Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp.. Công dân có sức l
Trang 1Giáo trình Luật Lao động cơ bản
BÀI 3
VIỆC LÀM VÀ HỌC NGHỀ
I VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1 Khái niệm về việc làm
Theo nghĩa thông thường, việc làm là công việc được giao cho làm và được trả công
Dưới góc độ pháp lý, mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm (Điều 13 - Bộ luật Lao động)
Như vậy, việc làm có hai đặc tính cơ bản:
1 Một là, xét dưới khía cạnh kinh tế, việc làm là hoạt động của con người tạo ra thu nhập;
2 Hai là, dưới khía cạnh pháp lý, hoạt động tạo ra thu nhập đó chỉ được coi
là việc làm khi hoạt động đó không bị pháp luật cấm
Trên thực tế, có nhiều hoạt động tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật ngăn cấm thì không được thừa nhận là việc làm; đồng thời có những hoạt động không
bị pháp luật nhưng không tạo ra thu nhập cũng không thể coi là việc làm
2 Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động theo quy định của
Bộ luật Lao động
Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội
a Trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động
Pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ và các
cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội và hệ
Trang 2Giáo trình Luật Lao động cơ bản
thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp) Nội dung của việc giải quyết việc làm cho người lao động bao gồm :
- Nhà nước định chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hằng năm Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính, cho vay vốn, giảm, miễn thuế và các biện pháp khuyến kích để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh
tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động
- Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số
- Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát triển kinh doanh nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động Sử dụng nhiều nhân công Việt Nam cũng là một trong những điều kiện giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật pháp hiện hành
Nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động được quy định như sau:
1) Chính phủ: Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư
phát triển kinh tế xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải quyết việc làm
Chương trình việc làm bao gồm mục tiêu, chỉ tiêu tạo việc làm mới, các chính sách, nguồn lực, hệ thống tổ chức và các biện pháp bảo đảm thực hiện
chương trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chương trình việc làm quốc gia
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đệ trình Chính phủ quyết định Chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch hằng năm và 5 năm do Bộ kế hoaüch và
đầu tư chủ trì cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành có liên quan xây dựng đệ trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm
hướng dẫn kiểm tra và báo cáo chính phủ kết quả Chỉ tiêu thực hiện tạo việc làm mới (hằng năm và 5 năm) và Chương trình việc làm quốc gia
Lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác (trợ
giúp của các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân nước ngoài; của các đơn vị và
cá nhân trong nước hỗ trợ giải quyết việc làm ) Quỹ quốc gia về việc làm được
sử dụng vào các mục đích sau :
- Hỗ trợ các tổ chức dịch vụ việc làm
- Hỗ trợ các đơn vị gặp khó khăn tạm thời để tránh cho người lao động không bị mất việc làm
Trang 3Giáo trình Luật Lao động cơ bản
- Hỗ trợ cho những đơn vị nhận người lao động bị mất việc làm theo đề nghị của cơ quan lao động địa phương
- Hỗ trợ quỹ việc làm cho người lao động bị tàn tật và dùng để cho vay với lãi suất thấp để giải quyết việc làm cho một số đối tượng thuộc diện tệ nạn xã hội ( mại dâm, nghiện hút )
Phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm : Nhà nước có chính sách triển
khai thành lập và kiểm tra giám sát hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm
Hằng năm Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về vệc làm
2) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và
quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo về
Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính
Định hướng, hỗ trợ và kiểm tra chương trình việc làm của cấp huyện và cấp
xã
Lập quỹ giải quyết việc làm ( từ các nguồn ngân sách địa phương, khoản hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do trung ương chuyển xuống và các nguồn khác) để giải quyết việc làm cho người lao động
Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật
b Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc giải quyết và đảm bảo việc làm cho người lao động
* Khi có nhu cầu nhân công lao động
- Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tổ chức tuyển chọn người lao động
- Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho một số đối tượng lao động đặc thù, trường hợp nhiều người cùng có đủ điều kiện tuyển dụng thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động là thương, bệnh binh; con liệt sĩ, con thương bệnh binh, con em gia đình có công; người tàn tật, phụ
nữ, người có quá trình tham gia lực lượng vũ trang, người tham gia lực lượng thanh niên xung phong, người đã bị mất việc làm từ một năm trở lên
- Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu phải nhận một tỷ lệ người lao động là người tàn tật, lao độngû nữ vào làm việc Doanh
Trang 4Giáo trình Luật Lao động cơ bản
nghiệp tiếp nhận số người lao động là người tàn tật vào làm việc thấp hơn tỷ
lệ quy định thì hàng tháng phải nộp vào quỹ việc làm cho người tàn tật một khoản tiền theo quy định, nếu cao hơn thì khi sản xuất kinh doanh gặp khó khăn hoặc có dự án phát triển sản xuất sẽ được xét cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc được xét hỗ trợ từ quỹ việc làm Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước
* Trong quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động dịch vụ
- Người sử dụng lao động phải đảm bảo công việc thường xuyên liên tục theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể, phải có trách nhiệm tổ chức nâng cao trình độ nghiệp vụ cho người lao động theo kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật và làm việc có trách nhiệm, hiệu quả cao Phải đào tạo lại trước khi chuyển người lao động sang làm việc mới trong doanh nghiệp
- Khi có sự thay đổi về cơ cấu hoặc công nghệ mà cần phải cho người lao động thôi việc, người sử dụng lao động căn cứ vào nhu cầu của công việc và thâm niên làm việc, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người để lần lượt cho thôi việc sau khi đã trao đổi nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải công bố danh sách Trước khi quyết định cho thôi việc phải báo cho cơ quan lao động địa phương biết để cơ quan này nắm được tình hình lao động của địa phương và có kế hoạch hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp hoặc tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động mất việc làm
c Trách nhiệm của người lao động trong việc tự tạo việc làm và bảo đảm việc làm
Nhà nước tạo điều kiện cần thiết để hỗ trợ tài chính, cho vay vốn và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người lao động tự tạo việc làm
Nhà nước có chính sách khuyến khích và ưu đãi đối với người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đến làm việc ở vùng cao, biên giới, hải đảo và những vùng có nhiều khó khăn
Đối với những người lao động có nhu cầu việc làm mà không tự giải quyết được thì có thể đăng ký với trung tâm dịch vụ việc làm để yêu cầu môi giới tìm việc làm, kể cả môi giới đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hoặc yêu cầu dạy nghề gắn với tạo việc làm phù hợp với nghề đã chọn, phù hợp với khả năng sức khỏe của mình và theo tiêu chuẩn của nơi cần nhân công
Trang 5Giáo trình Luật Lao động cơ bản
d Tổ chức dịch vụ việc làm với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
* Tổ chức dịch vụ việc làm
Tổ chức dịch vụ việc làm được gọi thống nhất là: “Trung tâm dịch vụ việc làm” kèm theo tên địa phương hoặc tên bộ, tổ chức đoàn thể VD: Trung tâm dịch vụ việc làm Thanh niên (thuộc Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Cần Thơ ) Trung tâm dịch vụ việc làm là đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc do các tổ chức đoàn thể, hội quần chúng thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, được mở tài khoản tại ngân hàng, kho bạc Nhà nước
Bộ Lao động thương binh và xã hội thống nhất quản lý Nhà nước đối với các Trung tâm dịch vụ việc làm trong cả nước Sở Lao động thương binh và xã hội thống nhất quản lý Nhà nước đối với các Trung tâm dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
* Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm dịch vụ việc làm
Trung tâm dịch vụ việc làm có chức năng tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ việc làm, dạy nghề
• Trung tâm dịch vụ việc làm có quyền :
- Tổ chức dạy nghề gắn với đào tạo việc làm
- Tổ chức sản xuất để tận dụng cơ sớ vật chất, kỹ thuật, kết hợp lý thuyết với thực hành, giải quyết công việc làm tại chỗ theo quy định của pháp luật
- Thu học phí, lệ phí, phí theo quy định của Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
• Nhiệm vụ của trung tâm dịch vụ việc làm
- Tư vấn cho người lao động và người sử dụng lao động về chính sách lao động và việc làm, hướng nghiệp và đào tạo nghề
- Giới thiệu việc làm và học nghề ở những nơi phù hợp
- Tổ chức tuyển chọn cung ứng lao động cho người sử dụng lao động trong nước và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
- Cung cấp thông tin về thị trường lao động và người sử dụng lao động đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam và cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động và việc làm
* Quản lý tài chính của trung tâm dịch vụ việc làm:
Trang 6Giáo trình Luật Lao động cơ bản
• Nguồn thu của trung tâm dịch vụ việc làm:
Nguồn thu của trung tâm dịch vụ việc làm bao gồm các khoản sau :
- Thu lệ phí, học phí và phí
- Các hợp đồng đặt hàng của Nhà nước, của các đơn vị và cá nhân
- Các nguồn hỗ trợ của Nhà nước
- Tài trợ của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước
- Các nguồn khác
• Các nguồn chi của trung tâm dịch vụ việc làm:
- Chi xây dựng, duy trì và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật
- Chi nguyên nhiên liệu phục vụ cho dạy nghề
- Chi lương cho cán bộ và bộ máy quản lý Nhà nước
- Chi khác
Các trung tâm dịch vụ việc làm được tổ chức và hoạt động theo quy định của
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và các quy định của nhà nước Bộ Lao động, Thương binh và xã hội có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận việc thành lập các trung tâm giới thiệu việc làm và có quyền đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định của pháp luật
3 Trợ cấp mất việc làm
Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao
động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương
Những trường hợp sau đây được coi là thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ:
- Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn
- Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn
- Thay đổi cơ cấu tổ chức: sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị
Thời gian để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động đó đến khi bị mất việc làm Thời gian làm việc để
Trang 7Giáo trình Luật Lao động cơ bản
được hưởng trợ cấp mất việc làm là từ đủ một năm (12 tháng) trở lên, nếu có tháng lẻ được quy định như sau:
- Dưới 1 tháng không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm
- Từ 1 đến dưới 6 tháng được tính bằng 6 tháng làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1/2 tháng lương
- Từ đủ 6 tháng trở lên được tính bằng 1 năm làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1 tháng lương
Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương theo hợp
đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi sự việc xảy ra, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có)
Trợ cấp mất việc làm được trả trực tiếp một lần cho người lao động tại nơi làm việc hoặc tại nơi thuận lợi nhất cho người lao động và chậm nhất không quá 7 ngày, kể từ ngày người lao động bị mất việc làm
2 Tuổi học nghề
Người học nghề ở cơ sở dạy nghề ít nhất phải đủ 13 tuổi, trừ một số nghề do
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định có thể thu nhận người học nghề
có độ tuổi thấp hơn, và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu của nghề theo học
