó cấu trúc (H2O) chiếm 13% Nếu nung amiăng trắng đến nhiệt độ trên 7500C thì lượng trên sẽ mất hoàn toàn Nếu soi qua kính hiển vi điện tử thì thấy amiăng trắng có dạng

“dã sợi” (giống như trên tàn hương, tàn thuốc lá) không còn tích chất sợi nữa Kết quả phân tích Rơngen cho thấy trong hỗn hợp chỉ còn có khoáng MgO, SiO2 chiếm khoảng 90%

Tận thu mua chất thải để tái chế clinke: như trên đã trình

bày, trong chất thải rắn này có 90% là các thành phần ximăng pooclăng, vì vậy nếu tiếp túc nung (trong lò tunel) đến nhiệt độ trên

1000C và duy trì trong 1 giờ thì các oxit chủ yếu sẽ kết hợp với nhau tạo thành các khoáng vật Silicate–Canxi, Aluminat canxi ở dạng cấu trúc tinh thể hoặc vô định hình Đây là nguyên liệu cho clinke ximăng poóclăng

Tận thu phế thải làm phân bón: Nếu trong phế thải thành

phần cặn có chứa nhiều MgO hơn (trên 10%) thì khi nung sẽ tạo ra

Trang 5

olivin và SiO2, có thể bổ sung một ít khoáng vật khác để làm phân bón cho lúa hay cải tạo đất, chống sâu bệnh

10.6 MỘT SỐ ĐIỀU LUẬT CẤM SỬ DỤNG AMIĂNG Ở NƯỚC TA

Với những hiểu biết về tác hại của amiăng đến đời sống và sức khoẻ con người, hiện nay, Chính phủ đã ban hành những điều luật nghiêm ngặt trong việc cấm sử dụng sản phẩm vật liệu có chứa amiăng Sản phẩm vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm Amphiboles cũng nằm trong danh mục các mặt hàng cấm nhập khẩu, cấm xuất khẩu khi người Việt Nam và người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh Việt Nam

Dưới đây là đoạn trích: “Thông tư liên tịch số 1529/1998/TTLT/

BKHCNMT–BXD ngày 17–10–1998 về việc hướng dẫn đảm bảo môi

trường trong sử dụng amiăng vào sản xuất các sản phẩm, vật liệu và xây dựng”

10.6.1 Sử dụng amiăng vào sản xuất các sản phẩm, vật liệu xây dựng

1 Cấm sản xuất dưới bất kỳ hình thức, quy mô khối lượng nào các sản phẩm có chứa amiăng, nguyên liệu amiăng thuộc nhóm khoáng vật Amphibole bao gồm: Actinolite, Crocidolite, Amosite, Anthophylite và Tremolite

2 Các cơ sở sử dụng amiăng và sản xuất các sản phẩm, vật liệu có chứa amiăng phải tuân thủ các quy định sau:

a) Chỉ sử dụng amiăng Chrysotile làm nguyên liệu cung cấp cho sản xuất các sản phẩm và vật liệu có chứa amiăng

b) Bảo đảm nồng độ sợi amiăng Chrysotile trong khu vực sản xuất không vượt quá 1 sợi/ml không khí (trung bình 8 giờ) và 2 sợi/ml không khí (trung bình 1 giờ)

c) Không để rách vỡ bao, rơi vãi khi vận chuyển nguyên liệu amiăng Chrysotile

d) Tổ chức theo dõi khám sức khỏe, chụp X–quang định kỳ theo quy định hiện hành của Bộ Y tế cho toàn bộ cán bộ, công nhân và lưu giữ kết quả tại cơ sở

Trang 6

e) Lập và trình nộp Báo cáo đánh giá tác động môi trường cho

cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường để thẩm định theo luật định trước ngày 31 tháng 3 năm 1999

10.6.2 Sử dụng amiăng Chrysotile và các sản phẩm, vật

liệu chứa amiăng Chrysotile trong xây dựng

1 Không sử dụng amiăng Chrysotile làm vật liệu nhồi, chèn, cách nhiệt trong công trình xây dựng Cần sử dụng các chất kết dính nhằm đảm bảo sợi amiăng Chrysotile không khuếch tán vào không khí đối với những công trình, thiết bị công nghiệp có yêu cầu cách nhiệt và chịu lửa bằng amiăng Chrysotile

2 Phải áp dụng các biện pháp cần thiết để khống chế việc phát sinh bụi amiăng Chrysotile khi thực hiện các công việc như cưa, mài, đục, cắt các sản phẩm có chứa amiăng Chrysotile

3 Phải lập phương án bảo vệ môi trường trước khi tiến hành việc phá vỡ, sửa chữa, cải tạo các công trình, thiết bị công nghiệp có chứa amiăng Chrysotile

4 Phải thu gom và chuyển vào nơi quy định các phế thải có chứa amiăng Chrysotile, các phế thải loại này không được dùng làm nguyên liệu rải đường

Câu hỏi:

1 Những bộ phận thiết bị nào trong ôtô đã phát thải amiăng xuống biển và phát thải loại amiăng nào? Mức độ phát thải là bao nhiêu? Chúng gây ảnh hưởng gì cho sinh vật sống ở khu vực này? Quá trình phát thải amiăng từ các thiết bị ôtô?

2 Tồn tại những sinh vật nào trong khu vực nhiễm amiăng? Với mức độ ô nhiễm bao nhiêu thì các sinh vật này có thể tồn tại được?

3 Công thức chung của nhóm Amphibole: XY2Z5(Si, Al, Ti)8O22(OH, F)2và công thức chung của nhóm Serpentine là (Mg, Fe)3 Si2O5(OH)4 Thành phần nào gây độc, gây bệnh cho sinh vật?

4 EPA đã có qui định về amiăng trong nước uống, nồng độ tối đa là 7.106sợi amiăng có kích thước dài hơn 10 miromet Vậy khi nước uống có nồng độ amiăng nhỏ hơn 7.106 và những sợi amiăng ngắn hơn có gây ảnh hưởng gì không?

Trang 7

5 Khi nước có những biểu hiện nào, đặc tính gì thì có thể nghi ngờ nước nhiễm amiăng?

6 Cơ chế gây bệnh của amiăng và cơ chế làm sạch đất nhiễm amiăng trong đất từ nấm và vi sinh vật?

7 Hiện trang sử dụng những thiết bị chứa amiăng ở nước ta hiện nay? Và đã có những vật liệu nào thay thế cho những thiết bị đó chưa?

8 Tại sao những sợi amiăng dài hơn 10 miromet mới gây hại, những sợi ngắn hơn có gây hại không?

9 Hiện nay vẫn còn sử dụng ống ximăng thoát nước thải? Nước thải có chứa amiăng có gây ảnh hưởng gì đến môi trường đất không?

10 Làm thế nào để xác định vật chất đó có chứa amiăng?

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Huy Bá (2002), Độc học môi trường, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh

2 Nguyễn Đức Khiển (2002), Môi trường và sức khỏe, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội

3 Trịnh Thị Thanh (2000), Độc học, môi trường và sức khoẻ con người, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội

6 http://www.vtv.org.vn/ft8.cfm?content_id=XH30701155230&topic_id=XH

Trang 10

CHƯƠNG 11

ĐỘC HỌC MÔI TRƯỜNG VỀ BỤI

(Ecotoxicology of Dust)

11.1 GIỚI THIỆU

Bụi được coi là vật liệu quý báu trong hoạt động của con người qua nhiều thời đại, mang nhiều ý nghĩa khác nhau Nếu không có bụi thì sẽ không có hạt nhân ngưng kết đồng nghĩa với không có mây, mưa trên trái đất Khoa học – kỹ thuật phát triển, sản xuất công nghiệp phát triển mạnh mẽ, giao thông đô thị và nông thôn rầm rộ ngày đêm trên khắp mọi nẻo đường, con người tăng cường khai thác tài nguyên đã thải vào môi trường vô số bụi, gây ô nhiễm và độc hại Bụi gây ra nhiều bệnh nghề nghiệp, bệnh đường phố, bệnh phổi nghiêm trọng cũng như tác động lên môi trường sinh thái

Nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa Dân số đô thị Việt Nam năm 1990 là khoảng

13 triệu người (chiếm tỉ lệ 20%), năm 1995 tỉ lệ dân số đô thị chiếm 20,75%, năm 2000 chiếm 25% và dự báo đến năm 2010 tăng lên 33%, năm 2020 chiếm 45% Sự phát triển đô thị kéo theo sự phát triển của ngành xây dựng và đương nhiên cả bụi xây dựng Nghĩa là đủ các loại bụi độc hại đua nhau tăng trưởng Khẩu trang bịt mặt, chống bụi có ích gì nữa không !? Dưới góc độ Độc học môi trường, chương này sẽ

đề cập đến ô nhiễm bụi và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người và môi trường sinh thái

Trang 11

11.2 TÍNH CHẤT LÝ HĨA CỦA BỤI TRONG KHƠNG KHÍ

11.2.1 Kích thước hạt

Được xác định theo đường kính hạt Người ta quy ước đường kính của hạt bụi là đường kính của hạt hình cầu có tỷ trọng đơn vị là 1g/cm3 và được gọi là đường kính khí động tương đương Các hạt bụi có kích thước rất khác nhau, từ 1 đến 200 micromet (μm) Những hạt bụi có kích thước trên 1 μm có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, nếu nhỏ hơn nữa thì khó nhìn thấy Dưới đây là kích thước của một số loại bụi:

Sương mù : 0,01 – >1.0 μm

Khói thuốc lá : 0,01 – 1.0 μm

Chất màu của sơn : 0,1 – 10 μm

Bụi xi măng : > 0,1 – 100 μm

Bụi than : 1.0 – 100 μm

Thuốc trừ sâu : 1.0 – 10 μm

Phấn hoa : 10 – 100 μm

Hình 11.1: Kích thước một số loại hạt bụi trong không khí

(Ngun: “Ngun gc và nh hưởng các ht trong khơng khí ca P.F

Fenncly “American Scientist” No 1–2/1976)

Trang 12

- Hạt hình cầu: tro bay, phấn hoa, bồ hóng, oxit sắt…

- Hạt khối lăng trụ: sắt, thạch anh…

- Hạt hình sợi: amian, bông, len, thủy tinh…

- Phiến mỏng: chè, thuốc lá, mica…

Sợi được định nghĩa là các hạt có tỷ số chiều dài trên chiều rộng ít nhất bằng 3

Hình 11.2: Hình dạng bụi trong không khí

11.2.3 Diện tích bề mặt và thể tích hạt bụi

Các hạt không giống hình cầu mà thường có diện tích bề mặt lớn hơn hạt hình cầu Diện tích bề mặt bao gồm toàn bộ bề mặt của hạt, kể cả các kẽ hở hoặc lỗ bên trong hạt Một hạt lớn bị vỡ nhỏ ra thì tổng diện tích bề mặt của các hạt nhỏ lớn hơn nhiều so với diện tích bề mặt của hạt lớn Hoạt tính của hạt tăng lên khi kích thước của hạt càng nhỏ Hạt có thể hấp phụ hơi, khí, tích điện và gây nổ

11.2.4 Tính hòa tan

Khi tiếp xúc với cơ thể thì bụi càng dễ hòa tan càng nguy hiểm

vì chúng có thể gây nhiễm độc hoặc gây kích ứng, tùy theo loại bụi

Trang 13

11.2.5 Thành phần cấu tạo

Thành phần của bụi có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiếp xúc Tùy loại bụi, nó có thể chứa thành phần rất khác nhau Các yếu tố trong không khí (như độ ẩm) có ảnh hưởng đến thành phần bụi

11.2.6 Tính phóng xạ

Một số ngành sản xuất có thể tạo ra bụi có tính phóng xạ như khai thác quặng có tạp chất phóng xạ, trong công nghiệp năng lượng nguyên tử, trong các phòng thí nghiệm phóng xạ Trong dịch tễ học môi trường người ta còn lưu ý đến tính phóng xạ của các vật liệu xây dựng

11.2.7 Tính dẫn điện của bụi

Bụi có thể tích điện Dưới tác dụng của điện trường, bụi sẽ bị phân ly, bị hút về các cực khác dấu và tính chất đó được ứng dụng để khử, lọc bụi trong công nghiệp

Ba#ng 11.1 Tốc độ bụi dưới điện trường 3000 Volt

100

10

1 0,1

885 88,5 8,85 0,88

(Nguoàn: McHill, 1998)

11.2.8 Tính cháy nổ của bụi

Khi nồng độ bụi trong không khí đạt tới một mức độ nào đó mà gặp tia lửa chúng có thể cháy nổ, đặc biệt là các bụi hữu cơ (than, đay, sợi bông, bột ngũ cốc ) Bụi càng nhỏ, diện tích tiếp xúc tổng cộng với oxi càng lớn thì càng dễ bốc cháy, dễ gây nổ

11.3 PHÂN LOẠI BỤI

Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu khác nhau, người ta có những chỉ tiêu phân loại khác nhau, do đó, cũng có những bảng phân

loại khác nhau

Trang 14

11.3.1 Phân loại dựa vào kích thước

• Bụi: những hạt có kích thướt từ 1 đến 200 micromet được tạo thành do sự phân rã tự nhiên của đất và đá hoặc từ các quy trình cơ học như nghiền và phun, có tốc độ lắng lớn và có thể được tách ra khỏi khí quyển nhờ trọng lực và các lực quán tính Bụi mịn đóng vai trò trung tâm xúc tác cho các phản ứng hóa học xảy ra trong khí quyển

• Khói: gồm các hạt có kích thước từ 0,01 đến 1 micromet, có thể ở dạng rắn hay lỏng, được tạo ra từ quá trình đốt hay các quá trình hóa học khác

• Khói muội: các hạt rắn có kích thước từ 0,1 đến 1 micromet, được thải ra từ các quá trình hóa học hay luyện kim

• Sương: tạo thành từ các giọt chất lỏng có kích thước nhỏ hơn

10 micromet, do sự ngưng tụ trong khí quyển hay từ các hoạt động công nghiệp

• Mù: là các hạt sương có khả năng tạo thành nước với độ đậm đặc có thể cản trở tầm nhìn

• Sol khí: loại này bao gồm tất cả các chất rắn hay lỏng lơ lửng trong không khí; chúng có kích thước nhỏ hơn 1 micromet

11.3.2 Phân loại dựa vào nguồn gốc

Bụi hữu cơ: bụi thực vật, động vật; bụi vô cơ: khoáng chất thạch anh, bụi kim loại, bụi tổng hợp: Có thể chia thành hai loại là bụi tự nhiên và bụi nhân tạo

11.3.3 Phân loại dựa vào tác hại

Căn cứ vào tác hại bụi được chia thành năm loại:

• Bụi gây nhiễm độc chung: chì, thủy ngân, benzen

• Bụi gây dị ứng như viêm mũi, hen, suyễn, nổi ban: bụi bông gai, phấn hoa

• Bụi gây ung thư: bụi quặng, bụi phóng xạ, hợp chất crom

• Bụi gây nhiễm trùng: lông, tóc

Trang 15

• Bụi gây xơ phổi: bụi amiăng, bụi thạch anh

11.3.4 Phân loại dựa vào thành phần hóa học

Có những loại sau:

Bụi florua: Bụi Florua được phát sinh giống như khí florua

Bụi chì: Việc phát minh ra động cơ đốt trong và sự phát triển

mạnh mẽ của nó từ những thập niên đầu của thế kỉ hai mươi tới nay đã đẩy mạnh nhu cầu tiêu thụ xăng dầu Sự nổ sớm trong silinder đã được giải quyết từ khi tìm ra alkyl chì (tetrametyl và tetraetyl chì) vào đầu những năm 1920 và đến năm 1923 thì xăng pha chì đã trở thành phổ biến trong công nghệ xe máy Tuy nhiên việc sử dụng xăng pha chì làm nảy sinh vấn đề lớn về môi trường Đó là khói bụi thải ra từ xe cộ sử dụng xăng pha chì gây ô nhiễm chì trong môi trường

Khí bụi thải của các loại ôtô là nguồn gây bụi chì chính trong không khí Hơi chì và bụi chì chủ yếu là do giao thông dùng xăng dầu pha chì gây ra Ở Mỹ, từ năm 1984 người ta đã quy định giảm hàm lượng chì trong xăng từ 1,1 xuống 0,1 g/gal và do đó lượng thải bụi hơi chì ở Thành phố năm 1996 đã giảm đi 95% so với năm 1970, Cây cối hai bên đường, chuột đồng cũng như gia súc ăn cây cỏ sống ở cạnh các đường giao thông lớn đều có chứa nồng độ chì đáng kể trong các mô và tế bào trong cơ thể chúng, và sức khỏe của chúng bị ảnh hưởng Những người thường xuyên tiếp xúc với giao thông như lái xe, công an giao thông, bán xăng dầu, v.v thường có hàm lượng chì trong người cao hơn người khác Người ta nghiên cứu thấy rằng 30 – 50% hơi chì được hô hấp vào cơ thể sẽ hấp thụ trong người, trong máu tuần hoàn, do đó thở hít không khí có bụi chì sẽ bị ngộ độc chì Mức chì vào khoảng 0,2 – 0,4 ppm thì chưa gây tác hại gì đáng kể, nhưng nếu hàm lượng đó lên đến 0,8 ppm thì sẽ phát sinh bệnh thiếu máu, hồng cầu giảm rõ rệt và gây rối loạn đối với thận Trẻ em và phụ nữ hấp thụ chì rất mạnh Đối với trẻ em, nồng độ chì 0,6 ppm trong máu có thể gây ra ngộ độc

Trang 16

Theo đánh giá thì lượng bụi chì ở nước ta chưa đến mức ô nhiễm nhưng ở các nút giao thông chính thì nồng độ chì vượt quá TCCP Ở Ngã Tư Vọng (Hà Nội ) mức độ bụi chì vượt TCCP 1,6 lần, ở ngã tư Điện Biên Phủ (TP Hồ Chí Minh) thì xấp xỉ TCCP

Bụi xi măng: Bụi của lò xi măng và máy nghiền clinke

ximăng gây ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe của con người, cũng như ảnh hưởng xấu đối với động vật và thực vật Đối với thực vật nó làm rụng lá nhanh, cây chóng già, hình thành các khí khổng trong quả, giảm trọng lượng quả và hạt, và nói chung làm cho thực vật bị cằn cỗi Bụi các đá từ các máy nghiền nguyên liệu làm xi măng thì không nguy hiểm lắm

Bụi natri clorua: Bụi natri clorua (NaCl ) thường được kết hợp

với hơi nước và được cuốn theo gió Loại bụi muối này cũng gây tác hại đối với thực vật như làm rụng lá, triệt hoa quả và giết chết mầm non

Bụi than, bụi amiăng và bụi bào mòn lốp và đường ôtô: Ôtô

chạy trên đường, đặc biệt là khi phanh ôtô, các bánh xe sẽ ma sát mạnh với mặt đường làm mòn đường và bánh xe, gây ra bụi đá và bụi cao su, bụi sợi amiăng Các loại bụi này cùng với bụi than, bụi đá, bụi amiăng khác đều ảnh hưởng xấu tới con người, động vật và thực vật Đối với thực vật nó cũng gây ra bệnh chết hoại, làm rụng lá, làm giảm hoa quả và năng suất cây trồng

