NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CON NGƯỜI NHU CẦU NĂNG LƯỢNG Tất cả các hoạt động sống của cơ thể đều liên quan đến năng lượng. Năng lượng được sinh ra từ trong chuyển hoá tế bào. Để bù đắp cho phần năng lượng đã tiêu hao trong quá trình sống, cơ thể phải thường xuyên thu nhận được năng lượng từ môi trường bên ngoài. Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng vô tận trên trái đất nhưng không phải tất cả sinh vật đều sử dụng được nguồn năng lượng đó. Thực vật là loài sinh vật duy nhất có thể sử dụng nguồn năng lượng mặt trời để tạo thành hóa năng trong các hợp chất hữu cơ. Người và động vật sử dụng năng lượng hóa học dữ trữ trong các chất hữu cơ thực vật cho các hoạt động sống, đồng thời nó cũng sử dụng một phần năng lượng mặt trời để sưởi ấm. Do vậy để phát huy tác dụng dinh dưỡng của thức ăn và đưa ra được chế độ dinh dưỡng hợp lý, thì mọi người cần phải hiểu biết về tri thức dinh dưỡng. 1. Nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể Năng lượng của cơ thể đư¬ợc cung cấp từ thức ăn, thức ăn dư¬ới tác dụng của enzyme tiêu hóa sẽ bị oxy hoá trong cơ thể tạo ra năng lượng. Ðơn vị tính năng lượng là Kcal (kilocalo) tương đương với nhiệt lượng để đun sôi 1.000g nước lên 10C. Hiện nay các nước ở Châu Âu và Châu Mỹ thường dùng đơn vị jun (J). Biến đổi giữa hai đơn vị đó được tính như¬ sau: 1.000J = 0,239kcal , từ đó 1kcal = 4,184KJ. Cơ thể thu nhận năng lượng từ thức ăn dưới dạng các hợp chất dinh dưỡng như gluxit, lipid và protein. Trong cơ thể, các chất dinh dưỡng được oxi hóa dưới tác dụng của các enzyme tiêu hóa. Sản phẩm cuối cùng của quá trình oxy hoá gluxit và lipit trong và ngoài cơ thể đều là CO2 + H2O. Nhưng oxy hoá protit không hoàn toàn chỉ cho CO2 và H2O, mà còn các chất khác chứa nitơ theo nước tiểu bài tiết ra ngoài. Các chất dinh dưỡng cung cấp từ thực phẩm được máu hấp thụ và vận chuyển đến tế bào. Tại đây, các chất này tham gia vào các phản ứng chuyển hoá phức tạp và hoá năng của các chất được chuyển thành các hợp chất giàu năng lượng là ATP (Adenozin triphosphat). ATP trong quá trình phân giải sẽ cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động của cơ thể. Lượng ATP luôn được tái tổng hợp tuỳ theo mức độ tiêu hao
Trang 1NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CON NGƯỜI
NHU CẦU NĂNG LƯỢNG
Tất cả các hoạt động sống của cơ thể đều liên quan đến năng lượng.Năng lượng được sinh ra từ trong chuyển hoá tế bào Để bù đắpcho phần năng lượng đã tiêu hao trong quá trình sống, cơ thể phải thường xuyênthu nhận được năng lượng từ môi trường bên ngoài Năng lượng mặt trời lànguồn năng lượng vô tận trên trái đất nhưng không phải tất cả sinh vật đều sửdụng được nguồn năng lượng đó Thực vật là loài sinh vật duy nhất có thể sửdụng nguồn năng lượng mặt trời để tạo thành hóa năng trong các hợp chất hữu
cơ Người và động vật sử dụng năng lượng hóa học dữ trữ trong các chất hữu cơthực vật cho các hoạt động sống, đồng thời nó cũng sử dụng một phần nănglượng mặt trời để sưởi ấm Do vậy để phát huy tác dụng dinh dưỡng của thức ăn
và đưa ra được chế độ dinh dưỡng hợp lý, thì mọi người cần phải hiểu biết về trithức dinh dưỡng
1 Nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể
Năng lượng của cơ thể được cung cấp từ thức ăn, thức ăn dưới tác dụng củaenzyme tiêu hóa sẽ bị oxy hoá trong cơ thể tạo ra năng lượng Ðơn vị tính nănglượng là Kcal (kilocalo) tương đương với nhiệt lượng để đun sôi 1.000g nướclên 10C Hiện nay các nước ở Châu Âu và Châu Mỹ thường dùng đơn vị jun(J) Biến đổi giữa hai đơn vị đó được tính như sau: 1.000J = 0,239kcal , từ đó1kcal = 4,184KJ
Cơ thể thu nhận năng lượng từ thức ăn dưới dạng các hợp chất dinhdưỡng như gluxit, lipid và protein Trong cơ thể, các chất dinh dưỡng được oxihóa dưới tác dụng của các enzyme tiêu hóa Sản phẩm cuối cùng của quá trìnhoxy hoá gluxit và lipit trong và ngoài cơ thể đều là CO2 + H2O Nhưng oxy hoáprotit không hoàn toàn chỉ cho CO2 và H2O, mà còn các chất khác chứa nitơtheo nước tiểu bài tiết ra ngoài Các chất dinh dưỡng cung cấp từ thực phẩmđược máu hấp thụ và vận chuyển đến tế bào Tại đây, các chất này tham gia vào
Trang 2các phản ứng chuyển hoá phức tạp và hoá năng của các chất được chuyển thànhcác hợp chất giàu năng lượng là ATP (Adenozin triphosphat) ATP trong quátrình phân giải sẽ cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động của cơ thể LượngATP luôn được tái tổng hợp tuỳ theo mức độ tiêu hao Các chất creatin photphat(CP), glucoza và glycogen có thể phân giải để tạo năng lượng cho quá trình táitổng hợp ATP trong điều kiện hiếu khí Quá trình tái tạo năng lượng còn có thể
là sự oxi hoá các chất glucoza, glycogen, acid béo tự do, glycerol và những sảnphẩm không chứa nitơ của acid amin trong điều kiện hiếm khí.Quá trình oxi hóacác chất dinh dưỡng tạo ra năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống như: sựtăng trưởng của tế bào, các hoạt động của cơ, quá trình điều hòa trạng thái cânbằng nội môi, sự tổng hợp enzyme và các hoocmon trong cơ thể… Năng lượnghóa học trong thức ăn được chuyến hóa thành các dạng năng lượng khác nhautrong cơ thể như: cơ năng (≈ 25%), điện năng (ít), và nhiệt năng (≈ 75%) Tất cảcác dạng năng lượng đó cuối cùng sẽ biến thành nhiệt năng
Năng lượng dự trữ trong thức ăn dưới dạng năng lượng hóa học Giá trịnăng lượng của mỗi loại thức ăn phụ thuộc vào hàm lượng các chất tạo ra nănglượng trong đó Năng lượng trong thức ăn có thể xác định được thông qua việcxác định lượng nhiệt tỏa ra khi đốt cháy một lượng thức ăn xác định trong bombnhiệt lượng (bomb calorimeter) Khi đốt cháy các chất dinh dưỡng khác nhau sẽthu được các giá trị năng lượng khác nhau, tùy thuộc vào cấu tạo hóa học củatừng chất (bảng 1)
Bảng 1: Năng lượng của các chất dinh dưỡng
Nguồn năng lượng trong thức ăn Protein Lipít GluxitNăng lượng ngoài do oxy hoá cơ thể (Kcal/g) 5.65 9.45 4.10
Sự oxy hoá không hoàn toàn trong cơ thể, hàm
lượng nitơ trong nước tiểu (Kcal/g) 1.30 - Năng lượng được giải phóng hoàn toàn trong cơ
Năng lượng có hiệu quả sinh lý (Kcal/g) 4.0 9.0 4.0
Trang 3Quá trình oxy hoá trong cơ thể và sự đốt cháy ngoài cơ thể của các chấtdinh dưỡng có giống nhau, nhưng chỉ có lipit và glucose có sản phẩm cuốicùng giống nhau còn protein thì có sản phẩm cuối cùng khác nhau Do vậynăng lượng giải phóng khác nhau khi oxi hóa sinh học protein trong cơ thể vàkhi đốt cháy bên ngoài cơ thể sống
Thức ăn của cơ thể người nói chung có thành phần như sau: protit chiếm10-14%, lipit: 15-25%, gluxit: 60-70%
Tuy nhiên, không phải tất cả năng lượng trong thức ăn là sẵn có và hữuích cho cơ thể Một phần năng lượng từ cơ thể có thể mất đi qua bài tiết nướctiểu, bài tiết phân và qua sự tỏa nhiệt Protein không được tiêu hóa hoàn toàntrong cơ thể, tạo ra ure bài tiết qua nước tiểu nên trong nước tiểu có chứakhoảng 1,25 Kcal cho 1g protein tiêu hóa Ngoài ra, trong nước tiểu còn chứacác axit hữu cơ và một số sản phẩm thoái hóa của gluxit và lipid Lượng chấttrong nước tiểu này không quan trọng đối với những người khỏe mạnh nhưng lại
có ý nghĩa lớn đối với những người bị bệnh
2 Sự tiêu hao năng lượng của cơ thể
Sự tiêu hao năng lượng của cơ thể người bao gồm chuyển hoá cơ sở, hoạtđộng thể lực và tác động đặc thù của thức ăn Sự tiêu hao năng lượng còn phụthuộc vào tính đặc thù của chức năng sinh lý và khác nhau ở các đối tượngnhư trẻ em, người trưởng thành, sản phụ Sự trao đổi năng lượng trong cơ thểrất phức tạp do ảnh hưởng của các yếu tố lao động nghề nghiệp, môi trường,dinh dưỡng, sinh lý, bệnh lý Trong đó yếu tố hoạt động thể lực biểu hiện rõnét nhất
2.1 Năng lượng cần thiết cho chuyển hóa cơ bản
Năng lượng cho chuyển hóa cơ bản là năng lượng cơ thể tiêu hao trongđiều kiện nghỉ ngơi, nhịn đói (đã tiêu hóa hết thức ăn trong đường tiêu hóa) và ởnhiệt độ môi trường thích hợp Đó là năng lượng cần để duy trì các chức phận
Trang 4sống của cơ thể như hoạt động của hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ nội tiết, hệ tiêuhóa, và duy trì tính ổn định các thành phần của dịch thể bên trong và bên ngoài
tế bào Chuyển hóa cơ sở thường được tính toán trên 1kg trọng lượng cơ thể,hay trên 1m2 diện tích da Tùy thuộc vào tuổi và cách sống, thì năng lượngchuyển hóa cơ bản chiếm khoảng từ 45 – 70% tổng nhu cầu năng lượng hàngngày của con người
Tỉ lệ phân chia năng lượng chuyển hóa cơ bản cho hoạt động của các bộphận khác nhau trong cơ thể là khác nhau và được thể hiện qua bảng 2
Điều kiện để xác định
chuyển hóa cơ bản ở người: trạng
thái nghỉ ngơi không vận động,
không suy nghĩ nhiều, thời gian
sau khi ăn: 12h, nhiệt độ thích
hợp: 20 – 250C
Xác định năng lượng
chuyển hóa cơ bản của người dựa
theo cân nặng được tính theo
61,0W – 5122,5W + 49912,2W + 74614,7W + 4968,7W + 82910,5W + 596Chuyển hóa cơ bản phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố ảnhhưởng đến chuyển hóa cơ bản:
Trang 5+ Tình trạng hệ thống thần kinh trung ương, khi hệ thần kinh đang hoạtđộng hay hưng phấn thì chuyển hóa cơ sở tăng lên vì vậy khi đo chuyển hóa cở
sở thì hệ thần kinh phải ở trạng thái nghỉ ngơi
+ Cường độ hoạt động của các hệ thống nội tiết và men Một số tuyến nộitiết làm tăng chuyển hóa cơ bản như tuyến giáp, trong khi đó hoạt động của một
số tuyến nội tiết khác làm giảm chuyển hóa cơ bản như tuyến yên
+ Giới tính: nói chung ở cùng lứa tuổi chuyển hóa cơ bản ở nữ thườngthấp hơn ở nam khoảng 5%, đó là do tỷ lệ khối mỡ ở nữ cao hơn ở nam hoặc cóthể là do hoocmon sinh dục
+ Tuổi: chuyển hóa cơ bản ở trẻ em cao hơn người lớn tuổi, càng nhỏ thìchuyển hóa cơ bản càng cao Ở người già chuyển hóa cơ bản giảm 10 – 15%,song song với sự giảm khối tế bào hoạt động, tăng khối mỡ
Bảng 4: Chuyển hoá cơ sở của cơ thể người (Kcal/m/1giờ)
+ Khối lượng cơ thể và trạng thái sinh lý: chuyển hóa cơ bản thay đổi theobệnh của tuyến giáp: bệnh cường giáp làm tăng chuyển hóa cơ bản 25% cònbệnh suy giáp làm giảm chuyển hóa cơ bản 20%
+ Các yếu tố sinh lý khác nhau: chuyển hóa cơ bản thay đổi theo nhịpngày và đêm Ở người bình thường sự chuyển hóa cơ bản cao nhất lúc 13h – 16h
và thấp nhất lúc 1h- 4h Chuyển hóa cơ bản ở phụ nữ mang thai hay ở nửa sauchu kỳ kinh nguyệt và khi bài tiết progesterone cũng tăng lên cao hơn mức bìnhthường Khi ngủ sự chuyển hóa cơ bản giảm xuống do sự dãn cơ và giảm trươnglực thần kinh giao cảm
+ Yếu tố bệnh lý: sốt làm tăng chuyển hoá cơ sở, thông thường nhiệt độ
cơ thể tăng lên 1oC thì chuyển hóa cơ sở tăng từ 5-10%, đó là nguyên nhân khi
Trang 6sốt bị sút cân Khi đói, thiếu ăn chuyển hoá cơ sở giảm, thiếu ăn kéo dài chuyểnhoá cơ sở giảm 50%, đó là tình trạng thích nghi của cơ thể để duy trì sự sống.
Ở người trưởng thành, năng lượng chuyển hóa cơ bản cho 1kg cân nặngtrong 1h là 1calo Như vậy, một người trưởng thành có khối lượng 50kg thì cần
50 x 24 x 1 = 1280 calo/ngày cho chuyển hóa cơ bản
Đối với động vật đồng nhiệt, nếu tính năng lượng chuyển hóa cơ bản củamỗi kg khối lượng cơ thể thì giá trị đó ở mỗi động vật khác nhau là mỗi khác.Nhưng nếu tính trao đổi cơ sở của mỗi m2 bề mặt cơ thể thì giá trị đó ở mọi độngvật là tương đối giống nhau Năm 1883, Rubner đưa ra “quy luật bề mặt” và đềnghị tính chuyển hóa cơ bản (CHCB) hàng ngày của người bằng công thức:
CHCB = diện tích bề mặt da (m2) x 1000 Diện tích bề mặt da được tính theo công thức của K Mech đưa ra năm 1879:
S = kW0,66 Trong đó: S: diện tích bề mặt da (dm2),
W: khối lượng (kg), k là hằng số: người lớn
k = 12,3 ở người trưởng thành và trẻ em k = 10,3
Ví dụ một người trưởng thành nặng 70kg thì có S = 12,3 x 700,66 = 12,3 xđối log(log70 x o,66) = 12,3 x 16,98 = 12,3 x đối log(1,845 x 0,66) = 209dm2 =2,1m2
Nếu tính theo diện tích bề mặt da thì chuyển hóa cơ bản ở trẻ em là 50calo/1h/2m2 và của người trưởng thành thì thấp hơn vào khoảng 33 calo/1h/1m2
2.2 Tiêu hao năng lượng cho quá trình tiêu hóa
Ngoài năng lượng tiêu hao cho lao động, hàng ngày cơ thể còn phải lấythức ăn từ ngoài và hấp thu các chất dinh dưỡng Do đó cường độ chuyển hoáphải tăng lên và cơ thể cần mất thêm năng lượng Sự tăng cường chuyển hoá vậtchất và năng lượng như vậy được gọi là tác dụng động lực đặc hiệu của thức ăn.Hiện tượng này có liên quan đến quá trình đồng hoá, oxy hoá, sử dụng vàchuyển hoá nhiệt năng của cơ thể Tác dụng này của protit là nhiều nhất, nhiệtlượng sản sinh tới 16-30%; đối với gluxit là 5-6%; lipit: 14-15% Nói chung tác
Trang 7dụng động lực đặc hiệu của thức ăn hỗn hợp là 10%, các loại đường cao cấpchiếm 8%, các loại thịt cao cấp chiếm 15%
Cơ thể sử dụng một phần năng lượng cho các hoạt động của quá trình tiêuhóa như: hoạt động nhai của hàm, dạ dày co bóp, tuyến tiêu hóa hoạt động đểtiết men tiêu hóa, quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng và thải các chất dư thừa.Thức ăn càng khó tiêu hóa thì càng tiêu hao nhiều năng lượng
Người ta đã xác định được năng lượng chuyển hóa cơ bản tăng lênkhoảng 10% sau khi ăn thức ăn hỗn hợp
2.3 Tiêu hao năng lượng cho quá trình lao động
Trong tổng nhu cầu năng lượng hàng ngày thì năng lượng của cơ thể tiêuhao cho quá trình lao động chiếm tỉ lệ nhiều thứ hai sau năng lượng cho chuyểnhóa cơ bản [8] Ngoài phần năng lượng tiêu hao để duy trì các hoạt động của cơthể, thì lao động thể lực càng nặng bao nhiêu thì tiêu hao càng nhiều năng lượng
và càng phải ăn nhiều bấy nhiêu
Bảng 5: Sự tiêu hao năng lượng cho các hoạt động
STT Hoạt động Năng lượng tiêu hao trong 1h (calo)
Dựa vào cường độ lao động thể lực, người ta xếp các loại công việc củacon người thành các nhóm khác nhau bao gồm: lao động nhẹ (nhân viên hànhchính, nội trợ, giáo viên…), trung bình (công nhân xây dựng, nông dân…), nặng(công nhân mỏ, vận động viên…), đặc biệt (nghề rừng, nghề rèn) Sự phân chia
đó chỉ mang tính chất tương đối vì trong cùng một nhóm thì sự tiêu hao nănglượng cũng thay đổi nhiều tùy theo tính chất của công việc
Trang 8Bảng 6: Nhu cầu năng lượng của các hoạt động có cường độ khác nhau
Dạng hoạt động Năng lượng cần thiết
(Kcal/1kg thể trọng/1ngày)Lao động rất nhẹ
Lao động nhẹLao động trung bình
Lao động nặng
Lao động rất nặng
35-40 40-45 45-50 50-60 60-70
Nếu ăn uống không đảm bảo mức tiêu hao năng lượng thì người ta sẽ kéodài thời gian nghỉ hoặc giảm cường độ lao động Kết quả cuối cùng là năng suấtlao động sẽ giảm xuống
2.4 Tiêu hao năng lượng cho quá trình phát triển cơ thể
Một phần năng lượng trong thức ăn được sử dụng cho việc tạo hình hoạtđộng chức năng và dự trữ Trong quá trình sống của mình, cơ thể luôn luôn phảithay cũ đổi mới và các phản ứng sinh tổng hợp các tế bào và tổ chức mới đòi hỏicung cấp năng lượng
Ở trẻ em năng lượng cho quá trình sinh trưởng được dùng để tạo hình.Khoảng 35% tổng nhu cầu năng lượng được sử dụng cho sinh trưởng khi trẻ từ 1– 3 tháng tuổi, sau đó giảm mạnh khoảng 5% lúc 12 tháng tuổi, 3% lúc 2 nămtuổi, và khoảng 1 – 2% trong suốt thời kỳ tăng trưởng và xuống đến 0 khi cơ thểkết thúc giai đoạn tăng trưởng Ở người lớn năng lượng cho sinh trưởng được sửdụng để phục hồi sức khỏe và tạo ra những tế bào mới thay thế những tế bào già
đã chết Các nhà khoa học đã xác định được rằng xương của con người là sẽđược đổi mới hoàn toàn sau mỗi 8 năm
Thực nghiệm trên động vật và trẻ em cho thấy tiêu hao năng lượng cho 1gtăng trọng là 5 Kcalo
Đối với trẻ em tăng cân là biểu hiện của sự phát triển bình thường và dinhdưỡng hợp lý Ở người trưởng thành cân nặng thường được duy trì ở mức ổnđịnh, người quá gầy hay quá béo đều không tốt cho sức khỏe Có nhiều công
Trang 9thức tính cân nặng hoặc chỉ số tương ứng của nó, trong đó chỉ số IBM (chỉ sốkhối lượng cơ thể) là chỉ số được nhiều người dùng:
Bảng 7: Chỉ số IBM trung bình
Giới tính
Chỉ số IBM trung bìnhTrên thế giới Việt Nam (26 – 40 tuổi)
2.5 Tiêu hao năng lượng cho sinh sản
Trong thời kỳ mang thai và cho con bú thì cơ thể mẹ cần thêm năng lượng
để nuôi thai và sự tăng cân của cơ thể mẹ (do sự tăng sinh của các tổ chức nhưniêm mạc tử cung, sự phát triển của tuyến vú chuẩn bị cho tiết sữa, sự phát triểncủa nhau thai, sự tích lũy mỡ của cơ thể mẹ…) Thời kỳ đầu khi mới mang thaithì mỗi ngày tăng khoảng 150 Kcalo, vào cuối thời kỳ mang thai tăng thêm 350Kcalo Có nghĩa là nhu cầu năng lượng cần cung cấp tối thiểu phải đạt được từ
2400 đến 2500 Kcal/ ngày Nhu cầu năng lượng cho phụ nữ nuôi con bú tăngkhoảng 550 Kcal/ngày Phụ nữ cho con bú có thể lấy một phần năng lượng từnguồn lipit dữ trữ khi mang thai
2.6 Các phương pháp đo sự tiêu hao năng lượng
Sự tiêu hao năng lượng của cơ thể có thể đo và tính được bằng cách đonhiệt lượng của cơ thể đã tỏa ra trong một thời gian nhất định Có 3 phươngpháp để đo sự tiêu hao năng lượng là: Phương pháp đo nhiệt lượng trực tiếp,phương pháp đo nhiệt lượng gián tiếp và phương pháp cân bằng cac bon – nito
a Phương pháp đo nhiệt lượng trực tiếp
W (Cân nặng – kg)
H2 (chiều cao – m)IBM =
Trang 10- Nguyên tắc: Hóa năng trong thức ăn sẽ được cơ thể chuyển thành cácdạng năng lượng khác nhau trong cơ thể nhưng cuối cùng đều chuyển thànhnhiệt năng thoát ra khỏi cơ thể.
- Phương pháp đo: Đối tượng nghiên cứu được đưa vào phòng kín cáchnhiệt, phòng kín có một ống dẫn nước vào và ra Dựa vào nhiệt độ của thể tíchnước trước khi vào phòng và nhiệt độ của thể tích nước ra khỏi phòng, ta có thểtính được nhiệt lượng tỏa ra của cơ thể theo công thức:
Q = VH2O (t2 – t1) Trong đó: V: thể tích nước chảy qua phòng,
t2: là nhiệt độ nước ra khỏi phòng kín t1: là nhiệt độ nước vào phòng kín
Hình 1: Phòng đo nhiệt lượng trực tiếp
- Ưu nhược điểm: phương pháp này có độ chính xác cao nhưng đòi hỏithiết bị phức tạp và thời gian theo dõi lâu nên nó thường chỉ được dùng để làmchuẩn so sánh và đánh giá các phương pháp khác
b Phương pháp đo nhiệt lượng gián tiếp
- Nguyên tắc: Năng lượng trong cơ thể được tạo ra từ các phản ứng oxihóa các chất hữu cơ vì vậy nếu ta xác định được lượng oxi tiêu hao và lượngcacbonic thải ra thì ta có thể tính được lượng nhiệt tiêu hao:
Trang 11Q = V J trong đó: V thể tích oxi tiêu hao
J là đương lượng nhiệt của oxi
Cách xác định J – đương lượng nhiệt của oxi:
Hệ số hô hấp của các chất khi bị oxi hóa hoàn toàn khác nhau:
Ví dụ oxi hóa glucose:
Trong cùng điều kiện nhiệt độ và áp suất thì sự cân bằng về thể tích khíbao gồm cả sự cân bằng về số phân tử, vì vậy mà QR = 6CO2/6O2 = 1
QR của lipit là 0,7 và của protein là 0,8 Do đó nếu biết hệ số hô hấp thì có thểtính được tỉ lệ oxy hóa của cacbonhydrat, protein và mỡ, từ đó sẽ xác định được
J – đương lượng nhiệt của oxi [9]
Bảng 8: Mối tương quan giữa QR và J
sự tiêu hao năng lượng tiêu hao cho chuyển hóa cơ bản