3 Hợp đồng học nghề:
Hợp đồng học nghề phải được giao kết giữa người học nghề với người dạy nghề hoặc cơ sở dạy nghề Hợp đồng này có thể giao kết bằng miệng hoặc lập thành văn bản
Đây là một điểm khác biệt căn bản giữa học nghề tại các trường dạy nghề chính quy thuộc hệ thống giáo dục và đào tạo Thầy dạy nghề, cơ sở dạy nghề được quy định trong Bộ luật Lao động rất đa dạng, có doanh nghiệp, có trung
Trang 8Giáo trình Luật Lao động cơ bản
tâm, có tư nhân, tổ chức thành lớp hoặc chỉ dẫn tại nhà Học nghề ở đây phải có hợp đồng để có thể giải quyết khi phát sinh tranh chấp về thực hiện hợp đồng và phí dạy nghề
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì do hòa giải viên lao động của cơ quan lao động cấp huyện giải quyết (Điều 165 Bộ luật Lao động) Các nước coi hợp đồng học nghề, tập nghề là một loại hợp đồng lao động đặc biệt, nhất là loại hợp đồng học nghề giao kết với doanh nghiệp để rồi làm việc cho doanh nghiệp Nội dung chủ yếu của hợp đồng học nghề bao gồm mục tiêu và nội dung đào tạo, địa điểm học, mức học phí, thời hạn học, mức bồi thường khi vi phạm hợp đồng
Nếu hợp đồng học nghề giao kết với doanh nghiệp để sẽ làm việc cho doanh nghiệp thì trong nội dung hợp đồng không có mức học phí, nhưng lại phải có cam kết về thời hạn làm việc, phải bảo đảm ký kết hợp đồng lao động theo cam kết đó Nếu không làm việc theo cam kết thì phải bồi thường phí dạy nghề cho doanh nghiệp
5 Các loại hình cơ sở dạy nghề
Hiện nay ở nước ta có các loại hình cơ sở dạy nghề chủ yếu sau đây:
- Cơ sở dạy nghề công lập
- Cơ sở dạy nghề bán công
- Cơ sở dạy nghề dân lập
- Cơ sở dạy nghề tư thục
- Cơ sở dạy nghề của doanh nghiệp
- Cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 9Giáo trình Luật Lao động cơ bản
1 Khái niệm về tuyển dụng lao động
Tuyển dụng lao động là một hiện tượng xã hội phát sinh do nhu cầu tự nhiên của quá trình lao động Xét về phương diện kinh tế xã hội, tuyển dụng lao động biểu hiện ở việc tuyển chọn và sử dụng lao động phục vụ cho nhu cầu nhân lực trong quá trình lao động Việc tuyển dụng lao động được coi là tiền đề cho quá trình sử dụng lao động.Về phương diện pháp lý, tuyển dụng lao động được hiểu
là hệ thống các quy định của pháp luật, là căn cứ cần thiết để các chủ thể thực hiện hành vi tuyển dụng lao động
Như vậy, về mặt pháp lý có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về tuyển dụng lao động như sau :
Tuyển dụng lao động là một quá trình tuyển chọn và sử dụng lao động của các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức và cá nhân do Nhà nước quy định, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của mình
2 Ý nghĩa của việc quy định chế độ pháp lý về tuyển dụng lao động
Thông qua công tác tuyển dụng lao động, Nhà nước quản lý được nguồn nhân lực, đảm bảo cho người lao động khả năng lựa chọn công việc phù hợp với trình độ chuyên môn và điều kiện hoàn cảnh, tạo điều kiện cho họ làm việc với năng suất cao
Thông qua việc tuyển dụng lao động, đơn vị sử dụng lao động có thể chủ động tuyển chọn, sa thải, duy trì và phát triển lực lượng lao động cần thiết cho
Trang 10Giáo trình Luật Lao động cơ bản
đơn vị mình, nhằm hoàn thành tốt mục tiêu, kế hoạch sản xuất, công tác đã đề
ra
Việc tuyển dụng lao động tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền
có việc làm và nghĩa vụ lao động của mình
Tuyển dụng lao động là khâu đầu tiên rất cơ bản của quá trình tổ chức lao động Các hoạt động phân tích, đánh giá, phân loại lao động, quy mô, cách thức phân bổ lao động để hoàn thành các mục tiêu, chức năng của đơn vị, yêu cầu quản lý của những người sử dụng lao động chỉ có thể được thực hiện một cách thuận lợi và có hiệu quả khi thực hiện tốt các hoạt động tuyển dụng
Ở Việt Nam hiện nay có các hình thức tuyển dụng lao động sau đây :
- Bầu cử
- Tuyển dụng vào biên chế nhà nước
- Tuyển dụng lao động thông qua Hợp đồng lao động
Tùy thuộc vào hình thức tuyển dụng mà thủ tục có một số đặc điểm riêng
4 Hồ sơ xin việc
Nhìn chung, hồ sơ xin việc gồm có các loại giấy tờ sau đây:
- Đơn xin việc;
- Sơ yếu lý lịch (có chứng thực của cơ quan Công an cấp xã);
- Giấy khám sức khoẻ của cơ sở y tế (hoặc bệnh viện) từ cấp huyện trở lên;