Thực hiện điều 18 của công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và hướng dẫn của ủy ban về xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
Trang 1PHẦN I 6
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
PHẦN II 12
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU CỦA CÔNG ƯỚC 12
ĐIỀU 1 Khái niệm “phân biệt đối xử chống lại phụ nữ ………
……….10
ĐIỀU 2 Áp dụng các biện pháp nhằm loại bỏ mọi hình thứcphân biệt đối xử chống lại phụ nữ 14
2.1 Tiếp tục cụ thể hoá nguyên tắc bình đẳng nam nữ 14
2.2 Thực thi các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ 16
2.3 Tồn tại và hướng khắc phục 19
ĐIỀU 3 Bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ 21
3.1 Các chủ trương, pháp luật và chính sách 21
3.2 Phát triển các tổ chức và hoạt động vì sự t iến bộ của phụ nữ 29
3.3 Lồng ghép giới vào công tác hoạch định và thực thi chính sách 30
3.4.Công tác nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới 33
ĐIỀU 4 Các biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng nam, nữ 36
4.1 Bổ sung một số biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng nam, nữ 36
4.2 Một số biện pháp đặc biệt nhằm bảo vệ người mẹ 38
4.3.Tình hình thực hiện và phương hướng trong thời gian tới 39
ĐIỀU 5 Vai trò và định kiến giới 41
5.1 Các chủ trương, chính sách 41
5.2 Công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về giới 42
5.3 Khó khăn và phương hướng khắc phục 43
ĐIỀU 6 Phòng, chống mua bán phụ nữ, bóc lột phụ nữ làm mại dâm 44
6.1 Công tác xây dựng pháp luật 45
6.2 Tình hình thực hiện 46
6.3 Các vấn đề tồn tại và phương hướng khắc phục 48
ĐIỀU 7 Thực hiện quyền bình đẳng trong đời sống chính trị và cộng đồng 50
7.1 Bảo đảm quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ 50
7.2 Quyền của phụ nữ trong việc tham gia quản lý nhà nước, kinh tế và xã hội 53 7.3 Quyền của phụ nữ tham gia các tổ chức chính trị- xã hội 54
7.4 Phương hướng tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong đời sống chính trị và cộng đồng 54
ĐIỀU 8 Phụ nữ tham gia các hoạt động quốc tế 56
8.1 Phụ nữ trong ngành ngoại giao 57
Trang 2ĐIỀU 9 58
Vấn đề quốc tịch 58
ĐIỀU 10 Bình đẳng trong giáo dục 60
10.1 Quan điểm và mục tiêu giáo dục 60
10.2 Thực hiện bình đẳng về cơ hội và điều kiện học tập cho nam và nữ 61
10.3 Kết quả giáo dục và đào tạo cho phụ nữ 61
10.4 Cán bộ nữ ngành giáo dục và đào tạo 63
10.5 Vấn đề định kiến giới trong sách giáo khoa 64
ĐIỀU 11 Bình đẳng trong lĩnh vực việc làm 65
11.1 Chính sách, pháp luật của Nhà nước về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm 66
11.2 Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm 68
11.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm 72
ĐIỀU 12 Tiếp cận bình đẳng của phụ nữ tới dịch vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ 73
12.1 Chủ trương, chính sách về chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân 73
12.2 Cơ chế tổ chức và bộ máy chăm sóc sức khoẻ phụ nữ 76
12.3 Công tác chăm sóc sức khoẻ phụ nữ và cung cấp các dịch vụ KHHGĐ 77
12.4 Vấn đề dinh dưỡng 78
12.5 Công tác phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS 78
12.6 Phương hướng trong thời gian tới: 79
ĐIỀU 13 Phúc lợi kinh tế-xã hội và văn hoá 79
13.1 Các quy định luật pháp, chính sách mới 79
13.2 Bảo đảm quyền được hưởng các phúc lợi gia đình và xã hội cho phụ nữ 80
13.3 Bảo đảm cho phụ nữ quyền được vay tiền, cầm cố tài sản và tham gia các hình thức tín dụng 81
13.4 Quyền được tham gia các hoạt động giải trí, thể thao và văn hoá 83
ĐIỀU 14 Phụ nữ nông thôn 84
14.1 Vai trò và những thách thức đối với phụ nữ nông thôn 84
14.2 Phụ nữ tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển và hoạt động cộng đồng 86
14.3 Về chăm sóc sức khoẻ và kế hoạch hoá gia đình 86
14.4 Về giáo dục, đào tạo và hoạt động khuyến nông 87
14.5 Vấn đề bảo hiểm xã hội 87
14.6 Cơ hội tiếp cận tín dụng cho phụ nữ nông thôn 88
14.7 Quyền sử dụng đất của phụ nữ nông thôn 88
Trang 314.8 Cơ sở hạ tầng và vệ sinh môi trường nông thôn 89
14.9 Phương hướng trong thời gian tới 89
ĐIỀU 15 91
Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong các quan hệ dân sự trước pháp luật 91
15.1 Phụ nữ có địa vị pháp lý bình đẳng như nam giới trong các quan hệ dân sự 91
15.2 Phụ nữ có quyền tự do đi lại và cư trú 94
ĐIỀU 16 94
quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ 94
hôn nhân và gia đình 94
16.1 Pháp luật về hôn nhân và gia đình 94
16.2 Vấn đề kết hôn và ly hôn 94
16.3 Quyền bình đẳng trong thời gian hôn nhân 95
16.4 Tệ ngượ c đãi phụ nữ trong gia đình 96
KẾT LUẬN 98
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT
CEDAW Công ước Liên hiệp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
GDI Chỉ số phát triển giới
LHPNVN Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
VSTBPN Vì sự tiến bộ phụ nữ
LĐTBH Bộ lao đông – Thương binh và xã hội
UBQG Uỷ ban quốc gia
TW Trung ương
VCCI Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam
BHXH Bảo hiểm xã hội
CLB Câu lạc bộ
GER Tỷ lệ nhập học thô
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
CSSKSS Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
LTQĐT Lây truyền qua đường tình dục
BPTT Biện pháp tránh thai
SKSS Sức khoẻ sinh sản
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
BCHTW Ban chấp hành trung ương
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương
ASEM Diễn đàn hợp tác Á–Âu
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
Trang 5BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC CEDAW CỦA VIỆT NAM
(Lần thứ 7 + 8)
LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện Điều 18 của Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử vớiphụ nữ (Công ước CEDAW) và hướng dẫn của Uỷ ban về xóa bỏ phân biệt đối xửchống lại phụ nữ (Ủy ban CEDAW), Việt Nam đã hoàn thành các Báo cáo định kỳ (từlần thứ nhất đến lần thứ 6), Báo cáo ghép định kỳ lần thứ 5 và thứ 6 của Việt Nam(CEDAW/C/VNM/5-6) đã được Uỷ ban CEDAW thông qua tại Phiên họp thứ 759 và
760 ngày 07 tháng 01 năm 2007
Được sự đồng ý và theo hướng dẫn của Uỷ ban CEDAW, Việt Nam với tư cách
là quốc gia thành viên chuẩn bị Báo cáo ghép định kỳ lần thứ 7 và thứ 8 về tình hìnhthực hiện Công ước CEDAW tại Việt Nam giai đoạn 2004-2010 Đặc điểm của giaiđoạn này là Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế, phải đương đ ầu vớinhiều thách thức to lớn do tác động của thiên tai, lũ lụt, hạn hán ở khắp các vùng trên cảnước, các vấn đề xã hội và môi trường , quá trình hội nhập kinh tế và cạnh tranh gay gắttrên thị trường quốc tế Đây cũng là giai đoạn kết thúc Chiến lược phát triển kinh tế - xãhội 10 năm 2001-2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010, kếtthúc một giai đoạn quan trọng thực hiện các chương trình, chính sách lớn của Chính phủViệt Nam
Tiếp theo Báo cáo ghép lần thứ 5 và 6, Báo cáo này cập nhật tình hình phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước, con ngư ời Việt Nam, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật,tuyên truyền giáo dục pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật, những hạn chế, yếukém và phương hướng khắc phục theo từng điều khoản cụ thể của Công ước trong 6năm qua tại Việt Nam Báo cáo cũng thể hiện những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã
nỗ lực phấn đấu thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, thực hiện những cam kết
Trang 6của Hội nghị Bắc Kinh + 5, trên cơ sở tiếp thu, triển khai thực hiện các Khuyến nghịcủa Uỷ ban CEDAW năm 2007.
Báo cáo gồm các phần chính như sau:
Trong quá trình chuẩn bị và soạn thảo, Ban soạn thảo đã thu thập tài liệu, phântích các số liệu báo cáo thống kê của các Bộ, ngành, địa phương, các báo cáo quốc gialiên quan Tổ chức các hội thảo, tham vấn, lấy ý kiến tham gia các Bộ, ngành, tổ chứcchính trị -xã hội, đại diện của các tầng lớp phụ nữ, các học giả, các nhà quản lý, các nhàkhoa học, cán bộ công tác xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ
Dự thảo Báo cáo cũng đã gửi tới tất cả các Bộ, ngàn h, tổ chức chính trị - xã hội ởtrung ương để lấy ý kiến bằng văn bản
Với những quan điểm đã nêu trong các Báo cáo trước đây, báo cáo này Việt Namvẫn tiếp tục bảo lưu Khoản 1, Điều 29 của Công ước Tuy nhiên Việt Nam đang nghiêncứu xem xét để bỏ bảo lưu này vào thời điểm thích hợp Nhà nước Việt Nam đang tiếnhành nghiên cứu việc ký Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ướcCEDAW
PHẦN I
Trang 7NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Đất nước và con người Việt Nam
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông NamChâu Á, có diện tích trên 331.000 km
Hà Nội là thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức
Theo số liệu thống kê của Tổng điều tra dân số và nhà ở 01/4/2009, Việt Nam có
54 dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó dân tộc Kinh (Việt) có73,594 triệu người (chiếm 85,7%) và các dân tộc còn lại là 12,253 triệu người (chiếm14,3 %)
Tính đến thời điểm 01/4/2009 dân số Việt Nam là 85.846.997 người, trong đóphụ nữ là 43.433 854 người Mức tăng dân số tiếp tục giảm Tỷ suất tăng dân số bìnhquân năm giảm từ 1,7 % thời kỳ năm 1989 -1999 xuống 1,2% của thời kỳ 1999 -2009
Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33.1% vào năm 1999 xuống còn 25% vào năm
2009 Tuổi thọ bình quân tích từ lúc sinh tăng liên tục và đã đạt 72,8 tuổi.1
Trong mười năm qua, Việt Nam đã thực hiện thành công các mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của Quốc gia, trong đó có các thành tựu đáng khích lệ về tăng cườngbình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ; Sức khoẻ của trẻ em tiếp tục được quantâm và cải thiện đáng kể, Việt Nam đã tiến gần Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đối vớichỉ tiêu chỉ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi và tỷ s uất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi Thựchiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010, nền kinh tế đã có mứctăng trưởng khá và tương đối ổn định, đã đạt được nhữ ng thành tựu to lớn và rất quantrọng Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được mức khá cao so với những năm trước đây.Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đ ạt 7,2% trong giai đoạn 2001- 2010 Cơcấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá GDP bình quân đầungười năm 2010 ước tính khoảng 1.200 USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2000 Với mức
1 Theo Báo cáo Tổng điều tra dân số và nùa ở 2009 -Tổng Cục Thống kê- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 8này, Việt Nam chuyển vị trí từ nhóm nước nghèo nhất sang nhóm có mức thu nhậptrung bình thấp Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, Việt Nam đã có
sự chuyển biến đáng kể về cơ cấu kinh tế Tỷ trọng GDP của khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản giảm từ 23,2% vào năm 2000 xuống còn 17% vào năm 2009; tỷ trọng củakhu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 35,4% lên 41,6% trong khi đó tỷ trọng GDPcủa khu vực dịch vụ duy trì ở mức gần 41,3% Thay đổi cơ cấu kinh tế mang lại thayđổi quan trọng trong cơ cấu lao động Trong giai đoạn này, tỷ trọng la o động trong cácngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 65% xuống còn khoảng 50% trong khi laođộng trong công nghiệp và xây dựng tăng từ 13% đến gần 23% và lao động trong khuvực dịch vụ tăng từ 15% lên khoảng 27% 2
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đã chú trọng việc xây dựng
và nâng cao năng lực của con người cũng như phát huy hiệu quả nguồn nhân lực vàocông cuộc phát triển đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh" Thực hiện Chiến lược cũng chính là tạo điều kiện thuận lợi để Chínhphủ Việt Nam thực hiện có hiệu quả những cam kết của mình đối với Công ướcCEDAW
Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, thu hút nguồn vốn đầu
tư nước ngoài, khai thác các cơ hội thị trường quốc tế để thúc đẩy tăng trưởng xuấtkhẩu Song song với phát triển kinh tế Việt Nam đặc biệt quan tâm và ưu tiên nguồnlực cho giảm nghèo và phát triển xã hội Cùng với những kết quả về kinh tế, Việt Namcũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích l ệ về phát triển xã hội
Việt Nam liên tục dẫn đầu các nước đang phát triển về thành tích giảm nghèo : Tỷ
lệ nghèo năm 2002 là 28,9% giảm xuống còn 14% vào năm 2008 Giảm nghèo diễn ra ởtất cả các nhóm dân cư, khu vực thành thị, nông thôn và các vùng địa l ý.3
Việt Nam đã cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 Từ đóđến nay, Việt Nam tiếp tục duy trì và từng bước nâng cao chất lượng phổ cậ p giáo dục
2 Theo Báo cáo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam 2010
3 Và 4 Theo Báo cáo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Việt Nam 2010
Trang 9tiểu học nhằm đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; đẩy mạnh phổcập giáo dục trung học cơ sở hướng tới đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ
sở trong năm 2010 đồng thời đặt ra mục tiêu từng bước phổ cập giáo dục trung học phổthông Ngân sách nhà nước cho giáo dục liên tục tăng từ 15,5% trong tổng chi ngânsách nhà nước năm 2001 lên 20% năm 2007 và giữ ổn định ở mức này cho đến nay4
Về chăm sóc sức khoẻ, Việt Nam đã tiến đến gần mục tiêu thiên niên kỷ đối vớicác mục tiêu về chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giảm tỷ suất tử vong ở các lứa tuổi Trongnhững năm qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc tăng cường chấtlượng và mở rộng tiếp cận phổ cập tới các dịch vụ điều trị, chăm sóc hỗ trợ và dựphòng
Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo và chênh lệch về mức sống giữa các cộng đồngdân cư đang là một trong những trở ngại đối với việc thực hiện Công ước CEDAW.Những thách thức chính hiện nay là: Tỷ lệ hộ nghèo còn cao, tập trung ở nông thôn vànhững vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu
số Phụ nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, nhất là nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi lànhững nhóm người dễ bị tổn thương nhất Phụ nữ nghèo phải lao động nhiều thời gianhơn, thu nhập ít hơn, ít có quyền quyết định trong gia đình và cộng đồng, do đó họ cũng
có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách công mang lại
Tóm lại, trong 6 năm qua, mặc dù phải trải qua nh iều thử thách gay gắt, ảnhhưởng của suy thoái kinh tế thế giới đã tác động đến các kết quả thực hiện mục tiêu bìnhđẳng giới như giá cả tăng cao, tăng trưởng kinh tế giảm, số người mất việc làm tăng.Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước và đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đời sống nhân dân từngbước được cải thiện, chính trị ổn định, an ninh được giữ vững Những thành tựu đã đạtđược là những điều kiện quan trọng cho phụ nữ tiếp tục tham gia và hưởng lợi một cáchbình đẳng trong quá trình phát triển đất nước
Trang 10Cơ cấu chính trị chung
Chế độ chính trị ở Việt Nam trong những năm qua luôn ổn định, an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội được giữ vững Trong thời gian qua, Việt Nam đã đề ra đườnglối, chính sách phù hợp, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội Chính phủcũng như các ngành, các cấp có sự đổi mới trong công tác chỉ đạo, điều hành Hệ thốngpháp luật đã từng bước được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện và ngày càng hài hoà vớipháp luật quốc tế, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước
Hệ thống bộ máy cơ quan nhà nước từ Trung ương đến các địa phương tiếp tụcđược hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức và chức nă ng nhiệm vụ, hoạt động quản lý nhànước ngày càng có chất lượng, hiệu quả cao Thực hiện quản lý xã hội bằng Hiến pháp
và pháp luật Điều 2 của Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy địnhNhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Trong đó, mọi công dân, không phân biệtgiới tính, dân tộc, thành phần xã hội đều bình đẳng trước pháp luật; quyền phụ nữ không
bị phân biệt đối xử dưới mọi hình thức tiếp tục được đề cao và đư ợc pháp luật bảo vệ.Quốc hội là cơ quan quyền lực và đại diện cao nhất của nhân dân, có vai trò ngày càngđược nâng cao trong các lĩnh vực lập hiến, lập pháp và giám sát tối cao Ủy ban thườn g
vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội Hội đồng nhân dân là cơ quan quyềnlực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhândân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơquan nhà nước cấp trên
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước caonhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ thống nhất quản lý việcthực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng , an ninh và đốingoại của nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở;bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủcủa nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định v à nângcao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc
Trang 11hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Cácchức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được điều chỉnh phù hợphơn Các nhiệm kỳ của Chính phủ (2002-2007; 2007-2011) đã có nhiều thay đổi về cơcấu tổ chức, bộ máy theo hướng phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ, cơ quanngang bộ, tránh chồng chéo, giảm tầng nấc trung gian, làm cho bộ máy quản lý nhànước vận hành hiệu quả hơn Cơ cấu Chính phủ nhiệm kỳ 2007-2011 gồm 18 Bộ và 4
cơ quan ngang Bộ Công tác xây dựng chính sách song song với việc đẩy mạnh thực thipháp luật và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã tạo lực đẩy mới cho việc thực hiệncác chủ trương, chính sách ở cấp cơ sở
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồngnhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiếnpháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết c ủa Hội đồngnhân dân
Hệ thống các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật, bảo đảmquyền con người tiếp tục được củng cố và hoàn thiện Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm
vụ của Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan bảo vệ ph áp luật khácđược tăng cường và xác định rõ ràng hơn, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận công lý chonhân dân, bảo đảm cho việc xét xử được công khai, công bằng, khách quan và vô tư.Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bảo vệ pháp luật cũng được tăng cường cả về
số lượng và chất lượng Trình độ, năng lực của các thẩm phán, hộ i thẩm nhân dân, kiểmsát viên các cấp được nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợiích của công dân trong đó có phụ nữ Các tổ chức bổ trợ tư pháp như: luật sư, côngchứng, giám định, thi hành án, trợ giúp pháp lý – là những cơ quan , tổ chức thực hiệnchức năng bổ trợ tư pháp, bảo vệ quyền lợi của công dân nói chung, đã và đang đượckiện toàn từ trung ương đến cơ sở
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận trong hệ thống chính trị của ViệtNam Mặt trận tổ quốc gồm các tổ chức thành viên như Đoàn Thanh niên, Hội Liênhiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Cựu chiến binh,
Trang 12trong đó Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong việc thựchiện quyền bình đẳng của phụ nữ.
Có thể khẳng định rằng, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước ViệtNam tiếp tục đẩy nhanh quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, hoàn chỉnh hệ thốngpháp luật theo hướng tôn trọng và đảm bảo n gày càng tốt hơn các quyền của con người,trong đó chú trọng quyền của phụ nữ và trẻ em
PHẦN II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC ĐIỀU CỦA CÔNG ƯỚC
Điều 1 Khái niệm “phân biệt đối xử chống lại phụ nữ”
“Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử chống lại phụ nữ” là một nguyên tắc
đã được khẳng định tại Điều 63 của Hiến pháp năm 1992, nguyên tắc này đã và đang cụthể hoá và thể hoá trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách củaViệt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong việc tổ chứcthực hiện, biến nguyên tắc, khái niệm này thành hành động cụ thể của toàn xã hội, củatừng người dân
Luật Bình đẳng giới 2006 là văn bản luật quy định tập trung nhất các nội dung về
bình đẳng giới và đảm bảo quyền phụ nữ Luật đã đề ra “Mục tiêu bình đẳng giới” là
xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triểnkinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam,
nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Theo đó, “Phân biệt đối xử về giới” được hiểu là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò,
vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội và gia đình” (Điều 5 khoản 5 Luật Bình đẳng g iới) Khái niệm này được xây dựng trên cơ sở kế thừa khái niệm về “phân biệt đối xử chống lại phụ nữ” được đề cập
tại Điều 1 của Công ước CEDAW và cách tiếp cận “Giới trong phát triển” Bên cạnhnội dung trên, Luật Bình đẳng giới cũng quy định 8 khái niệm khác về giới như: Giới,Giới tính, Bình đẳng giới, Định kiến giới, Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, Lồng
Trang 13ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Hoạt độngbình đẳng giới, Chỉ số phát triển giới (GDI) Các khái niệm này là sự tiếp tục thể chếhóa quan điểm, đường lối của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của phụ nữ và nam giới; đồng thời khẳng định quyết tâm mạnh mẽ trong việc cụthể hóa và thực hiện các Điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thànhviên, trong đó tiêu biểu là Công ước CEDAW.
Hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới không ngừng được hoàn thiện,thể hiện được nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử theo quy định của LuậtBình đẳng giới và Công ước CEDAW
Nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về việc bảo đảm bình đẳng giới
và xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ đã ngày một sâu sắc, đầy đủ và toàn diện hơn
Ở Việt Nam, trong những năm qua, nhận thức về “phân biệt đối xử với phụ nữ” ởcấp hoạch định chính sách, ban hành pháp luật, cũng như trong hoạt động của các cơquan, tổ chức, trong cộng đồng dân cư, gia đình và mỗi cá nhân ngày một đầy đủ vàtoàn diện hơn
Việt Nam đã thể hiện cam kết của thành viên CEDAW ở mức độ cao nhất trongviệc hiểu và vận dụng khái niệm “phân biệt đối xử với phụ nữ” không chỉ tiếp tục nhìnmột chiều cho riêng phụ nữ mà hài hòa đối với cả nam giới, trên cơ sở đó mới có thểbảo đảm không phân biệt đối xử với phụ nữ một cách tốt nhất Đây chính là sự thể hiện
sự linh hoạt mang tính dự báo của pháp luật Việt Nam, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi ngàycàng cao của thực tế chuyển từ cách tiếp cận “phụ nữ trong phát triển” sang “giới vàphát triển”, đặt vấn đề xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong mối quan hệ với nhữngvấn đề chung và các vấn đề của nam giới
Văn kiện Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tiếp tục khẳng định sự nhậnthức đúng đắn và thái độ kiên quyết trong việc thực hiện các cam kết xóa bỏ mọi sựphân biệt, đối xử chống lại phụ nữ, bảo đảm quyền bình đẳng thật sự của phụ nữ thôngqua các giải pháp “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất tinh thần; tạo điềukiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ,
Trang 14người thày đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càngnhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp Chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ laođộng, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ…”.
Mặc dù vậy, việc áp dụng khái niệm “Phân biệt đối xử chống lại phụ nữ” vào cáclĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội vẫn còn chưa đồng đều, chưa vận dụng đầy đủ vàoviệc xây dựng và thực thi pháp luật để bảo đảm khái niệm này được thực hiện trên t hựctế
ĐIỀU 2
Áp dụng các biện pháp nhằm loại bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
Việt Nam tiếp tục duy trì các biện pháp pháp luật, hành chính và tư pháp như đãnêu trong các báo cáo trước và bổ sung các biện pháp, tổ chức thực hiện các biện phápthích hợp nhằm xóa bỏ tất cả hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
2.1 Tiếp tục cụ thể hoá nguyên tắc bình đẳng nam nữ
Các biện pháp nhằm loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữđược Việt Nam coi trọng đặc biệt trong quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật quốc gia Hơn sáu năm qua, việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luậtluôn quán triệt nguyên tắc bình đẳng nam nữ, và bảo đảm nguyên tắc cơ bản về bìnhđẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục đào tạo, khoa họccông nghệ, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế và gia đình đã được quy định trong Luật Bìnhđẳng giới
Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa nam nữ tiếp tục khẳng địnhtrong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong những năm qua như : Luậtbảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, Bộ luật Dân sự
2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua khen thưởng số 2005, LuậtBình đẳng giới 2006, Luật Bảo hiểm xã hội 2006, Luật Dạy nghề 2006, Luật Phòng
Trang 15chống bạo lực gia đình 2007, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống
ma tuý 2008,
Luật Bình đẳng giới đã quy định các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới gồm: 1)Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; 2) Nam, nữkhông bị phân biệt đối xử về giới; 3) Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi làphân biệt đối xử về giới; 4) Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phânbiệt đối xử về giới; 5) Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thựcthi pháp luật; 6) Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình,
cá nhân Những nguyên tắc này sẽ là yêu cầu ràng buộc trách nhiệm, là kim chỉ namgiúp các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhànước về bình đẳng giới theo thẩm quyền được giao
Luật Bình đẳng giới và cá c văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định số70/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của LuậtBình đẳng giới, Nghị định số 48/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định về các biện phápbảo đảm bình đẳng giới, Nghị định số 55/2009/NĐ -CP của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính về bình đẳng giới
Thực hiện quy định của Luật Bình đẳng giới về lồng ghép vấn đề bình đẳng giớitrong xây dựng và thực thi pháp luật, h ầu hết các văn bản pháp luật mới được ban hànhhoặc sửa đổi, bổ sung đã lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, cụ thể như: Luật Cán bộ,công chức 2008; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008; Luật Người cao tuổi2009; Luật Người khuyết tật 2010; Luật viên chức 2010; Luật nuôi con nuôi 2010; LuậtThi hành án hình sự 2010; Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúpphát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ưu tiên trợ giúp cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa do phụ nữ làm chủ và có sử dụng nhiều lao động nữ…Một số văn bản quy phạmpháp luật đang được xây dựng để thực hiện nguyên tắc bình đẳng giới như: Bộ Luật Laođộng (sửa đổi), Luật Phòng, chống mua bán người, Chiến lược quốc gia về bình đẳnggiới giai đoạn 2011- 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/12/2010
Trang 16Trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử và thi hànhpháp luật, những biện pháp ngăn ngừa, xử lý nghiêm hành vi vi phạm quyền bình đẳngcủa phụ nữ, phạm tội đối với phụ nữ, tiếp tục được thực hiện.
Khoản 1 Điều 27 Luật Bình đẳng giới và Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg của Thủtướng Chính phủ ngày 3/5/2007 về triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới đã quy định
rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành phải tiến hành rà soát văn bản quy phạm pháp luậthiện hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặctrình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạmpháp luật nhằm bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới, các nguyên tắc cơ bản về bình đẳnggiới và chính sách của nhà nước về bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý
Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020: Đây là quyết tâmcủa Việt Nam được khẳng định trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020 là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xãhội chung của đất nước, là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng
và Nhà nước Công tác bình đẳng giới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng caochất lượng cuộc sống của từng người, t ừng gia đình và toàn xã hội Tăng cường sự lãnhđạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sựnghiệp, sự tham gia của mỗi cá nhân, từng gia đình và cả cộng đồng đối với công tácbình đẳng giới Huy động tối đa mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác bìnhđẳng giới Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bìnhđẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững củađất nước.5
2.2 Thực thi các biện pháp cụ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ
5 Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/12/2010.
Trang 17Để ngăn ngừa, xóa bỏ và trừng phạt những hành vi phân biệt đối xử vớ i phụ nữ,tiếp tục thực thi các biện pháp giáo dục thuyết phục, hành chính, hình sự, dân sự nhằmxóa bỏ việc phân biệt đối xử với phụ nữ.
Tăng cường tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để mọi tổ chức, cá nhântôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho phụ nữ.Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục phápluật giai đoạn 2008 - 2012 (tiếp theo Chương trình này các giai đoạn 1999 – 2002 và
2003 – 2007)
Kiên quyết xử lý các hành vi cố tình vi phạm, t uỳ theo tính chất mức độ của hành
vi vi phạm mà có thể bị xử lý bằng các biện pháp tương ứng
Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính: quy định xử phạt hành chính về bìnhđẳng giới, trong đó xử phạt đối với hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ và trẻ em gái ;quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp quy định phạt tiền ở mức cao đối vớicác hành vi môi giới kết hôn bất hợp pháp, lợi dụng việc đăng ký kết hôn nhằm mụcđích trục lợi, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động; quy định xử phạt vi phạm hànhchính về dân số và trẻ em quy định xử phạt hành chính đối với hành vi lựa chọn giớitính thai nhi Các nghị định về xử phạt hành chính đã quy định cụ thể các hành vi đượccoi là có sự phân biệt đối xử với phụ nữ, mức xử phạt, các hình thức xử phạt và thẩmquyền xử phạt (Xem Phụ lục 1: Danh mục văn bản quy phạm pháp luật kèm theo)
Nghị định số 55/2009/NĐ-CP, đây là văn bản đặc thù, quy định cụ thể các hành
vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới trong 8 lĩnh vực: chính trị, kinh tế, lao động,giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa - thông tin - thể thao và giađình Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về bình đẳng giới phải chịu một trong haihình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền theo các mức từ thấp nhất là 200nghìn đồng đến cao nhất là 40 triệu đồng Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổxung như: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật,
Trang 18phương tiện được sử dụn g để vi phạm hành chính Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vi phạmhành chính còn có thể bị áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả như: buộcxin lỗi, cải chính công khai; buộc khôi phục lại quyền lợi hợp pháp đã bị xâm hại dohành vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới gây ra, buộc tháo dỡ hoặc xóa sản phẩmquảng cáo có nội dung cổ vũ, tuyên truyền, phổ biến về bất bình đẳng giới, định kiếngiới.
Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 4/02/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, tại Điều 4 Chương I Nghịđịnh này về “Khuyến khích các hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình”: Cơ sở hỗ trợnạn nhân bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình hoặc các môhình khác về phòng ngừa bạo lực g ia đình và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình ngoàicông lập được thành lập và có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của cơ quan nhànước có thẩm quyền thì được hưởng chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các cơ
sở thực hiện xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao,môi trường theo quy định hiện hành Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ kinh phí nghiêncứu, sáng tác, công bố, phổ biến đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị
và chất lượng cao về phòng, chống bạ o lực gia đình
Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình quy định các hành vi được coi làbạo lực gia đình Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chốngbạo lực gia đình, cá nhân, tổ chức vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặcphạt tiền Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình cóthể bị phạt tiền ở mức cao nhất là 30 triệu đồng Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cánhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt
bổ sung như: Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, Chứng chỉ hànhnghề; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Ngoài cáchình thức xử phạt trên, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng mộthoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả, đó là: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã
bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; buộc thực hiện các biện pháp khắc ph ục tình
Trang 19trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra; buộc tiêuhủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độchại; buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu.
Việc tăng cường các biện pháp xử phạt hành chính chuyên biệt như trên đã gópphần truyền thông nâng cao nhận thức của người dân, đồng thời răn đe, ngăn ngừa kịpthời các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới Với việc duy trì cácbiện pháp tố tụng và tăng cường các biện pháp hành chính, nhiều vụ việc vi phạm pháppháp luật bình đẳng giới, bạo lực gia đình đã được các cơ quan chức năng xem xét xử lýcông minh
Biện pháp xử lý hình sự là biện pháp mạnh mẽ, Nhà nước áp dụng xử lý các hành
vi xâm hại các quyền bình đẳng của phụ nữ, bạo lực gia đình, xâm phạm vào các quan
hệ mà pháp luật hình sự điều chỉnh Đây là hình thức xử lý nghiêm khắc nhất để trừngtrị các hành vi vi phạm quyền của phụ nữ
sự chia sẻ trách nhiệm giữa nam giới và phụ nữ trong công việc gia đình và tham giacác hoạt động xã hội
Cán bộ một số cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp (Tòa án, Việnkiểm) khi xử lý vụ việc còn chưa quan tâm nhiều đến việc áp dụng các quy định củapháp luật bình đẳng giới
Để từng bước khắc phục những tồn tại trên, Nhà nước đang tăng cường các biệnpháp như đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới vàCông ước CEDAW; tổ chức tập huấn kiến thức giới và pháp luật bình đẳng giới cho độingũ cán bộ của các cơ quan, tổ chức; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát
Trang 20tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng gi ới và vì sự tiến bộ của phụ nữ; Áp dụngnhiều biện pháp linh hoạt điều hành nền kinh tế, tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổnđịnh đời sống và sản xuất, mở rộng chính sách an sinh xã hội , trong đó có vấn đề bìnhđẳng giới.
- Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các cơ quan nhà nước và quan tâmphát triển đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ các cấp
- Tăng cường các quy định pháp luật chi tiết về trách nhiệm pháp lý dân sự, hànhchính, hình sự để ngăn chặn, xử lý các hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ và bình đẳnggiới
- Tăng cơ hội thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của phụ nữ và nam giới khi cácquyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm, đặc biệt khi vi phạm dựa trên cơ sởphân biệt đối xử về giới tính
- Khuyến khích duy trì phong tục, tập quán tốt đẹp của các dân tộc, loại bỏ cácphong tục, tập quán lạc hậu, cản trở mục tiêu bình đẳng giới như đa thê, tục cướp vợ,tục nối dây (vợ goá, chồng goá phải lấy anh em trai hoặc chị em gái của người chồng,người vợ đã mất)…
- Trong những năm qua, Việt Nam tiếp tục chú trọng hoàn thiện các quy địnhpháp luật về cơ chế bảo vệ quyền phụ nữ và bình đẳng giới bằng hệ thống cơ quan điềutra, truy tố, xét xử và triển khai các chương trình, dự án đào tạo, bồi dưỡng, biên soạntài liệu, cẩm nang về bình đẳng giới, CEDAW và phòng chống bạo lực gia đình dànhcho Thẩm phán, Điều tra viên, Kiểm sát viên Đồng thời, phối hợp với một số quốc gia
tổ chức tham quan, tìm hiểu thực tế việc bảo đảm nhân quyền nói chung và quyền củaphụ nữ nói riêng thông qua hệ thống các cơ quan xét xử, trên cơ sở đó nghiên cứu, vậndụng phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam
Phương hướng trong thời gian tới: Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai
đoạn 2011-2020 đã đưa ra chỉ tiêu cụ thể tại Mục tiêu 6: Bảo đảm bình đẳng giới trongđời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới.: Chỉ tiêu 1: Rút ngắnkhoảng cách về thời gian tham gia công việc gia đình của nữ so với nam xuống 2 lần
Trang 21vào năm 2015 và xuống 1,5 lần vào năm 2020 Chỉ tiêu 2: Đến năm 2015 đạt 40% vàđến năm 2020 đạt 50% số nạn nhân của bạo lực gia đình được phát hiện được tư vấn vềpháp lý và sức khỏe, được hỗ trợ và chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lựcgia đình Đến năm 2015 đạt 70% và đến năm 2020 đạt 85% số người gây bạo lực giađình được phát hiện được tư vấn tại các cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình.
ĐIỀU 3 Bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ 3.1 Các chủ trương, pháp luật và chính sách
Từ năm 2004 đến nay, kế thừa các quy định của hệ thống pháp luât, chính sáchhiện hành, các quy đị nh bảo đảm sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ trên tất cả các lĩnhvực đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện ở tầm cao mới, rất nhiều văn bảncủa Đảng và các tổ chức chính trị- xã hội, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đãban hành, quy định trực tiếp việc bảo đảm quyền bình đẳng và lợi ích hợp pháp của phụ
nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vấn đề bình đẳng giới trong hệ thống phápluật nói chung và pháp luật về bình đẳng giới nói riêng ngày càng được hoàn thiện,đồng bộ, từng bước hài hoà với pháp luật quốc tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh củaViệt Nam, đó là các văn bản chính sau đây:
- Văn kiện Đại hội Đảng X năm 2006 tiếp tục khẳng định “Chăm lo công tác phụ
nữ và vấn đề bình đẳng giới, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thầncủa phụ nữ Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người laođộng, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ thamgia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý cáccấp”
- Luật Bình đẳng giới năm 2006 là một đạo luật đầu tiên ở Việt Nam điều chỉnhtập trung nhất các chế định về bình đẳng giới, tạo cơ sở pháp lý thực hiện, thúc đẩybình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ Với các nguyên tắc bình đẳ ng giới được xácđịnh cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ, văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao, gia đình và các biện pháp bảo đảm
Trang 22bình đẳng giới, Luật Bình đẳng giới đã đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi thực tế, chuyển từcách tiếp cận “phụ nữ trong phát triển” sang “giới và phát triển”.
- Chỉ thị số 10/2007/TTg ngày 3/5/200 của Thủ tướng Chính phủ về việc triểnkhai thi hành Luật Bình đẳng giới: quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chứctrong việc tổ chức thi hành Luật bình đẳng giới, các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ: ràsoát các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan, ban hành văn bản hướng dẫn thihành luật, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn bị các điều ki ện
để thực hiện Luật, hoạt động quản lý Nhà nước, tổ chức thực hiện Luật, thanh tra, kiểmtra và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
- Chính phủ ban hành 3 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật: Nghị định70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bìnhđẳng giới; Nghị định 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 về Các biện pháp bảo đảm bìnhđẳng giới; Nghị định 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 về Quy định xử phạt vi phạmhành chính về bình đẳng giới
Sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn,thi hành đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, là công cụ pháp
lý hữu hiệu thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phấn đấu thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam
- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và các văn bản hướng dẫn thihành ra đời ngày càng thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc đảm bảoquyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới trong gia đình
- Thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị BCH TW Đảng đã banhành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27-4-2007 về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữđược nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm,được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiềuhơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã
Trang 23hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng
giới tiến bộ nhất của khu vực Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hiệu quả quản
lý của các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương đối với công tácphụ nữ, thực hiện bình đẳng giới nhằm đạt được các mục tiêu về công tác phụ nữ nhưNghị quyết số 11 của Bộ Chính trị đã đề cập, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số57/NQ-CP ngày 1/12/2009 về Chương trình hành động giai đoạn đến năm 2020 thựchiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị
- Nghị định số 19/2003/NĐ-CP ngày 07/3/2003 của Chính phủ quy định tráchnhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cáccấp trong việc phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp Hội phụ nữ tham gia vàocác hoạt động quản lý Nhà nước theo quy định của pháp luật Hiện nay Hội LHPN VNđang phối hợp với Bộ Nội vụ đánh giá 5 năm thực hiện Nghị định số 19/2003/NĐ-CPngày 07/3/2003 của Chính phủ và soạn thảo Nghị định thay thế Nghị định này
- Thông tư số 191/2009/TT-BTC ngày 01 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn quản lý
và sử dụng kinh phí hoạt động bình đẳng giới và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ
nữ Việc ban hành Thông tư đã đáp ứng kịp thời yêu cầu của Luật Bình đẳng giới trongviệc bảo đảm nguồn lực tài chính cho hoạt động bình đẳng giới
- Quyết định số 1855/QĐ-TTg ngày 11/11/2009 về việc thành lập, kiện toàn Ban
Vì sự tiến bộ của phụ nữ ở Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện
- Tiếp tục triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ ViệtNam đến năm 2010, ngày 08/9/2006, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ ViệtNam đã thông qua Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam giai đoạn
2006 - 2010 - giai đoạn II của Chiến lược quốc gia 10 năm VSTBPN Việt Nam vớimục tiêu tổng quát: “Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của phụ
nữ Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vaitrò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”
Kế hoạch này là bộ phận cấu thành của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Tới nay hầu hết các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành
Trang 24Quy chế hoạt động của Ban VSTBPN nhằm thống nhất lề lối làm việc và phân côngtrách nhiệm của các thành viên, đặc biệt 29,3% tỉnh, thành phố và 15,3% Bộ, ngành đãban hành Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong thực hiện Chiếnlược và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến 2010.
- Việt Nam đã nỗ lực tiến hành lồng ghép yếu tố giới trong các văn bản quyphạm pháp luật: Bộ Luật dân sự, Bộ Luật Lao động, Bộ Luật Hình sự, Luật Hôn nhân
và Gia đình, Luật Cán bộ, công chức, Luật Đất đai, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Ngườicao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật Viên chức, Luật thi hành án hình sự, Luật Trợ giúppháp lý
- Chính phủ cũng tích cực triển khai thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc giađến năm 2010 góp phần “tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới trong phát triển kinh tế - xãhội và phát triển nguồn nhân lực”, cụ thể như:
- Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định
số 20/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ ) với các mục tiêu cụthể đến năm 2010 phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng thu nhập của nhóm hộ nghèo vàgiảm số lượng xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo Chương trình
đã tập trung vào các đối tượng là người nghèo, hộ nghèo, xã đặc biệt khó khăn, xãnghèo; ưu tiên đối tượng hộ nghèo mà chủ hộ là phụ nữ
- Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến nă m 2010 (Quyết định số101/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ) đã có những giải phápquan tâm đến phụ nữ, đặc biệt là nữ lao động ở khu vực nông thôn
- Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn
2006 - 2010 (Quyết định số 170/2007/QĐ-TTg ngày 08/11/2007 của Thủ tướng Chínhphủ) với 6 dự án chủ yếu của chương trình tác động trực tiếp và gián tiếp đến cả vợ vàchồng nhằm thực hiện mục tiêu mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có một hoặchai con; góp phần nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ và tinh thần,đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihóa và sự phát triển bền vững của đất nước
Trang 25- Chương trình Mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo đến năm 2010 (Quyết định
số 07/2008/QĐ-TTg ngày 10/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ) đã có một trong nhữngtrọng tâm là hỗ trợ học bổng, học phẩm tối thiểu cho học sinh dân tộc ở các trường phổthông dân tộc bán trú, học sinh dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, học sinh cư trútại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; và tăng cường năng lực dạy nghề, hỗ trợdạy nghề trình độ sơ cấp và dạy nghề thường xuyên cho đối tượng là lao động nôngthôn, thanh niên dân tộc thiểu số và người tàn tật Trong quá trình t riển khai thực hiệnChương trình, các đối tượng được hưởng quyền lợi như nhau, nhưng đối tượng nữ đượcđặc biệt quan tâm để giảm thiểu những trở ngại vì lý do giới tính gây ra
Năm 2010 cũng là năm Việt Nam tiến hành đánh giá tổng kết việc thực hiệnChiến lược, Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 Đếnnay, nhiều mục tiêu, chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược, Kế hoạch hành động vì sự tiến bộcủa phụ nữ đã đạt, vượt kế hoạch đề ra
Chiến lược trên đã được thay thế bởi Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giaiđoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24/12/2010
3.2 Phát triển các tổ chức và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ
Trong thời gian qua, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật phát triểncác tổ chức và hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ, trên cơ sở đó các cơ quan, tổ chứctừng củng cố và bước hoàn thiện, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác vì sự tiến bộ
của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Thực hiện Luật bình đẳng giới, Việt Nam đã có cơ quan độc lập, giúp Chính phủquản lý nhà nước về bình đẳng giới , đó là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đượcgiao nhiệm vụ là cơ quan chủ trì giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về bình đẳng giới trên ph ạm vi toàn quốc; Bộ, cơ quan ngang Bộ phối hợp với BộLĐTBXH thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong phạm vi Bộ
Trang 26ngành; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bình đẳnggiới theo phân cấp.
Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (UBQG)
UBQG tiếp tục được củng cố và kiện toàn tập trung vào chức năng phối hợp liênngành, giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, phối hợp giải quyết những vấn đề liênngành liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ trong phạm vi cả nước Bộ trưởng Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội là Chủ tịch UBQG Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam là Phó Chủ tịch UBQG Đến nay đã có 39 Bộ, ngành, cơ quan Trung ương và63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Ban vì sự t iến bộ của phụ nữ(VSTBPN) Số đơn vị bố trí cán bộ chuyên trách cho Ban VSTBPN ngày càng tăngtrong thời gian qua Ngày 11/11/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số1855/QĐ-TTg về việc thành lập, kiện toàn Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ ở Uỷ ban nhân dâncấp tỉnh và huyện Tuy nhiên tới nay Ban VSTBPN mới được thành lập và hoạt độn gchủ yếu ở cấp TW và tỉnh
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và tạođiều kiện mọi mặt để thực hiện có hiệu quả phong trào phụ nữ và chương trình hoạtđộng trọng tâm vì sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ Hội được thành lập ở các cấp từtrung ương đến cơ sở Nhà nước giao cho Hội nhiều trọng trách nhằm đảm bảo sự tiến
bộ của phụ nữ Việt Nam Điều 29 và Điều 30 củ a Luật Bình đẳng giới quy định HộiLiên hiệp Phụ nữ Việt Nam có trách nhiệm: Tham gia xây dựng chính sách, pháp luật
và tham gia quản lý nhà nước về bình đẳng giới theo quy định của pháp luật; Bảo đảmbình đẳng giới trong tổ chức; Tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật bình đẳnggiới; Tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên, đoàn viên thực hiện bình đẳng giới; Tổchức các hoạt động hỗ trợ phụ nữ góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; Phối hợpvới các cơ quan, tổ chức có liên quan bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ đủ tiêu chuẩn ứng cửđại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; phụ nữ đủ tiêu chuẩn tham gia quản
lý, lãnh đạo các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp; Thực hiện chức năng đại diện,
Trang 27bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và tr ẻ em gái theo quy định của pháp luật;Thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.
Bên cạnh đó, Nhóm nữ nghị sĩ Quốc hội Việt Nam được thành lập từ tháng5/2008, đã hoạt động rất tích cực Đây là diễn đàn để các nữ đại biểu Quốc hội có những
ý kiến đóng góp thiết thực và hiệu quả vào các dự án Luật dưới góc độ giới và bảo đảmquyền của phụ nữ Từ khi được thành lập đến nay, Nhóm nữ nghị sĩ Quốc hội đã phốihợp với Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội -cơ quan được giao nhiệm vụ thẩmtra việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật - tổchức nhiều diễn về bình đẳng giới và lồng ghép giới vào chính sách, pháp luật chuyênngành
Hội đồng doanh nhân nữ thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Vi ệt Namtiếp tục duy trì các hoạt động nhằm hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi của các nữ doanh nhân.Năm 2010, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phối hợp với HộiLHPN Việt Nam tổ chức lễ trao Giải thưởng Bông hồng Vàng cho 100 nữ doanh nhân
có thành tích xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh và đóng góp tích cực vào công cuộcphát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước
Ban Nữ công của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tiếp tục hoạt động tích cựcgóp phần nâng cao nhận thức giới, thúc đẩy thực hiện hiệu quả bình đẳng giới, giảm sựcách biệt giữa công nhân, viên chức, lao động trong các lĩnh vực: việc làm, tiền lương,thời giờ làm việc, điều kiện lao động, BHXH, trong đó đặc biệt là chế độ thai sản và chế
độ chăm sóc bà mẹ, trẻ em
Ngoài các cơ quan, tổ chức trên còn có Ban công tác phụ nữ Công an của BộCông an và Ban công tác phụ nữ quân đội của Bộ Quốc phòng
Các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ
Việt Nam tiếp tục phát động phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sángtạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” Đến nay đã có trên 2,3 triệu phụ nữ đăng ký thực
Trang 28hiện phong trào Trong năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tuyêntruyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước và Đề án “Truyền thông giáo dục 5 triệu bà mẹ về nuôi dạycon” Các đề án này nhằm phát huy và xây dựng phẩm chất đạo đức tốt đẹp của phụ nữViệt Nam; cung cấp kiến thức, kỹ năng nuôi dạy trẻ nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng,bệnh tật, tử vong ở trẻ em; hạn chế tình trạng trẻ em ở độ tuổi vị thành niên vi phạm đạođức, vi phạm pháp luật, mắc tệ nạn xã hội góp phần xây dựng gia đình “no ấm, bìnhđẳng, tiến bộ và hạnh phúc”.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Hỗ t rợ Dạy nghề và Tạo việc làm choPhụ nữ giai đoạn 2009 – 2015”, Đề án sẽ mang lại nhiều hơn các cơ hội đào tạo nghề vàviệc làm cho phụ nữ cả nước Các chương trình tín dụng, tiết kiệm dành cho phụ nữnghèo vẫn ngày càng phát triển, hiệu quả và được ghi nhận, đánh giá cao Hiện naynhằm giúp phụ nữ tiếp cận với nguồn vốn để phát triển sản xuất và kinh doanh, ViệtNam đang thực hiện Quỹ Uỷ thác và tín chấp Tính đến năm 2010, qua hình thức uỷthác với ngân hàng Chính sách Xã hội, gần 3 triệu hộ được vay vốn v ới dư nợ vốn hơn
30 nghìn tỷ đồng; gần 0,3 triệu phụ nữ được vay vốn từ Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn với tổng số vốn vay khoảng 3 ngàn tỷ đồng Tháng 8/2010, Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trao Giấy phép thành lập và hoạt động cho Q uỹTình thương trở thành “Tổ chức Tài chính quy mô nhỏ Tình thương”, góp phần nângcao vị thế và sự tham gia của Quỹ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy sựphát triển của ngành tài chính vi mô của Việt Nam Kể từ năm 2000 đến tháng 8/2010,Quỹ Tình thương đã cho 275.000 lượt phụ nữ vay vốn với số tiền là 1.433 tỷ đồng Việc
hỗ trợ tiếp cận vay vốn và trang bị các kiến thức phát triển doanh nghiệp cho phụ nữ đãgóp phần quan trọng trong việc nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ
Đối với phụ nữ là chủ hoặc quản lý các doanh nghiệp, Việt Nam đang triển khaithực hiện định hướng Hỗ trợ Phát triển Doanh nghiệp nữ giai đoạn 2009-2012 với một
số lĩnh vực hỗ trợ như: tác động môi trường luật pháp, chính sách; đào tạo, bồi dưỡngkiến thức, kỹ năng quản lý, điều hành doanh nghiệp & tư vấn cho doanh nhân nữ; hỗ trợ
Trang 29tiếp cận tín dụng; hỗ trợ tiếp cận thị trường; cung cấp thông tin; phát triển mạng lướidoanh nhân nữ; hỗ trợ xã hội Câu lạc bộ “Doanh nghiệp nữ” đã được thành lập ở cáctỉnh, thành của cả nước Tới nay đã có 39 CLB cấp tỉnh, 400 CLB cấp huyện và 4 tỉnh
đã thành lập Hội Doanh nhân nữ
Cuộc vận động ủng hộ xây dựng “Mái ấm tình thương” cho phụ nữ nghèo, phụ
nữ đơn thân, phụ nữ khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ năm 2008 đã thu hútđược sự ủng hộ nhiệt tình của các tổ chức, đơn vị, các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp,
cá nhân trong nước và quốc tế, các tầng lớp cán bộ, hội viên, phụ nữ cả nước Tính đếnhết tháng 8/2010, số tiền vận động được là 135.628.560.000 đồng và đã xây mới 7.525
và sửa chữa 1.260 ngôi nhà cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn trên khắp cả nước
Hiện nay, Các Quỹ Giải thưởng Kovalepxkaia và Giải thưởng Phụ nữ Việt Namvới ý nghĩa tôn vinh và ghi nhận công lao đóng góp của phụ nữ Việt Nam có thành tíchxuất sắc trên mọi lĩnh vực tiếp tục hoạt động tích cực Sau 25 năm thành lập, QuỹKovalepxcaia đã trao giải cho 34 cá nhân và 15 tập thể các nhà khoa học nữ xuất sắc vàQuỹ Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam đã trao giải cho 44 cá nhân và 22 tập thể nữ có thànhtích xuất sắc trên mọi lĩnh vực kể từ khi thành lập năm 2003 Trong những năm qua,Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã cùng với Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam đã tổ chức trao giải và cúp “Bông hồng vàng” cho 144 doanh nhân nữ tiêu biểuxuất sắc trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Trung tâm Phụ nữ và Phát triển sau khi được xây dựng đã có nhiều hoạt động hỗtrợ phụ nữ, đặc biệt phụ nữ yếu thế, thiệt thòi thông qua mô hình Ngôi nhà Bình Yên,nơi tạm lánh cho phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của bạo hành và bị buôn bán Các d ịch
vụ Trung tâm hỗ trợ cho các phụ nữ yếu thế là chăm sóc y tế, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ pháp
lý, tư vấn nghề và học nghề, hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng, giới thiệu tới các hình thứctrợ giúp khác Các hoạt động của Trung tâm đã giúp trang bị các kiến thức, kỹ năngsống, giúp phụ nữ tự tin, dễ hoà nhập với cộng đồng
Thực hiện Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 04 năm 2010 của Chínhphủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước đối với hộ i (thay thế Nghị định
Trang 3088/2003/NĐ-CP: rất nhiều tổ chúc phi chính phủ được thành lập ở các tỉnh, thành phố.Các tổ chức này đã tham gia tích cực vào các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ và vấn
đề bình đẳng giới, bạo lực gia đình , góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền phápluật, chính sách của Nhà nước tới toàn dân, phản ánh kịp thời ti ếng nói của phụ nữ tớicác cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, góp phần giải quyết những khó khănvướng mắc của chị em phụ nữ ngoài ra các tổ chức phi chính phủ tập hợp, phản ánhnhững nhu cầu và đòi hỏi từ thực tiễn, phát hiện nhũng mâu thuẫn, bất cập trong chínhsách, pháp luật, và những yếu kém trong việc thực hiện, từ đó giúp các nhà hoạch địnhchính sách nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật,chính sách và cải tiến các biện pháp và tổ chúc thực hiện pháp luật ngày càng hiệu lực
và hiệu quả, kịp thời xử ly nhũng hành vi vi phạm quyền của phụ nữ và bình đẳng giới
3.3 Lồng ghép giới vào công tác hoạch định và thực thi chính sách
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng pháp luật được quy định trongLuật Bình đẳng giới năm 2006 và cụ thể hóa tại Chương III, Nghị định số 48/2009/NĐ-
CP về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới
Theo quy định của pháp luật bình đẳng giới, khái niệm “lồng ghép vấn đề bìnhđẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” được hiểu là: biện pháp nhằmthực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giớicủa văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hộiđược văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh (khoản 7 Điều 5) Theo Nghị định số48/2009/NĐ-CP, việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới được yêu cầu áp dụng đối vớicác dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được xác định có nội dung liên quan đến bìnhđẳng giới hoặc có vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới trong phạm vi điềuchỉnh của văn bản Nghị định này cũng quy định các nội dung lồng ghép vấn đề bìnhđẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật gồm: 1) Xác định nội dung liênquan đến vấn đề bình đẳng giới hoặc vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử vềgiới; 2) Quy định các biện pháp cần thiết để thực hiện bình đẳng giới hoặc để giải quyết
Trang 31vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới; dự báo tác động của các quy định đóđối với nam và nữ sau khi được ban hành; 3) Xác định nguồn nhân lực, tài chính cầnthiết để triển khai các biện pháp thực hiện bình đẳng giới hoặc để giải quyết vấn đề bấtbình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạmpháp luật có trách nhiệm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trình xây dựng vănbản quy phạm pháp luật; cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệmphối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá việc lồng ghép vấn
đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Chế định lồng ghép vấn
đề bình đẳng giới trong xâ y dựng chính sách, pháp luật được coi là công cụ pháp lý hữuhiệu nhằm đảm bảo yếu tố giới được đánh giá, xem xét và lồng ghép trong quá trình xâydựng, sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật
Để thực hiện quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng chínhsách, pháp luật, đồng thời để thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 57/NQ-
CP về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thựchiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tácphụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Nghị quyết số57/NQ-CP), các cơ quan có thẩm quyền đã và đang nghiên cứu ban hành các văn bảnhướng dẫn quy định này, cụ thể như sau:
- Bộ Tư pháp đã đưa nội dung đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vàcác tiêu chí để đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào trong các báo cáothẩm định các văn bản quy phạm pháp luật
- Từ kinh nghiệm thành công của việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong Kếhoạch phát triển - kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có vănbản hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011 -
2015, trong đó có mục riêng về “thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ”.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũ ng đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số pháttriển giới của quốc gia, tiêu chí phân loại giới tính trong số liệu thống kê nhà nước để làm
cơ sở cho việc hoạch định chính sách có nhạy cảm giới
Trang 32- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UBQG nghiên cứu chỉnh sửacuốn Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách phù hợp vớiquy định mới của Luật Bình đẳng giới và tình hình thực tiễn ở Việt Nam; tổ chức nhiềucuộc tập huấn về giới và kỹ năng lồng ghép giới cho cán bộ làm tác bình đẳng giới ở các
Bộ ngành, địa phương Riêng trong năm 2010, Bộ LĐTBXH đã tổ chức được 01 lớpđào tạo cho 30 giảng viên nguồn về lồng ghép giới ở cấp TW; 05 lớp tập huấn lồngghép giới cho khoảng hơn 200 đại biểu là cán bộ tham gia hoạch định v à thực thi chínhsách ở các Bộ ngành, địa phương
- Mạng lưới cán bộ tham mưu, tư vấn về giới do UBQG thành lập từ năm 2003vẫn thường xuyên duy trì, phát huy vai trò hoạt động Hoạt động của Mạng lưới đã tạonên diễn đàn để các cán bộ làm công tác bình đ ẳng giới của các bộ ngành trao đổi, chia
sẻ kinh nghiệm trong triển khai công tác bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ cũng nhưtham vấn dưới góc độ giới vào các chương trình, chính sách, pháp luật quốc gia
- Nhiều Bộ ngành, tỉnh thành phố đã quan tâm lồn g ghép yếu tố giới vào Chiếnlược, Kế hoạch phát triển của Bộ ngành, địa phương Đặc biệt, một số Bộ ngành, cơ sởđào tạo ở cấp quốc gia đã xây dựng và triển khai giảng dạy các chuyên đề về giới vàlồng ghép giới như: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, Bộ Quốcphòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Học viện Chính trị-Hành chính quốcgia Hồ Chí Minh, Học viện thanh thiếu niên, Đại học quốc gia Hà Nội, Trường cán bộphụ nữ Trung ương …
Với những nỗ lực nêu trên của các cơ quan chức năn g, đội ngũ cán bộ làm côngtác bình đẳng giới bước đầu đã có thể áp dụng những công cụ, kiến thức, kỹ năng vềlồng ghép giới trong quá trình triển khai nhiệm vụ chuyên môn có trách nhiệm giới.Mấy năm gần đây các Bộ, ngành, địa phương đã thực hiện khá nghi êm túc quy định vềlồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật Đặcbiệt, một số địa phương đã chỉ đạo việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trìnhxây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước ở cơ sở, góp phần tích cực xóa bỏ dầncác phong tục, tập quán lạc hậu và tư tưởng trọng nam hơn nữ
Trang 33Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại, yếu kém cần khắc phục: cơ quan chủ trì soạnthảo chưa đánh giá đầy đủ tác động, cũng như xác định vấn đề giới và các biện phápgiải quyết trong văn bản pháp luật cần điều chỉnh; Chưa dự báo đầy đủ, toàn diện tácđộng khi văn bản được ban hành và nguồn lực để thực hiện và giải quyết các vấn đề giớiphát sinh Chưa có cơ chế quy định rõ về trách nhiệm các cơ quan chủ trì phải lồngghép, cũng như cơ chế kiểm tra, giám sát để thực hiện đúng nguyên tắc “Bảo đảm lồngghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật”.
3.4 Công tác nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới
Nghị quyết số 57/NQ-CP năm 2009 đã xác định nghiên cứu khoa học về bìnhđẳng giới là một trong nội dung quan trọng trong giai đoạn từ năm 2010-2020:
- Bộ Khoa học và Công nghệ hàng năm có trách nhiệm tăng cường các côngtrình nghiên cứu khoa học liên quan đến bình đẳng giới và công tác phụ nữ;
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam có trách nhiệm xây dựng chương trình nghiêncứu về bình đẳng giới trong các lĩnh vực, trước mắt tập trung nghiên cứu các trở ngạiliên quan đến sự phát triển của phụ nữ
- Trung tâm Nghiên cứu lao động nữ và Giới thuộc Viện Khoa học lao động và xãhội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là đầu mối của ngành nghiên cứu vấn đềphụ nữ và bình đẳng giới phục vụ chức năng quản lý nhà nước cuả ngành
- Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ thuộc Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương, là đầumối nghiên cứu của phụ nữ của Hội, giúp hoạt động nghiên cứu khoa học của Hội phụ
nữ dần đi vào nề nếp, mang tính chuyên nghiệp ngày càng cao
- Các cơ quan nghiên cứu của mỗi Bộ, ngành cũng đã quan tâm lồng ghép vấn đềgiới vào trong các nghiên cứu chuyên môn của ngành mìn h Kết quả nghiên cứu được
sử dụng để tham khảo trong quá trình xây dựng và hoạch định chính sách, pháp luật
Kể từ năm 2007 đến nay khá nhiều nghiên cứu dưới góc độ giới đã được thựchiện và công bố để phục vụ cho việc hoạch định chính sách như: 1) Đánh giá việc thựchiện Công ước về Phân biệt đối xử trong việc làm , nghề nghiệp và trả công bình đẳnggiữa lao động nam và lao động nữ cho công việc có giá trị ngang nhau; (2) Chính sách
Trang 34pháp luật lao động nhìn dưới góc độ bình đẳng giới ; 3) Nghiên cứu về tác động kinh tế
-xã hội của việc gia nhập WTO đến phụ nữ nông thôn Việt Nam; 4) Tuổi nghỉ hưu củalao động nữ ở Việt Nam: Bình đẳng giới trong chính sách bảo hiểm xã hội; 5) Giới vàbiên đổi khí hậu; 6) Bạo lực gia đình; 7) Điều tra gia đình Việt Nam …Đặc biệt, năm
2010 là năm bản lề xây dựng các Chiến lược, Kế hoạch phát triển cho giai đoạn mới củamỗi Bộ ngành, địa phương, vì vậy, hầu hết các Bộ ngành, địa phương đều đã tổ chứccác nghiên cứu đánh giá thực trạng cũng như việc thực hiện các chính sách chuyênngành, trong đó có xem xét dưới góc độ giới Các nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho việcxây dựng và ban hành các chiến lược, kế hoạch phát triển cho giai đoạn mới của mỗi Bộngành, địa phương
Các Trung tâm nghiên cứu và đào tạo về giới tiếp tục hoạt động, đã và đang tậ ptrung nghiên cứu về vai trò của nam và nữ trong sản xuất; vai trò và địa vị của phụ nữtrong gia đình; sự biến đổi vai trò giới dưới tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội;quá trình đô thị hoá và chuyển dịch lao động từ khu vực nông thôn đến đô thị; bạo lựctrong gia đình; buôn bán phụ nữ; cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác trợ giúp pháp lýcho phụ nữ Một số kết quả nghiên cứu nói trên đã được sử dụng trong quá trình xâydựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phụ nữ và bình đẳnggiới
Khó khăn, hạn chế và hướng khắc phục
- Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở Việt Nam mới hìnhthành sau khi có Nghị định số 186/2007/NĐ ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động-Thươngbinh và Xã hội, quản lý nhà nước được giao cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội,
do đó đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới mới được hình thành, nên thiếu về sốlượng, hạn chế kiến thức chuyên môn về giới, kỹ năng lồng ghép giới để đáp ứng yêucầu nhiệm vụ được giao, nhất là ở địa phương cơ sở Hầu hết đội ngũ cán bộ kiêmnhiệm, mới được tiếp cận với kiến thức giới nên còn lúng túng trong công tác thammưu, đề xuất và triển khai nhiệm vụ quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Trang 35- Một số Bộ, ngành, địa phương chưa bố trí nguồn lực phù hợp cho hoạt độngnày.
- Việc thực hiện chế định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quyphạm pháp luật cũng còn nhiều khó khăn, thách thức như: Hầu hết các cán bộ làm côngtác hoạch định chính sách chưa được trang bị kiến thức giới nên thiếu nhạy cảm giớingay từ quá trình xác định vấn đề tới việc xác định giải pháp chính sách có nhạy cảmgiới; Công tác thống kê số liệu có tách biệt giới mặc dù đã được cải thiện nhưng chưađược thực hiện một cách đầy đủ, đặc biệt là còn thiếu số liệu tách biệt giới trong cáclĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa, gia đình và thể thao; thiếu đội ngũ chuyên giagiỏi về giới trong từng lĩnh vực chuyên môn
- Công tác tuyên truyền pháp luật về bình đẳng giới chưa được triển khai đồng
bộ, rộng khắp Định kiến giới còn nặng nề, nhận thức về giới của một số cấp uỷ, chínhquyền, của xã hội chưa đầy đủ
- Nhận thức và năng lực của đội ngũ cán bộ trong tham gia xây dựng pháp luật,chính sách đảm bảo bình đẳng giới còn nhiều hạn chế
- Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giớicòn chưa thường xuyên, quyết liệt, hiệu quả không cao
- Tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương xứng với ti ềmnăng và đóng góp của phụ nữ Trình độ năng lực của phụ nữ còn nhiều hạn chế
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ nữ còn nhiều bất cập, chưa thỏađáng
Hướng khắc phục:
- Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 -2020: Hoàn thiện tổ chức
bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới và nâng cao năng lực cho độingũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới từ trung ương đến địa phương; nâng cao nănglực về giới cho đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách; hình thành bộ chỉ số giám sát vềbình đẳng giới; Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳnggiới và tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về bình đẳnggiới
Trang 36- Tiếp tục xây dựng và bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng giới,
tổ chức tuyên truyền bình đẳng giới, tổ chức thực hiện tốt các quy định để làm chuyểnbiến tình hình, đưa các quy định vào thực tế cuộc sống
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với cáchoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới; thực hiện có hiệu quả lồng ghépgiới trong xây dựng luật pháp; đầu tư nguồn lực cho hoạt động bình đẳng giới; Hoànthiện bộ chỉ số giám sát quốc gia về thực hiện bình đẳng giới
Chiến lược quố c gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra các chỉ tiêu
cụ thể tại Mục tiêu 7: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới: Chỉ tiêu1: Đến năm 2015 có 80% và đến năm 2020 có 100% dự thảo văn bản quy phạm phápluật được xác định có nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bất bìnhđẳng giới, phân biệt đối xử về giới được lồng ghép vấn đề bình đẳng giới - Chỉ tiêu 2:Đến năm 2015 và duy trì đến năm 2020 có 100% thành viên các Ban soạn thảo, Tổ biêntập xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được xác định có nội dung liên quanđến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới được tậphuấn kiến thức về giới, phân tích giới và lồng ghép giới Chỉ tiêu 3: Đến năm 2015 vàduy trì đến năm 2020 các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí đủ cán bộ làmcông tác bình đẳng giới; hình thành đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham giacông tác bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ Chỉ tiêu 4: Đến vào năm 2015 và duytrì đến năm 2020 có 100% cán bộ, công chức, viên chức làm công tác bình đẳng giới và
sự tiến bộ của phụ nữ ở các cấp, các ngành được tập huấn nghiệp vụ ít nhất một lần
ĐIỀU 4 Các biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng nam, nữ 4.1 Bổ sung một số biện pháp đặc biệt nhằm thúc đẩy bình đẳng nam, nữ
- Việt Nam đã quy định về khái niệm và nội dung của “các biện pháp thúc đẩybình đẳng giới” Quy định này được xây dựng trên cơ sở nội luật hóa quy định về “biệnpháp đặc biệt tạm thời” được nêu trong Công ước CEDAW và phù hợp với tì nh hìnhthực tiễn ở Việt Nam
Trang 37- Theo Luật Bình đẳng giới, “các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới” được hiểu làbiện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điềukiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc ápdụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này.Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trong một thời gi an nhất định vàchấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được (khoản 6 Điều 5) và “Biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới” (khoản 3 Điều 6).
