1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng - Phương pháp tưới tiêu - chương 2 docx

22 542 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 355,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Wd: lượng nước dự trữ trong lớp đất tính toán ở đầu thời kỳ sinh trưởng m3/ha Wc: lượng nước dự trữ trong lớp đất tính toán ở cuối thời kỳ sinh trưởng m3/ha Wn: lượng nước ngầm có thể bổ

Trang 1

BÀI 2 CHẾ ĐỘ TƯỚI CHO MỘT SỐ CÂY TRỒNG CHÍNH

2.1 Nội dung cơ bản của chế độ tưới cho cây trồng

2.1.1 Khái niệm chung

Để đảm bảo cho cây trồng đạt năng suất cao, cần phải giải quyết mâu thuẩn giữa nhu

cầu của cây trồng và khả năng cung cấp của đất đai về các điêu kiện sinh sống cần thiết,

nhất là nước và chất dinh dưỡng Mâu thuẩn này trong những điều kiện tự nhiên nhất định,

cần có một biện pháp kỹ thuật nông nghiệp và thuỷ lợi thích ứng Nhưng trên thực tế sự

điều chỉnh chế độ nước trong đất bằng cách tưới nước hoặc tiêu nước là biện pháp có ý

nghĩa quan trọng bậc nhất để trên cơ sở đó phát huy được tác dụng các biện pháp kỹ thuật

khác

Chế độ tưới của cây trồng bao gồm việc xác định chính xác những nội dung sau: tổng

lượng nước tưới, thời gian tưới, tiêu chuẩn tưới và số lần tưới

2.1.2 Tổng lượng nước tưới

Lượng nước cung cấp cho cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng, bổ sung vào

lượng nước tự nhiên trong đất còn thiếu để đạt được một kế hoạch năng suất nào đó, gọi

là tổng lượng nước tưới

Tổng lượng nước tưới cho cây trồng cạn được xác định theo công thức:

ME 10 h (W dW c)W n

trong đó:

E: lượng nước cần của cây (m3/ha)

h: lượng mưa rơi trong thời kỳ sinh trưởng (mm)

 : hệ số sử dụng nước mưa, ở đất thấm nước tốt lấy bằng 0,8 - 0,9 và ở đất thấm

nước kém lấy bằng 0,4 - 0,7

Wd: lượng nước dự trữ trong lớp đất tính toán ở đầu thời kỳ sinh trưởng (m3/ha)

Wc: lượng nước dự trữ trong lớp đất tính toán ở cuối thời kỳ sinh trưởng (m3/ha)

Wn: lượng nước ngầm có thể bổ sung cho lớp đất bộ rễ hoạt động (m3/ha)

Lượng nước ngầm có thể bổ sung cho lớp đất bộ rễ hoạt động thay đổi tuỳ theo độ

sâu, động thái mực nước ngầm và tính chất vật lý nước của đất

Lượng nước dự trữ trong đất đầu và cuối thời kỳ sinh trưởng của cây trồng được xác

Trang 2

đA: độ ẩm đất tính theo % của độ rỗng đất

h: độ sâu lớp đất (m)

Trong điều kiện được tưới, độ sâu lớp đất tưới xác định tùy theo sự phân bố của bộ rễ cây trồng, thường lấy bằng độ sâu phân bố của 90% hệ rễ

2.1.3 Tiêu chuẩn tưới

Lượng nước tưới cho cây trồng mỗi lần trên đơn vị diện tích gọi là tiêu chuẩn tưới

Tiêu chuẩn tưới phụ thuộc vào độ ẩm đất ở các thời kỳ sinh trưởng và điều kiện thời tiết khí hậu Đất trước khi tưới có dự trữ độ ẩm thấp thì tiêu chuẩn tưới lớn và ngược lại,

dự trữ độ ẩm cao thì tiêu chuẩn tưới bé

Giới hạn tối đa về tiêu chuẩn tưới được tính theo công thức:

m = 100 d h (β max - β 0 ) (m3/ha)

trong đó:

βmax: độ chứa ẩm tối đa của đất tính theo % trọng lượng đất khô kiệt

β0: độ ẩm đất trước khi tưới tính theo % trọng lượng đất khô kiệt

2.1.4 Thời gian tưới

Mỗi loại cây trồng qua từng thời kỳ sinh trưởng yêu cầu một giới hạn độ ẩm thích hợp

