Mục tiêu cố định mẫu: Ngăn chặn sự hoại tử và tan rã Làm các tổ chức mô giữ vững cấu trúc trong suốt quá trình xử lý và nhuộm mẫu bằng nhiều loại hóa chất khác nhau... Đối với loại
Trang 1CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔ HỌC
Trang 2 Tại sao phải nghiên cứu mô học?
Vai trò của mô học trong công tác nghiên cứu về thủy sản như thế
nào?
Mô học hiện nay đã phát triển như thế nào?
Trang 3Lịch sử nghiên cứu mô học
19
Phát triển nhiều kĩ thuật mới
Trang 4Phương pháp nghiên cứu mô học
Qui trình cơ bản trong nghiên cứu
Trang 51 Cố định mẫu:
Tại sao phải cố định mẫu?
Mẫu mô hay cơ quan của cá hoặc tôm
sau khi tách ra khỏi cơ thể sẽ chết đi và trải qua quá trình hoại tử và nhanh
chóng tan rã (trump et al., 1980)
Vì vậy cần phải ngăn chặn sự hoại tử và
tan rã đó bằng việc cố định nhanh và ít gây ra sự thay đổi cấu trúc nhất
Trang 6Mục tiêu cố định mẫu:
Ngăn chặn sự hoại tử và tan rã
Làm các tổ chức mô giữ vững cấu trúc trong suốt quá trình xử lý và nhuộm mẫu bằng nhiều loại hóa chất khác nhau
Trang 7 Một mẫu mô được cố định tốt khi
những tế bào cấu tạo nên mô đó
vẫn giữ nguyên hình dáng, thể hiện được nhiều chi tiết và cấu trúc,
đồng thời giữ được mối liên quan
tương hỗ trong tế bào và mô giống như còn sống
Trang 8 Mô có thể được cố định bằng nhiều phương pháp:
Vật lí : nhiệt độ
Hóa học: các loại hóa chất
Trang 9 Các loại hóa chất cố định
Bouin:
AFA Davidson:
Formol trung tính (10%):
Trang 12 Đối với loại dung dịch cố định có khả năng ngấm kém, chiều dày mẫu mô không quá 1-2mm
Nếu dung dịch có khả năng ngấm mạnh và sâu thì chiều dài của nó không quá 5mm
Trang 13 Thể tích dung dịch cố định: thể tích dung dịch cố định cần lớn hơn nhiều
so với thể tích mẫu mô (ít nhất 50 lần)
Thời gian cố định: thời gian cố định phụ thuộc vào từng loại dung dịch
cố định, thường dao động từ 2-4h
Trang 14 Nhiệt độ cố định: Nhiệt độ cao làm tăng và lạnh làm chậm khả năng
ngấm của dung dịch cố định Đối với loại dung dịch cố định dễ bay hơi
nên tiến hành ở nhiệt độ thấp
Trang 15 Quá trình pha hóa chất cố định nên thực hiện trong tủ hút
Sau khi cố định thì mẫu cần phải
được rửa (dung dịch cố định có thể làm thay đổi tính bắt màu của tế
bào)
Trang 16 Thời gian rửa bằng với thời gian cố định
Có thể rửa bằng nước hoặc cồn
Trang 17Cắt tỉa, định hướng mô
Mục đích: Định hướng những mô
cần quan sát
Mẫu mô có thể được cắt bỏ những phần không cần thiết, giúp tiết kiệm thời gian trong quan sát
Trang 18Qui trình xử lý mẫu
1. Loại nước
2. Làm trong mẫu
3. Ngấm paraffin
Trang 191 Loại Nước
Việc khử nước phải đảm bảo nguyên tắc là loại bỏ hết nước trong mô mà không làm tế bào bị biến dạng hoặc không làm vị trí của thành phần cấu tạo tế bào trong mô bị thay đổi
Trang 20 Quá trình loại nước được thực hiện bằng cách nhúng mẫu mô qua hàng loạt các dung dịch cồn có nồng độ
từ thấp đến cao Thời gian khử nước tùy theo độ dày của mẫu mô
Ví dụ: xử lí mẫu qua cồn
50-70-95-100
Trang 212 Làm trong mẫu
Mục đích:Do paraffin không thể hòa tan vào cồn nên cần một dung môi vừa có khả năng hòa tan cồn và
paraffin
Có nhiều loại dung môi làm trong
mẫu: chloroform, xilen…
Các dung môi này thường có chỉ số khúc xạ cao
Trang 223 Ngấm paraffin
Mẫu được ngâm trong các lọ
paraffin nóng chảy (57-600) với thời gian thay đổi 1-3h tùy theo kích
thước mẫu mô
Đối với những mẫu mô ngấm chậm phải kéo dài thời gian nâm trong
paraffin có thể từ 6-12h
Trang 23 Thông thường trong các qui trình
mẫu thường được chuyển qua nhiều dung dịch paraffin
Mục đích: dung môi của paraffin
trong miếng mô được đẩy ra hết
Trang 24ĐÚC KHỐI
Mục đích: Để cố định mẫu
Đối với mẫu cắt lạnh thì khối được đúc bằng gelatin hay agar thay vì bằng paraffin
Trang 25 Trở ngại chính trong quá trình đúc khối paraffin là làm miếng mô co lại, nguyên nhân là do nhiệt độ
nóng chảy của paraffin (Bennett et al., 1976)
Trang 26 gan cá hồi nếu được đúc khối theo
kĩ thuật thường sử dụng là paraffin thì mức độ co của mẫu so với ban đầu khoảng 25%
trái lại nếu đúc khối bằng glycol
methacrylate thì mẫu mô chỉ co lại khoảng 1-2%
Trang 27 Khi cần phân tích các thể huyền phù trong tế bào bằng kính hiển vi
quang học thì một số qui trình xử lý mẫu sẽ được thay đổi
Thí dụ: nghiên cứu tế bào máu …
Trang 28CẮT MẪU
Mục đích của bước này là nhằm cắt mẫu mô thành những lát cắt thật mỏng có khả năng cho ánh sáng
xuyên qua để có thể quan sát được bằng kính hiển vi
Trang 29 Có 2 phương pháp cắt mẫu thường được áp dụng
Cắt lạnh:
Cắt mô đúc trong khối paraffin:
Trang 30 Điểm khác biệt của hai phương pháp này:
Nhiệt độ:
Dung dịch cố định
Hình dạng mẫu khi cắt
Trang 31Dán lát cắt vào lame
Tùy theo mục đích mà lựa chọn độ dài của dãy băng Sau khi dãy băng được lấy ra thì đặt chúng vào nước
có nhiệt độ 400-440C đễ làm căng
mặt băng
Trang 32 Có nhiều cách để dán lát cắt vào
phiến kính, cách thông dụng nhất là dán bằng dung dịch Mayer’s
albument hoặc gelatin
Trang 33 Cách chuẩn bị dung dịch để dán
mẫu:
(i) Mayer’s albumen: lòng trắng
trứng+ glycerol (1:1)+thymol
crystal Lọc qua giấy lọc thô
(ii) Gelatin: 1% gelatin+1%
potassium dichromate (1:1) Cho dung dịch vào chậu nước
(0.002%)
Trang 34NHUỘM MÀU
Mục đích: quan sát tế bào rõ hơn
Có nhiều phương pháp để nhuộm mẫu
Trang 35 Loại bỏ paraffin: Do paraffin rất khó thấm được các loại thuốc nhuộm, nên cần phải loại chúng ra khỏi mẫu Xylen là hóa chất thường được sử dụng cho mục đích này
Loại xylen bằng cồn tuyệt đối: Xylen
không hòa tan được vào các dung dịch có dung môi là nước nên cần phải loại xylen bằng cồn tuyệt đối
Xử lý mẫu qua cồn với nồng độ giảm dần
Trang 36Làm cho mẫu ngậm nước: là bước trung gian để chuyển mẫu về cùng điều kiện với dung môi hòa tan loại thuốc nhuộm được
sử dụng đầu tiên Thông thường nước cất được sử dụng cho mục đích này
Nhuộm màu: mẫu được nhuộm bằng 1
dung dịch hoặc bằng nhiều loại thuốc
nhuộm khác nhau Thời gian nhuộm có
thể từ vài phút đến vài giờ tùy thuộc vào loại thuốc nhuộm
Trang 37 Khử nước: Hầu hết các trường hợp, lát mẫu cắt trong paraffin phải được
cố định bảo quản trong một môi
trường có thể hòa tan với xylen
Làm trong mẫu: cho mẫu qua xylen
để loại cồn
Trang 38 Đóng khung: Thường sử dụng keo Canada để dán lamelle vào phiến kính.
Trang 39Kĩ thuật nhuộm mẫu bằng Hematoxylin và
Eosin
1. Phiến mẫu sau khi loại paraffin sẽ
làm ngậm nước theo các bước:
Nhúng phiến mẫu vào xylen 2-3
phút
Chuyển sang xylen sạch 1-2 phút
Chuyển lần lượt sang các dung
dịch cồn 95%, 70% và 50% 1 phút cho mỗi dung dịch
Rửa mẫu trong nước cất
Trang 402. Chuẩn bị phẩm nhuộm
Hematoxylin: Hòa tan 1g
hematoxylin trong 750ml Thêm
vào 0.2g Sodium iodate; 1g acid
citric và 50g chloral hydrate Thêm nước vào cho đủ 1L
Trang 41 Dung dịch chuẩn 1% eosin: 1g
Trang 42 Nhúng phiến mẫu trong
Hematoxylin 15 phút
Rửa phiến mẫu dưới vòi nước 20
phút
Nhúng phiến mẫu vào dung dịch
nhuộm eosin từ 15 giây đến 2 phút tùy vào mức độ bắt màu của mẫu
Trang 433. Chuyển phiến mẫu sang 2 lần cồn
95% (chuyển sang dung dịch mới cho mỗi lần lập lại), mỗi lần 2 phút
để rửa hết eosin thừa
4. Quan sát phiến mẫu bằng kính
hiển vi, mẫu đạt yêu cầu khi mẫu trong và tế bào chất bắt màu từ
hồng nhạt đến cam
Trang 445. Rửa phiến mẫu lại trong cồn 95%
sau đó chuyển phiến mẫu sang 2 lần cồn tuyệt đối, mỗi lần 2 phút
Làm trong mẫu bằng xylen 2 lần
mỗi lần 2 phút Sau khi nhuộm, dán phiến kính mỏng lên
Trang 456. Với phương pháp nhuộm này, nhân
tế bào sẽ có màu xanh dương
Vùng tế bào chất với lưới nội chất
có màu xanh nhạt hay tím Phần tế bào chất còn lại sẽ có màu hồng
sậm