Dịch giả Phạm Quỳnh đã thêm đại từ, lặp lại động từ để chuyển tải được nghĩa của văn bản nguồn và bảo đảm một tiếng Việt uyển chuyển và phong phú.. Khi đọc bài sonnet trích trong tập thơ
Trang 1Quan điểm dịch thuật của
Antoine Berman
Trang 2Xu hướng kéo dài
Tường minh hĩa hay hợp lý hĩa làm cho bản dịch cĩ xu hướng dài hơn bản gốc Antoine Berman nhận định rằng xu hướng kéo dài cĩ thể làm phương hại tới nhịp điệu của tác phẩm Xem xét đoạn “Hai thái cực” (Les deux infinis) của Pascal
mà Phạm Quỳnh dịch sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về xu hướng này
Bản gốc tiếng Pháp: “… Car enfin qu’est-ce que l’homme dans la nature? Un néant à l’égard de l’infini, un tout à l’égard du néant, un milieu entre rien et tout Infiniment éloigné de comprendre les extrêmes, la fin des choses et leur principe sont pour lui invinciblement cachés dans un secret impénétrable; également
incapable de voir le néant d’ó il est tiré, et l’infini ó il est englouti”
Bản Việt ngữ của Phạm Quỳnh: “Vì rút lại thì người ta trong cảnh vật này là gì? Đối với cái thái cực thì người ta là một cái hư vơ, đối với cái hư vơ thì người ta
là một cái thái cực, nghĩa một khoảng giữa cái cĩ và cái khơng Người ta cịn xa lắm mới hiểu được cái cùng cực, cho nên cái nhẽ cứu cánh cùng cái nguyên lý vạn vật cịn bí mật khơng tài nào khám phá được; khơng thể biết được cái hư vơ ở đấy mà
ra, mà cũng khơng thể biết được cái thái cực tiêu diệt về đấy”(4)
Qua việc so sánh văn bản gốc và văn bản nguồn, chúng ta cĩ thể thấy bản Việt ngữ dài hơn bản gốc Bản tiếng Pháp dài 66 từ trong khi bản Việt ngữ dài đến
104 từ Dịch giả Phạm Quỳnh đã thêm đại từ, lặp lại động từ để chuyển tải được nghĩa của văn bản nguồn và bảo đảm một tiếng Việt uyển chuyển và phong phú
Chẳng hạn trong bản gốc, l’homme (con người) chỉ xuất hiện một lần nhưng trong
bản dịch “người ta” xuất hiện đến bốn lần Như vậy, để hợp với tư duy cơng chúng đích, để trở nên dễ hiểu, rõ ràng thì bản dịch phải dài hơn bản gốc Đây là một xu hướng khĩ tránh khỏi
Thẩm mỹ hĩa
Về hình thức, bản dịch cĩ xu hướng “nhã” hơn bản gốc Các dịch giả văn học thường cố dịch cho hay, cho uyển chuyển cho nên khi dịch thơ thì họ thi vị hĩa, dịch văn thì họ tu từ hĩa Antoine Berman cho rằng tu từ hĩa, thẩm mỹ hĩa nhằm dùng những lời văn thanh nhã bằng cách sử dụng bản gốc như một nguyên
Trang 3liệu Từ nguyên liệu này dịch giả thêm “hoa lá cành” để bản dịch của mình hay hơn Lâu nay người ta khen ông này dịch hay, chê ông kia dịch dở thực chất là khen chê về khả năng ngôn ngữ và văn chương của dịch giả Còn để nhận xét về một bản dịch thì điều kiện tối thiểu là phải biết cả ngữ đích và ngữ nguồn Những người khen ông Thúy Toàn dịch thơ Nga hay, tán dương ông Huỳnh Lý dịch văn Pháp giỏi chắc gì đã đọc cả bản gốc lẫn bản dịch? Khi đọc bài sonnet trích trong
tập thơ Mes heures perdues của Félix Arvers qua bản Việt ngữ của Khái Hưng,
chúng ta thấy bản dịch có vẻ thơ mộng hơn, trữ tình hơn, nhiều chất thơ hơn bản gốc:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu
Tình tuyệt vọng, nghĩa thảm sầu
Mà người gieo thảm cơ hầu không hay
Hỡi ơi, người đó ta đây
Sao ta thui thủi tháng ngày chiếc thân