Nghị định số 48/NĐ-CP về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới: Biện phápthúc đẩy bình đẳng giới bao gồm 5 nội dung sau: (1)Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảođảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; (2)Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực cho nữ hoặc nam để bảo đảm đạt đủ tiêuchuẩn chuyên môn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật; (3) Hỗ trợ, tạođiều kiện, cơ hội cho nữ hoặc nam để tăng cường sự chia sẻ giữa nữ và nam trong côngviệc gia đình và xã hội phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới; (4) Quy định tiêu chuẩn,điều kiện đặc thù cho nữ hoặc nam để thực hiện chính sách ưu tiên trong từng lĩnh vực
cụ thể; (5) Quy định nữ được quyền lựa chọn và việc ưu tiên nữ trong trường hợp nữ có
đủ điều kiện, tiêu chuẩn như nam để bảo đảm bình đẳng giới
Việt Nam đang thúc đẩy các cơ quan chức năng nghiên cứu xây dựng, trình banhành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định về biện pháp thúc đẩy bình đẳnggiới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo Trong đó, nổibật là các biện pháp như: quy đị nh tỷ lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồngnhân dân phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới, chậm nhất là sáu tháng trước ngày bầu
cử đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân; quy định tỷ lệ nữ thích đáng để
bổ nhiệm các chức danh trong các cơ quan nhà nước; quy định tỷ lệ nữ cán bộ lãnh đạochủ chốt trong các cơ quan, tổ chức có từ 30% lao động nữ trở lên phù hợp với mục tiêuquốc gia về bình đẳng giới; quy định tỷ lệ nam, nữ thích hợp, nữ được quyền lựa chọnhoặc ưu tiên nữ khi nữ đạt tiêu chuẩn như nam trong tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo,
Trang 38bồi dưỡng, bổ nhiệm; có quy định ưu đãi về thuế và tài chính cho doanh nghiệp sử dụngnhiều lao động nữ; Quy định tỷ lệ lao động nam, nữ được tuyển dụng phù hợp với từngloại lao động theo ngành, nghề; tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyênlương và phụ cấp khi vợ sinh con…
- Để giúp lao động nữ có cơ hội tiếp cận việc làm, và việc làm có chất lượng cao,năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việclàm giai đoạn 2010-2015" Lao động nữ thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi,người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người
bị thu hồi đất canh tác, lao động nữ bị mất việc làm trong các DN được hỗ trợ chi phíhọc nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 3triệu đồng/người/khóa học Ngoài ra, các đối tượng này còn được hỗ trợ tiền ăn với mức15.000đ/ngày thực học/người, hỗ trợ tiền đi lại…Những lao động nữ thuộc diện hộ cóthu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo sẽ được hỗ trợ chi phí học nghề ngắnhạn với mức tối đa 2,5 triệu đồng/người/khóa học; đối với lao động nữ khác thì mức hỗtrợ là 2 triệu đồng/người/khóa học
Được sự quan tâm của chính quyền và đoàn thể các cấp, nhiều biện pháp độngviên, khuyến khích khen thưởng phụ nữ bằng nhiều hình thức khác nhau đã được ápdụng
4.2 Một số biện pháp đặc biệt nhằm bảo vệ người mẹ.
Bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân, trong đó có ưu tiên cho bà mẹ và trẻ
em vẫn là chủ trương nhất quán của Việt Nam Các biện pháp đặc biệt nhằm bảo vệngười mẹ tiếp tục được thúc đẩy thực hiện Các Chiến lược như: Chiến lược chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010; Chiến lược quốc gia về chăm sócsức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2020; Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn2001-2010 và Chiến lược quốc gia về dân số; Chương trình hành động vi trẻ em 2001 -
2010 đã được triển khai có hiệu quả trên toàn quốc nhằm đảm bảo việc tiếp cận các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân, đặc biệt là phụ nữ và tr ẻ em
Trang 39- Đến năm 2015, phấn đấu đạt 5 triệu bà mẹ được bồi dưỡng các kiến thức vềchăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, sức khỏe và dinh dưỡng bà mẹ khi mang thai(Quyết định số 704/QĐ-TTg ngày 19/5/2010 về việc phê duyệt Đề án giáo dục 5 triệu
bà mẹ nuôi, dạy con tốt giai đoạn 2010 – 2015)
- Nâng cao sức khỏe bà mẹ, vào năm 2020 giảm 30% tỷ số tử vong mẹ so vớinăm 2010, thu hẹp đáng kể sự khác biệt về các chỉ báo sức khỏe bà mẹ giữa các vùng,miền; Tỷ lệ phụ nữ mang thai trong toàn quốc bị nhiễm HIV/AIDS giảm thấp hơn 0,2%(Chiến lược Dân số sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020; Chiến lược quốc gia vềbình đẳng giới giai đoạn 2011-2020)
- Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới ba mươi sáu tháng tuổi được hoãnhoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng b iện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trungtâm; phụ nữ có thai cũng được tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp quản
lý sau cai nghiện tại Trung tâm cho đến khi con đủ ba mươi sáu tháng tuổi (Điều 23, 24Nghị định số 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy về quản lý sau cai nghiện ma túy)
- Phụ nữ có thai được miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định á pdụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 34 Nghị định số66/2009/NĐ-CP ngày 01/8/2009 về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 của Chính phủ quy định việc áp dụng biện pháp xử
lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng)
4.3 Tình hình thực hiện và phương hướng trong thời gian tới
Một vấn đề nổi cộm trong thời gian gần đây có liên quan đến sức khoẻ bà mẹ nóiriêng và sức khoẻ sinh sản nói chung là tình trạng nạo phá thai của vị thành niên ngàycàng tăng ở mức báo động Việt Nam là một trong các nước có tỷ lệ phá thai cao, trong
đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên Đó là chưa kể tới rất nhiều ca nạo phá thai tạinhững cơ sở y tế tư nhân rất khó kiểm soát và thống kê được Điều tra quốc gia về vịthành niên và thanh niên Việt Nam năm 2010 cho thấy, khoảng 7,5% trong độ tuổi này
Trang 40có quan hệ tình dục trước hôn nhân và thiếu kiến thức về tình dục nên dẫn tới hậu quảphải nạo phá thai.
Hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tuy đã được củng cố trongthời gian qua nhưng mạng lưới chăm sóc sức k hỏe sinh sản ở các vùng miền núi, vùngsâu, vùng xa còn nhiều yếu kém, nhiều trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản tuyến tỉnhđược xây dựng nhưng đã xuống cấp Đối với khoa chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở tuyếnhuyện, nhiều nơi chưa được xây dựng hoàn chỉnh Ngoài điều kiện làm việc khó khănthì đội ngũ cán bộ nói chung ở tất cả các tuyến còn thiếu về số lượng, cơ cấu giữa cáccán bộ có trình độ đại học với cán bộ trung cấp và sơ cấp cũng còn bất hợp lý
Việt Nam đã và đang tích cực triển khai các biện pháp th úc đẩy bình đẳng giới vàchính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ để triển khai các quy định của pháp luật về bìnhđẳng giới, đồng thời để khắc phục những vấn đề còn tồn tại như đã nêu trong báo cáoghép 5&6, Việt Nam đã và đang triển khai các hoạt động sau:
- Bước đầu đã nghiên cứu điều chỉnh chính sách nghỉ hưu ở độ tuổi 60 cho một
bộ phận cán bộ nữ là Thứ trưởng và tương đương trở lên ngang bằng với nam giới Cácnhóm lao động nữ còn lại hiện vẫn đang hưởng chế độ nghỉ hưu sớm hơn nam giới 5năm Việt Nam cũng đang trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Bộ Luật Laođộng, Luật Bảo hiểm xã hội Để có những căn cứ đề xuất cho việc sửa đổi, bổ sung vàocác văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tiến hànhnghiên cứu về vấn đề “Tuổi nghỉ hưu của lao động nữ Việt Nam: Bình đẳng giới trongchính sách bảo hiểm xã hội”, trong đó có đề xuất những phương án cụ thể cho lộ trìnhđiều chỉnh tuổi về hưu của phụ nữ Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang trong quá trìnhxem xét, điều chỉnh quy định danh mục các ngành nghề cấm và hạn chế đối với laođộng nữ
- Để nâng cao chất lượng cán bộ nữ và tăng tỷ lệ nữ tham gia vào các vị trí quản
lý, lãnh đạo, Bộ Nội vụ hiện đang nghiên cứu xây dựng trình Chính phủ 03 đề án gồm:
Đề án Tỷ lệ nữ trong cơ cấu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đáp ứngmục tiêu bình đẳng giới; Đề án Hướng dẫn tổ chức thực hiện quy định về quy hoạch tạonguồn cán bộ nữ, quy định tỷ lệ nữ được bổ nhiệm vào các chức danh trong cơ quan nhà