Bụi vi sinh vật: Khí hậu nước ta nóng ẩm; đất thường ẩm

thấp; Thành phố thoát nước kém; mặt đường, vỉa hè nhiều rác bẩn, rải rác khắp Thành phố đều có các chợ bán rau xanh và thực phẩm tươi sống, đó là các điều kiện thuận lợi để vi sinh vật phát triển Các hạt bụi hay các sol khí và lỏng có mang theo vi sinh vật, vi trùng, vi khuẩn được gọi là bụi vi sinh vật Bụi vi sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người, nhiều khi nó là nguyên nhân của các dịch bệnh về đường hô hấp, bệnh đau mắt và bệnh đường tiêu hóa Các nước khác không phải quan tâm đến các vấn đề này, vì thông thường môi trường không khí của họ không bị ô nhiễm bụi vi sinh

Trang 17

vật Ngược lại, nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm nên cần quan tâm đến vấn đề này Vi sinh vật bám vào bụi không khí thường có ba loại:

• Vi khuẩn như là phế cầu, tụ cầu vàng, trực khuẩn lao, trực khuẩn hạch, …

• Siêu vi khuẩn như là vi khuẩn cúm, bệnh sởi, đậu mùa, quai bị,…

• Nấm mốc, v.v…

Ở những chỗ thông thoáng có ánh sáng mặt trời, các vi sinh vật sẽ bị tiêu diệt, ngược lại ở các ngõ phố chật hẹp ẩm thấp, u ám như các ngõ phố ở khu phố cổ thì lượng vi sinh vật độc hại trong không khí càng nhiều, càng mất vệ sinh Đo lường thực tế các năm 1987 –

1988 ở một số đường phố phía nam thủ đô Hà Nội cho thấy trong 10 lít không khí chứa 282 – 386 con vi khuẩn, trong khi đó ở Thành phố Berlin, trong thời kỳ ngay sau đại chiến thế giới lần thứ hai, Thành phố chưa phục hồi mà chỉ có 1 con vi khuẩn trong 10 lít không khí

11.3.5 Phân loại theo nguồn phát sinh

11.3.5.1 Bụi trong nhà

Có thể bao gồm các chất sau đây:

• Các chất vô cơ: từ đất, cát và bụi trong không khí (bụi lơ lửng)

• Các chất hữu cơ:

o Nguồn gốc động vật: lông, tóc, gàu, lông vũ, cặn bã, chất thải

o Nguồn gốc thực vật: phấn hoa (kích thước nhỏ nhất là 10μm), các mảnh cây cỏ đặc biệt như bông, đay, gai, gỗ, cỏ, lúa…

o Nguồn gốc sinh vật khác: bào tử (10–35μm), vi khuẩn (0,3–

35 μm), sợi nấm…

11.3.5.2 Bụi đường phố ở đô thị

Trong môi trường địa phương hoặc cộng đồng ở các đô thị, bụi trong không khí có thể do đất, cát trên đường phố, đặc biệt trong quá

Trang 18

trình xây dựng đô thị Bụi do xe cộ đi lại ngoài việc làm tung bụi đất cát còn tạo ra bụi nhựa đường có thành phần là hidrocacbon đa vòng phân tử lượng cao có thể gây ung thư Thắng xe cũng có thể tạo ra bụi amiăng Khói do động cơ các loại xe thải ra có khi là cặn thải dưới dạng hạt bụi, đặc biệt là chì

11.3.5.3 Bụi công nghiệp

Bụi trong môi trường sản xuất công nghiệp rất quan trọng và rất phức tạp Có thể phân loại theo các cách sau:

™ Theo cách phát sinh:

o Bụi phát sinh từ sự chia nhỏ các vật liệu rắn do tác dụng cơ

học hoặc có sẵn trong tự nhiên (xay, nghiền, đập, vận chuyển…)

o Khói nặng: là khí dung ngưng tụ phát sinh từ các vật thể rắn

bị làm nóng đến bốc hơi rồi ngưng tụ lại, thường gặp trong các cơ sở

đúc kim loại, luyện kim, hàn điện, cắt kim loại bằng mỏ hàn…

o Khói nhẹ là do sự đốt cháy các vật liệu có cacbon, các chất

hữu cơ nói chung, thường gặp nhiều trong không khí đô thị

™ Theo nguồn gốc:

o Bụi hữu cơ: là các bụi hóa chất, chất tổng hợp, các loại bụi thực vật (bụi bông, bụi đay, bụi gai…), động vật, các loại nấm mốc,… có

ở trong các nhà máy hóa chất, hóa mỹ phẩm (dầu gội đầu, bột giặt, kem đánh răng…), các nhà máy chế biến thủy sản –nông sản – thực phẩm (cafe, sữa, bột ngọt) và trong nhà máy dệt, may, da giày hoặc sản xuất các mặt hàng tiêu dùng khác Đặc điển chung của bụi hữu cơ phát sinh trong các nhà máy này là có thành phần phức tạp Tỷ lệ kích thước bụi dưới 10μm vào khoảng 40–85% lượng bụi có kích thước nhỏ hơn 10μm không nhiều

o Bụi vô cơ: là các loại bụi khoáng chất như cát, đá, than và các bụi kim loại như sắt, nhôm, chì có trong các nhà máy cơ khí luyện kim, các nhà máy vật liệu gốm sứ và vật liệu xây dựng

o Bụi động vật

Trang 19

o Bụi hỗn hợp: bụi mài

™ Theo kích thước: Dựa vào kích thước hình học người ta phân chia thành các loại bụi như sau:

o Bụi nặng (còn gọi là bụi lắng đọng) là loại bụi có đường kính

d > 100μm Dưới tác dụng của lực trọng trường, loại bụi này thường có vận tốc rơi lớn hơn không Các loại bụi nặng là bụi đất, đá, bụi kim loại

o Bụi lơ lửng là loại bụi có đường kính d ≤ 100μm Loại bụi này chịu ảnh hưởng không đáng kể của lực trọng trường vì vậy chúng thường bay lơ lửng trong không gian trong một thời gian khá lâu, tương tự như các phân tử khí khác

™ Theo mức độ xâm nhập đường hô hấp

o Bụi hô hấp: thường không trông thấy

Bụi dưới 0,1μm: không ở lại trong phế nang

Bụi từ 0,1–5μm: ở lại phổi từ 80–90%

o Bụi không hô hấp:

Từ 5–10μm: bị ngăn cản ở đường hô hấp trên

Trên 10μm: thường đọng lại ở mũi, họng

™ Theo tác hại sức khỏe

o Bụi gây nhiễm độc: chì, Hg, Mg…

o Bụi gây dị ứng, viêm mũi, nổi ban: bụi bông, gai, bụi hóa học, bụi gỗ…

o Bụi gây ung thư: quặng phóng xạ hoặc bụi chứa chất phóng xạ, bụi crôm (VI), As

o Bụi gây xơ hóa phổi: bụi silic, amiăng

™ Dựa vào hình dáng: có hai loại

• Bụi hạt là loại bụi có tỷ lệ chiều rộng hạt bụi trên chiều dài hạt bụi ≤ 3

Trang 20

• Bụi sợi là loại bụi có tỷ lệ chiều rộng hạt bụi trên chiều dài hạt bụi > 3

Bụi do phun xuất núi lửa

Trên mức độ toàn cầu, hàng năm hàng chục núi lửa đã phun lên bầu trời hàng trăm triệu tấn bụi, đặc biệt là bụi lưu huỳnh Chúng dần dần rơi xuống mặt đất gây ô nhiễm khí quyển nặng nề, kéo dài ở những vùng xung quanh gần núi lửa Chẳng hạn, trận phun xuất núi lửa Krakatoa ở Indonexia năm 1883 đã phun lên khí quyển 120 tấn hạt bụi rất nhỏ

Bất kì nơi nào trên thế giới có hoạt động núi lửa thì các vùng xung quanh đó đều bị ô nhiễm bụi Cách đây chừng 5 năm, núi lửa Pinatupo ở Philippin, sau 635 năm ngủ yên, đã thức dậy và phun ròng rã mấy tháng trời vào khí quyển hàng chục ngàn tấn bụi xám, chứa 20 triệu tấn khí SO2, tạo thành một lớp mây khổng lồ làm bầu trời một vùng tối đen đầy bụi trong nhiều tháng Sau đó, mỗi lần gặp mưa bụi lại tạo ra lũ bùn rất kinh khủng Tai họa này có lẽ đến năm

2010 mới khắc phục hết! Hiện nay núi lửa Pinatupo vẫn rình rập chờ phun lửa Bụi núi lửa chứa zeolit gây ra các bệnh ung thư trung biểu mô như amiăng Khoảng 20 triệu tấn dioxyt lưu huỳnh phun vào khí quyển ở độ cao 40 km do núi lửa Pinatupo hoạt động lại ngày 14/7/1991, đã rơi về trái đất Màn bụi ấy chứa axit sunfuric, trước hết hình thành một dải hẹp trên xích đạo Tiếp đó, đám mây này phải mất 2 tháng để rải ra và đi lên phía Nam Hoa Kỳ và trung tâm Châu Âu Trường Đại Học Geneve ghi được độ giảm của tia mặt trời chiếu trực tiếp vào năm 1991 là 21%, năm 1992 là 17% Năm 1994, đội vật lý ứng dụng về năng lượng của Trường Đại học Geneve dự đoán rằng, độ giảm ấy chỉ còn 7 hay 9 % Nhưng theo Pierre Ineichen cũng ở trong đội ấy thì “khó mà đo được trị giá này, vì nó cùng bậc với những thay đổi hàng năm ở trên vĩ độ của chúng ta“ Đáùm mây Pinatupo đã gây thiệt hại cho Hoa Kỳ hàng triệu đô la Tại sa mạc Mosave, ở California, hai trung tâm đồ sộ về năng lượng mặt trời mới được mở rộng đã bị thiệt hại mất 30% hiệu suất (280 MW) do bụi núi