Dẫu ta đi trọn đường trần
Tình ta dễ đã một lần hé môi
Người dù ngọc nói hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ gót tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong
Xem rồi lòng lại hỏi lòng
Bằng thể lục bát uyển chuyển đặc trưng Việt Nam, bằng những hình ảnh ước
lệ rất phương Đông, bằng những câu chữ trau chuốt, bóng bẩy, trữ tình, bản dịch này là một ví dụ tiêu biểu cho xu hướng thẩm mỹ hóa trong dịch thơ nói riêng và dịch văn học nói chung Ở Việt Nam, theo thiển ý, xu hướng thẩm mỹ hóa trong
Trang 4dịch thuật được thể hiện rõ nhất ở dịch giả Bùi Giáng Thi sĩ- dịch giả này khơng
ngần ngại thi hĩa một cách tối đa bản dịch của mình Trong bản dịch Cõi người
ta (Terre des hommes), Bùi Giáng “luồn” cả thơ của mình vào bản dịch để mang lại
cho dịch phẩm độ thi tính (poéticité) cao nhất Chẳng hạn như ơng dịch câu:
“Parfois l’esclave noir, s’accroupissant devant la porte, gỏte le vent du soir Dans
ce corps pesant de captif, les souvenirs ne remontent plus” bằng: “Đơi phen người
da đen nơ lệ, ngồi khoanh chân trên khoeo trước cửa, phơi linh hồn phiểu điệu trong làn giĩ hây hây Hồng hơn êm ái như ru Lặng nghe dễ khiến thân tù tội mê Nặng sao vịng hãm tư bề Làn xanh kỷ niệm khơng về bãi hoang Chỉ nghe hiu hắt đơi hàng Phút giây giờ cũ pha càn địn đau Kêu xin, nài nỉ nơi nào Bàn tay ai đẩy tơi
bằng một tứ thơ lục bát tuyệt hay, khiến ai khơng thuộc Truyện Kiều cũng tin ngay khi người ta bảo tứ thơ này được trích ra từ Truyện Kiều!
Mặt trái của xu hướng thẩm mỹ hĩa là khi dịch đoạn văn mang tính thơng tục, dịch giả thường dùng một thứ tiếng lĩng giả tạo, ít dung tục hơn và như thế khơng phản ảnh đúng tinh thần của bản gốc Trong dịp tranh luận về vấn đề “Tín, Đạt, Nhã”, dịch giả Trần Thiện Đạo (người đã lên án cách dịch của Vân Mồng - bút danh
của Bùi Giáng - trong bản dịch Khung cửa hẹp (La Porte étroite) của André Gide,
cĩ nêu quan điểm của mình như sau: “Nhã là nếu trong tác phẩm, cĩ những câu hết sức lủng củng, thì tơi dịch cũng lủng củng Nhã là phải tơn trọng văn phong của tác giả Tơi muốn nĩi thêm là khơng phải tác giả nào cĩ tiếng thì cái gì cũng hay cả Camus cĩ những đoạn viết rất lủng củng, cĩ những chữ rất xồng nữa Như thế mà một dịch giả lại “nâng cao” những chỗ ấy thì đĩ khơng phải là dịch mà là phản”
Đây rõ ràng là quan điểm chống lại xu hướng thẩm mỹ hĩa thái quá trong dịch thuật Một dịch phẩm hay, nên thơ chưa hẳn là một bản dịch trung thành với tác phẩm gốc
Giảm chất
Bản dịch thường bị “nghèo hĩa” về chất lượng, tức là nĩ khơng đảm bảo được cái hay của phong cách, sự phong phú tượng thanh, tượng hình của ngơn từ, của ngữ
Trang 5điệu hay cách nói, sự giàu có về ngữ nghĩa, v.v… Đặc biệt, khi chúng ta dịch những tác phẩm văn thơ từ tiếng Việt sang tiếng Anh hay tiếng Pháp, khả năng không bảo toàn sự giàu đẹp của tiếng Việt là rất lớn Ta có thể nhận xét rằng, tiếng Việt của chúng ta là một ngôn ngữ rất giàu chất thơ Efim Etkind, một nhà phê bình dịch thuật, cho rằng tiếng Nga là một trong những thứ tiếng giàu chất thơ nhất Ta cũng