để thoả mãn nhu cầu nước của chúng trong những điều kiện ngoại cảnh nhất định Khi điều kiện tự nhiên không đảm bảo yêu cầu đó thì phải dùng biện pháp tưới nhân tạo để bổ sung thêm lượng nước cần thiết Do đo, xác định đúng đắn thời gian tưới có ý nghĩa to lớn trong toàn bộ chế độ tưới hợp lý và là yếu tố quan trọng đối với sinh trưởng và năng suất cây

trồng

Để xác định thời gian tưới người ta sử dụng các phương pháp sau:

a Tưới theo độ ẩm đất

Phương pháp này dựa trên cơ sở xác định giới hạn độ ẩm đất thích hợp qua từng thời

kỳ sinh trưởng, theo dõi định kỳ độ ẩm đất Nếu khi nào độ ẩm đất giảm xuống dưới mức thích hợp cho từng thời kỳ sinh trưởng thì đó là lúc cần tưới

Cơ sở khoa học của phương pháp này là cây hút nước từ đất nên cần dựa vào khả năng giữ ẩm của đất để dự tính lượng nước cây có thể sử dụng được

Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm: chưa chú ý đến trạng thái và yêu cầu nước của bản thân cây trồng trong những điều kiện ngoại cảnh khác nhau

Khi đất bón nhiều phân hoặc có có nồng độ dung dịch cao, mặc dù đất có đủ độ ẩm thích hợp nhưng khả năng cung cấp nước cho cây trồng bị hạn chế

Mặt khác, trên mỗi loại đất, khả năng dự trữ độ ẩm và cung cấp lượng nước cho cây trồng cũng thay đổi theo tính chất vật lý của chúng, nên giới hạn độ ẩm thích hợp cũng biến đổi, ít nhiều cũng gây khó khăn cho việc xác định giới hạn đó trong những điều kiện khác nhau

Trang 3

b Tưới theo giai đoạn phát triển của cây trồng ( phương pháp khí hậu sinh học hay lý sinh)

Trong những điều kiện khí hậu khác nhau, độ ẩm đất tự nhiên có thể thỏa mãn được nhu cầu nước ở một giới hạn nhất định, có thể ở giai đoạn này cây trồng được cung cấp đầy đủ nước nhưng ở một giai đoạn khác, cây trồng lại thiếu nước và sự cung cấp này của đất tự nhiên phụ thuộc vào từng vùng khí hậu khác nhau

Trên cơ sở thời vụ cây trồng đã xác định và nắm vững điều kiện khí hậu của từng vùng, qua thực tế thí nghiệm đối với từng loại cây trồng, chúng ta có thể tìm được thời gian cần phải tưới, số lần cần phải tưới qua các giai đoạn phát triển của cây trồng

Do sự chi phối của điều kiện khí hậu ở từng vùng khác nhau, cho nên có thể cùng một loại cây trồng mà chế độ tưới và thời gian tưới không giống nhau không những thế mà ngay trong một vùng khí hậu, hiệu quả của việc xác định thời gian tưới theo giai đoạn phát triển của cây trồng cũng dẫn đến năng suất khác nhau qua các năm

Phương pháp này có ưu điểm dễ dàng sử dụng, có thể phổ biến rộng rãi trong những vùng cùng điều kiện khí hậu Nhưng có khuyết điểm là chưa chú ý đến độ ẩm đất và tình trạng cây trồng trước khi tưới Nếu khi các yếu tố khí hậu thay đổi so với quy luật xuất

hiện của nó thì hiệu quả của phương paáp này bị hạn chế

c Phương pháp xác định thời gian tưới theo hình thái bên ngoài của cây

Xuất phát từ những công trình nghiên cứu mối liên hệ giữa quang hợp và mức độ cung cấp nước khác nhau, giữa nước và động thái tăng trưởng của cây Nhiều nhà sinh lý

đã đi sâu vào nghiên cứu phương pháp đơn giản để tìm hiểu sự cần nước cho cây trồng với

hy vọng sẽ chẩn đoán được thời gian tưới nước dúng đắn và được gọi là phương pháp hình thái học

