Các chất gây nhiễm độc sinh học trong nhà Giới thiệu: Trong các căn nhà hiện đại, các hệ thống điều hòa không khí, làm lạnh, tạo độ ẩm, khử độ ẩm… thường được trang bị, tạo ra môi trườ
Trang 1khá cao Loại dầu 2–K (chứa 0,3%S) sinh ra lượng SO2 gấp 7,5 lần so với loại dầu 1–K Khi sưởi ấm, người ta thường dùng củi, do vậy nồng độ các chất ô nhiễm càng tăng cao Các căn nhà cũ có lò sưởi đốt bằng củi vẫn còn rất nhiều Riêng ở Mỹ hiện còn sử dụng tới 10 triệu lò sưởi loại này Thêm vào đó 50% số lượng nhà ở Mỹ có thiết kế lò sưởi bằng củi, tuy không mấy khi sử dụng Các sản phẩm phụ của quá trình cháy khi dùng lò sưởi đốt củi là CO, NOx, SO2, andehit, các hạt mịn và nhiều chất hữu cơ bay hơi Một công trình nghiên cứu đã phát hiện tới trên 200 chất trong khói khi đốt củi, trong số này có những chất gây ung thư, như hydrocacbon thơm đa vòng Dùng lò sưởi gaz liên quan đến nồng độ cao của NO2 và CO2 trong môi trường nội thất Nồng độ CO có thể lên tới 25 đến 50 ppm
19.4.1.6 Các chất độc từ khói nhang, đèn cầy
Thói quen của người Châu Á nói chung và người Việt nói riêng thường thắp nhang đèn những ngày lễ tết Có cả những người ngày thường họ cũng đốt nhang, nến liên tục Khói bay nghi ngút ấy đã gây ngạt thở cho nhiều người trong nhà, nhất là khi họ đốt nhang Thái Lan, trong các đền thờ, chùa chiền ngày lễ tết Người ta không hiểu rằng trong khói nhang ấy chứa hàng chục chất độc: C2H4, CO,
CO2, benzen, NO, và nhiều chất hóa học có trong nguyên liệu làm nhang, phẩm màu Đèn cầy chế từ mỡ và chất béo khác khi cháy tạo
ra nhiều chất độc gây ung thư Trong đó, đáng chú ý nhất là etylen có trong nhang Etylen là chất khí không màu, gần như không mùi và hầu như không tan trong nước Nó sẽ gây độc đáng kể lên những người trong phòng
19.4.1.7 Các chất gây nhiễm độc sinh học trong nhà
Giới thiệu: Trong các căn nhà hiện đại, các hệ thống điều hòa
không khí, làm lạnh, tạo độ ẩm, khử độ ẩm… thường được trang bị, tạo ra môi trường thích hợp cho người sống trong nhà, nhưng chúng cũng là nguyên nhân gây ra một số bệnh thông qua sự phát triển nấm mốc, các vi sinh vật truyền bệnh, gọi chung là các tác nhân ô nhiễm sinh học Chúng có thể có ở các bộ phận kết cấu của các ngôi nhà nếu độ ẩm tương đối trên 70% Nhà đông người, ít thông gió
Trang 2hoặc thông gió hồi lưu cũng có thể lan truyền các tác nhân gây bệnh cho người, đôi khi thành dịch bộc phát như lao phổi, sởi, thủy đậu, bệnh cựu chiến binh (legionnaires) cũng như các bệnh khác nữa Chất ô nhiễm sinh học bao gồm các loại vi sinh vật, virus, nấm, mốc, vi khuẩn, bụi, động vật kí sinh (ve ), gián, phấn hoa,… Một vài loại hầu như có mặt trong tất cả các nhà Không có biện pháp nào để loại bỏ chúng hoàn toàn, trong khi không hề có một dấu hiệu nào cho biết đang có sự phát triển của các loại sinh vật này Chúng phát triển trong điều kiện chất lượng không khí trong phòng thấp và có thể là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh Chúng có thể phá hủy cả bề mặt phía trong và phía ngoài của ngôi nhà Chúng di chuyển trong không khí và tất nhiên là không thể nhìn thấy được Hai điều kiện quan trọng hỗ trợ cho sự phát triển của vi sinh vật là chất dinh dưỡng và độ ẩm Dễ dàng tìm thấy những điều kiện này trong nhà như ở phòng tắm, những nơi ẩm thấp hay các thiết bị giữ ẩm (máy chỉnh độ ẩm, điều hòa nhiệt độ) và ngay cả trong các tấm thảm và trong đồ đạc
Vật liệu và kĩ thuật xây dựng hiện nay có thể giảm lượng khí bên ngoài vào trong nhà nhằm giữ độ ẩm cao bên trong Việc sử dụng máy giữ ẩm, điều hòa nhiệt độ làm tăng sự hình thành lớp ẩm phía trong nhà đây chính là điều kiện tốt để các loại sinh vật nêu trên phát triển Theo hai cuộc khảo sát tiến hành ở Bắc Mỹ và Canada thì khoảng 30 – 50% các cấu trúc ở trong điều kiện ẩm ướt là tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển Tỉ lệ này cao hơn ở những nơi có khí hậu nóng, ẩm
Nguồn phát sinh: Chất ô nhiễm xuất phát từ nhiều nguồn
khác nhau Phấn hoa bắt nguồn từ cây; virus truyền từ người và động vật; vi khuẩn do người, động vật và các mảnh vụn đất hay lá cây; vật nuôi trong nhà thải ra nước bọt, lông, vảy gàu… Protein trong nước tiểu chuột là một loại chất gây dị ứng mạnh, khi khô đi chúng phát tán vào trong không khí Các hệ thống điều hòa lượng không khí có thể trở thành nơi bắt nguồn sản sinh ra nấm, mốc và các chất ô nhiễm khác, đồng thời góp phần phát tán chúng ra môi trường Nước đọng, vật liệu bị nước ăn mòn hay các bề mặt ẩm ướt được xem là nơi
Trang 3sinh ra nấm, mốc, vi khuẩn và côn trùng Ngoài ra, các sản phẩm bài tiết của bọ mạt bụi, côn trùng trong nhà, các loài tiết túc và gia súc thải ra cũng có thể phát tán vào không khí trong nhà, gây dị ứng người hoặc kích thích những người sống trong nhà Hàm lượng nước cao hoặc bị ngưng tụ ở các thiết bị điều hòa khí hậu, nước rò rỉ từ các thiết bị lau chưa sạch hoặc bảo dưỡng cũng góp phần phát sinh các tác nhân gây ô nhiễm sinh học Thêm vào đó, có thể kể đến cả những nơi phát sinh khác như chính bản thân người và gia súc, các vật liệu hữu cơ có thể chứa các nền dinh dưỡng cho các vi sinh vật phát triển như đồ đạc, vải làm rèm cửa, vải bọc bàn ghế, các thực phẩm…
Ảnh hưởng đến sức khỏe con người: Tất cả mọi người đều
tiếp xúc với vi sinh vật Tuy nhiên, các ảnh hưởng đến sức khỏe còn tuỳ thuộc vào loài và lượng sinh vật tiếp xúc cũng như cơ thể của mỗi người Một số người không bị dị ứng, nhiễm bệnh hay bị ngộ độc khi tiếp xúc với các sinh vật này trong khi một số người khác lại chịu ảnh hưởng của các phản ứng đó
Ngoại trừ sự lây nhiễm, các phản ứng gây dị ứng được xem như là các vấn đề sức khỏe chung nhất về chất lượng không khí trong nhà, bao gồm dị ứng gây viêm phổi hay viêm mũi Chúng luôn gắn liền với các loại vật nuôi (chủ yếu là chó và mèo), động vật vi mô sống trong bụi, với phấn hoa Các phản ứng dị ứng này có thể rất nhẹ nhưng cũng có khi đe dọa đến tính mạng con người, như khi bị cơn hen tấn công Một vài triệu chứng thường gặp như: 1–Chảy nước mắt; 2–Chảy mũi và hắt xì hơi; 3–Tắc nghẽn mũi; 4–Ho; 5–Ngứa; 6–Thở khó, khò khè; 7–Nhứt đầu, sốt; 8–Mệt mỏi
Các chuyên gia sức khỏe đặc biệt quan tâm đến bệnh hen suyễn Người bệnh hen có đường hô hấp nhạy cảm, dễ phản ứng lại với các chất kích thích gây khó thở Số người mắc bệnh hen tăng lên trong những năm gần đây Người ta đã thống kê được 16 loại bệnh liên quan đến các tác nhân sinh học gây ô nhiễm trong nhà như: viêm mũi (Rhinitis), viêm xoang (simisitis), viêm tai (otilis), viêm phổi (Pneumonia), hen xuyễn (Asthma), viêm kết mạc (conjuntitivis), viêm phế nang (Alveolitis), sốt do máy làm ẩm (Humidifier Fever), bệnh
Trang 4nấm viêm phổi phế quản (Bronchopulmonary Aspergillosis), viêm da tiếp xúc (Contact Dermatitis), Eczema mẫn cảm (Atopic Eczema), mày đay tiếp xúc (Contact Urticaria), hội chứng ẩm nhà cao tầng, dị ứng (Allergy), phản ứng giả dị ứng (Pseudoallergic Reaction)
Các tác nhân gây ô nhiễm sinh học chủ yếu gây bệnh bằng cơ chế truyền nhiễm, gây dị ứng và kích thích nhưng mức độ nguy hiểm đến sức khỏe có khác nhau Mặc dù có mối liên quan giữa liều lượng – khả năng gây bệnh nhưng đối với các vi sinh vật trong nội thất, người ta chưa xác định được liều lượng tuyệt đối hoặc người truyền nhiễm
Các bệnh truyền nhiễm do các loại vi khuẩn, virus gây ra như bệnh cúm, sởi, bệnh thủy đậu và bệnh lao có thể lây lan trong nhà Thường thì chúng lây từ người này sang người khác qua tiếp xúc vật lý Lượng vi khuẩn dày đặc với sự tuần hoàn khí không tốt sẽ tạo điều kiện lan truyền bệnh trong nhà Một số vi khuẩn, virus phát triển và lan truyền nhanh qua các hệ thống thông gió Ví dụ như vi khuẩn gây bệnh Legionnaire (viêm phổi do nhiễm khuẩn) – một bệnh khá nghiêm trọng và đôi khi làm chết người, bệnh sốt Pontiac – giống như bệnh cúm, đã lan truyền đi rất rộng bằng cách này
Tốc độ lan truyền các vi sinh vật trong nhà phụ thuộc vào nguồn hành vi của người (ví dụ hắt hơi và bắn nước bọt khi nói chuyện) và tác dụng lan truyền lại phụ thuộc vào hệ thống thông gió, hệ thống thanh lọc và tuần hoàn không khí Khả năng mắc bệnh phụ thuộc vào tuổi tác (đặc biệt là trẻ em dưới 3 tuổi và người già trên 60 tuổi), các bệnh có sẵn khả năng miễn dịch của cơ thể, các bệnh nghề nghiệp làm suy yếu hệ thống bảo vệ
Ngoài tác hại gây bệnh, các vi khuẩn bám trên hệ thống thông gió có thể giải phóng các chất độc như endotoxin gây các bệnh cấp tính như sốt, đổ mồ hôi, đau cơ, viêm xoang, khó thở Nấm lại sản sinh ra mycotoxin, hít thở phải sẽ bị ngộ độc cấp tính (bệnh này gọi là mycotoxicosis) Bụi trong nhà sinh ra chất kích thích không đặc hiệu nhưng gây dị ứng đến từng cá nhân Các phản ứng nhiễm độc từ các sinh vật gây ô nhiễm là những vấn đề về sức khỏe được nghiên
Trang 5cứu và hiểu rõ nhất Các chất độc có thể phá hủy trạng thái của các
cơ quan và các mô trong cơ thể, bao gồm gan, hệ thống thần kinh trung tâm, bộ máy tiêu hóa và hệ thống miễn dịch
Nấm mốc trong không khí trong phòng: Nấm mốc sinh ra ở
những nơi có độ ẩm quá cao, có thể xuất hiện ở trên đồ gỗ, tường đá, nền nhà hoặc mặt tường phía ngoài ngôi nhà, trên thức ăn, giấy, vật liệu cách ly… rồi dần dần gây ra sự mục rữa, thối nát Chúng còn có thể phát triển trên chất hữu cơ, ở những nơi mà hơi ẩm và oxy tồn tại trong thời gian dài Nấm phát triển mạnh ở nơi ẩm, tối và kín gió Chúng dễ dàng được tìm thấy ở những căn phòng kín, những kẽ nứt ẩm và bay mùi mốc trong nhà tắm, sau lưng giấy dán tường trên phần tường bị ẩm hay ngay cả trên trần nhà, ở những chỗ bị rỉ nước Vào mùa nóng và oi bức, nấm mốc có thể hình thành trên cả sách báo, các chồng tạp chí, quần áo hay khăn tắm