có thể khẳng định như vậy đối với tiếng Việt giàu đẹp của mình Một trong những đặc trưng của tiếng Việt là từ láy Cho nên khi dịch các từ này sang tiếng Pháp chẳng hạn thì xu hướng giảm chất trong quá trình chuyển dịch được thể hiện rất rõ ràng:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
(Nguyễn Khuyến)
Trong hai câu thơ này, các từ láy “lạnh lẽo”, “tẻo teo”, rất tượng hình, rất đặc
trưng Bản dịch sang tiếng Pháp trong cuốnMille ans de littérature
vietnamienne (NXB P Picquier, 2000) không diễn tả được các từ ấy:
Une mare automnale morne et froide
Sur l'onde limpide, un petit sampan, tout menu
Từ “froide” (lạnh, rét) trong tiếng Pháp không đúng sắc thái của “lạnh lẽo” Tương tự như vậy đối với từ “petit” (nhỏ) và tiếp theo nó là “tout menu” (rất nhỏ) không thể diễn tả được từ “tẻo teo” trong tiếng Việt
Dịch văn học vốn là một hoạt động đầy rủi ro vì người dịch có khả năng không trung thành với bản gốc về phong cách hay thẩm mỹ, ngữ nghĩa hay ngôn từ, nội dung hay hình thức Các xu hướng biến dạng đã trình bày ở trên chưa phải là tất
cả nhưng đã thể hiện phần nào mặt trái của tấm huân chương mà các dịch giả, dù
cho tầm cỡ nhất, thường mang trên mình Thế đôi ngảmà dịch giả thường phải đối
diện là: Bản dịch của mình hoặc trở thành một cô gái đẹp mà không chung thủy
(Belle infidèle, theo cách nói của G Mounin) hoặc trở thành một cô gái chung thủy
mà không ưa nhìn Trong phần lớn trường hợp, dịch giả thường đi theo con đường
Trang 6của cô gái đẹp, và như thế, họ thường mắc phải những xu hướng biến dạng trên trong dịch thuật, những xu hướng “giết chết” lạ tính của bản gốc Antoine Berman rất hiểu sự giằng co của người dịch giữa ngữ đích và ngữ nguồn, giữa văn hóa
Người và văn hóa Ta Hẳn vì thế mà ông đã trích câu nói sau của Wilhelm von
Humbold ngay trong những trang đầu của cuốn L’Épreuve de l’Étranger: “Mỗi dịch
giả tất yếu phải gặp một trong hai trở ngại sau: hoặc anh ta quá bám sát vào bản gốc, làm mất đi thị hiếu và ngôn ngữ của dân tộc mình, hoặc anh ta quá chú trọng đến tính độc đáo của dân tộc mình, làm thất thoát tác phẩm mình dịch” (Thư gửi Schlegel, 23 tháng Bảy năm 1796) Hiểu thế nhưng Antoine Berman cực lực công kích khuynh hướng biến dạng trong dịch thuật Dịch phẩm đã được hoàn thành theo khuynh hướng này, theo ông, là một bản dịch tồi: “Tôi gọi một bản dịch tồi là bản dịch thường đội lốt khả năng chuyển tải để phủ nhận một cách có hệ thống lạ tính
chúng ta cần xem lại cách phê bình một bản dịch văn học Không ít người đánh liều khen hay chê một dịch phẩm mà chưa đọc, hoặc chỉ đọc qua loa bản gốc Cũng không ít người đánh giá bản dịch theo quan điểm dân tộc vi trung, tức là theo họ, bản dịch nào cũng phải nhuần nhuyễn tiếng Việt và văn hóa Việt Nhưng chúng ta cũng phải nhận thức rằng, để cho ra đời một dịch phẩm vừa sát với bản gốc về mặt văn hóa và ngôn ngữ, vừa không gây sốc cho độc giả bản dịch thì dịch giả ắt hẳn phải nhuần nhuyễn cả hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa cũng như thuần thục trong các thao tác dịch Tuy nhiên, ở nước ta, số lượng dịch giả thuộc tầm cỡ này chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay Điều đó giải thích vì sao trên thị trường sách dịch
hiện nay, số lượng dịch phẩm hay thì nhiều còn những bản dịch
vừa đúng vừahay thì chẳng được bao nhiêu