Nhiều kết quả nghiên cứu xác định rằng quá trình sinh trưởng tiến hành rất mạnh mẽ khi ở các cơ quan của tế bào cây bão hòa nước và điều này chỉ xãy ra khi đất có độ ẩm 80 - 100%

Do lượng nước trong cây có quan hệ trực tiếp đến các hoạt động sinh lý, sinh hóa cần thiết cho sự sinh trưởng của cây Vì vậy sự biểu hiện mức độ sinh trưởng khác nhau cuả cây trồng trên đồng ruộng có quan hệ với nhu cầu nước của chúng

Do đó, có thể dùng các chỉ tiêu về hình thái bên ngoài của cây như: động thái tăng trưởng chiều cao, động thái ra lá trên thân chính, màu sắc lá để chẩn đoán thời gian cần tưới của cây

Để áp dụng phương pháp này, cần tìm hiểu mối quan hệ giữa động thái sinh trưởng của cây và độ ẩm đất thích hợp để xác định chúng Khi đã xác định được mối quan hệ giữa

độ ẩm đất và động thái sinh trưởng của cây trồng qua các chỉ tiêu trên, có thể sử dụng chúng để chẩn đoán thời gian tưới mà không cần quan trắc các yếu tố khác

Phương pháp này không đòi hỏi phải có những dụng cụ quan sát phức tạp nên dễ áp dụng Tuy nhiên, nó không thể kịp thời phát hiện được sự thiếu nước của cây Khi sự thiếu nước đã biểu hiện ra bên ngoài thì ở mức độ nhất định nó gây ảnh hưởng đến sinh trưởng,

phát triển và năng suất của cây trồng

d Phương pháp sinh lý

Trang 4

Các chỉ tiêu sinh lý như nồng độ dịch bào, sức hút nước của lá phản ánh rất nhạy bén

và đáng tin cậy về nhu cầu nước của cây trồng Vì vậy, trong những điều kiện đất đai, khí hậu và canh tác khác nhau các chỉ tiêu này đều có liên hệ trực tiếp với chế độ nước của cây

và có thể sử dụng chúng để chẩn đoán thời gian cần tưới nước

Trên cơ sở các biện pháp kỹ thuật tác động thích hợp, cần xác định được trị số giới hạn của các chỉ tiêu này ở từng thời kỳ sinh trưởng trong điều kiện cây trồng cho năng suất cao nhất, để làm cơ sở cho việc so sánh với giá trị các chỉ tiêu này quan sát cây trồng trên đồng ruộng được tưới nước Nếu ở một thời kỳ nào đó, quan sát thấy các chỉ tiêu này trên đồng ruộng đã đến hoặc vượt quá trị số giới hạn đã xác định thì chứng tỏ trong hoàn cảnh

đó cây trồng thiếu nước và yêu cầu cần phải tưới

Phương pháp này hiện nay đang tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện để có thể sử dụng rộng rãi trong sản xuất

2.1.5 Số lần tưới

Số lần tưới trong quá trình sinh trưởng của cây trồng thay đổi tuỳ theo điều kiện khí hậu của từng vùng và thời tiết từng mùa vụ Những năm khô hạn, ít mưa số lần tưới cần nhiều hơn và ngược lại những năm ẩm ướt, đô ẩm đất lớn thì số lần tưới giảm

Tuy vậy, trong những điều kiện nhất định, hiệu quả của tưới nước cũng phụ thuộc vào

2.1.6 Hệ số tưới thiết kế q (l/s/ha)

Lượng nước cung cấp cho cây trồng trong một đơn vị thời gian có nhu cầu tưới lớn nhất trên một đơn vị diện tích được gọi là lưu lượng tưới đặc trưng

Kí hiệu: q(l/s/ha) hay (m3/s/ha)

4 , 86

Trang 5

Công thức tính: m E

: chu kỳ tưới (ngày)

m: tiêu chuẩn tưới (mm)

E: lượng nước bốc hơi mặt lá và khoảng trống (mm/ngày)

2.1.8 Xác định chế độ tưới của cây trồng theo phương pháp cân bằng nước trong đất

Phương pháp cân bằng nước trong đất là phương pháp tính toán giữa lượng nước

tự nhiên có khả năng cung cấp cho đất trồng và lượng nước bị tiêu hao đi từ đất trong quá trình sinh trưởng của cây trồng

a Đối với cây trồng cạn

* Tổng lượng nước tưới

- Tổng lượng nước tưới = lượng nước cần phải cung cấp cho cây trồng - lượng nước cây trồng lợi dụng được