Trang 21

lửa Pinatupo che mất ánh sáng mặt trời trên vùng trời của trung tâm năng lượng California

11.3.5.4 Ô nhiễm bụi thiên thạch

Bụi thiên thạch hay còn gọi là bụi vũ trụ thường gây ô nhiễm cho không khí ở tầng cao và vai trò của nó cũng nhỏ hơn Theo ước tính của các nhà khoa học Nga A Ivanov và K Florenxki, hàng năm trái đất nhận được một khối lượng bụi thiên thạch lên tới khoảng 2–

5 triệu tấn, so với khối lượng bụi gây ô nhiễm không khí thường xuyên là 9–10 triệu tấn Bụi vũ trụ có thể rơi dần xuống mặt đất và điều cần lưu ý là chúng có thể có phóng xạ, góp phần gây ô nhiễm khí quyển

11.4 CÁC LOẠI BỤI GÂY Ô NHIỄM VÀ GÂY ĐỘC ĐIỂN HÌNH 11.4.1 Bụi đường phố

Trong môi trường địa phương hoặc cộng đồng ở các đô thị, bụi trong không khí có thể do đất, cát trên đường phố, đặc biệt quá trình xây dựng đô thị Bụi do xe cộ đi lại, ngoài việc làm tung bụi đất cát còn tạo ra bụi nhựa đường có thành phần là hidrocacbon đa vòng phân tử lượng cao, có thể gây ung thư Thắng xe có thể tạo ra bụi amiăng, bụi lưu huỳnh, cao su nguy hiểm cho sức khỏe Khói do động

cơ các loại xe thải ra có khi là cặn thải dưới dạng hạt bụi, đặc biệt là chì Đáng lưu ý nhất là nồng độ chì do giao thông cao hơn quy định và trong bụi có các nguyên tố khác như: Zn, Cd, Sb, Hg, Cr, Ni, Se, C, Si Các phương tiện giao thông vận tải trong đô thị, sử dụng năng lượng hóa thạch là xăng dầu, đã thải vào không khí các khí thải như khí CO2, các oxit cacbon … và một lượng bụi độc hại gồm có bụi chì và bụi muội than

Tác hại của bụi đường phố: gây bẩn nói chung, làm mất vệ sinh và mỹ quan đối với nhà cửa, đồ đạc

Theo báo cáo mới đây của Sở Tài nguyên và môi trường TPHCM (2004), số liệu quan trắc tại vòng xoay Hàng Xanh, vòng xoay Phú Lâm, giao lộ Đinh Tiên Hoàng – Điện Biên Phủ cho thấy nồng độ bụi

Trang 22

luôn vượt mức cho phép từ 1,2 – 2,5 lần tùy nơi, mặc dù so với những

năm trước nồng độ bụi trung bình tại các nút giao lộ này đều có giảm

một chút Bên cạnh đó, những tuyến đường như đường Xuyên Á, Tân

Kì – Tân Quí, quốc lộ 13 từ cầu Bình Triệu trở ra … cũng có hàm

lượng bụi vượt chuẩn cho phép nhiều lần

Tại Hà Nội, vào giờ cao điểm (14 giờ), mỗi mét vuông không khí

ở xã ngoại thành Quảng An chứa 1.100,000 hạt bụi, 8.845 vi khuẩn,

trong khi con số này ở nội thành là 1.200,000 hạt bụi, 88.775 vi

trùng Mức độ ô nhiễm này cao hơn rất nhiều so với Tây Âu (một mét

vuông không khí ở nông thôn có 8.000 hạt bụi, còn ở Thành phố là

200,000 hạt bụi) Ngoài ra, còn rất nhiều khu vực trong Thành phố bị

ô nhiễm bụi nặng nhưng chưa thể nào đánh giá hết vì số trạm quan

trắc có hạn

Ba#ng 11.2: Thành phần các chất độc thải ra khi sử dụng nhiên liệu

ở các phương tiện giao thông

11.4.2.1 Bụi chứa silic dioxyt

Bụi này xuất phát từ các nguyên liệu chứa cát, thạch anh, vật

liệu xây dựng của các xí nghiệp khai thác than đá, sản xuất sành sứ,

Trang 23

gạch ngói, xi măng, mài đá, các công ty đào đường hầm, các cơ sở chạm khắc đồ đá…

Phú Sơn bị ô nhiễm bụi đá nặng do các đơn vị khai thác đá thuộc công ty Quản lý và sửa chữa đường bộ Bình Định, công ty TNHH 28/7 Bình Định và Công ty Quản lý giao thông thủy bộ Bình Định gây ra Nạn ô nhiễm môi trường nơi đây, không phải là mới xảy

ra mà đã có từ nhiều năm trước đây…, làm không khí ngột ngạt, những vườn cây ăn quả bị lớp bụi đá phủ trắng xóa không thể phát triển, nhiều ngôi nhà vừa được xây dựng xong đã có dấu hiệu xuống cấp

Silic dioxyt dễ gây ra các bệnh bụi phổi silic (silicosis) do nó liên kết với các chất hữu cơ và chuyển thành các hợp chất hữu cơ kích thích sự tạo mô liên kết trong phổi Các vết chai sẹo xuất hiện sau đó sẽ bít hẹp dần mạch máu, gây quá tải cho tim, cuối cùng có thể dẫn đến tử vong Bụi silicat (đất đá, nguyên liệu xi măng) cũng gây tác hại tương tự nhưng yếu hơn Bụi thủy tinh có hàm lượng silic cao, đồng thời hạt bụi có cấu trúc sắc nhọn, dễ gây thương tổn cơ học cho hệ hô hấp

11.4.2.2 Bụi sợi thủy tinh

Rất nguy hiểm vì chúng có thể đi qua da vào hệ thống tuần hoàn và các cơ

11.4.2.3 Bụi amiăng

(Xem thêm Chương 10, Độc học Amiăng)

Có một loại vật liệu xây dựng mà cho mãi đến nay người ta mới phát hiện hết tác hại của nó, đó là amiăng Người ta ví amiăng (thạch miên) là quả bom nổ chậm Xưa kia amiăng được xem là một vật liệu thần kì được sử dụng rộng rãi vì nó không cháy, có khả năng chống nóng, nhẹ Thạch miên được dùng làm vật liệu cách nhiệt, cách âm Thạch miên và xi măng trộn lại làm tôn xi măng hay fibroximăng Amiăng cùng với thạch cao dùng để bao bọc các cốt sắt trong các công trình xây dựng cao tầng, làm má phanh, làm bộ ly hợp (embrayage) trong ô tô, làm lò nướng bánh, vỉ nướng thịt cá

Trang 24

Xuất phát từ các vật liệu chứa khoáng amiăng, đây là một khoáng magie silicat có cấu trúc sợi Khi chế biến và xử lý amiăng sẽ xuất hiện bụi mịn, rất độc Bụi amiăng có khả năng kích thích sự sinh sản các tế bào mô liên kết trong họng và phổi, gây bệnh bụi phổi (tương tự như trường hợp với silic dioxyt) và gây khó thở nặng Hiện nay bụi amiăng còn được xác định là một tác nhân gây ung thư Theo thông tư liên tịch của Bộ KHCN & MT và Bộ xây dựng ngày 17/10/1998, chỉ có amiăng trắng (thuộc nhóm khoáng secpentin) được phép sử dụng còn amian nâu và xanh (thuộc nhóm khoáng amphibolit) hoàn toàn bị cấm

Hậu quả của việc tiếp xúc lâu ngày với amiăng sẽ sinh ra các bệnh:

- Ung thư màng phổi

- Bệnh bụi phổi (asbestose) gây xơ phổi

11.4.3.2 Bụi chì

Trong không khí, khí bụi thải của các loại ô tô là nguồn gây ô nhiễm bụi chì chính, chủ yếu do giao thông dùng xăng dầu pha chì gây ra Ở Mỹ, từ năm 1984 đã quy định giảm hàm lượng chì trong xăng từ 1,1 xuống 0,1g/gal và do đó lượng thải bụi hơi chì ở Thành phố năm 1986 đã giảm đi 95% so với năm 1970 Cây cối hai bên đường, chuột đồng cũng như gia súc ăn cây cỏ sống ở cạnh các đường giao thông lớn đều có chứa nồng độ chì đáng kể trong các mô và tế

Trang 25

bào trong cơ thể chúng, và sức khỏe của chúng bị ảnh hưởng Những người thường xuyên tiếp xúc với giao thông như lái xe, công an giao thông, người bán xăng dầu, v.v thường có hàm lượng chì trong người cao hơn người khác Người ta nghiên cứu thấy rằng 30–50% hơi chì được hô hấp vào cơ thể sẽ hấp thu trong người, trong máu tuần hoàn Do đó thở hít không khí có bụi chì lớn sẽ bị ngộ độc chì

Chì xâm nhập vào cơ thể con người qua đường hô hấp, tiêu hóa và qua da khi tiếp xúc Nếu 100 ml máu có chứa hơn 50 mg chì thì sẽ

bị đau đầu, ngất, ăn uống không ngon, trí nhớ suy giảm Ngoài ra chì còn gây tổn hại cho hệ thần kinh và tổ chức đại não, dần dần thay thế canxi trong xương cốt, dẫn đến nhiều bệnh tật mãn tính Phụ nữ có thai nếu nhiễm độc chì còn có thể dẫn tới sẩy thai, thai chết lưu Ngộ độc bụi chì cấp tính và mạn tính đều luôn gây ảnh hưởng xấu đến chức năng của hệ tạo máu, hệ xương răng và hệ thần kinh Mức chì vào khoảng 20–40 μg/ 100g máu (0,2–0,4 ppm) thì chưa gây tác hại gì đáng kể, nhưng nếu hàm lượng đó lên tới 0,8 ppm thì sẽ phát sinh bệnh thiếu máu, hồng cầu giảm rõ rệt và gây rối loạn đối với thận Trẻ em và phụ nữ hấp thụ chì rất mạnh Đối với trẻ em, nồng độ chì 0,6 ppm trong máu đã có thể gây ngộ độc

Ngoài ra, bụi chì còn thường xuất hiện ở các khu vực nghiền và sử dụng bột chì, trong dây chuyền sản xuất sườn cực acquy chì (đây là nguồn tiếp xúc gây nhiễm độc chì nhiều nhất Việt Nam), trong gia công chì kim loại và hợp kim chì, đúc chữ và sắp in chữ chì, hàn ống chì, chế tạo màn chắn bức xạ, sơn, luyện kim, sứ, thủy tinh (men chì), cao su, chất dẻo Ở Đông Mai, mỗi ngày từ 25 lò tái chế chì nấu được 10 tấn chì và cũng thải vào không khí hơn 500 kilôgam bụi chì, gấp 4.600 lần so với tiêu chuẩn cho phép Người ta đã tính ra rằng hàm lượng chì thải ra ở làng Đông Mai (không khí, ao hồ, nguồn nước ngầm) là quá lớn, vượt trên giới hạn cho phép rất nhiều lần Có thể tính đến một vài chỉ số sau:

™ Lượng chì thải vào nguồn nước là 0,77mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép 15 lần

™ Lượng chì ở ao đãi chì và đổ xỉ có hàm lượng 3,278 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn cho phép 65 lần

Trang 26

™ Bụi chì trong không khí là 26,332 mg/m3 đến 46,414 mg/m3gấp 4.600 lần so với tiêu chuẩn cho phép

Những con số này khiến người ta rùng mình, nhất là khi ai cũng hiểu chì là một chất rất độc cho cơ thể Đó là chưa kể tới hàm lượng bụi chì có trong không khí tại các khu vực dân cư cao hơn hàng chục lần so với tiêu chuẩn cho phép Trước sự bung ra mạnh mẽ của các lò tái chế chì và tình trạng ngột ngạt do bụi chì đã đến mức không thể chịu được, các lò chì đã chuyển sang sản xuất vào ban đêm

11.4.3.3 Bụi các kim loại khác

Trong công nghiệp cũng sử dụng bột một số kim loại làm nguyên liệu sản xuất: bột kẽm trong công nghiệp khai thác vàng, bột đồng, đồng thau và niken trong công nghiệp sơn và chế tạo xúc tác Nói chung bụi xuất phát từ các loại bột kim loại này cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, điển hình là các bệnh sốt phản vệ, các bệnh đường hô hấp

11.4.4 Bụi các khoáng chất và các hóa chất rắn khác

11.4.4.1 Bụi mangan dioxyt ( MnO 2 )

MnO2 thường được sử dụng trong công nghệ sản xuất pin điện, sản xuất chế phẩm xử lý nước, các hợp chất chứa mangan và trong nhiều công nghệ khác Bụi MnO2 có thể xuất phát từ khu vực sử dụng chất này cũng như trong dây chuyền nghiền tuyển quặng pyrolusit Bụi mangan dioxyt tác động tới hệ thống thần kinh nếu hít phải trong thời gian dài

11.4.4.2 Bụi asen oxyt (As 2 O 3 và As 2 O 5 ) và các hợp chất chứa asen

Thường được dùng trong sản xuất dược phẩm và trong một số chế phẩm trừ dịch hại, xử lý quặng, luyện kim màu, chất thuộc da, thuộc phèn, thủy tinh (cải tiến chất lượng sản phẩm) Bụi của các asen oxyt và các hợp chất chứa asen rất độc khi hít phải và cả khi tiếp xúc qua da hoặc khi hấp thụ qua đường tiêu hóa Do kết hợp với nhóm –SH của các chất trong cơ thể, tạo thành phức chất thioasen, phong bế các hoạt động bình thường của hệ thống men và các chất

Trang 27

về máu, thần kinh, da, cơ, xương khớp và hàng loạt rối loạn chức năng của cơ thể nên có thể dẫn đến tử vong Asen trioxyt (As2O3– thạch tín) là chất độc có độc tính rất cao

11.4.4.3 Bụi cryolit (Na 3 AlF 6 )

Là chất được sử dụng với khối lượng lớn trong công nghệ sản xuất nhôm Bụi cryolit khi hấp thụ qua đường hô hấp sẽ dẫn đến những thay đổi đặc biệt trong cơ thể với các cơn đau dạng thấp khớp, hơi thở gấp, mệt nhọc và cơ thể trở nên nặng nề, trì trệ

11.4.4.4 Bụi photpho

Photpho được dùng trong sản xuất diêm, thuốc trừ dịch bệnh và nhiều loại hóa chất khác Photpho cũng có mặt trong công nghệ sản xuất photpho từ quặng apatit Bụi photpho trắng và vàng là những loại bụi cực độc Khi thâm nhập vào cơ thể qua hệ hô hấp hoặc qua

da chúng sẽ gây bỏng, hủy hoại chức năng của vùng tiếp xúc và cả những vùng sâu hơn Người bị ngộ độc mạn tính bởi bụi photpho trắng và vàng sẽ bị chứng hoại tử xương Bụi photpho đỏ ít độc hơn

11.4.4.5 Bụi florua

Được phát sinh giống như khí florua Nó có ảnh hưởng đối với thực vật, làm tăng phân lượng florua trong lá cây và mầm cây, nhưng không gây ảnh hưởng lớn đối với sự tăng trưởng và sản xuất của cây Súc vật ăn phải hỗn hợp florua sẽ chóng già hơn, làm giảm hàm lượng canxi trong xương và răng và hậu quả là làm giảm trọng lượng

11.4.4.6 Bụi natri clorua

Thường kết hợp với hơi nước và được cuốn theo gió Loại bụi muối này cũng gây tác hại đối với thực vật va# làm rụng lá, triệt hoa quả và giết chết mầm non

11.4.4.7 Bụi của lò xi măng

Bụi của lò xi măng và máy nghiền clinke ximăng gây ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe của con người, cũng như ảnh hưởng xấu đối với động vật và thực vật Đối với thực vật, nó làm rụng lá nhanh, cây chóng già, hình thành các khí khổng trong quả, giảm trọng lượng quả và hạt, nói chung làm cho thực vật bị cằn cỗi Bụi đất đá từ các máy

Trang 28

nghiền nguyên liệu làm ximăng thì không gây nguy hiểm lắm Theo thống kê trong ngành công nghệ vật liệu xây dựng đã cho thấy: Tổng nhiên liệu than đá năm 1994 tiêu hao cho ngành VLXD là 1.85 triệu tấn than (trong đó xi măng là 0,7 triệu tấn) tạo ra bụi bay theo khói là 0,125 triệu tấn/năm

Khu vực phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng (Hải Phòng) cũng đang bị ô nhiễm bụi từ nhà máy xi măng Hải Phòng Hàng ngày, khói bụi từ ống khói nhà máy được thải tự do vào không khí Nguyên nhân là do cả 5 lò nung của Nhà máy xi măng Hải Phòng đều không có thiết bị lọc bụi, không thực hiện bất cứ một biện pháp nào để giảm thiểu ô nhiễm, thậm chí Nhà máy còn tăng công suất lên cao Năm 1994, khi công suất nhà máy là 300 nghìn tấn/năm, lượng bụi thải ra môi trường mỗi ngày đã là 176 tấn Hiện nay, tổng công suất nhà máy là 500 nghìn tấn/năm, nên lượng bụi cũng tăng lên tương ứng, khoảng 200 tấn mỗi ngày

11.4.4.8 Bụi muội than

Muội than gồm các hạt cacbon mịn được tạo ra do quá trình cháy không hoàn toàn (đốt thiếu oxy) các chất hữu cơ Trong thực tế người ta sản xuất muội than từ axetylen, khí dầu mỏ, dầu cặn hoặc cao su phế thải … Muội than được sử dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất cao su, săm lốp và pin điện Bụi muội than khi tiếp xúc sẽ làm

da bị khô và nứt nẻ Muội than tồn tại ở dạng lơ lửng trong không khí có kích thước 0,1– 0,3 μm nên dễ thâm nhập sâu vào phổi, qua thời gian dài có thể gây bệnh bụi phổi

11.4.4.9 Bụi nhựa than

Nhựa than là sản phẩm còn lại sau khi chưng cất hắc ín, được sử dụng trong sản xuất sơn, giấy dầu, làm đường giao thông … Các hạt nhựa than mịn và sắc có thể làm hư hại da, gây hậu quả là các bệnh da kinh niên và ung thư da Vì vậy khi làm việc với nhựa than cần mặc quần áo bảo hộ lao động bằng vải dầy, xoa tay bằng kem bảo vệ Những người nhạy cảm với nhựa than không được làm các công việc có liên quan đến nó

Trang 29

11.4.5 Bụi vi sinh vật

Khí hậu nước ta nóng ẩm, đất thường ẩm thấp, Thành phố thoát nước kém, mặt đường, vỉa hè nhiều rác bẩn, rải rác khắp phố phường đều có các chợ bán rau xanh và thực phẩm tươi sống, đó là các điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển Các hạt bụi hay các sol khí và lỏng có mang theo vi sinh vật, vi trùng, vi khuẩn được gọi là bụi vi sinh vật Bụi vi sinh vật ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, nhiều khi nó là nguyên nhân của các dịch bệnh về đường hô hấp, bệnh đau mắt và bệnh về đường tiêu hóa Trong sinh hoạt hằng ngày, bụi nhiễm khuẩn từ rác thải sinh hoạt dẫn đến số lượng bệnh nhân nhiễm trùng đường hô hấp như lao phổi, viêm phế quản ngày càng gia tăng Khẩu trang chỉ che được các loại bụi thông thường; để ngăn chặn bụi hoá chất phải sử dụng khẩu trang có than hoạt tính Thế nhưng, không khí bị ô nhiễm thì không một loại khẩu trang nào có thể ngăn cản vi khuẩn xâm nhập Chỉ có cách làm sạch môi trường

Ở những chỗ thông thoáng có ánh nắng mặt trời, các vi sinh vật sẽ bị tiêu diệt, ngược lại ở các ngõ phố chật hẹp thiếu ánh nắng, ẩm thấp, u ám như các ngõ phố ở khu phố cổ thì lượng vi sinh vật độc hại trong không khí càng nhiều, càng mất vệ sinh Năm 1995, các bác sĩ ở Bangkok (Thái Lan) đã phát hiện 13 loài nấm gây bệnh và 16 loài vi khuẩn trong lớp bụi ở Thành phố này Cứ 6 người dân ở Bangkok thì có 1 người bị dị ứng do các loài nấm và vi khuẩn đó gây

ra Giải pháp duy nhất ngăn ngừa tình trạng bệnh nhân nhiễm trùng hô hấp, ung thư phổi ngày càng gia tăng là làm sạch không khí và nguồn nước

11.4.6 Bụi phóng xạ do bom nguyên tử

Bụi phóng xạ xâm nhập tới bề mặt trái đất từ khí quyển Nguồn gốc của loại bụi này là những vụ nổ thử vũ khí hạt nhân Các vụ nổ hạt nhân như các vụ ném bom nguyên tử của Mỹ xuống hai Thành phố Hiroshima ngày 6–8–1945 và Nagasaki ngày 9–8–1945 của Nhật Bản đã tạo nên những nấm khói bụi phóng xạ khổng lồ trên bầu trời hai Thành phố này và tung lên cao đến tầng bình lưu hàng ngàn tấn

Trang 30

bụi phóng xạ và chúng rơi từ từ xuống những vùng rộng lớn quanh hai Thành phố đó Trong bụi này chứa các chất phóng xạ Strongti 90 và Cesi 137 gây nhiễm phóng xạ chết người

Vụ thử bom nguyên tử của Anh “Cuộc hành quân Totem I” ở vùng sa mạc Êmuphinlơ tại miền Trung Australia ngày 15–10–1953 đã làm tung lên khí quyển ở vùng này hàng ngàn tấn bụi và khói màu đen làm mịt mù không gian mà hậu quả là gây mù mắt và gây chết hàng ngàn người trong vùng thí nghiệm

Vụ thử bom H của Mỹ tại vùng đảo Bikini ở Thái Bình Dương ngày 1–3–1954 làm một tàu đánh cá Nhật Bản bị tắm trong một trận mưa bụi phóng xạ chết người

Sự cố Trecnobyl 10/05/1986 trở thành sự cố tồi tệ nhất hành tinh Ngoài việc tung vào khí quyển bụi phóng xạ làm chết hơn 150,000 người, nó còn tung cao cả những tấm bê tông 4.000 tấn, nhiệt độ khi xảy ra sự cố là 3600oC

Trước khi Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân có hiệu lực, nguời

ta ước tính đã có gần 200 triệu m3 bụi phóng xạ do các cuộc thử bom nguyên tử và hạt nhân được tung vào khí quyển trái đất

11.4.7 Bụi những đám cháy

Những vụ cháy mang theo một lượng khói bụi vào không khí, những đám cháy rừng với nhiều chất độc hại bốc lên và lan toả ra một khu vực rộng lớn, nhiều khi vượt ra khỏi biên giới của quốc gia bị cháy rừng, lan sang những nước lân cận mang theo một lượng lớn chất độc hại như khói, bụi, khí SO2ø, khí CO, …), bụi có nguồn gốc do bão cát Hiện tượng bão cát thường xảy ra ở vùng đất trơ và không được che phủ bởi thảm thực vật, đặt biệt là các vùng xa mạc Gió mạnh làm bốc cát bụi từ những vùng hoang hóa, sa mạc và mang đi rất xa gây ô nhiễm bầu khí quyển trong một khu vực rộng lớn, ảnh hưởng đồng thời đến nhiều nước trong khu vực chịu tác động Ví dụ như hiện tượng mưa bụi trong một phạm vi rộng lớn ở miền nam nước Anh vào mùa hè năm 1968 là hậu quả của các đợt bão cát xảy ra

ở Bắc Phi Bụi cát từ sa mạc Thar ở Ấn Độ là nguyên nhân gây ra

Trang 31

tình trạng ô nhiễm bụi trầm trọng ở phía Bắc Ấn Độ Ngoài việc gây

ô nhiễm không khí, bão cát còn làm cho tầm nhìn bị giảm từ đó gây

ra nhiều tác hại to lớn Chỉ có mưa kéo dài nhiều giờ hoặc nhiều ngày mới gội sạch được bụi trong không khí do bão cát gây ra

11.4.8 Bụi có nguồn gốc do đại dương

Sương mù từ mặt biển bốc lên và bụi nước do sóng đập vào bờ được gió mang từ đại dương thổi vào đất liền chứa nhiều tinh thể muối chủ yếu là NaCl còn lại là MgCl2, CaCl2, KBr … Loại ô nhiễm này đóng vai trò chủ yếu trong việc gây hen gỉ vật liệu, phá huỷ các công trình xây dựng

Bảng 11.3 Giới hạn cho phép của bụi và các chất vô cơ trong khí

thải công nghiệp

Trang 32

11.5 SỰ XÂM NHẬP BỤI VÀO CƠ THỂ

Bụi vào đường hô hấp có thể gây tác dụng tại chỗ với phổi (xơ hóa) và các thành phần khác của hệ hô hấp (kích ứng đường hô hấp trên) hoặc vào máu gây nhiễm độc Riêng đối với bụi không tan thì

vị trí lắng đọng ở hệ hô hấp rất quan trọng, phụ thuộc vào cách thở, tính chất khí động của hạt, hình dạng và đường kính hạt

11.5.1 Qua đường hô hấp

Về phương diện cấu trúc, người ta chia hệ hô hấp thành ba phần như sau:

™ Mũi–họng: phần này bắt đầu từ lỗ mũi trước kéo dài tới họng trước, vòng ra sau và đi xuống họng sau (miệng) tới phần của thanh quản hay nắp thanh quản

™ Khoang tiếp theo gồm khí quản và bộ phế quản, kể cả tiểu phế quản tận cùng

™ Khoang thứ ba là phổi, gồm tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang, phế nang và túi phế nang Vùng này có thể được xem là bộ phận chức năng (khoang trao đổi khí) của phổi Bề mặt của chúng không có lông, có tế bào biểu mô ẩm ướt, nhưng không có yếu tố tiết dịch như ở bộ khí – phế quản

Trang 33

Biểu mô của đường hô hấp tới các tiểu phế quản tận cùng thì có lông, còn biểu mô của các khoang phổi không có lông

11.5.2 Quá trình lắng đọng bụi

Có bốn cơ chế của sự lắng đọng bụi ở đường hô hấp như sau:

™ Sự trầm lắng: trong đó sự đọng bụi tỷ lệ với tốc độ rơi của hạt và thời gian lắng

™ Sự va đập theo quán tính: Khi thay đổi hướng của dòng khí làm cho bụi đọng lại

™ Sự di chuyển theo chuyển động Brown: chỉ riêng đối với các hạt dưới 1 μm trong khoang phổi

™ Sự ngăn chặn: xảy ra khi kích thước hình học của hạt trong dòng khí ngăn cản nó vượt qua chướng ngại

11.5.3 Sự thanh lọc bụi

Đó là cơ chế bảo vệ hệ hô hấp của cơ thể, bao gồm:

™ Sự lọc ở mũi: Các hạt bụi theo không khí vào mũi bị đọng lại trong mũi nhờ sự lọc của lông mũi và sự va đập của dòng không khí hít vào bị chuyển hướng Sự lưu giữ bụi nhờ màng nhầy ở mũi Biểu mô có lông được phủ màng nhầy (niêm mạc) ở lối vào mũi (trừ phần trước) góp phần lấy đi các hạt bụi bằng cách đẩy chúng xuống họng, sau đó các hạt được nuốt vào theo đường tiêu hóa

™ Sự thanh lọc của niêm mạc lông: từ khí quản # phế quản # các tiểu phế quản đều có lớp biểu mô có lông phủ một lớp màng nhầy Lông chuyển động đồng bộ, liên tục, làm cho lớp màng nhầy chuyển động đi liên tục với tốc độ 10–30 mm/phút Vì vậy các hạt lắng đọng trên lớp đó được chuyển tới nắp thanh quản rồi được nuốt vào hoặc khạc nhổ ra

™ Nhu động của tiểu phế quản tận cùng, ho và hắt hơi: Nhu động này đẩy các hạt tới đường hô hấp trên Phản xạ ho và hắt hơi tạo ra một luồng khí mạnh từ bên trong đường hô hấp, giúp làm sạch đường khí

