Trước thực trạng này, cộng đồng quốc tế mà trung tâm là Liên hợp quốc đ7 có nhiều nỗ lực trong việc soạn thảo các văn bản pháp luật quốc tế nhằm thể chế hoá các quyền cơ bản của phụ nữ t
Trang 1ự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ
quyền con người nói chung và bảo vệ
quyền của phụ nữ nói riêng đang ngày càng
nhận được sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng
quốc tế Do nhiều nguyên nhân khách quan
và chủ quan mà ở các mức độ khác nhau, phụ
nữ đều chưa có được sự bình đẳng thực sự
Trong khi đó vai trò và những đóng góp lớn
lao cho gia đình và x7 hội của người phụ nữ là
không thể phủ nhận Trước thực trạng này,
cộng đồng quốc tế mà trung tâm là Liên hợp
quốc đ7 có nhiều nỗ lực trong việc soạn
thảo các văn bản pháp luật quốc tế nhằm
thể chế hoá các quyền cơ bản của phụ nữ
theo hướng bổ sung và phát triển với nội
dung mới đảm bảo tốt hơn các quyền này
Hiến chương Liên hợp quốc - văn bản
"khai sinh" ra tổ chức quốc tế lớn nhất hành
tinh đ7 khẳng định một trong những mục đích
của Liên hợp quốc là đạt được sự hợp tác
quốc tế trong việc thúc đẩy và khuyến khích
sự tôn trọng nhân quyền và các tự do cơ bản
cho tất cả mọi người không phân biệt chủng
tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo Trong
suốt gần 60 năm tồn tại và hoạt động, Liên
hợp quốc đ7 có sáng kiến và bảo trợ cho việc
kí kết nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền
cũng như trực tiếp thông qua một số văn bản
có ý nghĩa lớn lao đối với quá trình quốc tế
hoá vấn đề nhân quyền nói chung và vấn đề
quyền của phụ nữ nói riêng Điển hình là các
văn bản sau: Tuyên ngôn toàn thế giới về
nhân quyền năm 1948, Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982), Công ước về các quyền kinh tế, văn hoá, x7 hội năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982)
Một số tổ chức quốc tế chuyên môn thuộc
hệ thống Liên hợp quốc như Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức văn hoá, khoa học, giáo dục (UNESCO)… phù hợp với mục đích hoạt động của mình cũng thông qua các điều
ước quốc tế liên quan đến các quyền của phụ nữ trong một số lĩnh vực như: Công ước số 45
về sử dụng phụ nữ vào những công việc dưới mặt đất và trong hầm mỏ được ILO thông qua ngày 30/5/1935 (Việt Nam gia nhập năm 1994), Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc như nhau được ILO thông qua ngày 6/6/1951 (Việt Nam gia nhập năm 1966), Công ước năm 1960 của UNESCO về chống phân biệt đối xử trong giáo dục…
Nhìn chung, cho đến trước khi Công ước
về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) ra đời, các văn bản pháp lí quốc tế về nhân quyền liên quan tới phụ nữ có một số đặc trưng cơ bản sau: + Đa phần các văn bản chỉ ghi nhận quyền cơ bản của con người nói chung mà không có sự xác nhận các quyền riêng biệt,
S
ThS Nguyễn Thị Thuận *
* Giảng viên chính Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2cụ thể của phụ nữ (ví dụ: Công ước về các
quyền dân sự, chính trị và Công ước về các
quyền kinh tế, văn hoá, x7 hội…)
+ Những văn bản ghi nhận quyền của phụ
nữ lại chỉ tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể
(ví dụ: Vấn đề quốc tịch, vấn đề lao động,
việc làm…)
+ Có những văn bản pháp lí chỉ mang tính
khu vực (ví dụ: Công ước nhân quyền châu
Âu, Công ước nhân quyền châu Mĩ )
Mặc dù đ7 tồn tại cả hệ thống các văn bản
pháp lí quốc tế về nhân quyền nhưng tình
trạng phân biệt đối xử với phụ nữ theo hướng
xâm hại đến những quyền cơ bản của phụ nữ
vẫn diễn ra ở khắp nơi đặc biệt là trong các
lĩnh vực về việc làm, về hôn nhân gia đình
Để tạo điều kiện cho phụ nữ được hưởng
sự bình đẳng thực sự với nam giới và pháp
điển hoá các quyền cơ bản của phụ nữ, cần
phải có điều ước quốc tế phổ cập ghi nhận
vấn đề này Các hoạt động để cho một văn
bản như vậy ra đời đ7 được Liên hợp quốc
tiến hành Kết quả là Công ước CEDAW đ7
được thông qua và để ngỏ cho các nước kí,
phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số
34/180 ngày 18/12/1979 của Đại hội đồng
Liên hợp quốc và chính thức có hiệu lực từ
ngày 3/9/1981
Trong số các văn bản pháp lí quốc tế hiện
hành có đề cập quyền của phụ nữ, Công ước
CEDAW là văn bản pháp lí toàn diện và tiến
bộ nhất Nguyên tắc quan trọng và bao trùm
toàn bộ nội dung của Công ước là cấm tất cả
các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
Ngoài lời nói đầu, nội dung của Công ước
gồm 6 phần với 30 điều khoản:
- Phần 1: Xác định rõ thế nào là "phân
biệt đối xử với phụ nữ" các nguyên tắc và
biện pháp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử này
(hiện nay, khi đề cập vấn đề quyền của phụ nữ, cộng đồng quốc tế đều sử dụng một cách rộng r7i và thống nhất định nghĩa về sự "phân biệt đối xử với phụ nữ" được nêu trong Điều 1 của Công ước)
- Phần 2: Quy định các quyền cơ bản của phụ nữ
- Phần 3: Xác lập nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước phải đảm bảo các quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khoẻ…
- Phần 4: Ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ trước pháp luật, trong quan hệ về dân sự,
về hôn nhân gia đình
- Phần 5: Quy định việc thành lập, tổ chức
và hoạt động của Uỷ ban xoá bỏ sự phân biệt
đối xử với phụ nữ
- Phần 6: Quy định về mối quan hệ giữa Công ước với luật quốc gia và với các điều
ước quốc tế khác, các điều kiện, thủ tục gia nhập Công ước, giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và thực hiện Công
ước…
So với các văn bản pháp luật quốc tế khác
vế nhân quyền, Công ước CEDAW có những
điểm nổi bật sau đây:
- Thứ nhất: Công ước CEDAW là điều
ước quốc tế đa phương phổ cập có số lượng thành viên tham gia đông đảo - 167 quốc gia
Điều này chứng tỏ giá trị pháp lí và thực tiễn lớn lao của Công ước trong đời sống của mỗi quốc gia cũng như trong đời sống quốc tế
- Thứ hai: Công ước CEDAW là điều ước quốc tế đầu tiên bao quát mọi khía cạnh liên quan đến các quyền cơ bản của phụ nữ và xác
định rõ trách nhiệm của quốc gia trong việc
đảm bảo quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực Công ước còn đề cập mối quan hệ giữa yếu tố lịch sử, văn hoá, truyền thống và
Trang 3sự bình đẳng nam nữ và ghi nhận những vấn
đề của phụ nữ xuất phát từ đặc thù của giới
tính như quyền sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái,
vấn đề bóc lột tình dục…
- Thứ ba: Công ước CEDAW đ7 lập ra cơ
quan có chức năng giám sát chặt chẽ việc thi
hành Công ước, đó là Uỷ ban xoá bỏ sự phân
biệt đối xử với phụ nữ Uỷ ban này có thẩm
quyền kiểm tra các báo cáo định kì của quốc
gia thành viên, thu nhận thông tin từ các cơ
quan đặc biệt của Liên hợp quốc…
Cùng với việc tham gia kí kết hàng loạt
các điều ước quốc tế song phương và đa
phương khác, Việt Nam đ7 chính thức phê
chuẩn Công ước CEDAW vào ngày
27/11/1981 Về phương diện lịch sử, ngay từ
khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời và nhất là từ sau ngày thống nhất đất
nước, trong đường lối chính sách pháp luật
của Đảng và Nhà nước ta cũng đ7 thể hiện rõ
sự quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ nói
riêng và vấn đề quyền của phụ nữ nói chung
Tuy nhiên, việc Việt Nam trở thành thành
viên chính thức của Công ước CEDAW có tác
động sâu sắc đến nhiều hoạt động nhằm tiếp
tục đảm bảo một cách tốt hơn các quyền của
phụ nữ ở Việt Nam trên các lĩnh vực khác
nhau Cụ thể là các hoạt động sửa đổi và ban
hành mới các văn bản có liên quan đến các
quyền của phụ nữ ở Việt Nam đều được tiến
hành theo hướng phù hợp với các quy định
của Công ước CEDAW, hoạt động tuyên
truyền giáo dục và phổ biến pháp luật về
quyền của phụ nữ được tiến hành ở nhiều cấp
độ khác nhau không chỉ giúp cho sự thay đổi
dần nhận thức của x7 hội về quyền của phụ
nữ mà nó còn giúp cho chính phụ nữ tự ý thức
được vị trí, vai trò quyền lợi của họ trong gia
đình cũng như x7 hội và có thể đấu tranh để
bảo vệ mình Đặc biệt, để thực hiện Điều 18 của Công ước CEDAW, Uỷ ban quốc gia vì
sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đ7 được thành lập với chức năng tham mưu, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quyền của phụ nữ và soạn thảo báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện Công ước CEDAW của Việt Nam và trình bày Báo cáo đó tại Uỷ ban xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ
Nhìn chung, trong quá trình thực hiện Công ước CEDAW Việt Nam đ7 thu được nhiều kết quả thiết thực và cũng có nhiều tiến
bộ đáng kể Tuy nhiên, hàng loạt các tồn tại
mà việc khắc phục không phải đơn giản như
sự gia tăng của các tệ nạn x7 hội, tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường những phong tục tập quán cổ hủ lạc hậu…
đang là những thách thức rất lớn đối với việc bảo đảm quyền cơ bản của phụ nữ và tiến tới xoá bỏ được sự phân biệt đối xử với phụ nữ Vì vậy, những cải cách toàn diện, những giải pháp đồng bộ và sự nỗ lực của toàn x7 hội cần
được tiếp tục tiến hành
Có thể thấy rõ tình trạng nhân quyền của phụ nữ trên thế giới qua lời phát biểu sau đây của ông B.GaLi - cựu Tổng thư kí của tổ chức Liên hợp quốc: "Phụ nữ chiếm hơn 1/2 dân số của hành tinh chúng ta mà chưa ở quốc gia nào họ được đối xử một cách xứng đáng" Rõ ràng là ở các mức độ khác nhau, thực trạng phân biệt đối xử giữa nam và nữ đ7 và đang tiếp tục tồn tại Chính vì vậy, xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ chắc chắn sẽ còn là sự nghiệp lâu dài Nỗ lực của mỗi quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế - x7 hội,
an ninh - chính trị cũng như sự tăng cường hợp tác quốc tế một cách toàn diện sẽ là những yếu tố quyết định tới sự thành công của sự nghiệp này./