+ Lượng nước cần phải cung cấp cho cây trồng:

M = E r + W c

Trong đó:

E r: Lượng nước cần của cây trồng

W c: lượng nước cần thiết phải duy trì trên ruộng sau khi thu hoạch

+ Lượng nước cây có thể lợi dung được trong quá trình sinh trưởng:

h 0 + W đ +W n

trong đó:

h 0: lượng mưa hữu ích

h ) 1 ( h 10

H: chiều sâu tầng đất tưới (mm)

0: độ ẩm ban đầu của đất tưới ( tính theo % độ xốp)

Wn: lượng nước do nước mạch cung cấp bằng mao dẫn ( theo Cốtchiacốp) khi nước mạch sâu không quá 2,5m thì lấy khoảng 5- 25% của E Nếu sâu quá 2,5m thì lấy bằng 0,05E

- Tiêu chuẩn tưới

) (

AH 10

0 max

i

Trong đó:

Mi: mức tưới lần thứ i

Trang 6

max: độ ẩm đất lớn nhất thích hợp với cây trồng (tính theo % của độ xốp)

0: độ ẩm đất luc bắt đầu tưới

b Đối với lúa nước

- Tổng lượng nước nước tưới:

M = M a +M d (m3/ha) Trong đó:

Ma: lượng nước tưới ngã ải ( kể từ khi bắt đầu đưa nước vào làm đất cho đến khi cấy)

Md: lượng nước tưới dưỡng lúa

a: lớp nước trữ trên mặt ruộng trong thời gian ngã ải (mm)

Ma2: lượng bốc hơi mặt nước tự do trong thời gian ngã ải(m3/ha)

M a2 = 10.e.t 1

e: lượng bốc hơi mặt nước tự do ngày đêm

t1: thời gian ngã ải kể từ khi đưa nước vào ruộng đến khi cấy ( ngày đêm)

Ma3: nước làm bảo hoà tầng đất mặt ruộng (m3/ha)

t k

Ma 3 10 0. 1b

k0: hệ số ngấm hút bình quân trong đơn vị thời gian thứ nhất (mm/ngày)

Tb: thời gian ngấm hút (ngày)

 : chỉ số ngấm hút của đất

Ngoài ra Ma3: có thể xác định theo công thức

) 1

( A H 10

0 3

H: chiều dày tầng đất trên mực nước ngầm cần bảo hoà nước (m)

A: độ rỗng của đất tính theo % của thể tích đất

0: độ ẩm có sẵn trong đất tính theo % độ rỗng

Ma4: lượng nước ngấm ổn định trong thời gian làm ải (m3/ha)

) (

H

a H

Ma 4 C  a b

trong đó:

Kc: hệ số ngấm ổn định (mm/ngày)

H: chiều dày tầng đất trên mực nước ngầm

tb : thời gian bảo hoà lớp đất trên mặt ruộng (ngày)

Trang 7

) 1

(

k

t b H A

10  ha: lượng mưa được sử dụng trong thời gian làm ải (m3/ha)

+ Md: lượng nước cần đưa vào ruộng từ khi cấy đến khi thu hoạch(m3/ha)

i e

1

H

H

ti: thời gian tính toán (ngày)

ke: hệ số ngấm ổn định trên ruộng lúa

H: chiều dày tầng đất trên mực nước ngầm (m)

ai: lớp nước mặt ruộng cần phải giữ trong thời gian ti (m)

Md2: lượng nước bốc hơi mặt ruộng trong thời gian ti(m3/ha)

E

M2 10 i. oi

i: hệ số Cácpop trong thời gian ti

E0i: tổng lượng bốc hơi mặt thoáng tự do trong thời gian ti (mm)

Md3: lượng nước nâng cao lớp nước mặt ruộng trong thời gian ti(m3/ha)

M d3 =10( a i - a i-1 )

ai: lớp nước mặt ruộng cần phải giữ ở thời gian ti (mm)

ai-1: lớp nước mặt ruộng giữ ở thời gian trước đó (mm)

Md4: lượng nước thay trong thời gian ti (m3/ha)