Trang 34

™ Sự thực bào: Các hạt bụi ở khoang phổi bị các đại thực bào nuốt, sau đó đại thực bào có thể di chuyển tới lớp biểu mô có lông và được chuyển vận đi lên, đưa ra ngoài hệ hô hấp, hoặc ở lại các khoang phổi, hoặc vào các hệ thống bạch huyết

11.5.4 Kết quả thực nghiệm sự lắng đọng bụi

Người ta đã thực nghiệm và thấy những yếu tố chính về sự xâm nhập và lắng đọng các hạt bụi trong hệ hô hấp, kết quả có thể tóm tắt như sau:

• Những hạt bụi có đường kính khoảng 10 μm không xâm nhập vào được hệ thống hô hấp và nói chung không liên quan đến sức khỏe của người, chúng bị luồng không khí thở ra đẩy ra ngoài, nhưng chúng có thể gây khó chịu

• Các hạt dưới 10 μm dễ xâm nhập, kích thước hạt càng nhỏ thì sự xâm nhập càng tăng Giới hạn kích thước trên đối với những hạt xâm nhập phế nang vào khoảng 10 μm nhưng rất ít các hạt cỡ này có thể tới được phổi Trong khi đó các hạt bụi có kích thước dưới

1 μm có thể đọng lại ở đường hô hấp sâu là các nhánh phế quản và vùng phế nang Tuy nhiên, hầu như 100% các hạt 2 μm lắng đọng trong phổi Sự lắng đọng này giảm dần đối với các hạt nhỏ và giảm tới mức tối thiểu đối với các hạt khoảng 0,5 μm Người ta thấy với các hạt từ 0,5 đến 1 μm lắng đọng ít, khoảng 10 đến 15% Sự lắng đọng các hạt dưới 0,5 μm tăng dần do chuyển động Brown tăng lên

• Do đó, các hạt bụi nhỏ hơn nữa, khoảng 0,01 μm, theo chuyển động Brown có thể dễ dàng khuếch tán khi tiếp xúc với bề mặt phế quản và phế nang

Tóm tắt kết quả các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy đối với các hạt đường kính 3 μm có từ 60–70% bị lắng đọng ở mũi, 25–30% đọng lại ở các gian phổi và 5–10% đọng lại ở các đường khí phủ tế bào có lông (sự lắng đọng ở khí – phế quản) Người ta thấy rằng sự lắng đọng bụi phụ thuộc vào tốc độ thở

11.6 TÁC ĐỘNG ĐỘC HẢI CỦA BỤI TỚI SỨC KHỎE CON NGƯỜI

Các loại bụi có tính chất đặc biệt nguy hiểm thường có một trong các tính chất sau:

Trang 35

• Hạt bụi có cấu trúc sắc nhọn, cứng và không tan trong nước, lúc đầu thường gây ra viêm mũi làm cho niêm mạc đầy lên, tiết nhiều niêm dịch, hít thở khó Sau vài năm chuyển thành viêm mũi teo, giảm chức năng lọc giữ bụi của mũi, gây ra bệnh phổi nhiễm bụi Thuộc loại này là bụi thủy tinh, bụi sợi thủy tinh, bụi đá mài

• Vật chất cấu tạo hạt bụi có hàm lượng silic (dưới dạng silic dioxyt, silicat) cao Loại này gồm có bụi nguyên liệu của công nghệ sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng, bụi xỉ lò

• Bụi từ các chất có tác động kích thích các giác quan hoặc có độc tính cao Thuộc loại này là bụi một số loại hóa chất, bụi kim loại

11.6.1 Tác hại bên trong đường hô hấp do hít phải bụi

Khi xâm nhập đường hô hấp, một phần bụi bị giữ lại ở các hốc mũi do niêm dịch mũi hoặc bị đẩy ra ngoài không khí do các phản ứng ho, hắt hơi, một số khác bị hòa tan bởi các tế bào của hệ thực bào miễn dịch Những hạt bụi đọng được lại trong hệ hô hấp, lưu lại lâu dài ở đó và gây nên những phản ứng trường diễn đối với các tổ chức Những hạt bụi đó có thể xâm nhập vào hệ bạch huyết, hệ máu và được vận chuyển đến các nội quan trong cơ thể, tích đọng lại đó, trở nên nguy hiểm và có thể gây ra hậu quả bệnh lý Các hậu quả tiềm tàng do tác hại của các hạt bụi càng tăng lên nếu các hạt bụi đó chứa các chất hóa học độc hại (bụi chì, bụi phóng xạ) hoặc hấp phụ các chất độc hay khí độc có trong môi trường và chúng không bị ngăn chặn và phá hủy bởi các hệ thống miễn dịch thì chúng có thể lưu lại trong cơ thể và gây bệnh

11.6.2 Các bệnh bụi phổi

Có thể nói bệnh nghề nghiệp được quan tâm nhiều nhất gây ra

do bụi là bệnh bụi phổi Đó là một nhóm bệnh phổi do hậu quả của sự hít thở phải một số loại bụi gây ra Sự phân bố tự nhiên của các hạt bụi trong không khí quanh ta đã khiến cho một phần ba lượng bụi được giữ lại ở phổi do hô hấp và rõ ràng phổi là một cửa chính đi vào

cơ thể của các nguyên tố độc hại có trong không khí (Nguyễn Thị

Trang 36

Thìn – Tuấn Lan, 2001) Các bệnh thuộc loại quan trọng nhất là những bệnh dẫn đến các xơ hóa phổi như bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi phổi atbet…Các bệnh bụi phổi khác do hít phải nhiều bụi như bệnh bụi phổi ở thợ mỏ than, bệnh bụi phổi – bery, bệnh bụi phổi – sắt…

11.6.3 Bệnh nhiễm độc maõn tính

Đó là các bệnh nhiễm độc do hít phải các bụi độc như chì, Mn,

Cd, v.v…

11.6.3.1 Bệnh ung thư

Các bệnh có thể gây bệnh ung thư như As và các hợp chất của

As, cromat, nhựa đường, bồ hóng, Ni, amiăng và bụi phóng xạ

11.6.3.2 Kích ứng và các tổn thương viêm nhiễm phổi

Nhiều chất kích ứng ở dạng bụi có thể gây viêm phế quản, viêm phổi và phù phổi như:

- Cd dạng sương (viêm phổi, phù phổi)

- Be (viêm phổi hóa học cấp tính) và các chất khác như V2O5, ZnCl2, bo hidrua, mùi axit, florua…

- Nhiều bụi thảo mộc cũng kích ứng đường hô hấp trên như bụi một số loại gỗ có chứa hoạt chất, gây viêm phế quản mãn tính, khí thũng mãn tính…

11.6.3.3 Dị ứng và các đáp ứng cảm ứng khác

Bao gồm các loại bụi sau đây:

• Bụi hữu cơ tổng hợp…

• Bụi thảo mộc như bụi bã mía, ngũ cốc, bông, gai, đay, rơm, chè, thuốc lá, gỗ…, là những chất gây dị ứng, hen, sốt cỏ rơm khô, ban mày đay, dị ứng với cà phê

Hai loại bệnh do tiếp xúc với bụi thực vật thường gặp là: hen nghề nghiệp và viêm phế nang dị ứng ngoại lai, ví dụ bệnh phổi nhà nông

(farmer‘s lung) do trong bụi có Micropolyspora faeni và Thermoactinomyces

Trang 37

Thermoactinomyces vulgaris; bệnh phổi công nhân cà phê (coffee

worker’s lung) do bụi cà phê v.v…

11.6.3.4 Bệnh bụi phổi – bông

Bụi hữu cơ như bông, gai, đay dính vào niêm mạc gây viêm phù thủng, tiết nhiều niêm dịch, về lâu dài bụi gai lanh có thể gây viêm loét lòng khí phế quản

11.6.3.5 Bệnh sốt kim loại

Do tiếp xúc với hơi kim loại như oxit kẽm, oxit magiê Bụi crom, asen gây viêm loét thủng vách mũi vùng trước sụn lá mía

11.6.3.6 Bệnh nhiễm khuẩn

Có thể do hít phải bụi như các hạt bụi chứa nấm, virut hoặc các mầm bệnh có vai trò trong sự lan truyền các bệnh nhiễm khuẩn; Bệnh than thể phổi do hít phải bụi chứa nha bào than…

11.6.4 Tác hại bên ngoài đường hô hấp do tiếp xúc với bụi

Khi bụi tiếp xúc bên ngoài đường hô hấp chúng có thể gây ra các hậu quả sau đây:

• Tổn thương da và niêm mạc:

o Kích ứng, viêm da do tiếp xúc với bụi kiềm, acid, thảo mộc, gỗ…

o Bụi bám trên da sẽ làm tắc các tuyến tiết chất nhờn và tuyến tiết mồ hôi, tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm bệnh phát triển, gây viêm loét da

o U hạt dưới da do Be

o Ung thư do As và hợp chất của As

o Thủng vách mũi do Cr

o Viêm da hoặc có thể gây ung thư da do mù dầu khoáng

• Tổn thương răng, mòn răng do mù acid, bụi đường (saccharose…)

• Bụi qua da và dạ dầy cũng có thể gây bệnh

Trang 38

• Tổn thương mắt do các bụi gây kích ứng và độc

Ba#ng 11.3: Bụi có nồng độ cao hơn quy định có thể ảnh hưởng xấu

Mn và hợp chất (MnO2)