Vai trò của nấm mốc trong không khí nhà ở ngày càng được quan tâm hơn khi các tác động của nó lên sức khỏe con người càng rõ rệt, nhất là các phản ứng gây dị ứng Khi các toà nhà hay các vật liệu tích luỹ một lượng ẩm quá mức thì nấm mốc sẽ phát triển Việc loại trừ hoàn toàn nấm trong môi trường là không thể thực hiện được nhưng kiểm soát sự phát triển của nó thì không khó
Nấm được hình thành từ các bào tử mà mắt thường không thể nhìn thấy được nếu không có thiết bị phóng đại hỗ trợ Các bào tử nấm di chuyển liên tục trong không khí trong và bên ngoài nhà Khi các bào tử bám vào một điểm có hơi ẩm, chúng bắt đầu phát triển Các bào tử này tiêu thụ bất cứ thứ gì để sống sót, vì vậy mà nó dần dần phá hủy những thứ mà nó bám vào Có rất nhiều loại nấm tồn tại trong không khí Hầu hết đều có khả năng gây bệnh Nấm tạo ra các chất gây dị ứng cho người và thậm chí là gây bệnh hen cho người
dị ứng với nấm Một số khác tạo ra các độc tố mạnh hoặc các chất kích thích Như vậy bảo vệ sức khỏe con người là một lý do quan trọng để ngăn ngừa và loại trừ bất cứ sự tồn tại nào của nấm mốc Khi nấm bắt đầu nở hoa, chúng nhanh chóng trưởng thành và phát tán các bào tử trôi nổi ngoài không khí Con người tiếp xúc và
Trang 6hít caùc baøo töû naøy vaøo cô theơ Moôt soâ trieôu chöùng thöôøng gaịp nhö ñau ñaău, khoù thôû, da bò kích thích, dò öùng vaø moôt loát caùc trieôu chöùng cụa beônh hen Nhöõng ngöôøi nháy cạm vôùi naâm thì chư tieâp xuùc vôùi moôt löôïng nhoû cuõng ñụ gađy ra caùc tráng thaùi nhö haĩt xì, chạy nöôùc maĩt,
ho, thôû ngaĩn, choaùng vaùng, teđ lieôt, soât vaø caùc vaân ñeă veă heô tieđu hoaù Söï phađn loái vaø tính khaĩc nghieôt cụa caùc trieôu chöùng moôt phaăn phú thuoôc vaøo hình thöùc xuaât hieôn cụa naâm moâc, vaøo phám vi tieâp xuùc, tuoơi, tính nháy cạm cụa con ngöôøi Nhö vaôy, nhöõng hieôu öùng ñaịc bieôt maø söï phaùt trieơn naâm gađy ra coù theơ ñöôïc toơng keât nhö sau: Gađy
dò öùng nhö haĩt xì, chạy muõi, ñoû maĩt, noơi ban tređn da; Beônh hen taân cođng vaøo ngöôøi bò dò öùng vôùi naâm; Vieđm phoơi do dò öùng (cuõng gioâng nhö vieđm phoơi do vi khuaơn); Beônh truyeăn nhieêm deê taân cođng vaøo ngöôøi coù heô mieên dòch yeâu, deê bò toơn thöông
Naâm táo ra moôt loái ñoôc chaât ñöôïc gói laø mycotoxin Moôt soâ mycotoxin baùm leđn beă maịt baøo töû naâm, moôt soâ khaùc lái ñöôïc tìm thaây beđn trong baøo töû Coù hôn 200 loái mycotoxin ñöôïc xaùc ñònh töø nhöõng loái naâm thođng thöôøng Moôt soâ trieôu chöùng vaø beônh ñöôïc xem laø do mycotoxin gađy ra laø: söng taây maøng nhaăy, phaùt ban, buoăn nođn, giạm heô thoâng mieên dòch, beônh gan caâp tính vaø maõn tính, söï phaù hụy heô thoâng thaăn kinh trung tađm caâp tính vaø maõn tính, ạnh höôûng tuyeân noôi tieât vaø ung thö Nhieău nghieđn cöùu khoa hóc ñaõ laøm saùng toû veă söï ạnh höôûng cụa mycotoxin leđn söùc khoûe con ngöôøi Vì vaôy, caăn phại thaôn tróng ñeơ traùnh nhöõng nhieêm ñoôc do naâm vaø mycotoxins Caùch phoøng ngöøa mánh nhaât söï phaùt trieơn cụa naâm cuõng nhö ñoẫi vôùi caùc vi sinh vaôt laø haõy khoâng cheâ ñöôïc löôïng aơm trong nhaø
19.5 HOÔI CHÖÙNG "BEÔNH NHAØ CAO TAĂNG"
19.5.1 Khaùi nieôm
“Sick building” laø thuaôt ngöõ duøng ñeơ chư nhöõng toaø nhaø maø ngöôøi soâng trong ñoù bò ạnh höôûng ñeân söùc khoûe nhöng khođng coù moôt nguyeđn nhađn ñaịc hieôu naøo vaø ñöôïc gói döôùi teđn chung laø beônh taôt lieđn quan ñeân nhaø cöûa (building related illness) Trieôu chöùng theơ hieôn laø cay maĩt, muõi hóng, kích thích ñöôøng hođ haâp tređn, nhöùc ñaău, meôt moûi Caùc trieôu chöùng naøy khieân ngöôøi ta phại nghư vieôc, giạm naíng
Trang 7suất lao động Các tòa nhà gây ra hội chứng này (sick building) thường được xây dựng khoảng 10 năm về trước (ở Mỹ), kín, thông gió cưỡng bức, và dùng máy điều hòa không khí, cửa sổ ít khi được mở ra Những nghiên cứu nguyên nhân làm các tòa nhà trở nên “độc hại” như sau:
Nhà quá kín, nói chung lượng không khí trong lành đi vào các toà nhà này giảm xuống tối thiểu, do tiết kiệm năng lượng nên để không khí tuần hoàn cưỡng bức
Sưởi ấm, thông gió và điều hòa không khí nhờ hệ thống cơ học Hệ thống này phân bổ các chất ô nhiễm phát sinh từ vật liệu và các trang thiết bị ra toàn toà nhà Nó có thể “ủ” và phát tán nấm mốc, vi khuẩn, virút
Bố trí thông gió và thải khí không hợp lý Việc thông gió có thể đưa các chất ô nhiễm ngoài trời vào trong nhà Ví dụ: thiết bị thông gió bố trí gần đường phố đông người đi lại, bên cạnh các gara đỗ xe Vị trí thiết bị thải khí bố trí không hợp lý, làm khí thải không thoát được ra ngoài
Bố trí sai thiết bị phân phối gió Các thiết bị khuếch tán khí trời vào và khí thải ra lắp đặt tại trần nhà, tạo ra sự phân tầng và đứt quãng dòng không khí tại trần, gây ra vùng không khí chuyển động và tuần hoàn kém
Thiếu kiểm tra các điều kiện môi trường đối với từng cá nhân Mỗi người “phản ứng” với môi trường một khác Khi thay đổi môi trường có thể gây stress, khó chịu và các vấn đề sức khỏe khác
Dùng các vật liệu và trang thiết bị mới Các vật liệu tổng hợp, các trang thiết bị văn phòng hiện đại, các chất tẩy rửa, xi đánh sàn có thể sinh ra nhiều chất kích thích, chất độc hại và bụi chứa formaldehit, hydrocacnom, amin, ozon và các aerosol
Đèn huỳnh quang phát ra tia tử ngoại và có thể cung cấp năng lượng cho các phản ứng quang hóa giữa các chất ô nhiễm, tạo ra chất độc hại hơn
Trang 8 Sử dụng gara đỗ xe, nhà hàng và các khoảng không gian khác như nơi đỗ xe, nhà hàng, câu lạc bộ, các cơ sở dịch vụ… ở xen lẫn với nhà làm việc Những cơ sở này có thể là nơi phát sinh các sản phẩm phụ của sự cháy
Áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng Các biện pháp tiết kiệm năng lượng thường làm giảm tốc độ thông gió, và tăng tốc độ tích tụ các khí độc vì hạn chế lượng không khí hút ra Các bộ lọc khí cũng giảm tốc độ không khí
19.5.2 Tác động độc hại lên sức khỏe
Hội chứng ốm nhà cao tầng thường thể hiện ở mắt, đầu, mũi, họng, ngực, da và sự mệt mỏi Để xác định nguyên nhân, người ta so sánh các triệu chứng ở người sống trong các văn phòng điều hòa
không khí và thông gió tự nhiên
Bảng 19.5 Tác động độc hại môi trường văn phòng lên sức khỏe con người
Triệu chứng Văn phòng có điều hòa
Trang 9Theo những nghiên cứu, các triệu chứng nói trên thường xảy ra
trong văn phòng, nhà ở, bệnh viện do bụi, khí độc và các vi sinh vật
Một số yếu tố đã xác định là: dư lượng chất tẩy rửa khô, bụi sợi thủy
tinh bảo vệ các đường ống, formaldehit tách ra từ vật liệu cách nhiệt
và cách ẩm, sự tạo ra sương mù quang hóa và các bệnh do các vi sinh
vật khu trú trong các trang thiết bị Khói thuốc lá cũng liên quan đến
những triệu chứng này
Gần đây tại các văn phòng đều trang bị máy vi tính và máy
photocopy Người ta phát hiện chúng cũng là nguồn gây ô nhiễm và
có hại đến sức khoẻ Máy vi tính có thể gây ra chứng mụn trứng cá,
bệnh chàm, nhức mắt… Sóng từ trường của máy có thể gây rối loạn
tiến trình thai nghén Máy photocopy có bộ phận điện áp cao, phóng
điện trong không khí tạo thành ozon rất có hại đến sức khoẻ
19.6 ĐỘC CHẤT TỪ CÁC PHƯƠNG TIỆN SINH HOẠT TRONG
NHÀ, VĂN PHÒNG
Các tiện nghi sinh hoạt như máy giặt, tủ lạnh, bếp gas, lò
viba, tivi và đặc biệt là máy vi tính đã đem lại cho con người rất
nhiều lợi ích, giúp con người tiết kiệm một lượng lớn thời gian để
làm các việc khác và có nhiều thời gian cho gia đình, cho mình, để
tăng kiến thức cho mình và tận hưởng cuộc sống Tuy nhiên, đằng
sau sự tiện nghi đó là những tác hại kèm theo mà con người không
nhìn thấy mà cũng không để ý đã tác động đến con người một cách
dần dần, và ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe con người
Trang 1019.6.1 Máy vi tính
Máy vi tính là một trong những phát minh vĩ đại của thế giới, nhờ nó mà con người đã giải quyết được những công việc mà trước đó chỉ có trong mơ Với hàng tỉ phép tính trong một giây, nó giúp con người làm những công việc phức tạp một cách nhanh chóng và có độ chính xác cao, giúp con người nghiên cứu vũ trụ bao la và thế giới vi mô của các siêu vi, các hạt cơ bản và hỗ trợ trong công nghệ sinh học thành lập nên các bản đồ gen Một trong những thành công khác của máy vi tính là làm cho con người trên toàn thế giới có thể liên lạc và thông tin cho nhau qua mạng internet bằng lời nói, hình ảnh, âm thanh, có thể hiểu biết hơn về thế giới, về con người và có thể làm việc chung với nhau
Nhưng cũng chính từ đó mà máy vi tính đã có thể có ở mọi nhà và gây những tác động không tốt tới sức khỏe con người Một trong những tác hại về mặt sức khỏe là chứng mất ngủ khi sử dụng máy vi tính thường xuyên Theo các nhà khoa học tại Đại học Oxford (Anh) thì không nên đặt máy vi tính trong phòng ngủ, một nghiên cứu trên
1000 người có máy vi tính trong phòng ngủ cho thấy, 2/3 số người trên thường bị mất ngủ cả đêm trong khi 1/5 lại mất ngủ từ 2–5 giờ ngủ mỗi ngày Việc thiếu ngủ đã dẫn đến tình trạng yếu thể lực và suy sụp về mặt tinh thần, ảnh hưởng đến kết quả học tập cũng như hiệu quả công việc Ngoài ra, làm việc nhiều giờ trên máy vi tính cũng làm cho con người nhức mắt, đau đầu và với thời gian lâu dài sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người
19.6.2 Máy photocopy
Máy photocopy được sử dụng dựa trên nguyên lý cơ bản: lợi dụng điện áp xung điện cực cao để phóng điện, lợi dụng ánh sáng tác dụng hình thành phần in kín để photo tài liệu Khi sử dụng máy, đèn thủy ngân cao áp hoặc tia lửa điện chứa một lượng lớn tia cực tím, làm biến đổi oxy trong không khí thành ozon, là một loại khí cực mạnh gây oxy hóa nitơ trong không khí, đồng thời tạo thành hợp chất oxít nitơ Những khí này có tác dụng kích thích rất mạnh đối
Trang 11với khí quản, cơ quan hô hấp Theo kết quả nghiên cứu, phản ứng của
cơ thể người đối với khí ozon rất nhạy cảm
Khi làm việc thường xuyên trong môi trường có nồng độ ozon 10mg/m3 (không có biện pháp bảo vệ), phổi sẽ bị tồn đọng một lượng khí Ozon lớn dẫn đến bệnh sưng phổi nước nhiễm độc tính Tuy nồng độ Ozon trong môi trường bình thường thấp, nhưng những người tiếp xúc với máy photo trong thời gian dài – tùy theo từng mức độ – sẽ bị nhiễm bệnh về đường hô hấp như: mũi họng khô, khó thở, ho Nghiêm trọng hơn, ở những người này sẽ xuất hiện những bệnh lý liên quan đến thần kinh (đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực và khả năng miễn dịch)
Ngoài ra, mực máy photocopy cũng có tác hại không nhỏ đối với sức khỏe của con người Có hai loại mực photo: mực nước và mực bột Mực bột được sản xuất từ nguyên liệu than đen đặc biệt Oxit cacbon thơm trong than đen không những có khả năng làm thay đổi kết cấu của tế bào nhiễm sắc thể bình thường mà còn có thể gây ra bệnh ung thư Mực nước được làm từ mực bột hòa trộn với dung dịch oxit cacbon Dung dịch oxit cacbon dễ sôi ở nhiệt độ thấp, dễ bốc hơi, nếu điều kiện thông gió trong phòng không tốt, bụi than đen sẽ bám lại trong phòng làm tăng nguy cơ gây bệnh cho người làm việc với máy trong thời gian dài
19.6.3 Lò vi ba (Microwave)
Công dụng chính của lò vi ba chỉ dùng để hâm nấu thức ăn và giải đông (defrost) Hiện nay có loại lò vi ba có thêm chế độ nướng, nhưng phải đọc kĩ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng Nhược điểm lớn nhất của lò vi ba là sử dụng dụng cụ để nấu, không được dùng bất kỳ vật dụng nào bằng kim loại để hâm nấu Nó đặc biệt nguy hiểm khi dùng phalê để nấu, nhất là loại pha lê có lượng chì cao và gây độc Khi dùng sứ hay nhựa mà có chứa chì cũng sẽ gây hại cho sức khoẻ
19.6.4 Bức xạ điện từ
Những thiết bị được lắp vào ổ cắm điện, chạy pin hoặc chạy ắc quy như tủ lạnh, máy pha cà phê, điện thoại di động, lò vi sóng, bếp điện, máy sấy tóc, ti vi, máy vi tính đều sinh ra các bức xạ điện từ
Trang 12Các bức xạ điện từ làm giảm hệ miễn dịch, tác động tới hệ nội tiết, đặc biệt có thể làm sảy thai, đẻ non, gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi khi mẹ chúng tiếp xúc nhiều với bức xạ điện từ trong thời gian mang thai Người ta đã xác định được rằng trường điện từ quanh máy vi tính và máy thu hình có phạm vi tương tự hình số 8 mà nửa trên hình số 8 là ở trước màn hình, nửa dưới ở sau máy
Đường kính của các vòng tròn đó là chừng 50 cm Vì vậy, máy thu hình và máy tính nên để cách nhau tối thiểu 1m để trường điện từ của chúng không bị chồng lên nhau, hạn chế gia tăng nguồn bức xạ do các thiết bị điện để gần nhau Các thiết bị sinh hoạt khác có bức xạ ngắn hơn và không biểu hiện rõ ràng Vì vậy, có thể đặt chúng cách nhau khoảng 70 cm
Theo tiến sĩ y học Iu.P.Palsev, Trưởng khoa Bức xạ điện từ (BXĐT), Viện Y học lao động Nga, các thiết bị điện sinh hoạt như máy giặt, máy làm bếp bức xạ thấp nhờ đã được bọc vỏ thép Tuy vậy, vẫn nên hạn chế tiếp xúc với chúng, nhất là khi có mang Đặc biệt không nên mở tất cả các máy khi đang ở trong một căn phòng Dùng máy sấy tóc nên để cách đầu người càng xa càng tốt
Máy tính và máy thu hình gây BXĐT mạnh vì hoạt động của ống hình Khi xem phim cần giữ khoảng cách gấp 5 lần đường chéo của màn hình Riêng máy tính, phụ nữ đang mang thai nên hạn chế sử dụng
Nhiều người tin tưởng vào những tấm kính bảo vệ màn hình máy tính hoặc bày cây xương rồng trong phòng có nhiều thiết bị điện sẽ giảm tác hại của BXĐT Thực tế, kính bảo vệ không đủ sức ngăn bức xạ, còn cây xương rồng cũng như các loài thực vật khác đã được gán cho khả năng phi thường mà chúng hoàn toàn không có
Điện thoại di động khi hoạt động gây bức xạ rất mạnh, kể cả
ở chế độ chờ Những thí nghiệm trên động vật cho thấy hệ miễn dịch
bị giảm khi có bức xạ trường điện từ của điện thoại di động Vì vậy, tốt nhất nên để điện thoại ở túi xách chứ không đeo ngang thắt lưng, để trong túi quần hoặc đeo trước ngực
Trang 1319.6.5 Khăn lạnh
Khăn lạnh được dùng trong các bữa ăn ngoài các quán ăn là một loại tiện nghi rất tốt nhờ sự thơm tho, trắng tinh, mát lạnh; người ta lau tay, cổ, phủ lên đầu để giải nhiệt và tận dụng hết mọi khả năng của nó Không chỉ thế, khăn ăn còn được dùng để lau giày sau một ngày gió bụi ngoài đường hay một số vị sau chầu nhậu quá đà dùng khăn ăn để chứa những thứ vừa nạp vào Nhân viên trong quán dùng khăn của người vừa ăn xong để lau bàn cho khách hàng vừa bước vào, nhà bếp thì dùng để lau chén đũa, ly tách
Không như nhiều thực khách nghĩ đơn giản rằng khăn ăn chỉ được dùng một lần, sau đó bỏ đi Ngược lại, một chiếc khăn bao giờ cũng được quay vòng, dùng đi dùng lại cho đến khi không thể ráng thêm được nữa Thông thường, sau một, hai ngày, các cơ sở làm khăn sẽ cho người đi thu gom tất cả khăn đã dùng về, rồi tái sản xuất để tái sử dụng lại Vì vậy ở nhiều hàng quán, nhân viên thường không cho khách mang khăn đã sử dụng về, mặc dù họ đã phải trả tiền cho nó Sau khi gom về, khăn bẩn được đổ đống vào một thau lớn, người giặt đứng vào đấy, dùng chân ra sức đạp cho đến khi nước trong thau chuyển sang màu nhờ nhờ đen Xem như đã giặt sạch, đống khăn này được xả lại qua hai lượt nước Sau đó thì phơi khô, làm ẩm, tẩm hương thơm, đóng gói, ướp lạnh và đến tay thượng đế Với những khăn quá bẩn sẽ được ngâm thuốc tẩy cho đến khi trắng tinh trở lại Phần lớn các cơ sở đều tái sản xuất khăn theo cách này, chỉ một số rất ít có trang bị máy giặt, máy sấy đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh Theo bác sỹ Hải Hà chuyên ngành da liễu thì trên những chiếc khăn lạnh trắng tinh ấy là hàng loạt các loại vi khuẩn gây bệnh cho
da và đặc biệt nguy hại với người có làn da nhạy cảm Vì qua tay rất nhiều người, lại được giặt không sạch và luôn luôn trong tình trạng ẩm ướt, khăn lạnh là môi trường nuôi vi khuẩn rất tốt
Thường thì các hàng quán gom khăn ăn bẩn lại rồi để đấy, vài ngày sau mới có người đến thu về Không được giặt ngay, các loại thức ăn, men bia rượu trở thành môi trường cho vi khuẩn sinh sôi Các loại bột giặt rẻ tiền mà những cơ sở nhỏ thường dùng chỉ diệt được một số ít vi khuẩn thông thường, còn những loại nấm như hắc lào, tổ đỉa, eczema, lang ben hay các vi khuẩn gây bệnh đường hô hấp thì phải có hóa chất riêng mới tiêu diệt được Tuy nhiên hiện nay, chỉ
Trang 14một vài cơ sở lớn mới đầu tư hệ thống tẩy trùng, hấp sấy, hóa chất diệt khuẩn đủ tiêu chuẩn an toàn vệ sinh để làm sạch khăn lạnh đã qua sử dụng
Theo bác sỹ Hà thì phần lớn mọi người không nhận biết được mức độ nguy hiểm khi sử dụng khăn ăn Mọi người vô tư dùng nó, tận hưởng sự sảng khoái mà nó mang lại trong mùa hè nóng bức, thậm chí nhiều người còn mua về ướp sẵn trong tủ lạnh để khi về đến nhà thì có sẵn một chiếc khăn thơm mát để dùng, hay bỏ trong cặp cho con trẻ dùng thay khăn mùi soa khi đi học Trắng tinh, tươi mát, khăn lạnh vô tình trở thành một mối nguy hiểm cho sức khỏe các thượng đế Càng nguy hại hơn khi việc dùng khăn lạnh đã trở thành thói quen dễ chịu của hầu hết mọi người
Bên cạnh đó, việc kiểm tra, đánh giá tiêu chuẩn an toàn vệ sinh trong lĩnh vực này hiện đang bị các cơ quan chức năng bỏ ngỏ Những đợt kiểm tra của các cơ quan chức năng thường tập trung vào những
cơ sở sản xuất thực phẩm, giết mổ gia súc mà quên mất thị trường khăn ăn Điều này đã góp phần để nhiều cơ sở không tuân thủ các quy định an toàn vệ sinh trong quá trình sản xuất khăn lạnh Khăn giấy, dù không mát mẻ, thơm tho nhưng xem ra vẫn an toàn hơn so với những chiếc khăn lạnh được tái sản xuất quá sơ sài, cẩu thả
19.6.6 Khẩu trang
Từ khi xuất hiện bệnh viêm phổi cấp (SARS) người ta đổ xô nhau đi mua khẩu trang về và mang nó suốt ngày với hy vọng là sẽ ngăn cản được con vi rút quái ác chưa có thuốc trị Việc mang khẩu trang cho người bệnh là hoàn toàn hợp lý vì ít ra cũng giảm được lượng vi trùng gây bệnh vào môi trường xung quanh, ngoài các biện pháp quản lý bệnh nhiễm trùng Những người tiếp xúc gần bệnh nhân như nhân viên y tế, người nhà đến thăm, là những đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm lớn tiếp xúc cao, cũng nên đeo khẩu trang
Tuy nhiên, chúng ta không nắm hết được các nguyên tắc sử dụng khẩu trang và mặt nạ, thì lợi bất cập hại, có khi chúng ta bị nhiễm bệnh vì chính cái khẩu trang của chúng ta Khẩu trang phải được giặt hàng ngày, nếu không hàm lượng vi khuẩn tích tụ và sinh sản ngày càng tăng sẽ gây tác động ngược cho con người
Trang 1519.7 Ô NHIỄM DO TIẾNG ỒN TRONG NHÀ
Tiếng ồn là những âm thanh không mong muốn Người ta thường xếp tiếng ồn vào ô nhiễm không khí vì không khí là môi trường dễ lan truyền tiếng ồn đến tai con người và nếu vượt quá ngưỡng xác định sẽ gây hại đến sức khoẻ
Những âm thanh phát ra từ tủ lạnh, quạt, máy điều hòa, lò sưởi không vô hại như người ta tưởng Việc phải nghe thường xuyên những âm thanh này có thể làm giảm khả năng nghe của trẻ em, khiến trẻ có nguy cơ chậm biết nói Đó là kết quả một nghiên cứu mới của Đại học California (Mỹ) Các nhà khoa học giải thích, những tiếng ồn trên sẽ át đi giọng nói của người lớn, vốn là yếu tố rất quan trọng trong việc giúp trẻ nhanh biết nói; bởi khả năng nhận biết ngôn ngữ của trẻ chủ yếu dựa trên việc "nghe lỏm" những gì người lớn nói với nhau Ngoài ra, các nhà khoa học cũng khuyến cáo cha mẹ nên chú ý đến những tiếng ồn nhất thời như tiếng nhạc lớn, tiếng còi
xe Những âm thanh này khiến cho tế bào thần kinh thính giác của trẻ bị kích thích quá mức, dẫn đến tình trạng giảm khả năng nghe
Cục Lao động Mỹ đã đưa ra các tiêu chuẩn cho phép về tiếng ồn, thể hiện sự liên quan giữa thời gian tiếp xúc với tiếng ồn và nguy
cơ bị suy giảm thính lực như sau:
Bảng 19.6 Tiêu chuẩn về tiếng ồn của Mỹ tại các khoảng thời gian
1 105 0,5 110
<0,25 115
Ô nhiễm âm thanh trong nhà cũng đáng kể Trước hết, ở các Thành phố nhà gần đường có lưu lượng xe cộ quá đông, lại không có
Trang 16phương tiện cách âm, nên những âm thanh ngoài phố xâm nhập vào trong nhà ở mức độ cao Một trong những sở thích của thanh niên hiện nay là nghe nhạc ở cường độ âm thanh rất cao mà những người trong nhà phải chịu đựng Âm thanh ở những làng nghề, đặc biệt là nghề cơ khí với máy đột dập bố trí ngay trong nhà, có những thời gian không kể giờ giấc gây hậu quả xấu đến sức khoẻ
Tiếng ồn có thể có hại đến thính lực ở ba dạng: chuyển ngưỡng (nghe) tạm thời, chuyển ngưỡng lâu dài và chấn thương thính giác Chuyển ngưỡng tạm thời là giảm thính lực trong một thời gian ngắn và có thể hồi phục sau vài phút, vài giờ, đặc biệät có trường hợp đến hai tuần Chuyển ngưỡng lâu dài là không có khả năng phục hồi được nữa Chấn thương thính giác thường là thủng màng nhĩ và gãy xương tai giữa Các tác hại đến thính giác thường liên quan đến các yếu tố như áp suất âm, thời gian tác dụng của âm, những đặc trưng tần số âm, khả năng cảm nhận của từng người, khả năng chịu đựng các tần số đặc biệt… Như vậy theo lý thuyết, người ta có thể chịu đựng được sự tiếp xúc trung bình với tiếng ồn 90dB, 8 giờ/ngày, 5 ngày/tuần mà không bị giảm thính lực một cách đáng kể Tăng cường độ âm, thời gian tiếp xúc để không bị giảm thính lực Cứ tăng 5dB thì thời gian tiếp xúc lại giảm đi một nửa Thường ngày trong nhà, các tiếng ồn ít tác động đến sức khoẻ, song nó cũng có thể làm người ta khó ngủ hoặc ảnh hưởng tới sự thư giãn, nghỉ ngơi Tiếng ồn trong nhà thường chỉ là đài phát thanh, ti vi, tiếng chó sủa, tiếng trẻ em đùa giỡn, la hét hoặc tiếng xe cộ từ ngoài đường, trừ trường hợp nhà ở gần khu công nghiệp, đường tàu, sân bay, đường cao tốc …
19.8 ĐỘC CHẤT TỪ CÁC THỰC PHẨM NHIỄM ĐỘC TRONG BẾP
(Xem thêm chương 13)
Thực phẩm là một thứ không thể thiếu đối với con người trong mỗi nhà Nhưng qua con đường thực phẩm các chất độc xâm nhập vào
cơ thể và gây cho con người nhiều loại bệnh tật khác nhau, có thể ngộ độc ngay và cũng có thể tích lũy dần gây nên các chứng bệnh khác nhau và gây ung thư
Trang 1719.8.1 Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn có trong nhà
Staphylococcus aureus: Vi khuẩn này nhiễm vào thực phẩm sẽ
tạo ra chất độc Chất độc thấm vào thực phẩm và có khả năng chịu được độ nóng rất cao Thực phẩm được nấu sôi trong thời gian ngắn không đủ để phá hủy chất độc Khi ăn nhầm một ít chất độc này, màng ruột có thể bị sưng lên lập tức và hậu quả là ói mửa, tiêu chảy
Clostridium perfringens: Ăn nhầm lương thực bị nhiễm khuẩn,
vi khuẩn sẽ tạo ra chất độc trong đường ruột Sau khoảng 8 đến 20 tiếng đồng hồ người bị ngộ độc sẽ ói mửa, đau bụng quặn, tiêu chảy Sau một ngày thì triệu chứng sẽ giảm đi
Bacillus cereus: Triệu chứng trúng độc của loại vi khuẩn này
cũng tương tự như của loại Clostridium perfringens
Clostridium botulinum: Loại vi khuẩn này sản xuất chất độc
trong lương thực Sau khi ăn nhầm lương thực có chất độc, chất độc sẽ đi thẳng vào máu và phá hoại hệ thống thần kinh Người bị trúng độc bị hoa mắt, khó nuốt, khó thở Chất độc loại A của vi khuẩn này là một trong những chất độc mạnh nhất trong thiên nhiên ! Chỉ cần một lượng khoảng 0,00000001 g thôi là có thể gây chết người !
Vi khuẩn và các loại thực phẩm:
Salmonella – cẩn thận đối với các loại thức ăn có chứa trứng Khoảng ¾ các vụ ngộ độc bởi salmonella là từ các thực phẩm
có chứa trứng sống, phần lớn từ các bữa ăn của các nhà bếp lớn (nhà thầu cơm) Salmonella cũng thường tìm thấy trong thịt bằm, gà vịt và cá Salmonella có thể gây cho người bị ngộ độc tình trạng sốt, thổ, tả từ hai đến tám ngày liên tiếp Trong trường hợp nặng có thể chết người (Thời gian phát bịnh 1– 2 ngày)
Clostridium – Botulism – cẩn thận với những đồ hộp méo mó, phình lên Ít xảy ra, thế nhưng có thể dẫn đến chết người Loại
vi khuẩn này thường hay có trong các đồ hộp không được khử trùng đúng nhiệt độ và thời gian, trong thịt khói, cá khói (Thời gian phát bệnh từ hai tiếng đến sáu ngày)
Trang 18 Histamine – Cẩn thận đối với cá ươn Histamin là chất
thải của vi sinh vật, thường có trong các loại cá ươn Ngộ độc sẽ dẫn đến tình trạng ói mửa, tim bị nhồi
Toxoplasmosis – Tuyệt đối không nên ăn thịt sống, thịt tái (phở bò tái !!) trong thời kỳ thai nghén Bệnh này được
truyền bởi một loại ký sinh trùng trong các loại thịt sống và thịt chưa chín kỹ (tái) Bệnh này rất nguy hiểm trong thời kỳ thai nghén: hậu quả là có thể sinh sớm, dị thai Người lớn thường không bị nhiễm bịnh
19.8.2 Ngộ độc thức ăn do khuẩn Salmonella
Loại vi khuẩn này sống trong phủ tạng của gia cầm, gia súc và tràn vào thịt khi những con vật này bị mổ Chúng cũng có mặt ở phân và dễ dàng "đột nhập" vào trứng gia cầm qua những lỗ nhỏ li ti
ở vỏ Salmonella là một trong những thủ phạm chính gây ngộ độc
thực phẩm vào mùa hè
Những thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, trứng, sữa, sò,
hến rất dễ bị nhiễm salmonella trong quá trình chế biến, bảo quản,
vận chuyển nếu không bảo đảm vệ sinh Các thống kê dịch tễ học cho
thấy, các ca ngộ độc do thức ăn nhiễm khuẩn salmonella xảy ra lẻ tẻ
quanh năm và tăng mạnh từ tháng 6 đến tháng 9 hằng năm Đây là lúc tiết trời nóng bức, vi khuẩn sinh sôi nảy nở rất nhanh, ruồi nhặng, gián cũng hoạt động mạnh; sức đề kháng của cơ thể lại giảm sút, rất dễ nhiễm bệnh
Thông thường, 12–24 giờ sau khi ăn phải thực phẩm nhiễm khuẩn (có khi nhanh hoặc chậm hơn), bệnh nhân thấy đau bụng, buồn nôn, rồi nôn mửa, đi ngoài phân lỏng, nhức đầu, nôn nao, khó chịu, ra mồ hôi, mặt tái nhợt, sốt 38–40 độ C trong 2–4 ngày (có trường hợp sốt lâu hơn) Những trường hợp nhẹ có thể tự khỏi sau khi nôn hết thức ăn hoặc sau vài ba lần tiêu chảy, chỉ cần bù nước và chất điện giải Đối với những trường hợp nặng (nhất là với các em nhỏ, các cụ già), cần dùng thêm kháng sinh theo chỉ dẫn của thầy thuốc Do nôn nhiều, tiêu chảy nhiều, bệnh nhân bị mất nước, mất muối nghiêm trọng nên có thể thấy mệt lử, mắt trũng, chân tay lạnh,
Trang 19vật vã, li bì, mê sảng Khi đó, cần nhanh chóng chuyển đến bệnh
viện để điều trị Để phòng nhiễm độc thức ăn do vi khuẩn salmonella,
khi giết mổ súc vật, tuyệt đối không để phân, lông dây vào thịt và các phủ tạng khác Lòng phải làm kỹ, rửa sạch, không để lẫn với thịt, phải luộc kỹ và ăn ngay, không nên để dành Không ăn tiết canh, thịt tái Thức ăn dự trữ hoặc còn thừa phải được nấu lại trước khi ăn Cần cảnh giác với những món nguội như thịt đông, pa tê, giò, chả vì chúng rất dễ bị nhiễm khuẩn Nếu có điều kiện, nên cất giữ thực phẩm trong tủ lạnh Với thức ăn để dành, sau khi nấu chín, để nguội, nhớ cho vào tủ lạnh ngay, chậm nhất là 4 giờ sau khi nấu xong Thức ăn chín đã lấy ra khỏi tủ lạnh thì phải ăn ngay, không để quá 4 giờ Người đang bị một bệnh nhiễm khuẩn không nên tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm (chuẩn bị, chế biến, nấu nướng)
19.8.3 Ngộ độc thực phẩm bởi nấm mốc, vi nấm
Điều tra của Trung tâm Y tế dự phòng TP HCM trên 40 mẫu hạt có dầu và các sản phẩm có liên quan như lạc, vừng, cà phê hạt, đậu phộng da cá, hạt điều rang, dầu ăn, bột dinh dưỡng cho thấy hàm lượng Aflatoxin (một chất có khả năng gây ung thư) trong lạc loại 2 cao hơn tiêu chuẩn 263 lần, còn trong kẹo lạc thì vượt tiêu chuẩn 138 lần Các loại bột dinh dưỡng cũng có nhiễm Aflatoxin Các loại đậu như đậu phộng hoặc sản phẩm từ bột ngũ cốc (bánh mỳ) nếu bị mốc nên vứt bỏ Chất độc của mốc có thể phá hoại gan, thận, tim, thần kinh, tế bào da , có khả năng dẫn đến ung thư (gan, thận) Trong trường hợp thai nghén có thể dẫn đến dị thai Vào năm 1711, lần đầu tiên người ta ghi nhận bệnh do ăn phải
nấm mốc Claviceps purpurae với các triệu chứng co giật ảo giác, hoại
thư cuối chi Gần 300 năm trôi qua, độc tố vi nấm vẫn không ngừng gây ra những tổn thất về tính mạng cho sức khỏe con người Aflatoxin có thể gây chết người Nhiều nấm mốc sinh độc tố khác cũng gây hại cho sức khỏe của người hay con vật ăn phải chúng Các độc tố thường gặp trong thực phẩm là Aflatoxin và Fumonisin Đây là những độc tố cực kỳ nguy hiểm bởi chỉ với một liều lượng nhỏ 0,35–0,5 mg/kg cũng có thể gây chết người Khi vào cơ thể, độc tố này còn
Trang 20tạo thêm 7 loại độc tố khác nhau nữa và có thể gây tử vong ngay nếu cả 7 loại này cùng phát huy tác dụng Triệu chứng ngộ độc chung cho các loại độc tố vi nấm là:
a Cấp tính
– Nhiễm độc thần kinh: co giật, liệt, rối loạn vận động
– Tổn thương ở thận
– Xuất huyết hoại tử và thoái hóa mỡ ở gan
b Mãn tính: xơ gan và ung thư gan
Aflatoxin thường có trong loại thực phẩm nào? Aflatoxin thường hiện diện trong các loại hạt có dầu như lạc, đậu nành, hạt điều, hạt hướng dương, vừng, kẹo lạc, kẹo hạt, điều, lạc muối, lạc rang hay trên các loại hạt ngũ cốc, bột dinh dưỡng, thức ăn gia súc có nguồn gốc từ hạt ngũ cốc Aflatoxin rất khó bị phân hủy bởi nhiệt độ cao hay hóa chất; không những thế nó còn có thể tích lũy trong cơ thể người và động vật Để ngăn ngừa tình trạng ngộ độc do ăn phải độc tố của vi nấm, cần áp dụng các biện pháp đề phòng sau đây:
– Không mua và ăn các loại hạt đã bị mốc như: lạc, đậu nành, gạo, ngô
– Không được đãi, rửa các hạt mốc để sử dụng trở lại vì độc tố vẫn còn lại bên trong các hạt
Ngoài ra còn có nấm Aspergillus flavus: Loại nấm mốc này sản
xuất chất độc aflatoxin và chất độc lan truyền ra chung quanh Khi nấm mốc mọc trên lương thực, chất độc sẽ thấm vào lương thực Lượng chất độc vào khoảng 10 mg sẽ làm cho gan ngừng hoạt động và dẫn đến chết người!
19.8.4 Độc chất trong thực phẩm do hóa chất
Có một thời, cuộc khủng hoảng foocmon trong bánh phở đã làm cho giới ghiền món ẩm thực này lo lắng và mất hứng thú khi thưởng thức Vậy foocmon là gì? Hàn the là gì? Tác hại của chúng trên cơ thể người ra sao?
Trang 2119.8.4.1 Độc chất foocmon trong thực phẩm
Đây là một chất hữu cơ rất độc, được sản xuất rộng rãi trong công nghiệp tên khoa học là formaldehit Vì có tính sát trùng cao nên foocmon được sử dụng để diệt khuẩn, đồng thời làm dung môi bảo vệ các tổ chức, các cơ quan nội tạng cơ thể, nên trong y học người ta thường dùng để ướp xác Foocmon dễ dàng kết hợp với các protein (là thành phần chủ yếu trong thực phẩm) tạo thành những hợp chất bền, lâu bị phân hủy Người ta lợi dụng tính chất này để bảo quản các loại thực phẩm hàng ngày Tuy nhiên cơ thể người nếu tiếp xúc với foocmon dù nhiều hay ít trong một thời gian dài đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng: nhẹ thì gây kích thích niêm mạc mắt, rối loạn tiêu hóa, chậm tiêu, gây loét dạ dày, viêm đại tràng, còn nặng thì gây kích thích đường hô hấp trên, có thể bị ngạt thở nếu hít phải ở nồng độ 1/20,000 trong không khí, nếu tiếp xúc lâu dài hay với hàm lượng cao sẽ dẫn đến tử vong hay làm gia tăng tỷ lệ ung thư vòm hầu và ảnh hưởng đến thai nhi (đối với người đang có thai)
19.8.4.2 Độc chất Hàn the trong thực phẩm
Cùng với foocmon, hàn the cũng là một chất hóa học có tên triborat natri, không màu, dễ tan trong nước, có tính sát khuẩn nhưng rất độc Khi vào cơ thể hàn the chỉ bị đào thải khoảng chừng 80%, còn lại sẽ tích tụ trong người vĩnh viễn, vì vậy nếu sử dụng hàn the ít trong một thời gian dài cũng nguy hiểm như dùng nhiều hàn the trong một lần Triệu chứng dễ nhận biết là: rối loạn tiêu hóa, chán ăn, mệt mỏi khó chịu Với trẻ em hàn the gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển trí não Ngoài ra hàn the còn làm tổn thương các tế bào gan, teo tinh hoàn và là một trong những tác nhân gây ung thư Mặc dù độc hại nhưng một số người do vô ý, thiếu hiểu biết hay cố tình vì lợi nhuận vẫn cho thêm hai hóa chất này (foomon và hàn the) vào các loại thực phẩm cần có độ giòn, độ dai, khó bảo quản như: bánh phở, hủ tiếu, nem, chả, dưa chua Để ngăn ngừa việc sử dụng ngày càng nhiều các độc chất trong thực phẩm hàng ngày, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa người sản xuất, các cơ quan chức năng với truyền thông đại chúng, bằng cách: giáo dục, nâng cao trình
Trang 22độ hiểu biết trong dân nhằm bỏ thói quen dùng hóa chất trong thực phẩm hàng ngày; tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất và có biện pháp mạnh đối với những trường hợp vi phạm
19.9 ĐỘC HẠI CỦA MỘT SỐ CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT DÙNG TRONG CÁC SẢN PHẨM TẨY RỬA GIA ĐÌNH 19.9.1 Giới thiệu
Trong hầu hết các gia đình, công sở đều dùng xà bông, bột giặt, các chất tẩy rửa nói chung Chúng là một số chất sau:
Ankylbenzen sulfonat (ABS): ABS nhánh; ABS thẳng
Parafin sulfonat (SAS: secondary alkyl sunfonat): Hiện nay,
các sản phẩm này chưa được sử dụng trong các thành phần bột giặt vì giá bán tương đối cao Vì chúng có khả năng phân giải sinh học cao
Alkyl ete sunfat (LES) Loại chất này thường được sử dụng
trong các công thức lỏng (nước rửa chén, dầu gội đầu…) Công thức hóa học của chúng như sau:
R—O—( CH2—CH2—O)n—SO3—
Các sulfosuccinat: Đó là các bán este của axit succinic có hai
nhóm carboxilic và sulfonic Các sulfosuccinat rất nhẹ đối với da Chúng được sử dụng để sản xuất những chất tẩy rửa lỏng Do có mang một nhóm este, chúng rất nhạy cảm với sự thủy phân, yêu cầu phải có pH = 6÷8
Các ankyl iseathionat: Các dẫn xuất được bán dưới nhãn hiệu
HeO S3390–2 hoặc GAF Chúng có những đặc tính giống như các sulfasuccinat về tác động nhẹ lên da và sự ổn định (sự thủy phân) Tuy nhiên, vì sự hòa tan kém trong nước lạnh nên chúng được ứng dụng chủ yếu trong các kem hoặc sản phẩm lỏng sệt và xà bông tắm
Metyl este sulfonate (MES): Chất hoạt động bề mặt này đã
được nghiên cứu trong những năm 60, nhưng với giá thành cao vì dùng mỡ bò làm nguyên liệu Hiện nay, với dầu cọ, giá cả trở nên cạnh tranh hơn
Trang 23Các xà bông: Ở Châu Âu, xà bông chỉ được dùng như tác nhân
chống bọt Chúng được sử dụng vào các sản phẩm tẩy rửa dạng lỏng hoặc gel tắm có gốc xà bông Tại các nước đang phát triển, chúng thường được sử dụng trong mọi việc
Các sulfat diglycolamit: Những thuận lợi của sản phẩm là
khả năng tạo bọt và đặc tính phân tán xà bông canxi Chúng cũng cho những cảm giác trên da như những công thức có gốc xà bông Các sulfat diglycolamit ổn định trong dung dịch nước và có thể được dùng trong các dầu gội đầu
N–axyl aminoaxit: Các muối N–axyl aminoaxit có khả năng
tạo bọt tốt và có tính tẩy rửa Chúng tan trong nước cứng dễ dàng hơn xà bông và không làm tấy da
Các polyoxyetylen carboxylat: Các dẫn xuất ấy có những đặc
tính tẩy rửa nhẹ và khả năng phân tán xà bông khi ở số lượng cao Chúng rất dễ xả và tan ở pH thấp
19.9.2 Độc tính của những chất tẩy rửa dùng trong nhà
a Độc do hoạt hóa các chất có trong mỹ phẩm, xà bông bột giặt
Những độc tính của hóa chất mỹ phẩm liên quan đến:
Những tác dụng tại chỗ: kích thích da, phản ứng dị ứng, đi vào dưới da
Những tác dụng có hệ thống: cấp tính và mãn tính
Những rủi ro tiềm tàng như: đột biến gen, độc bào thai, gây ung thư
Các nguy cơ này liên quan đến cả công nhân phơi nhiễm với nguyên liệu tại nơi chế biến, và những người tiêu dùng sử dụng sản phẩm Ba loại phơi nhiễm là:
Tiếp xúc với da hay mặt (phơi nhiễm tại xưởng chế tạo hoặc tiếp xúc với dung dịch giặt giũ đối với bà nội trợ hoặc với những chất còn tồn lưu trên quần áo)
Nuốt (thường là tai nạn, thường là đối với trẻ em)
Hít phải (ở xưởng sản xuất hoặc là khi sử dụng)
Trang 24b Các chất hoạt động bề mặt
Có thể có những tác động qua lại giữa những phân tử hoạt động bề mặt và những cấu trúc sinh học như protein, enzym, màng tế bào Protein tạo thành những phức hợp hấp thu với những cationic cũng như với những anionic Những phức hợp này gây ra sự thoái hóa protein Trong những trường hợp này các enzym có sự giảm hoặc mất hoạt động, do đó có sự biến đổi về biến thể cơ bản Việc nuốt phải những chất hoạt động bề mặt tương đối không nặng vì chúng biến thể rất nhanh: các anionic và chất không ion (NI) biến thể rất nhanh còn các anionic thì chậm hơn Không có sự lắng đọng dồn lại trong cơ thể Những tác hại do chất hoạt động bề mặt gây ra:
Tác động trên mắt: mắt nhạy cảm hơn da, nhưng thông thường một vấn đề quan trọng chỉ có thể xảy ra ở mắt khi mắt bị phơi nhiễm lâu với một nồng độ cao chất hoạt động bề mặt không được theo dõi, và cần phải rửa ngay mắt bằng nhiều nước lạnh
Nhiễm độc cấp đường miệng bởi những chất hoạt động bề mặt là rất yếu
Không một tác động gây ung thư nào được làm sáng tỏ, kể cả nhiễm độc đường uống trong thời gian dài và phơi nhiễm da lâu dài Muốn giảm tác động âm tính của các anionic trên da như làm khô, kích thích da, người ta có thể thêm những chất hoạt động bề mặt lưỡng tính và những Zwitterionic trong thuốc giặt dạng lỏng Các hợp chất này mang điện tích dương phối hợp dễ dàng với những anionic và như vậy ngăn cản sự hấp thu các chất này ở trên da
c Chất độc phát sinh từ vật liệu xây dựng
Những chất xây dựng quan trọng nhất được sử dụng là các phosphat, zeolit và NTA Các chất này không độc, nhưng nuốt nhiều có thể gây ra những vấn đề do pH quá cao trong dung dịch đậm đặc Những nghiên cứu độc tính rất nghiêm chỉnh đã được thực hiện trên zeolic Việc nuốt vào không gây vấn đề độc tính cấp Nó cũng không gây ung thư Việc tiếp xúc vào mắt cũng không thấy nguy cơ gì so với vật lạ vào mắt như bụi NTA có một tác dụng nhỏ trên da khi thường
Trang 25tiếp xúc với sản phẩm, nhưng người ta có thể nói rằng nó không nhạy cảm Hít và nuốt phải nó gây ra nhiễm độc nhẹ
d Enzym
Các enzym sử dụng trong bột giặt không gây ra những vấn đề về mặt độc tính, nhưng giống như tất cả những protein khác, phản ứng dị ứng có thể có đối với một số người Các phản ứng này có thể có hoặc do tiếp xúc trực tiếp, hoặc hít phải enzym
+ Đối với người tiêu dùng: Mọi nguy cơ hít bụi có thể bị loại
trừ vì các hạt được đưa vào bột giặt dưới dạng các hạt bền Khả năng duy nhất của dị ứng là do tiếp xúc kéo dài của da đối với dung dịch giặt chứa nhiều enzym
+ Đối với công nhân: Công nhân làm việc thủ công hằng ngày
tại nhà máy sản xuất thì vấn đề phản ứng kích thích và dị ứng do tiếp xúc kéo dài hoặc hít nhiều bụi enzym vẫn có thể xảy ra
f Perborat
Perborat có thể gây kích thích da nếu tiếp xúc kéo dài với một dung dịch đậm đặc không do sản phẩm mà do pH cao Bằng cách thủy phân hay thủy phân bằng oxy già, perborat sẽ sản sinh ra borat hay axit boric Chúng chỉ được hấp thu vào cơ thể nếu có thể xuyên qua niêm mạc, màng hoặc da đã bị trầy xước Perborat gây đặc tính cấp rất nhẹ vì liều lượng gây chết đối với người lớn là 18–20g Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo nồng độ bore trong nước không được vượt quá 0,3g/l Và con người có thể chấp nhận một nồng độ 1mg/l trong nước uống mà không có nguy cơ nào đối với sức khoẻ
g Dầu thơm
Dầu thơm là hỗn hợp của rất nhiều hợp chất tạo thành Mặc dù được sử dụng với một lượng rất nhỏ trong những sản phẩm bột giặt, nhưng những chất phụ gia này gây kích thích dị ứng da
h Những chất có tiềm năng độc
1,4 dioxane có công thức hóa học:
Trang 26Chất này được tạo thành khi ethoxyl hóa cồn béo thực hiện trong môi trường axit ở nhiệt độ rất cao Do đó nó có thể hiện diện trong ether sunfate (LES) sử dụng trong nước rửa chén bằng tay hoặc dầu gội đầu Nó bị nghi ngờ là chất tiềm năng gây ung thư
Một số chất có những nhóm nitơ có thể chứa những chất tạp thường hay gặp trong công thức dầu gội đầu, nước giặt Những chất này có thể tác động với amin phụ để cho NDELA (Nitriso Dietanol Amin) dựa theo phản ứng:
NDELA có tiềm năng gây ung thư Các nitroamin có thể được thủy phân và là những nguồn phát triển những u ác tính ở nơi có chúng
19.10 ĐỘC HẠI TỪ MỸ PHẨM DÙNG TRONG PHÒNG
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng những chất sẵn có trong tự nhiên để phục vụ cho việc làm đẹp Cùng với sự phát triển của mình, con người sử dụng ngày càng nhiều mỹ phẩm làm đẹp Mỹ phẩm là một trong những sản phẩm được sử dụng nhiều nhất hiện nay Và đây cũng là sản phẩm chứa hóa chất gây nhiều biến chứng cho người sử dụng Nghiên cứu về mỹ phẩm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất, từ đó có thể ngăn ngừa những tác hại của những hóa chất có trong mỹ phẩm
Sau đây là một vài ví dụ về tác hại của những mỹ phẩm gây ra cho người sử dụng:
19.10,1 Dùng hóa mỹ phẩm dễ gây bệnh toàn thân
Hóa mỹ phẩm thực ra có thể gây nên những phản ứng không tốt đối với toàn thân người dùng, nhưng trường hợp này ít thấy so với những phản ứng gây tổn hại cục bộ, đặc biệt phản ứng gây viêm da
Trang 27Hóa mỹ phẩm, không nói gì đến loại xấu và loại trung bình, mà kể cả loại cực tốt, sản xuất đúng tiêu chuẩn kỹ thuật thì trước đây đã từng có những phản ứng không tốt ở nơi này nơi khác, ở người này người khác và chắc chắn từ nay về sau cũng không thể nào hoàn toàn tránh được, vì vậy, tất cả mọi người cần phải nâng cao cảnh giác khi sử dụng chúng
1 Dùng hóa mỹ phẩm dễ gây bệnh về huyết dịch: Theo các chuyên gia về bệnh huyết dịch, các loại thuốc nhuộm tóc chất lượng kém khiến người dùng mắc các bệnh về huyết dịch cao gấp 10 lần so với những người không sử dụng thuốc này
2 Dùng hóa mỹ phẩm dễ gây độc tính đối với gan: Theo tài liệu nghiên cứu của một số nước thì có khoảng trên 50% hóa mỹ phẩm có chứa ít nhiều chất Nitrous acid Các chất này có thể đi vào huyết dịch sau khi được da và niêm mạc hấp thu, gây tổn hại đến gan Chúng phần lớn được trộn vào thuốc Emulsor (thuốc nhũ hóa) trong hóa trang phẩm như loại Trolamine chẳng hạn
3 Dùng hóa mỹ phẩm gây phản ứng tác hại đến bộ máy sinh sản: Căn cứ vào tài liệu khoa học của nhiều nước thì với một số phụ nữ dùng loại hóa mỹ phẩm có chứa Diolether, tỉ lệ phát sinh kinh nguyệt không bình thường tăng lên Thể trọng trẻ sơ sinh của người mẹ có dùng hóa mỹ phẩm bị giảm
4 Dùng hóa mỹ phẩm dễ gây phản ứng có hại hệ thống thần kinh: Những loại hóa mỹ phẩm có chứa Chlordenephenol như loại xà phòng thơm, thuốc gột rửa dịch thể, một số người sau khi dùng chúng đã phát sinh chứng co giật, vận động cơ mềm yếu cục bộ hoặc rộng khắp, hành vi có thay đổi, thần kinh bị kìm nén, bị hôn mê đi đến tử vong
5 Dùng hóa mỹ phẩm dễ gây dị dạng: Có một số loại hóa mỹ phẩm có thể thông qua thế hệ cha mẹ mà ảnh hưởng đến thế hệ con về sau Căn cứ vào tài liệu của các nhà khoa học Trung Quốc thì thuốc sấy tóc bằng hóa học có tác dụng gây những đột biến và dẫn tới dị dạng đối với thế hệ con của người sử dụng Những chất có hại trong thuốc nhuộm tóc qua sự hấp thu của da đầu dẫn vào cơ thể
Trang 28người mẹ, có thể gây nên dị dạng cho thai nhi, cho nên những người mẹ có thai tuyệt đối cấm sử dụng thuốc nhuộm tóc và tinh chất dùng để uốn sấy lạnh tóc
19.10,2 "Viêm da do mỹ phẩm"
Hầu hết các loại mỹ phẩm đều chứa hương liệu (kể cả khi thành phần này không được ghi trên nhãn) Đó là thủ phạm chính gây viêm
da tiếp xúc khi dùng mỹ phẩm Ngoài ra, hương liệu cũng có thể gây mày đay, rối loạn sắc tố
Viêm da do mỹ phẩm được chia làm ba loại chính:
1 Viêm da tiếp xúc kích ứng
– Thường gặp ở người có cơ địa nhạy cảm Thủ phạm gây viêm
da loại này là các chất kiềm hay axit, chất tẩy rửa, chất bảo quản, chất khử mùi trong mỹ phẩm
– Biểu hiện: Sau khi sử dụng mỹ phẩm vài phút đến vài giờ (đôi khi muộn hơn), vùng da tiếp xúc với mỹ phẩm rát bỏng hoặc ngứa nhẹ, sau đó đỏ lên, phù nề; nặng thì có thể có bóng nước Mức độ nặng nhẹ tùy thuộc vào từng người, tùy tình trạng da của bệnh nhân khi dùng mỹ phẩm Da khô và dày sẽ phản ứng ít hơn da mỏng và nhạy cảm
2 Viêm da tiếp xúc dị ứng
– Xuất hiện sau khi bệnh nhân dùng mỹ phẩm vài tuần, vài tháng, thậm chí vài năm Lúc đầu, mỹ phẩm không gây một sự thay đổi nào cho da; nhưng khi bệnh nhân sử dụng nhiều lần, liên tục thì phản ứng viêm da xuất hiện
– Thủ phạm hàng đầu gây viêm da dị ứng là hương liệu, thứ hai là chất bảo quản (dùng để diệt vi sinh vật và tránh hỏng mỹ phẩm, có trong hầu hết các loại mỹ phẩm) và thứ ba là chất PPDA trong thuốc nhuộm tóc
– Biểu hiện: Sau khi tái sử dụng mỹ phẩm 24–72 giờ, da bị ngứa, đỏ, có thể có mụn nước dạng eczema Tổn thương da xuất hiện
ở vùng tiếp xúc với mỹ phẩm hoặc xa hơn Ví dụ: Bệnh nhân bị viêm
da do dị ứng với nhựa sulfonamide – formaldehit trong thuốc sơn
Trang 29móng tay, móng chân cũng có thể bị tổn thương da ở quanh mi mắt hoặc cổ
3 Viêm da do mẫn cảm với ánh sáng
– Xảy ra sau khi người dùng mỹ phẩm tiếp xúc với ánh sáng có bước sóng và cường độ đặc biệt (thường là UVA, UVB) Thủ phạm chính là các chất có nguồn gốc từ than đá (coal tar) trong thành phần của một số mỹ phẩm
– Biểu hiện: Bỏng nắng, đỏ da, căng rát, nặng thì có thể có bỏng nước, rồi gây sạm da Hầu hết bệnh nhân bị sạm da dần dần mà không hề đỏ da trước đó Vị trí tổn thương thường là các vùng hở có dùng mỹ phẩm như mặt, cổ, tay
Xử trí khi bị viêm da do mỹ phẩm:
– Dừng tất cả các loại mỹ phẩm đang dùng
– Tốt nhất là đến khám chuyên khoa da liễu hoặc dị ứng để kiểm tra tất cả các loại mỹ phẩm đã được sử dụng Bác sĩ sẽ cho bạn làm test áp da tìm dị nguyên gây dị ứng và hướng dẫn cách điều trị – Tránh dùng tất cả các loại mỹ phẩm trong 6–12 tháng Sau đó có thể dùng một số mỹ phẩm khác, nhưng nên hạn chế đến mức tối đa – Trước khi dùng bất kỳ loại mỹ phẩm nào, nên bôi thử vào mặt trong cẳng tay ngày một lần trong vài tuần, nếu không xảy ra phản ứng gì thì có thể dùng được
19.11 CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG Ô NHIỄM, ĐỘC HẠI TRONG NHÀ 19.11.1 Nguyên tắc chung của phương pháp chống ô
nhiễm trong nhà
a Loại bỏ nguồn gây ô nhiễm
Là biện pháp tích cực nhất liên quan đến cách thiết kế, kiến trúc các ngôi nhà và sử dụng các vật liệu xây dựng cũng như trang thiết bị Nồng độ HCHO trong nhà sẽ rất thấp nếu tránh sử dụng các vật liệu có thể làm thoát ra HCHO như tấm lát sàn, vách ngăn, đồ đạc bằng gỗ dán hoặc vật liệu ép; loại trừ được các chất hydrocacbon và dẫn xuất gây ung thư bằng cách không sử dụng các bếp đun bằng
Trang 30dầu hoặc bằng gaz; tránh radon bằng cách lựa chọn địa điểm xây nhà, trước khi xây “lót” một lớp đất sét trên nền…
b Kiểm soát khí hậu trong nhà
Khí hậu đóng góp vào sự ô nhiễm trong nhà và có thể tạo điều kiện để bệnh tật phát triển, nhưng còn ít người lưu ý đến Có thể lấy formaldehit làm ví dụ Hàm lượng formaldehit trong nhà phụ thuộc khá nhiều vào nhiệt độ và độ ẩm của không khí trong phòng Nếu nhiệt độ giảm từ 300C xuống 250C thì nồng độ HCHO giảm 50%, nếu giảm độ ẩm tương đối từ 70% xuống 30% thì nồng độ HCHO giảm 40%
Duy trì độ ẩm tương đối dưới 70% bằng cách dùng máy hút ẩm cũng là biện pháp quan trọng làm giảm nấm mốc Theo động học hóa học, nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất trong việc giải phóng các chất hữu cơ bay hơi từ các vật liệu xây dựng, sơn, đồ đạc Đối với nguồn ô nhiễm và chất ô nhiễm khác cũng có những mối liên quan tương tự giữa sự phát tán và nhiệt độ, trong những trường hợp đó, khống chế khí hậu là một biện pháp quan trọng để giảm ô nhiễm
c Xử lý nguồn ô nhiễm
Các nguồn ô nhiễm trong nhà có thể được xử lý để giảm sự phát tán các chất ô nhiễm Để khống chế các vật liệu chứa amiăng – dễ gãy vụn (ví dụ các tấm cách âm), người ta có thể phun một lớp keo mỏng với chi phí chỉ bằng 50% so với biện pháp loại bỏ Với các vật liệu, đồ đạc trong nhà chứa formaldehit cũng có thể áp dụng cách này Ngoài ra, người ta còn có thể xử lý bằng NH3 để giảm hàm lượng HCHO trong môi trường bên trong các căn nhà lưu động tới 50–80%
d Thông gió
Thông gió là giải pháp chung để giảm ô nhiễm nội thất do pha loãng, loại trừ các chất ô nhiễm Nguyên tắc của thông gió là không khí được trao đổi với bên ngoài Tốc độ trao đổi đó càng lớn thì khả năng giảm thiểu ô nhiễm càng cao, vì thông gió đã đưa ô nhiễm từ trong nhà ra ngoài trời Có ba cách trao đổi không khí giữa trong nhà
Trang 31và ngoài trời Đó là sự thấm không khí, thông gió tự nhiên và thông gió cưỡng bức Hai loại đầu thường thấy trong các nhà ở Các loại sau là biện pháp chủ yếu để trao đổi không khí tại các toà nhà cao tầng và các công trình công cộng Đa số các toà nhà không hoàn toàn kín Ngoài các lỗ thông hơi còn có các khe hở ở cửa sổ, cửa ra vào, nơi lắp quạt hút… Sự thâm nhập của không khí bên ngoài phụ thuộc vào độ kín đó cùng với các yếu tố môi trường như tốc độ gió và sự chênh lệch nhiệt độ giữa trong nhà và ngoài trời
Mức độ trao đổi không khí tự nhiên, xảy ra mạnh nhất vào những ngày trời lạnh và có gió Còn vào những ngày ấm áp, trời lặng sự trao đổi không khí là thấp nhất Sự chênh lệch nhiệt độ do chênh lệch áp suất có tác dụng hút không khí vào ở phần thấp nhất của toà nhà và đẩy không khí ra ở phần nóc nhà gọi là hiệu ứng ống khói (stack – effect) Hệ thống thông gió đã làm giảm một cách đáng kể mức độ ô nhiễm trong nhà; đặc biệt trong trường hợp hút thuốc lá hoặc đun nấu bằng bếp dầu, bếp gaz Tuy nhiên, đối với chất ô nhiễm sinh ra liên tục như HCHO thì tốc độ giải phóng từ các đồ đạc trong phòng lại là hàm số của gradient áp suất hơi hoặc nồng độ HCHO tại khoảng không gian xung quanh nguồn phát tán HCHO Nồng độ HCHO trong phòng giảm thì tốc độ “nhỏ” HCHO từ nguồn lại tăng lên khiến nồng độ chất ô nhiễm luôn luôn có sự cân bằng Đó là nhược điểm của sự thông gió
e Thanh lọc không khí
Thanh lọc không khí là biện pháp giảm ô nhiễm không khí do các chất ô nhiễm đã có trong nhà Hệ thống thanh lọc không khí thường được thiết kế nhằm khống chế các chất dạng aerosol (bụi) hoặc các chất ô nhiễm dạng khí hoặc cả hai loại
Nguyên lý chung của quá trình lọc bụi là làm bụi lắng đọng do tích điện Vì đường đi của bụi qua thiết bị lọc ngắn (4–6m) nên hiệu quả không cao lắm, thường chỉ giữ được 80% Việc tách loại các chất
ô nhiễm dạng khí khỏi không khí trong nhà nói chung khó và tốn kém hơn nhiều so với tách loại bụi, và mỗi loại chất ô nhiễm có một cách tách loại khác nhau Các phân tử hữu cơ có phân tử lượng cao
Trang 32như gluen, benzen, xylen… có thể loại trừ bằng hệ thống lọc dùng than hoạt tính và than hầm Vì trong hệ có sự sụt áp lớn nên cần phải có một số bộ lọc bố trí sao cho tăng được tối đa lượng không khí qua và giảm tối thiểu sự giảm áp
Hệ thống than hoạt tính tương đối không có hiệu quả trong việc loại bỏ các chất ô nhiễm dạng khí có trọng lượng phân tử thấp như HCHO và etylen Chất hấp thụ với HCHO chẳng hạn phải dùng oxyt nhôm hoạt tính tẩm kali permanganat, có tác dụng oxy hóa HCHO thành CO2 và H2O
19.12 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG CÁC CHẤT GÂY Ô
NHIỄM TRONG NHÀ
19.12.1 Radon
Có nhiều phương pháp để làm giảm nồng độ radon trong nhà khi nó vượt ngưỡng cho phép theo quy định của EPA là 200pCi/L bao gồm: giảm nguồn phát thải radon; giảm sự di chuyển radon từ nguồn vào trong nhà; loại trừ radon và các sản phẩm phân rã của nó trong không khí trong nhà; thay đổi không khí trong nhà bằng không khí bên ngoài
Biện pháp tích cực nhất là chọn địa điểm xây dựng là nơi mà các lớp đất đá không phát ra radon Vì nguồn radon chủ yếu là do nền đất, nên người ta thường ngăn ngừa sự phát ra radon bằng một lớp đất sét dày trước khi làm nền nhà Để hạn chế lượng radon phát
ra liên tục, cần gắn kín các khe hở từ nền nhà bằng chất gắn (sealant) thích hợp Các vật liệu xây dựng cần kiểm tra để lựa chọn loại không phát ra radon Sự thông gió là cần thiết Tuy nhiên, theo EPA, nó không giảm được một cách có hiệu quả khi hàm lượng radon trên 40pCi/L
Một yếu tố khác là duy trì áp suất trong nhà không thấp hơn áp suất không khí trong đất, nếu không radon sẽ bị hút lên Hiện tượng giảm áp suất có thể xảy ra khi các cửa chỉ mở về phía xuôi theo hướng gió, dùng quạt hút trong nhà tắm, nhà bếp, gác mái, dùng lò và máy sấy khô quần áo…
Trang 33Để radon không vào nhà qua đường nước nhất là nước giếng, cần sục không khí để radon bay đi, trước khi dẫn nước vào trong nhà Về giải pháp thiết kế, nhà cần có những lỗ thông hơi sát mặt sàn, bố trí hệ thống thông gió có hiệu quả để luân chuyển không khí trong nhà ra ngoài
19.12.2 Amiăng
Để hạn chế nguy hiểm do ô nhiễm sợi và bụi amiăng, người ta đã đưa ra chương trình kiểm tra, bảo dưỡng các bộ phận chứa amiăng để khống chế lượng phát tán ra không khí, bao gồm: điều tra tất cả những công trình xây dựng đã sử dụng amiăng; khảo sát mức độ hư hỏng của các bộ phận chứa amiăng (có khả năng bị gãy vụn, phân nhỏ thành bụi và sợi), mức độ ô nhiễm ở môi trường nội thất; lập kế hoạch loại bỏ hoàn toàn hoặc bảo dưỡng các bộ phận chứa amiăng để hạn chế sự phát tán
19.12.3 Formaldehit và các chất hữu cơ bay hơi
Các biện pháp hạn chế nguồn giải phóng formaldehit bao gồm:
Không dùng các tấm xốp urê–formaldehit để cách âm, cách nhiệt cho nhà ở
Trang bị máy điều hòa không khí và máy hút ẩm để khống chế khí hậu nhằm làm giảm nồng độ formaldehit
Thông gió thường xuyên không khí trong nhà
Khi trang bị thêm các đồ đạc có chứa nhựa urê–formaldehit, cần thông gió liên tục cho đến khi mùi ban đầu của sản phẩm không còn nữa
Để hạn chế sự ô nhiễm do VOC, cần phải:
Chỉ dùng sơn, dung môi, (xi đánh sàn hoặc giày), keo dán và các sản phẩm hóa chất khác ở nơi thông gió thật tốt
Khi nhà trải thảm bằng vật liệu (sợi) tổng hợp cần trang bị quạt thông gió
Để các sản phẩm hóa chất nói trên ở những ngăn bên ngoài nhà hoặc tại nơi thoáng khí
Trang 34 Không mua trữ các sản phẩm hóa chất nói trên với lượng lớn, chỉ mua vừa đủ dùng và mua trước khi dùng
Trong tủ đựng quần áo thay vì dùng naphatalen (xua đuổi nhậy len dạ) nên dùng những thỏi gỗ bạch đàn (cedar), vỏ cam…
Nếu đun bằng dầu và gas, mua vừa đủ và bố trí nơi để ngoài nhà
Khi xả nước hoặc dùng vòi hoa sen, cần mở cửa sổ hoặc quạt hút gió
19.12.4 Các loại thuốc sát trùng
Theo EPA, sau khi diệt côn trùng trong nhà, nồng độ các thuốc sát trùng thường không vượt quá 5 microgam trong 1m3 không khí Trong trường hợp đó, cần hạ thấp nồng độ này bằng cách:
Tăng cường tuần hoàn không khí bằng cách mở cửa sổ, cửa ra vào và dùng quạt hút để pha loãng dư lượng các chất này trong phòng
Thêm các lỗ thông hơi, bố trí thêm các quạt hút
Giặt thảm và rèm cửa vì chúng có thể hấp thụ hơi của các thuốc sát trùng, lưu giữ mùi Cần giặt nhiều lần bằng các chất tẩy rửa
19.12.5 Các chất độc hại từ bếp đun nấu
Để loại trừ các sản phẩm phân hủy của sự cháy, điều cần thiết
là loại trừ nguồn gốc nếu có điều kiện và tuân thủ các yêu cầu sau:
Lựa chọn kiểu bếp và kiểu lò sưởi có kết cấu hợp lý, đốt cháy hoàn toàn nhiên liệu
Lựa chọn nhiên liệu chứa ít tạp chất Mức độ ô nhiễm giảm dần từ nhiên liệu là củi sang dầu hỏa, gas và điện Đi theo hướng sử dụng nhiên liệu đó sẽ giảm được ô nhiễm
Tại bếp đun nấu và lò sưởi có lắp đặt ống khói hút khí thải
Thông gió tốt không gian trong nhà
Bếp gaz cần chú ý điều chỉnh ngọn lửa màu xanh, gaz cháy hết Nếu ngọn lửa màu vàng hay đỏ là biểu hiện gaz cháy không hoàn toàn, rất độc
Trang 35 Nếu nấu bằng bếp dầu hôi thì chú ý khi vừa tắt bếp, bếp phát ra rất nhiều khí CO, vô cùng độc
Hút thuốc lá là một nguyên nhân gây ô nhiễm trong nhà Nhiều cơ quan có các quy trình với những mức độ sau:
Cấm hút thuốc lá
Chỉ được hút thuốc ở những vùng có thông gió riêng biệt
Hạn chế ở những vùng không thông gió
Có quy chế điều chỉnh giữa những người hút thuốc và không hút
19.12.6 Các tác nhân ô nhiễm sinh học
1 Tự kiểm tra toàn bộ ngôi nhà
Hai yếu tố chính tạo điều kiện cho sinh vật phát triển là chất dinh dưỡng và sự ẩm ướt thường xuyên kết hợp với sự tuần hoàn khí trong nhà không tốt Nên kiểm tra thường xuyên:
Bụi và các loại vật liệu xây dựng như gỗ, ván ốp tường và các vật liệu cách ly thường chứa chất dinh dưỡng cho vi sinh vật phát triển Củi cũng là nguồn ẩm, mốc và rệp
Các thiết bị như máy giữ độ ẩm, bếp gas, bếp dầu
Mùi mốc, ẩm trên bề mặt cứng hay ngay cả vết nước bẩn cũng có thể do máy điều hoà, ở trong phòng tắm, từ các tấm thảm…
2 Điều chỉnh lượng ẩm
Trong nhà, nước xuất phát từ nhiều nguồn Nước có thể vào trong nhà bằng cách thấm qua hay rỉ từ dưới sàn Tắm rửa và nấu nướng cũng làm tăng thêm độ ẩm trong nhà Độ ẩm trong nhà phụ thuộc vào nhiệt độ không khí Khi nhiệt độ giảm thì độ ẩm cũng giảm Có nhiều cách để điều chỉnh độ ẩm trong nhà:
Sửa chữa các chỗ rò rỉ nước
Sử dụng các quạt hút trong nhà tắm hay bếp để hút ẩm ra ngoài
Tắt những thiết bị nhất định (như máy giữ ẩm ) nếu thấy hơi nước đọng trên cửa sổ hay ở những bề mặt khác (là dấu hiệu chứng tỏ lượng ẩm quá cao trong nhà)
Trang 36 Dùng lớp plastic bọc các đồ dùng bị nhiễm bẩn lại để ngăn ngừa hơi ẩm mang nguồn bẩn đến những nơi khác
Dùng các máy khử ẩm hoặc điều hòa nhiệt độ để giảm độ ẩm không khí đến mức chắc chắn rằng chúng không phải là các nguồn sống của vi sinh vật Các thiết bị này rất cần cho các gia đình ở vùng khí hậu nóng ẩm
Tăng nhiệt độ ở những nơi mà hơi ẩm dễ bị ngưng tụ Xây dựng các cửa sổ cách ly hoặc chống bão Thường xuyên mở cửa các phòng, đặc biệt là những phòng kín do thường lạnh và ẩm hơn những phòng còn lại, để tăng sự trao đổi tuần hoàn khí Có thể sử dụng quạt hay một số thiết bị di chuyển được để tăng sự trao đổi khí
Đặc biệt chú ý đến lớp thảm trải sàn Các tấm thảm có khả năng hút ẩm tốt và cũng là nơi sinh sống lý tưởng cho vi sinh vật Cần có những biện pháp giũ bụi và giặt thảm thường xuyên
Tuỳ khí hậu ở từng nơi mà lượng ẩm trong không khí thay đổi khác nhau, từ đó gây ra những tác động khác nhau và đòi hỏi những giải pháp thích hợp Việc điều chỉnh độ ẩm tương đối trong nhà có thể làm giảm sự sinh sôi của các loài ô nhiễm trên đến mức thấp nhất Độ ẩm tương đối thích hợp là vào khoảng 30 – 50%
3 Giữ sạch các thiết bị có tiếp xúc với nước
Một số thiết bị nếu muốn làm sạch thì đòi hỏi các thao tác của người có chuyên môn (công nhân, thợ sửa chữa…) như các bộ phận chứa nước dư trong hệ thống làm lạnh, đĩa hứng nước trong tủ lạnh
4 Lau sạch các bề mặt vật dụng
• Lau sạch các bề mặt dễ bị mốc như vòi sen, miếng đệm trong bếp…
• Tiêu diệt nấm mốc bám trên tường, trần nhà, nền nhà, các bảng hiệu
• Không phủ lên những bề mặt có nấm mốc bằng sơn, phẩm màu, véc ni… vì chúng cũng sẽ nổi lên trở lại
Trang 375 Cố gắng giảm thiểu lượng bụi sinh học
Khống chế hàm lượng bụi là rất quan trọng với những người bị
dị ứng với vật nuôi và khuẩn bụi (dust mites) Các loại khuẩn bụi này có mặt ở khắp mọi nơi, trên trường kỉ, ghế, trên giường ngủ… Các ngăn kéo để mở, giấy dán tường, đồ lặt vặt, các tấm cửa, kệ sách… đều có thể là nơi sinh sôi của chúng Những khuẩn bụi này thường ở sâu trong các tấm thảm và không hề bị các máy hút bụi hút đi
6 Chú ý những nơi thường tìm thấy vi sinh vật gây ô nhiễm trong nhà
• Máy điều hoà, máy giữ ẩm hay khử ẩm bị nhiễm bẩn
• Phòng tắm, bếp không có cửa sổ hay quạt thông gió
• Gác mái ẩm thấp
• Các tấm thảm hoặc các nền nhà ẩm ướt
• Chăn nệm
• Các loại vật nuôi
• Các hốc nước đọng ở cửa sổ, mái nhà hay dưới nền móng nhà
Nói một cách tổng quát, để giảm sự tiếp xúc với các vi sinh vật gây nhiễm trong nhà, cần:
• Cài đặt và sử dụng quạt gió để hút không khí ngoài trời vào bếp, phòng tắm và hút các khí ẩm từ máy sấy khô quần áo ra ngoài Phương pháp này làm giảm nhiều lượng ẩm hình thành trong nhà từ các hoạt động hằng ngày như từ vòi nước nóng, máy rửa chén
• Làm sạch và thông thoáng các khu vực trong nhà để tránh
bị ẩm ướt Giữ độ ẩm dưới 50% sẽ ngăn được sự ngưng tụ hơi nước trên bề mặt vật dụng
• Với các thiết bị như máy giữ ẩm phải tiến hành lau sạch và giữ khô theo các hướng dẫn đã ghi trên nhãn
• Giữ nhà cửa sạch sẽ, thông thoáng là cách tốt nhất để giảm sự gia tăng của các vi sinh vật gây bệnh
Trang 38Để hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm sinh học, người ta áp dụng các biện pháp sau đây:
• Thiết kế nhà và lựa chọn vật liệu xây dựng hợp lý nhằm khống chế độ ẩm để hạn chế sự phát triển của nấm mốc và các vi sinh vật khác, loại trừ các vị trí nước ngưng đọng Vật liệu phải bền, xây dựng phải khô, thoát nước tốt…
• Hệ thống thông gió và thanh lọc không khí cần được trang
bị đầy đủ Tại bếp và nhà tắm phải có hệ thống hút để giảm độ ẩm
• Thường xuyên kiểm tra độ ẩm và điều hòa không khí
• Khi làm sạch thường kỳ nhà ở bằng các phương tiện sử dụng (chất tẩy rửa, chất sát trùng…), không được làm thoát ra các chất hữu
cơ bay hơi, chất kích thích và các chất độc khác Aerosol sinh học lúc nào cũng có Vì vậy phải thường xuyên loại trừ các chất nền có khả năng làm vi sinh vật phát triển Thảm trải sàn phải luôn khô ráo…
19.12.7 Nhiễm độc chì trong nhà
• Khi phát hiện nước máy chứa chì với hàm lượng vượt quá 20ppb, cần thực hiện lọc nước qua đá vôi để giảm độ acid của nước (vì trong môi trường acid chì hòa tan nhiều hơn)
• Không dùng nước từ vòi nước nóng để uống, nấu nướng và nhất là để nấu cho trẻ em, vì nước nóng hòa tan nhiều chì hơn nước lạnh
• Dùng thiết bị thẩm thấu ngược lắp ngay tại vòi nước để khử chì trong nước Trong thiết bị thẩm thấu ngược, phân tử nước có kích thước phân tử nhỏ hơn có thể đi qua được màng thẩm thấu, còn chì và các phân tử khác có kích thứơc lớn hơn bị giữ lại
• Thay các ống dẫn nước có chì bằng ống dẫn nước bằng sắt hoặc chất dẻo
• Nếu đất ngoài sân, vườn nhiều chì và không thể thay bằng lớp đất “sạch”, cần trồng cây xanh Cây sẽ lấy đi một lượng chì đáng kể trong đất
Trang 39• Thay thế xăng pha chì bằng xăng không chì
19.12.8 Hội chứng ốm nhà cao tầng
• Không đựơc bít các miếng thông khí và phải lau rửa chúng thường xuyên
• Xử lý nước của hệ thống tạo ẩm theo chỉ dẫn của người lắp đặt
• Lau và thay thường xuyên các bộ lọc khí
• Xem xét, điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm trong các phòng
• Đặt máy photocopy và máy in trong một phòng thông thoáng
• Tránh đặt nhiều thiết bị điện trong một phòng
• Đặt cây xanh lọc không khí trong phòng
19.12.9 Hạn chế ô nhiễm ngoài trời
Ô nhiễm ngoài trời – yếu tố có thể ảnh hưởng lớn đến ô nhiễm trong nhà – là mối quan tâm của mọi quốc gia và được thể chế hóa
bằng pháp luật và hàng loạt biện pháp
• Trong sản xuất, phải xử lý các loại chất thải trước khi đưa ra môi trường, bảo đảm các tiêu chuẩn Nhà nước quy định, triển khai các công nghệ sạch, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, cấm các chất độc hại không phân hủy sinh học, những chất gây ung thư và các bệnh khác, những chất phá hủy tầng ozon
• Trong giao thông, vận tải, thay thế xăng pha chì bằng xăng không chì, cải tiến động cơ để không thải khí độc
• Cấm phá rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh học
19.12.10 Ô nhiễm, gây độc nhà nông thôn
Phòng chống ô nhiễm ở nông thôn một cách triệt để là một vấn đề rất khó khăn vì liên quan đến việc giải quyết hàng loạt vấn đề rất lớn ở nông thôn như vấn đề chất đốt, thay đổi tập quán sinh hoạt và cải tạo cách thiết kế các kiểu nhà
• Chất đốt: việc thay đổi chất đốt dùng trong đun nấu hàng ngày từ phế liệu thực vật (củi, lá cây, bã mía, rơm rạ ) sang than,
Trang 40dầu hỏa, gas hay điện là khuynh hướng hạn chế dần những sản phẩm phụ của quá trình cháy rất độc hại Song quá trình thay đổi này gắn liền với điều kiện kinh tế và mức sống của người nông dân
• Thay đổi tập quán sinh hoạt: Ở những nước đang phát triển còn tồn tại nhiều tập quán lạc hậu, cần phải thay đổi, từ việc uống nước lã, vệ sinh cá nhân, bón phân bắc trên đồng ruộng đến những kiến thức về sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu đúng quy cách để vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa hạn chế được ô nhiễm môi trường
• Cách thiết kế nhà ở tại nông thôn có nhiều điểm thiếu khoa học: khoảng cách giữa nhà ở và các diện tích phụ, biện pháp thông gió, bố trí chuồng trại chăn nuôi Nhiều nước đã có thiết kế các kiểu nhà phù hợp với phong tục địa phương
19.12.11 Chống ngộ độc thực phẩm
• Ăn rau sạch, thực phẩm sạch
• Bảo quản thức ăn tốt, đủ lạnh, không để thịt sống thịt chín chung nhau, tiếp xúc nhau
• Không dùng nhũng thực phẩm có chất bảo quản, phụ gia độc hại
• Diệt gián, chuột, ruồi, kiến trong phòng, không cho chúng ăn, truyền bệnh vào thức ăn Không ăn những thức ăn đã thiu, ôi
19.13 KẾT LUẬN
Thông thường, khi nói đến ô nhiễm môi trường, người ta thường nghĩ rằng đó là những ô nhiễm ngoài trời tác động đến thời tiết, khí hậu, cây cỏ, hủy hoại các công trình xây dựng, ô nhiễm đất, nước… ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Nhưng thực sự ô nhiễm gây độc trong nhà và văn phòng là rất trầm trọng, gây ra đủ loại bệnh, gây độc hại sức khỏe con người
Chỉ trong thời gian gần đây, hiện tượng ô nhiễm nội thất mới đựơc lưu ý đến Vì vậy, các tài liệu nghiên cứu chưa nhiều, các tác hại chưa được đánh giá một cách đầy đủ Mặc dù ở đây chỉ tập hợp những công trình còn lẻ tẻ, rời rạc ở nước ngoài, song cũng đủ kết luận rằng: tình trạng ô nhiễm trong nhà khá nghiêm trọng, gây những tổn thất lớn và thực sự là vấn đề phải giải quyết kịp thời