Thay nước là để nâng cao hoặc hạ thấp mực nước trên ruộng, là biện pháp để điều hoà lượng nhiệt độ lớp nước ruộng và làm giảm nồng độ chất khoáng của lớp nước trên ruộng

Giả sử trong thời gian ti nào đó, lớp nước mặt ruộng là ai, nhiệt độ ruộng lúa là C1, cần hạ nhiệt độ nước xuống C2 và nhiệt độ nước thay vào là C3

- Hình thức 1: giữ nguyên lớp nước trên mặt ruộng là ai, cho lượng nước thay vào là

Md4, nhiệt độ nước ruộng sẽ hạ xuống thành C2, sau đó tháo bớt nước ruộng để trở về mức

C C a

M

3 2

2 1 i

4 10

Trang 8

- Hình thức 2: tháo lớp nước mặt ruộng ai xuống đến a0 nào đó để khi thêm lượng nước nước Md4 vào thì lớp nước mặt ruộng vẫn là ai nhưng nhiệt độ ruộng lúa vẫn thấp hơn hoặc bằng C2

Trong trường hợp này phương trình cân bằng nhiệt được viết như sau:

10( a i - a 0 ).C 3 + 10a 0 C 1 = 10 a i. C 2

Khi đó lượng nước Md4 chính là lớp nước 10( ai - a0)

như vậy:

C C

C C a

M

3 1

2 1 i

Việc thay nước để giảm nồng độ nước ruộng từ S1 xuống S2 bằng nồng độ nước thay

là S3 Khi đó lượng nước thay là:

S S

S S a

M

3 1

2 1 i

4 10

10  hd: lượng mưa sử dụng trong thời kỳ dưỡng lúa

2.2 Chế độ tưới cho một số cây trồng chính

2.2.1 Chế độ tưới nước cho lúa

Lúa là cây trồng ưa nước Lịch sử trồng lúa của các nước trên thế giới đều cho thấy rằng sự phát triển diện tích lúa gắn liền với quá trình mở rộng và xây dựng hệ thống tưới tiêu nước Trên thực tế hầu hết diện tích trên thế giới đều áp dụng phương pháp tưới ngập

Đó là biểu hiện đặc thù nhất của cây lúa so với cây trồng khác Vì vậy, chế độ tưới nước là một khâu quan trọng của kỹ thuật trồng lúa Cũng chính vì vậy mà nhiều vùng không đủ nguồn nước để mở rộng diện tích trồng lúa mặc dầu các điều kiện khác vẫn thuận lợi Qua nghiên cứu của rất nhiều tác giả, đã đi đên kết luận: lúa trồng trong điều kiện đất khô hoặc ẩm ướt rõ ràng sự hấp thụ chất dinh dưỡng và năng suất không tốt bằng trong điều kiện tưới ngập Điều này cũng giải thích tại sao 85% diện tích trồng lúa trên thế giới được tưới ngập Nhưng trong điều kiện tưới ngập không phải lúc nào cũng có thể tìm được mối quan hệ xác định giữa độ sâu lớp nước và năng suất Thường độ sâu lớp nước thích hợp ở cây lúa thay đổi phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật nông nghiệp

Về tưới ngập, tuỳ theo từng vùng mà sử dụng các hình thức sau:

- Thường xuyên tưới ngập một lớp nước trên đồng ruộng trong suốt quá trình sinh trưởng của lúa Hình thức này được sử dụng từ cổ xưa ở những nước trồng lúa lâu đời trên thế giới

- Ngập liên tục một thời gian từ thời kỳ mạ đến lúc chín sữa hay từ khi lúa đẻ nhánh đến chín sáp Hình thức này được sử dụng ở những vùng thiếu nguồn nước tưới Một số vùng do điều kiện khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều và chưa có hệ thống tưới nhân tạo thì lúa được tưới theo chế độ ẩm tự nhiên

a Chế độ tưới cho lúa cấy

Trang 9

- Thời kỳ mạ

Mạ có phẩm chất tốt sẽ tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng và phát triển thuận lợi Thời gian sinh trưởng của mạ không dài nhưng cần được chăm sóc đúng kỹ thuật mới có chất lượng tốt Chế độ tưới nước cho mạ phải xuất phát từ đặc điểm sinh lý và điều kiện sinh sống của mạ trong những mùa vụ khác nhau mà thay đổi, đảm bảo điều khiển mạ có chất lượng tốt