Ni và hợp chất

Hg và hợp chất

0,3

0 0,005 0,01 0,001 0,0003

CN hóa chất và chế biến than, dầu mỏ

Chế biến than và kỹ thuật hạt nhân

Chế biến than, sản xuất kính

Gia công than, thuốc trừ sâu, chất tẩy

Gia công than, sản xuất axit sunfuric

Công nghiệp hóa chất, điện tử

Gây ung thư Nhiễm độc phế quản Nhiễm độc ở nồng độ cao Gây ung thư

Độc, gây ung thư Độc cao

Công nghiệp dầu mỏ, hóa chất

Công nghiệp luyện kim

Giao thông, bột màu

Khói thải, công nghiệp luyện đồng

Công nghiệp mỏ

Công nghiệp mạ

Phim ảnh

Công nghiệp luyện kim màu, khí thải

Độc Rối loạn trao đổi chất, hại thận, hại men tiêu hóa Nhiễm độc phổi, thần kinh Độc

Độc Gây ung thư (Cr6+ ) Thay đổi màu da Gây độc ở nồng độ cao

Trang 39

Bảng 11.5: Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong

không khí xung quanh

(Nguồn: TCVN 5938–1995 về chất lượng không khí)

Hàm lượng bụi Loại bụi

Phương pháp đếm ( hạt/m 3 )

Phương pháp tính khối lượng (mg/m 3 )

Xi măng, đất sét, bụi vô cơ và

hợp chất không có SiO2

Thuốc lá, chè

Bột ép và aminoplast

Bụi khác

– –

1000

6

3

6 –

11.7 TÁC ĐỘNG ĐỘC HẠI CỦA BỤI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG 11.7.1 Gây ô nhiễm, hấp thụ bức xạ, làm giảm tầm nhìn

Phần lớn phần tử ô nhiễm nhỏ bé (bụi) loại lớn và trung bình sẽ rời khỏi khí quyển và rơi xuống đất theo quy luật trọng lực Quá trình lơ lửng rồi lắng tụ gây ra ô nhiễm và ảnh hưởng môi trường, mà trước hết là hạn chế tầm nhìn

Nồng độ các phần tử bụi bé nhỏ trong không khí ở vùng đô thị lớn hơn vùng nông thôn rất nhiều lần, sol khí và bụi không khí ở đô thị còn ảnh hưởng đến môi trường nông thôn xung quanh Các sol khí và bụi lơ lửng có tác dụng hấp thụ và khuếch tán ánh sáng mặt trời, làm giảm độ trong suốt của khí quyển, tức là làm giảm bớt tầm nhìn

Ở các đô thị lớn, công nghiệp phát triển, bức xạ mặt trời chiếu xuống nhỏ hơn vùng nông thôn 15 – 20 % và bụi có thể làm giảm ánh sáng tự nhiên từ 1/3 về mùa hè và 2/3 vào mùa đông, làm giảm độ nhìn thấy và giảm độ tương phản giữa vật và nền Với nồng độ bụi trong không khí bị ô nhiễm là 0,1 mg/m3, tầm nhìn xa chỉ còn 12

km (trong khi đó tầm nhìn xa lớn nhất là 36 km, và nhỏ nhất là 6 km) Giảm độ nhìn thấy sẽ gây nguy hiểm cho các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy cũng như đường không

Trang 40

11.7.2 Đóng vai trò trong sự thay đổi thời tiết

Các hạt bụi trong không khí đóng vai trò trong sự thay đổi thời tiết Một trong những ảnh hưởng rõ rệt nhất là ngăn cản bức xạ Mặt Trời Các hạt bụi trong khí quyển có thể phát tán và hấp thụ năng lượng Mặt Trời và năng lượng phát ra từ Trái Đất Các hạt bụi ở dạng lơ lửng trong tầng bình lưu làm giảm cường độ bức xạ Mặt Trời và gây nên hiện tượng làm lạnh nhẹ tầng khí quyển thấp

11.7.3 Gây ăn mòn điện hóa học các công trình xây dựng

Sự ngưng đọng của các hạt bụi và hoạt động bào mòn của chúng sẽ gia tăng nếu như có sự hấp thụ các khí ăn mòn như khí sunfurơ,

khí nitric Loại ô nhiễm này còn gây tác hại làm gỉ kim loại khi

không khí ẩm ướt, ăn mòn và làm bẩn nhà cửa, tranh ảnh, tượng đài, làm bẩn quần áo, vải vóc, đặc biệt thường gây tác hại đối với thiết bị và mối hàn điện

11.7.4 Gây hại công nghiệp thực phẩm và công nghệ vô trùng

Bụi lơ lửng có thể đi “du lịch” qua hàng nghìn km, xuyên qua cả biển và lục địa Khảo sát thấy không khí đã mang bụi cát lơ lửng của

xa mạc Sahara xuyên qua biển Arabian để đến Ấn Độ Các bụi lơ lửng

cũng là các hạt nhân tạo thành mây trên trời Bụi lơ lửng gây thiệt

hại cho một số công nghiệp cần vô trùng như công nghiệp dược phẩm và công nghiệp thực phẩm

11.7.5 Gây hại thực, động vật

ƒ Bụi florua phát sinh trong quá trình sản xuất khí florua: ảnh hưởng đối với thực vật, làm tăng lượng florua trong lá cây và mầm cây nhưng không gây ảnh hưởng lớn đối với sự tăng trưởng và sản lượng của cây Súc vật ăn phải hỗn hợp florua sẽ chóng “già“ hơn, làm giảm hàm lượng canxi trong xương và răng Và hậu quả là làm

giảm trọng lượng của thực, động vật

ƒ Bụi của lò xi măng: gây ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người, cũng như ảnh hưởng xấu đối với động vật và thực vật Đối với thực vật, nó làm rụng lá nhanh, cây chóng già, hình thành các khí

Ngày đăng: 25/07/2014, 21:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại học Y Dược TPHCM, Cẩm nang ung bướu học lâm sàng, NXB Y học TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ung bướu học lâm sàng
Nhà XB: NXB Y học TPHCM
2. Hội thảo quốc gia về “Thuốc lá hay sức khỏe” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thuốc lá hay sức khỏe
3. PGS Hoàng Long Phát, Thuốc lá hay sức khỏe, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc lá hay sức khỏe
Nhà XB: NXB Y học
4. 10 th World Conference on “Tobacco or Health” – Beijing 8–1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tobacco or Health
6. Trịnh Thị Thanh, Độc học môi trường và sức khỏe con người, NXB ẹHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc học môi trường và sức khỏe con người
Nhà XB: NXB ẹHQGHN
7. INGCAT – Advocacy for smoking cessation – Factsheet world No Tobacco Day, May 31 th 1999 “ Leave the pack behind Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advocacy for smoking cessation" – "Factsheet world No Tobacco Day
5. Lê Ngọc Trọng (1999), Báo cáo thực trạng hoạt động và chính sách phòng chống tác hại thuốc lá về lĩnh vực y tế Khác
8. WHO – Tobacco or Health from 1989 to 1999, 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 11.1: Kích thước một số loại hạt bụi trong khoâng khí - Độc học môi trường part 2 pdf
Hình 11.1 Kích thước một số loại hạt bụi trong khoâng khí (Trang 11)
11.2.2. Hình dáng hạt - Độc học môi trường part 2 pdf
11.2.2. Hình dáng hạt (Trang 12)
Bảng 11.3. Giới hạn cho phép của bụi và các chất vô cơ trong khí - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 11.3. Giới hạn cho phép của bụi và các chất vô cơ trong khí (Trang 31)
Bảng 11.4: Nguồn gốc và tác động độc chất kim loại nặng trong khí - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 11.4 Nguồn gốc và tác động độc chất kim loại nặng trong khí (Trang 38)
Bảng 11.5:  Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong  khoâng khí xung quanh - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 11.5 Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong khoâng khí xung quanh (Trang 39)
Bảng 11.6:   Nồng độ khí thải từ các phương tiện giao thông tại những  điểm ách tắc giao thông ở Hà Nội - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 11.6 Nồng độ khí thải từ các phương tiện giao thông tại những điểm ách tắc giao thông ở Hà Nội (Trang 47)
Hình 12.1: Trên một lá thuốc, nicotin phân bố rất khác nhau. Hàm - Độc học môi trường part 2 pdf
Hình 12.1 Trên một lá thuốc, nicotin phân bố rất khác nhau. Hàm (Trang 65)
Hình 12.2: Cơ chế bệnh sinh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính - Độc học môi trường part 2 pdf
Hình 12.2 Cơ chế bệnh sinh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính (Trang 67)
Bảng 12.1: Triệu chứng của cơ thể ứng với nồng độ COHb trong máu - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 12.1 Triệu chứng của cơ thể ứng với nồng độ COHb trong máu (Trang 71)
Hình 12.3: Các chất chính có trong thuốc lá - Độc học môi trường part 2 pdf
Hình 12.3 Các chất chính có trong thuốc lá (Trang 77)
Bảng 12.3: Số ung thư phát triển hàng năm tính trên 100,000 dân - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 12.3 Số ung thư phát triển hàng năm tính trên 100,000 dân (Trang 86)
Bảng 12.4: Tử vong hàng năm trên 1.000 người theo tuổi và lượng - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 12.4 Tử vong hàng năm trên 1.000 người theo tuổi và lượng (Trang 92)
Bảng 12.5: Tử vong hàng năm tính trên 100,000 nam giới tuổi từ 35 - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 12.5 Tử vong hàng năm tính trên 100,000 nam giới tuổi từ 35 (Trang 93)
Bảng 12.6: Các bệnh do sử dụng thuốc lá gây nên - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 12.6 Các bệnh do sử dụng thuốc lá gây nên (Trang 93)
Bảng 12.8: Tỷ lệ bệnh nhân ung thư phổi hút thuốc lá, thuốc lào   Tác giả  Số lượng (n)  Tyỷ leọ % - Độc học môi trường part 2 pdf
Bảng 12.8 Tỷ lệ bệnh nhân ung thư phổi hút thuốc lá, thuốc lào Tác giả Số lượng (n) Tyỷ leọ % (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN