Khái niệm Hệ điều hành là tập hợp các chương trình được tổ chức thành một hệ thống với nhiệm vụ đảm bảo tương tác giữa người dùng và máy tính, cung cấp các phương tiện và dịch vụ để điề
Trang 1CHƯƠNG II
HỆ ĐIỀU HÀNH MICROSOFT WINDOWS 2000
I KHÁI NIỆM VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH
1 Khái niệm
Hệ điều hành là tập hợp các chương trình được tổ chức thành một hệ thống với nhiệm vụ đảm bảo tương tác giữa người dùng và máy tính, cung cấp các phương tiện và dịch vụ để điều phối việc thực hiện các chương trình, quản
lý chặt chẽ các tài nguyên của máy, tổ chức khai thác chúng một cách thuận tiện
và tối ưu
Hệ điều hành đóng vai trò cầu nối giữa thiết bị với người dùng và giữa thiết bị với các chương trình thực hiện trên máy Hệ điều hành cùng với các
phương tiện kỹ thuật (máy tính và các thiết bị ngoại vi) tạo thành một hệ thống
Hệ điều hành thường được lưu trữ dưới dạng các modul độc lập trên bộ nhớ ngoài (trên đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD, )
2 Chức năng của hệ điều hành
Các chức năng của hệ điều hành gồm:
Tổ chức giao tiếp giữa người dùng và hệ thống Việc giao tiếp có thể thực hiện bằng một trong hai cách: thông qua hệ thống câu lệnh (Command) được nhập từ bàn phím hoặc thông qua các đề xuất của hệ thống (bảng chọn, cửa sổ, biểu tượng đồ họa, ) được điều khiển bằng bàn phím hoặc chuột;
Cung cấp tài nguyên (bộ nhớ, các thiết bị ngoại vi, ) cho các chương trình và tổ chức thực hiện các chương trình đó;
Tổ chức lưu trữ thông tin trên bộ nhớ, cung cấp các công cụ để tìm kiếm và truy cập thông tin;
Kiểm tra và hỗ trợ bằng phần mềm cho các thiết bị ngoại vi (chuột, bàn phím, màn hình, đĩa CD .) để có thể khai thác chúng một cách thuận tiện và hiệu quả;
Cung cấp các dịch vụ tiện ích hệ thống (làm việc với đĩa, truy cập mạng ) Phần lớn các hệ điều hành đang sử dụng rộng rãi hiện nay có một số tiện ích liên quan đến mạng máy tính Các tiện ích này đã trở thành các thành phần phải có và quan trọng như: dịch vụ kết nối mạng
và Internet, trao đổi thư điện tử,
Mỗi chức năng được một nhóm chương trình trong hệ điều hành đảm bảo thực hiện Các nhóm chương trình này là các thành phần của hệ điều hành
Việc xác định thành phần của một hệ điều hành phụ thuộc vào cách chi tiết hóa các chức năng của nó và không ảnh hưởng đến việc khai thác hệ thống
Trang 23 Một số hệ điều hành thông dụng
Có rất nhiều hệ điều hành của các hãng khác nhau được phổ biến trên thị trường thế giới Dưới đây chỉ giới thiệu một số hệ điều hành phổ biến ở Việt Nam
a) Hệ điều hành MS-DOS
Hệ điều hành MS-DOS của hãng Microsoft trang bị cho máy tính cá nhân IBM PC Đây là một hệ điều hành đơn giản nhưng hiệu quả, phù hợp với tình trạng thiết bị của máy tính cá nhân trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX
Việc giao tiếp với MS-DOS được thực hiện thông qua hệ thống lệnh
MS-DOS là hệ điều hành đơn nhiệm một người dùng Tuy vậy, với các
phiên bản nâng cấp từ 4.01 trở đi, trong MS-DOS đã có các modul cho phép người dùng có thể thực hiện đồng thời nhiều chương trình
b) Hệ điều hành Windows
Hiện nay, nhiều máy tính sử dụng hệ điều hành Windows của hãng Microsoft với các phiên bản cải tiến khác nhau
Một số đặc trưng chung của Windows:
Chế độ đa nhiệm;
Có một hệ thống giao diện dựa trên cơ sở bảng chọn với các biểu
tượng kết hợp giữa đồ họa và văn bản giải thích;
Cung cấp nhiều công cụ xử lý đồ họa và đa phương tiện (Multimedia) đảm bảo khai thác hiệu quả nhiều loại dữ liệu khác nhau như âm thanh, hình ảnh,
Đảm bảo các khả năng khai thác trong môi trường mạng
Các phiên bản mới hơn của Windows thể hiện các đặc trưng trên ở mức
độ tiến bộ hơn
c) Các hệ điều hành UNIX và Linux
Hệ điều hành UNIX do Ken Thompson và Dennis Ritchie thuộc phòng thí nghiệm Bell của hãng AT&T xây dựng những năm 1970 Đây là hệ điều hành
đa nhiệm nhiều người dùng, có khả năng đảm bảo một số lượng rất lớn người dùng đồng thời khai thác hệ thống
Một số nét đặc trưng cơ bản của UNIX:
UNIX là hệ điều hành đa nhiệm nhiều người dùng;
Có hệ thống quản lý tệp đơn giản và hiệu quả;
Có một hệ thống phong phú các modul và chương trình tiện ích hệ thống
Trang 3Nét đặc biệt của UNIX là đến 90% các modul của hệ thống được viết trên ngôn ngữ lập trình bậc cao C, vì vậy có thể dễ dàng thay đổi, bổ sung để phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể hoặc chuyển đổi từ loại máy này sang loại máy khác có hệ lệnh không giống nhau Một mặt, tính chất này đã làm cho UNIX được triển khai ứng dụng rộng rãi trên nhiều loại máy khác nhau và hệ thống trở nên mạnh hơn, linh hoạt hơn Mặt khác, nó làm cho các phiên bản khác nhau của UNIX có quá nhiều sự khác biệt cơ bản, mất tính kế thừa và đồng bộ Vì vậy, từ những năm 80 của thế kỷ XX về sau, người ta đã đề xuất một loạt các chuẩn cho việc xây dựng UNIX
Trên cơ sở của UNIX, năm 1991 Linus Torvalds (người Phần Lan), khi còn là sinh viên, đã phát triển một hệ điều hành mới cho máy tính cá nhân gọi là Linux Linux đã cung cấp cả chương trình nguồn của toàn bộ hệ thống, làm cho
nó có tính mở rất cao, tức là mọi người có thể đọc, hiểu các chương trình hệ thống, sửa đổi, bổ sung, nâng cấp và sử dụng mà không bị vi phạm bản quyền tác giả
Chính vì vậy, Linux đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người trên phạm vi toàn thế giới và được sao chép, phổ biến với một chi phí rất thấp về tài liệu, đĩa (không phải trả tiền bản quyền)
Tuy nhiên, do hệ điều hành Linux phát triển có tính mở nên không thể có một công cụ cài đặt mang tính chuẩn mực, thống nhất Mặt khác, còn ít các phần mềm ứng dụng chạy trên Linux so với trên Widows nên việc sử dụng Linux còn
bị hạn chế
Mặc dù vậy, do một số đặc tính ưu việt của nó, người ta dự đoán trong tương lai gần Linux có khả năng cạnh tranh với hệ điều hành Windows Ngày nay, Linux được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu, nhất là trong các trường học và khuynh hướng này ngày càng phát triển
II TỆP VÀ QUẢN LÝ TỆP
1 Khái niệm tệp
Người ta thường nói đến tệp văn bản báo cáo, tệp danh sách học sinh, tệp trò chơi Trên các thiết bị lưu trữ thông tin của máy tính, tệp đóng vai trò như một đơn vị cơ bản được hệ điều hành quản lý
Tệp là tập hợp các thông tin có cùng bản chất và được lưu trữ như một đơn
vị lưu trữ dữ liệu trên các thiết bị mang thông tin (đĩa từ, băng từ, đĩa quang )
Các tệp được phân biệt bởi tên tệp (File name) Tên tệp có thể do người
sử dụng đặt và bao gồm: Phần chính (phần tên) và phần mở rộng (hay phần phân loại), giữa hai phần này được liên kết bởi một dấu chấm ( ) Phần tên là phần bắt buộc phải có còn phần mở rộng có thể có hoặc không Trong Windows 2000, phần tên cho phép dài tới 255 ký tự và không được chứa các ký tự: \ / : * ? ” > < Tên tệp không phân biệt chữ hoa hay chữ thường
Trang 4Có thể hình dung là khi ta đang làm việc với một văn bản – tệp được đặt trong các thư mục (Folder) Trong các thư mục này còn có thể chứa các thư mục (Folder) nhỏ hơn …
Trong một nhà người ta không đặt hai đứa con trùng tên nhau, nhưng trẻ nhà
này trùng tên với trẻ hàng xóm thì được Cũng như vậy, trong Windows 2000 không cho phép chứa hai tệp cùng tên ở tại một chỗ nhưng để chúng ở hai chỗ (thư mục) khác nhau thì được Và thông thường, tên tệp được đặt sao cho gợi nhớ đến nội dung bên trong của nó Và như vậy, chỉ nhìn qua tên tệp, người sử dụng có thể biết sơ qua về nội dung Tránh đặt tệp bằng những cái tên vô nghĩa, khó hình dung
Ví dụ:
Đặt tên tệp đúng: Bao cao.doc ; bang_diem_lop_T2.xls ; lopK30X4.txt
Đặt tên tệp sai: Vi\du.pas ; bai_tap:1.txt
2 Thư mục (Folder) và cấu trúc cây thư mục
Ta lấy ví dụ một thư viện, nếu cứ để sách một cách tuỳ tiện và mỗi lần cần tới quyển sách nào đó, ta phải bới tung đống sách đó lên cho đến khi nào tìm thấy quyển sách Như vậy thời gian để tìm kiếm sẽ rất lâu
Do vậy, thư viện cần có một kiểu sắp xếp thế nào đó, ví dụ như phân ra làm các nhóm: nhóm sách lớp 10, nhóm sách lớp 11, nhóm sách lớp 12 Trong từng nhóm đó, ta lại phân thành các nhóm nhỏ, đó là nhóm sách Toán, nhóm sách Lý, nhóm sách Văn và như vậy, nếu ai đó cần đến quyển sách Văn lớp 11
thì có thể tìm được ngay trong nhóm sách văn nằm trong tủ sách: nhóm lớp 11
Lượng thông tin lưu trữ trong máy tính rất lớn, vì vậy nhu cầu sắp xếp chúng như thế nào để có thể vừa tăng tốc độ truy cập, vừa thuận tiện cho người
dùng Do vậy, các hệ điều hành tổ chức các tệp (file) trên đĩa thành các thư mục (Directorry) Mỗi thư mục chứa các tệp hoặc (và) các thư mục con có cùng
chung một tính chất nào đó Thư mục được phân cấp, thư mục trên cùng (to nhất) được gọi là thư mục gốc, do vậy cách tổ chức này còn được gọi là cấu trúc
cây thư mục
Điều này mang lại hai lợi ích:
Giảm thời gian tìm kiếm trên đĩa từ
Người sử dụng có thể tổ chức tốt các thông tin của mình một cách khoa học
Thư mục là một hình thức phân vùng trên đĩa giúp cho việc quản
lý tệp tin được dễ dàng hơn
Hình sau đây mô tả một cấu trúc cây thư mục:
Trang 5Thư mục cũng phải có tên, tên thư mục được đặt giống như phần tên của tên tệp Trong một thư mục cũng không cho phép chứa hai thư mục trùng tên nhau
3 Đường dẫn
Có thể hình dung thư mục như tủ sách hoặc giá sách, còn các tệp là các quyển sách Để tìm một quyển sách cụ thể nào đó, phải biết được nó để ở tủ nào, giá nào, ngăn nào Điều đó tương ứng với việc để đến với một tệp nào cần phải biết đường đi đến nơi lưu trữ nó Đường đi dẫn đến một tệp tin hoặc thư mục gọi
là đường dẫn
Đường dẫn là dãy liên tiếp tên các thư mục lồng nhau được phân cách bởi dấu \ , thư mục có tên đứng sau là thư mục con trực tiếp của thư mục đứng ngay trước nó
III GIAO TIẾP VỚI HỆ ĐIỀU HÀNH
1 Nạp và thoát khỏi hệ điều hành Microsoft Windows
* Nạp hệ điều hành Microsoft Windows
Thư mục gốc ( \ )
Đại học Kinh Tế QD
Dự bị Đại học
Ban KHTN
Lớp A1 Danh sach.doc Lớp B4
Danh sach.doc Ban KHXH
Lớp C1 Danh sach.doc Lớp C2
Danh sach.doc Đại học BK Hà Nội
Trang 6Nút
Start
các chương trình chạy ngầm
Màn hình
Desktop
Giờ của hệ
Các biểu tượng
Nếu đã được cài đặt vào ổ cứng và được cấu hình như ngầm định, Windows 2000 sẽ được tự động chạy và hoàn toàn nắm quyền điều khiển máy tính kể từ khi bật máy
Sau khi khởi động thành công, màn hình Windows 2000 xuất hiện với nút
Start, thanh công việc và các biểu tượng trên màn hình tương tự như hình dưới
đây:
* Thoát khỏi hệ điều hành Microsoft Windows
Để thoát khỏi hệ điều hành Windows ta kích chuột trái tại nút Start chọn Shut Down… xuất hiện bảng chọn:
Log off administrator:
Shut down: tắt máy Restart: nạp lại hệ điều hành Stand by: tắt máy tạm thời
2 Giới thiệu màn hình Microsoft Windows
Trang 7Giao diện đồ họa trong Windows bao gồm rất nhiều thành phần khác nhau, trong đó có các cửa sổ, các bảng chọn, thực đơn ngang, thực đơn dọc, các thanh công cụ và các biểu tượng Mọi thành phần trong Windows đều được gọi
với tên chung là đối tượng
a) Bảng chọn Start và thanh công việc:
Khi khởi động Windows 2000 xong, nút Start và thanh công việc nằm
dưới đáy màn hình Theo ngầm định, chúng luôn hiển thị khi Windows làm việc
* Bảng chọn Start:
Khi nháy chuột vào nút Start
(hoặc bấm phím Start trên bàn phím)
sẽ xuất hiện một bảng chọn (gọi là bảng
chọn Start) Bảng chọn này chứa mọi
nhóm lệnh cần thiết để bắt đầu sử dụng
Windows Chẳng hạn, nếu muốn sử dụng
một chương trình, hãy chọn Programs
(các chương trình ); nếu muốn mở một tài
liệu gần đây, chọn My documents (Các
tài liệu); muốn có sự trợ giúp sử dụng ta
chọn Help (bằng tiếng Anh)
* Thanh công việc ( Taskbar)
Trên thanh công việc, bên trái là nút Start, bên phải là vùng hiển thị các
chương trình chạy ngầm và cuối cùng là phần hiển thị thời gian – Clock
Windows 2000 là hệ điều hành đa nhiệm, nghĩa là có thể cho phép thực
hiện nhiều nhiệm vụ hay thao tác nhiều chương trình cùng lúc Hơn nữa, việc một trong số các chương trình bị hỏng hay có lỗi cũng không làm ảnh hưởng tới các chương trình khác Như vậy, cùng một lúc có thể mở nhiều cửa sổ cũng như chạy nhiều các chương trình ứng dụng khác nhau Mỗi lần chạy một chương trình hay mở một cửa sổ, sẽ có một nút đại diện cho chương trình hay cửa sổ đó xuất hiện trên thanh công việc Do đó trên thanh công việc có thể xuất hiện nhiều nút hay biểu tượng khác nhau, điều đó có nghĩa là các cửa sổ hay các
chương trình ứng dụng đang chạy đồng thời
Tuy nhiên, tại mỗi thời điểm chỉ có thể giao tiếp với một cửa sổ hay một chương trình ứng dụng Để chuyển đổi giữa các chương trình (hay các cửa sổ) ta chỉ việc bấm chuột vào nút tương ứng trên thanh công việc Khi đó, cửa sổ được
chọn sẽ được đưa lên trên cùng và gọi là cửa sổ kích hoạt (cửa sổ hiện thời) và
nút tương ứng trên thanh công việc sẽ lõm xuống Khi đóng cửa sổ hay chương trình thì nút đại diện trên thanh công việc cũng sẽ biến mất
Trang 8Hình trên là thanh công cụ của màn hình Windows 2000, qua đó ta có thể
thấy cửa sổ chương trình Line98 đang được kích hoạt và còn có hai cửa sổ là
chương trình Microsoft Word và cửa sổ My Documents cũng đang được mở
Lưu ý: Khi ta thu nhỏ cực tiểu một chương trình hay một cửa sổ, thì cửa sổ
đó biến mất nhưng nút đại diện của nó sẽ vẫn xuất hiện trên thanh công việc
b) Cửa sổ (Window)
Trong môi trường Windows, người sử dụng thực hiện các công việc của mình thông qua các cửa sổ Bất kỳ một chương trình nào chạy trên Windows đều được cung cấp một cửa sổ riêng để người sử dụng giao tiếp
Mỗi chương trình ứng dụng có một cửa sổ làm việc với hệ thống thực đơn riêng, nhưng tất cả các cửa sổ đều có nhiều thành phần chung, và sau đây là hình minh họa một số các thành phần của một cửa sổ:
Thanh tiêu đề (Title Bar)
Nằm trên cùng cửa sổ, trên đó có đề tên cửa sổ – tên chương trình ứng dụng Phía bên trái của mỗi thanh tiêu đề bao giờ cũng có hộp điều khiển
(Control box) có hình dạng là biểu tượng của chương trình ứng dụng Khi bấm
chuột tại hộp điều khiển sẽ xuất hiện thực đơn điều khiển:
Thanh tiêu đề (title bar)
Các nút lệnh
Thanh thực đơn
(Menu Bar)
Thanh công cụ
(ToolBar)
Thanh cuốn dọc
Các biểu tượng Thanh trạng thái
(Status bar)
Trang 9Restore: Trở về kích thước trước đó
Move: Di chuyển cửa sổ
Size: Thay đổi kích thước cửa sổ
Minimize: Đưa cửa sổ về kích thước bé nhất
Maximize: Phóng to cửa sổ lên kích thước lớn
nhất-toàn màn hình
Close: Đóng cửa sổ
Các nút lệnh trên chỉ có tác dụng với cửa sổ mang nó
Thanh thực đơn (Menu Bar)
Nằm ngay dưới thanh tiêu đề là thanh thực đơn Trên thanh thực đơn có chứa các thực đơn Tuỳ theo từng chương trình mà có các thực đơn khác nhau
Để mở một thực đơn nào đó trên thanh thực đơn, ta có thể dùng chuột
bấm vào thực đơn cần mở; hoặc giữ phím ALT trong khi bấm phím ký tự gạch
chân trong tên thực đơn cần mở Mỗi thực đơn khi được mở sẽ làm xuất hiện
một thực đơn dọc (hay còn gọi là bảng chọn dọc) tương ứng Trên các thực đơn
dọc này chứa các lệnh Để chọn một lệnh trong thực đơn dọc, ta có thể dùng chuột nháy vào lệnh cần chọn hoặc: bấm các phím hoặc để di chuyển vệt
sáng đến tên lệnh cần chọn rồi bấm Enter () Nếu có lệnh nào đó bị mờ thì
nghĩa là tại thời điểm hiện tại, lệnh đó không thực hiện được Nếu không chọn lệnh nào trong thực đơn dọc này, ta có thể bấm chuột ra ngoài vùng thực đơn
hoặc bấm phím ESC nhiều lần để thoát khỏi thực đơn
Hầu hết các thanh thực đơn đều có chứa thực đơn File, Window và thực đơn Help Thực đơn File là thực đơn có chứa các lệnh hệ thống Ví dụ Open: Mở; Close: Đóng; New: Mới; Exit (Quit): Thoát Thực đơn Window
là thực đơn chứa các lệnh để sắp xếp bố trí các cửa sổ nằm bên trong cửa
sổ chương trình; và thực đơn Help là thực đơn trợ giúp
Thanh công cụ ( Toolbars )
Phần lớn các cửa sổ đều có thanh công cụ Thanh công cụ là dãy các nút lệnh nằm ngay dưới thanh tiêu đề, nhằm giúp người sử dụng chọn lệnh nhanh hơn
Các nút lệnh trên thanh công cụ cho phép người sử dụng truy cập nhanh đến các lệnh thường dùng trong các thực đơn mà không cần phải mở thực đơn
Để bật tắt các thanh công cụ, chúng ta thường sử dụng lệnh Toolbars trong thực đơn View Khi chọn lệnh ToolBars trong thực đơn View sẽ xuất hiện một bảng
liệt kê các thanh công cụ Những thanh công cụ nào đang được mở thì phía trước tên thanh công cụ đó sẽ có dấu kiểm Ta có thể dùng chuột bấm vào tên thanh
công cụ đó để bật/tắt dấu kiểm – tương ứng với việc bật/tắt thanh công cụ đó
Minimize
Maximize hoặcÆc Restorre
Close
Và phía bên phải mỗi thanh
tiêu đề bao giờ cũng có các
nút lệnh:
Trang 10Thông thường, trên các thanh công cụ thường có nút lệnh Undo, có tác dụng
đưa chương trình trở về trạng thái trước đó Nếu trong trường hợp lỡ tay xóa nhầm mất thông tin thì chúng ta có thể dùng nút này để phục hồi lại
Các thanh cuốn (Scrolls Bar)
Thường có hai thanh cuốn là thanh cuốn ngang (Horizontal scroll bar)
và thanh cuốn dọc (Vertical Scroll bar) Chúng được dùng để thể hiện nốt
những phần nội dung bị che khuất bởi kích thước của cửa sổ Ta sử dụng thanh cuốn bằng cách nháy chuột tại mũi tên hai đầu thanh cuốn hoặc dùng chuột bấm
rồi kéo hộp cuốn (Scroll box) về hai phía của thanh cuốn
Thanh trạng thái (Status bar)
Nằm dưới cùng của mỗi cửa sổ và thể hiện trạng thái làm việc của chương trình (trong cửa sổ) Tuỳ vào đặc tính cửa từng cửa sổ mà thông tin trên thanh trạng thái có khác nhau
Lưu ý: Để bật tắt thanh trạng thái, có thể chọn lệnh Status bar trong thực đơn
View
Thay đổi kích thước của một cửa sổ:
Trong trường hợp cửa sổ đã có kích thước lớn nhất, tức là bao trùm toàn
bộ màn hình thì phía cuối của thanh tiêu đề sẽ có nút lệnh Restore thay cho nút Maximize Bấm chuột vào nút Restore thì cửa sổ sẽ trở lại kích thước trước khi
được phóng to cực đại
Nếu muốn thay đổi kích thước của một cửa sổ, ta đưa trỏ chuột đến mép viền ngoài cửa sổ để con trỏ chuột có hình mũi tên hai đầu thì bấm và kéo
rê chuột để thay đổi kích thước của cửa sổ
Lưu ý: Bấm và kéo chuột ở đường viền phía bốn góc của cửa sổ thì có thể thay
đổi được kích thước hai chiều của cửa sổ đó
Sắp xếp các cửa sổ trên màn hình:
Trong Windows, cùng lúc có thể có rất nhiều các cửa sổ được mở và việc
bố trí các cửa sổ như thế nào để cho hợp lý và thuận tiện sử dụng Để làm việc này, chúng ta có thể dùng chuột để thay đổi kích thước của mỗi cửa sổ rồi bấm
và kéo chuột tại thanh tiêu đề của mỗi cửa sổ rồi di chuyển chúng tới vị trí khác Nếu không muốn mất nhiều thời gian vào việc đó, ta có thể làm như sau:
Bấm chuột phải tại một nơi trống trên thanh công
việc, sẽ xuất hiện một thực đơn nhanh:
Có thể chọn: Cascade Windows để sắp xếp các cửa
sổ sếp so le chồng nhau
Tile Windows Horizontal/Verticaly: để sắp xếp các cửa sổ sát cạnh nhau theo chiều ngang/dọc