Cây mạ từ khi gieo đến có 3 lá chủ yếu sử dụng các chất dinh dưỡng dự trữ trong hạt lúa để xây dựng nên cơ thể của mình, chuẩn bị cho giai đoạn tự dưỡng về sau Điều kiện cần thiết nhất cho sự sinh trưởng của mạ ở thời kỳ này là nhiệt độ, độ ẩm và ôxi Có đủ 3 yếu tố này thì mạ có khả năng tận dụng tốt các chất dự trữ trong hạt lúa Vì vậy, chế độ tưới trong thời kỳ này phải tạo điều kiện để cung cấp tốt các yếu tố đó Muốn thế, phải gieo thành líp và cần giữ mặt líp ẩm ướt bằng cách giữ nước ngập trong các rãnh, mặt líp mạ ẩm ướt sẽ tạo điều kiện để đất giữ nhiệt tốt, biên độ nhiệt độ đất ngày đêm ít chênh lệch, đất thoáng khí, đủ hàm lượng ôxi cần thiết cho sự hô hấp của bộ rễ Đất ẩm ướt cũng là điều kiện để cung cấp kịp thời nhu cầu nước cho mạ khi khả năng hút nước của bộ rễ còn yếu Ruộng mạ bị ngập nước trong thời gian này sẽ làm cho bộ rễ phát triển kém và mạ bị yếu, không thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây lúa ở giai đoạn sau Tuy vậy, tuỳ theo sự biến đổi của thời tiết mà chế độ nước có thể bị thay đổi để giúp cho mạ chống chịu được điều kiện ngoại cảnh bất thuận

Từ khi mạ có 3 lá thật trở về sau: cần giữ bảo hoà nước hay có một lớp nước nông 2

-3 cm để đất nhuyễn, bộ rễ lúa dễ phát triển và hút thức ăn thuận lợi Khi mạ đã được 5 - 6

lá thì tuỳ tình hình sinh trưởng của chúng và điều kiện thời tiết trong từng vụ mà có biện pháp tưới nước khác nhau để nâng cao phẩm chất mạ

+ Đối với mạ chiêm: nếu gặp nhiệt độ cao, mạ sinh trưởng nhanh dễ dẫn đến hiện tượng mạ già, ống vì vậy lúc này cần rút nước trong ruộng mạ để khống chế sự sinh trưởng phát triển của chúng Hiện tượng thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến sự hút dinh dưỡng của bộ

rễ, sinh trưởng bị đình trệ, cây tích luỹ nhiều hydrat carbon làm cho mạ cứng cây, đanh dãnh, phẩm chất tốt

+ Đối với mạ mùa: cũng có thể sử dụng biện pháp rút nước Khi mạ có hiện tượng bị lốp hoặc dinh dưỡng quá mạnh

+ Đối với mạ xuân: thường là giống có năng suất cao, rất mẫn cảm với nước, sau khi

mạ được 3 lá nên giữ một lớp nước 2 -3cm trên mặt ruộng để mạ sinh trưởng nhanh về chiều cao và tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển trên lớp đất màu, không gây khó khăn cho công việc nhỗ mạ

- Thời kỳ cây đẻ nhánh

Đây là thời kỳ quyết định số bông trên đơn vị diện tích nhiều hay ít, chi phối đến năng suất lúa sau này Tạo điều kiện thuận lợi nhất để lúa đẻ sớm và có tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu cao là yêu cầu của kỹ thuật thâm canh lúa Mức tưới ngập khác nhau trong thời kỳ này có ảnh hưởng lớn đến quá trình đẻ nhánh Nhưng cả 3 vụ, mức tưới từ 5 -10cm là có lợi nhất cho lúa đẻ nhánh và đạt dãnh hữu hiệu cao Không có lớp nước ngập hoặc mức nước sâu hơn đều hạn chế khả năng đẻ nhánh và thành bông về sau

Trang 10

+ Đối với vụ chiêm và vụ xuân: tưới mức nước nông tốt hơn mức nước sâu Ở những ngày nhiệt độ thấp cần giữ một lớp nước từ 5 -10cm để tăng cường khả năng chịu rét cho lúa

+ Trong vụ mùa: mức tưới 10cm có chiều hướng tốt hơn so với các mức tưới khác Nguyên nhân là do điều kiện nhiệt độ và ánh sáng Vụ mùa thường gặp lúc nhiệt độ không khí cao làm cho nhiệt độ đất vùng rễ cao, vượt quá phạm vi nhiệt độ giới hạn sinh lý nên

đã ức chế quá trình hút dinh dưỡng và sinh trưởng của lúa Ngược lại khi lớp nước sâu quá 15cm lại làm giảm cường độ ánh sáng chiếu vào gốc lúa, làm cho khả năng đẻ nhánh bị đình trệ

Mặt khác, ở mức tưới nông, độ dẫn điện của đất ở vùng rễ và vùng ngoài chênh lệch nhau ít hơn nên sự cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng tương đối thuận lợi hơn ở mức nước sâu Nhiệt độ thấp, ánh sáng yếu thì ảnh hưởng xấu của mức tưới sâu đến quá trình

đẻ nhánh càng biểu hiện rõ Chính vì thế mà trong vụ chiêm, vụ xuân với mức nước tưới

từ 10cm trở lên đều làm giảm sức đẻ nhánh và dãnh hữu hiệu

- Thời kỳ cuối đẻ nhánh đến phân hoá đồng:

Gần đây, trong kỹ thuật trồng lúa ở nhiều nước trên thế giới và nước ta đã chú ý đến vấn đề dùng nước để điều tiết sự sinh trưởng, phát triển của lúa Qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả ( Trần Hoa Niên - Trung Quốc, Zamagiu- Nhật Bản .) thì rút nước phơi ruộng ở cuối thời kỳ đẻ nhánh và trước lúc phân hoá đồng lúa sẽ cho năng suất cao hơn, trọng lượng hạt cũng tăng lên Rút nước phơi ruộng có các tác dụng sau:

+ Rút nước phơi ruộng dẫn đến cây lúa bị thiếu nước, các hoạt động sinh lý, trao đổi chất cũng như sinh trưởng thân lá, đẽ nhánh đều bị kìm hãm so với lúa không bị rút nước Thời gian rút nước càng dài, sự thiếu hụt nước bảo hoà càng lớn, mức độ bị kìm hãm càng mạnh

+ Trên ruộng bón nhiều phân hữu cơ hoặc ruộng giàu mùn, bị ngập nước thường xuyên, rút nước phơi ruộng tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình phân giải các chất hữu

cơ của vi sinh vật háo khí Sau khi ngập nước trở lại, đất trở nên giàu thức ăn dễ tiêu để cung cấp cho cây lúa ở thời kỳ làm đồng, trổ bông Vì vậy, có thể xem rút nước phơi ruộng trên những chân ruộng này là một biện pháp bón thúc đòng cho lúa

Từ đó cho thấy biện pháp rút nước phơi ruộng ở cuối thời kỳ đẻ nhánh đến phân hoá đồng chỉ nên áp dụng trong các trường hợp sau:

+ Trên các chân ruộng trũng, nhiều chất hữu cơ hoặc bón nhiều phân chuồng, thường không chủ động khống chế được mực nước tưới Ruộng bị ngập nước sâu từ 10 -20 cm trở lên

+ Trên các chân ruộng lúa sinh trưởng quá tốt có chiều hướng bị lốp ( do bón nhiều đạm), sinh trưởng lấn át phát dục có thể dẫn đến làm bông, làm hạt kém hoặc bị các loại nấm bệnh xâm nhập phá hại nghiêm trọng như: đạo ôn, bạc lá, khô đầu lá .trong những trường hợp mức độ nguy hại lớn nếu cần thiết có thể phải rút nước ở cả những thời kỳ quan trọng khác

Ngoài những trường hợp trên thì không nên rút nước phơi ruộng, nhất là đối với các giống lúa có năng suất cao, chịu phân và có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn

- Thời kỳ làm đồng đến trổ bông

Trang 11

Ở thời kỳ này, nhu cầu nước của cây lúa rất cao Thiếu nước dù chỉ một thời gian ngắn cũng làm giảm năng suất rõ rệt Theo nghiên cứu của Bộ môn Thủy nông trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội: khi tưới lớp nước sâu có khả năng hạn chế sự đẽ nhánh vô hiệu + Lớp nước 10 -15 cm đến 20 -25cm, lúa mùa trổ bông sớm hơn 2 -3 ngày và thời gian trổ bông cũng rút ngắn được 2 -3 ngày so với lớp nước tưới nông hơn

+ Lúa chiêm, xuân khi mức tưới sâu 22 -25cm thời gian trổ bông lại kéo dài hơn Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do đặc tính đẽ nhánh không tập trung trong điều kiện nhiệt độ thấp của thời tiết Khi ngập nước sâu, sinh trưởng phát dục của một số dãnh lúa đẻ sau có khả năng thành bông bị kìm hãm Lớp nước sâu các đốt sâu ở phía gốc kéo dài hơn, cây vươn cao Không có lớp nước hoặc có lớp nước nông nhánh vô hiệu kéo dài thời gian sinh trưởng, luá trổ bông chậm và thời gian trổ bông kéo dài hơn + Mức nước tưới khác nhau cũng dẫn đến khả năng tích luỹ chất khô giảm Không có lớp nước trên ruộng, trọng lượng khô và bông hạt đều giảm rõ rệt so với có lớp nước Điều này chứng tỏ ở thời kỳ làm đồng lớp nước trên mặt ruộng là cần thiết cho quá trình dinh dưỡng và tích luỹ chất khô Mức nước tưới 25cm, trọng lượng khô của thân lá, bông hạt bắt đầu giảm sút

+ Mức nước tưới khác nhau ở thời kỳ này còn dẫn đến sự tích luỹ các chất đạm, lân, kali trong các bộ phận của cây lúa thay đổi Không có lớp nước, hàm lượng đạm, lân tổng

số trong thân thấp, trong lá đòng cao nhưng trong bông, hạt lại thấp Có thể do sự thiếu nước đã ảnh hưởng đến sự hút dinh dưỡng, sự vận chuyển các chất dự trữ từ lá vào bông, hạt Mức nước tưới 25 cm hàm lượng lân tổng số trong các bộ phận giảm, nhất là ở lá đòng

và bông, hạt Ở mức tưới 10 - 15 cm hàm lượng lân trong lá đòng, đạm, lân trong bông, hạt

có chiều hướng cao hơn và hàm lượng đạm trong lá đòng lại giảm

+ Sự khác nhau về mức nước tưới ở thời kỳ này đã dẫn đến sự chênh lệch về năng suất hạt lúc chín Mức nước 20 - 25 cm, số hạt trên bông ít, trọng lượng hạt và năng suất thấp, do mức nước sâu đã ảnh hưởng đến sự phân hoá đòng và tập trung chất dinh dưỡng sau này vào bông, hạt Không có lớp nước, trọng lượng hạt giảm Mức nước 5 - 15 cm lúa

có số bông nhiều Đối với mức nước 10 - 15 cm số hạt trên bông lớn, trọng lượng 1000 hạt cao dẫn đến năng suất cao

- Thời kỳ trỗ đến chín

Sau khi lúa trổ bông, các sản phẩm quang hợp tích luỹ ở thân lá được chuyển vào bông hạt Vì vậy, ở thời kỳ này cây thiếu nước sẽ ảnh hưởng lớn đến độ mẫy của hạt và trọng lượng hạt, năng suất giảm Nhưng nếu giữ nước dài thì lúa chín chậm, hàm lượng nước trong hạt cao và chất lượng hạt kém Vậy rút nước vào lúc nào để lúa tích luỹ chất dinh dưỡng vào hạt tốt nhất, chín sớm, thuận lợi cho công tác thu hoạch trên đồng ruộng và chuẩn bị làm đất vụ sau là một vấn đề có ý nghĩa lớn trong sản xuất

Rút nước sớm hay muộn trong thời kỳ này phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khả năng giữ ẩm của đất và đặc tính của các giống lúa khác nhau

+ Rút nước lúc chín sữa thì hàm lượng đạm, lân, kali trong thân lá, hạt đều thấp do lúc này cây vẫn còn hút các chất dinh dưỡng

+ Rút nước lúc chín sáp gây trở ngại cho sự vận chuyển các chất đạm, lân, kali từ thân lá vào hạt

Ngày đăng: 24/07/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm