Vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật Đặc điểm nội dung: -Nội dung quan trọng hàng đầu trong thơ chữ Hán, Truyện Kiều, Văn Chiêu Hồn là tình cảm chân thành, là sự cảm thông sâu sắc c
Trang 1NGUYỄN DU
“Ba trăm năm nữa mơ màng Biết ai hậu thế khóc chàng Tố Như ?”
<1766 – 1820>
Trang 2Thời đại
Sống trong thời đại có nhiều biến cố phức tạp:
•Sự suy tàn của nhà Lê
•Xẩy ra các cuộc nội chiến
•Khởi nghĩa Tây Sơn
•Khôi phục triều Nguyễn
Trang 4Các tác phẩm
Chữ Hán:
Chữ Nôm:
•Thanh Hiên thi tập
•Nam trung tạp ngâm
Trang 5Cảm hứng sáng tác
• “Tiểu sử nội tâm” với sự biểu hiện của một cái tôi trữ tình phong phú.
Nỗi buồn vì:
- Cảm giác cô đơn, thiếu kẻ tri âm tri kỷ.
“Trường đồ nhật mộ tân đa thiểu”
- Cuộc sống phiêu dạt, khó khăn, thiếu thốn.
“Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên”
- Nỗi lòng cảm thời thế.
Trang 6Cảm hứng sáng tác
•Tấm lòng nhân đạo bao la và trái tim thắm thiết tình đời.
-Dành tình thương cho mọi kiếp người (“Thái bình mại
giả ca”,“Sở kiến hành”,”Văn chiêu hồn”,…)
-Ô ng đặc biệt xót thương cho nhưng con người tài sắc: + Nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trác tuyệt mà cuộc
“Ánh hồng trang lộng lấy mặt hoa”
“Tóc hoa râm, mặt võ mình gầy”
Đạm Tiên:
“Nổi danh tài sắc một thì”
“Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương”
Tiểu Thanh:
“Son phấn có thần chôn vẫn hận
“Văn chương vô mệnh đốt còn vương”
Nàng Kiều:
“Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”
“Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”
Trang 7Vài đặc điểm về nội dung và
nghệ thuật
Đặc điểm nội dung:
-Nội dung quan trọng hàng đầu trong thơ chữ Hán,
Truyện Kiều, Văn Chiêu Hồn là
tình cảm chân thành, là sự cảm
thông sâu sắc của tác giả đối với
cuộc sống và con người, dặc biệt
Trang 8-Những khái quát của ông về
cuộc đời, về thân phận con người
thường mang tính triết lí cao và
thấm đẫm cảm xúc Nhà thơ triết
lí với nỗi đau về thân phận bất
hạnh của phụ nữ trong xã hội cũ :
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời
chung
Truyện Kiều
Kiều ở lầu Ngưng Bích
Buồn trông cửa biển chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh
buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về
đâu?
Trang 9Cùng với Truyện Kiều, Văn
tế thập loại chúng sinh(Văn
Chiêu Hồn) cũng là một áng văn
nôm thuộc đỉnh cao tư tưởng và
nghệ thuật Vì vậy khi nói về nỗi
đau mất nước, nỗi buồn của cha
ông ta trước đây, nhà thơ Chế
Lan Viên đã nhắc đến áng văn bất
hủ này:
Cha ông xưa từng đấm nát tay
trước cửa cuộc đời
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa
Những pho tượng chùa Tây
Phương không biết cách trả lời
Cả dân tộc đói nghèo trong rơm
Trang 10-Bằng nhãn quan thấu hiểu những xấu xa, nhơ bẩn trên cõi đời này, Nguyễn Du đã nhận ra rằng: trên thế gian đâu đâu cũng đầy những tên
quan lại độc ác, những dòng sông oan nghiệt Phản chiêu hồn thuộc
loại thơ có cảm hứng phê phán xã hội sâu sắc, mạnh mẽ và có sức khái quát nhất của thơ chữ Hán Nguyễn Du
Hậu thế nhân nhân giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La
(Người đời sau ai cũng là Thượng QuanTrên khắp mặt đất, đâu cũng có sông Mịch La!)
Ý nghĩa xã hội sâu sắc gắn chặt với tình đời, tình người bao la
- Cái nhìn nhân đạo sâu sắc: là người đầu tiên trong VHTĐ đã nêu lên một cách tập trung vấn đề thân phận những người phụ nữ có sắc đẹp và tài năng văn chương nghệ thuật
-Đề cập đến vấn đề rất mới, rất quan trọng của CNNĐ trong văn học
Trang 11-Bối cảnh của bộ phim Long Thành cầm giả ca, lấy cảm hứng từ thơ Nguyễn Du
- Ca ngợi tình yêu tự do.
Là tác giả tiêu biểu của trào lưu NĐCN trong văn học cuối XVIII đầu XIX.
Nghệ thuật
- Nắm vững nhiều thể thơ Trung Quốc (ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn.).
- Thơ chữ Hán ở các thể loại đều có bài xuất sắc.
- Thể hiện tài năng ở thể thơ Nôm (Truyện Kiều) góp phần trau dồi ngôn ngữ văn học dân tộc
Trang 12-Bút pháp của đại thi hào Nguyễn Du được coi là điêu luyện,
tuyệt bút trong đó nghệ thuật tả
cảnh tả tình được người đời sau
khen ngợi "như máu chảy ở đầu
ngọn bút" và "thấu nghìn đời“
-Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều của thi hào
Nguyễn Du là một áng văn chương
tuyệt tác trong lịch sử văn học
nước ta Truyện Kiều có giá trị về
mọi mặt : tư tưởng , triết lý , luân
lý , tâm lý và văn chương
-Nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du nói chung rất đa dạng ,
tài tình và phong phú Chính Nghệ
thuật tả cảnh này đã làm tăng rất
nhiều thi vị và giá trị cho truyện
Kiều
Trang 13Lối tả cảnh diễm tình
-Đây là lối tả cảnh mang tính cách chủ quan , man mác khắp trong truyện Kiều Cảnh vật bao giờ cũng bao hàm một nỗi niềm tâm sự của nhân vật chính hoặc phụ ẩn chứa trong đó.Nói một cách khác , Nguyễn Du tả cảnh mà thâm ý luôn luôn đem cái cảm xúc của người đối cảnh cho chi phối lên cảnh vật Điều này khiến cho cảnh vật trở thành linh hoạt như có một tâm hồn hay một nỗi xúc cảm riêng tư nào đó Chính Nguyễn Du đã tự thú nhận sự chủ quan của mình trong lúc tả cảnh qua hai câu thơ:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
-Trong khuynh hướng này , nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn
Du vượt khác hẳn các thi nhân khác , kể cả những thi sĩ Tây
Phương , vốn rất thiện nghệ trong lối tả cảnh ngụ tình Trong khi các thi sĩ này chỉ đi một chiều , nghĩa là chỉ tìm những cảnh vật nào phù hợp với tâm trạng của con người thì mới ghi vào , còn ï
Nguyễn Du thì vừa đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh , tạo nên một sự giao hòa tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người , giữa cái vô tri và cái tâm thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai
Trang 14Lối tả cảnh tượng trưng:
-Nguyễn Du cũng rất nhiều khi phô diễn lối tả cảnh tượng trưng, nghĩa là chỉ dùng một vài nét chấm phá, thành một nghệ thuật đã đạt đến mức uyển chuyển và tinh tế Hãy nghe hai câu thơ :
Vi lô san sát hơi may
Một trời thu để riêng ai lạnh lùng
-Đó là một cảnh một rừng vi lô trong mùa thu xám có gió heo may, lành lạnh Lối
tả cảnh này có thể Nguyễn Du chỉ viết theo nghệ thuật cảm quan của mình chứ không hề nghĩ rằng mình đang tạo ra một lối vẽ cảnh một cách tượng trưng bằng những vần thơ Mãi đến hơn một thế kỷ sau ,tức vào thế kỷ 19 , lối tả cảnh tượng trưng nay mới phát triển thật mau tại Pháp mà các nhà phân tích văn học gọi là
“Symbolists” Đó là sự nhận định của Giáo sư Hà Như Chi
-Nên để ý nghệ thuật của Nguyễn Du là mang cái gì rộng lớn mênh mông , để rồi đem vào hàm chứa trong một cái gì nhỏ bé ( luận giải của Giáo Sư Hà Như Chi trong Việt Nam Thi Văn Giảng Luận ) Trong hai câu thơ trên, “một trời thu”mang một ý niệm không gian rộng lớn bao la , trong khi bốn chữ “ riêng ai một mình”lại chỉ một phạm vi nhỏ bé , một tâm tình đơn lẻ cá nhân.
Trang 15Lối tả cảnh dùng màu sắc.
-Nghệ thuật tả cảnh bằng thơ của Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều màu sắc như bức tranh của một người họa sĩ Trước tiên phải là ánh sáng , một yếu tố cơ bản, rồi sau đó mới tới các màu sắc với sự c pha chế sao cho làm nổi được cảnh chính và cảnh phụ
-Hãy xem một cảnh Xuân tươi mát trên đồng quê qua ngòi bút tả cảnh đầy màu sắc của Nguyễn Du:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
-Thật là một bức tranh màu sắc thanh nhã tuyệt hảo: trên thảm cỏ xanh mướt bao la, nổi những bông hoa lê trắng tinh Chỉ có hai màu xanh và trắng như nỗi thanh khiết của tâm hồn chị em Kiều đi dự lễ Thanh Minh Ở đây cũng cần để ý tới lối đảo chữ tài tình của Nguyễn Du Thay vì “ cành lê điểm một vài bông hoa trắng” thì Nguyễn Du đã viết:”cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Tất nhiên có thể Nguyễn Du đã phải đảo chữ chỉ vì tôn trọng luật “bằng trắc” của thơ lục bát , nhưng cũng phải công nhận đó là một lối đảo chữ tài tình mà không phải ai cũng làm được
Trang 16Lối dùng chữ trang nhã và bình
dân trong tả cảnh.
-Nguyễn Du là một thi nhân thuộc dòng dõi quan quyền phú quý , nhưng gặp phải cảnh loạn lạc đổi chúa thay ngôi giữa nhà Lê và nhà Nguyễn , đã phải về quê cũ ở Huyện Tiên Điền để ẩn cư Cụ đã trải qua những ngày sống trong phú quý và những ngày sống thanh đạm nơi thôn dã , nên trong tâm hồn đã thu nhập được hai cảnh sống Cụ đã hài hòa kết hợp được hai cảnh sống đó , nên trong lãnh vực văn chương tả cảnh trong truyện Kiều , cụ
có khi dùng những chữ thật trang nhã quý phái , có khi lại dùng những chữ
thật giản dị bình dân
-Những chữ dùng trang nhã quý phái đă được kể nhiều qua những câu thơ ở trên, thiết tưởng chẳng cần lậïp lại Bây giờ chúng ta hãy xem những
chữ rất bình dân mà Nguyễn Du dùng trong lúc tả cảnh
Ví dụ chị em Kiều du Xuân ra về thì trời vừa ngả bóng hoàng hôn , Nguyễn
Du dùng hai chữ “tà tà “ chỉ một hành động chậm rãi, có thể là chị em Kiều thong thả bước chân ra về, mà cũng có thể chỉ sự xuống chầm chậm của mặt
trời chiều:
Tà tà bóng ngả về tây Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Trang 17-Nguyễn Du là một thi hào dùng rất nhiều điển tích trong tác phẩm của mình Nhưng khác với những nhà thơ khác , thường dùng điển tích chỉ vì chưa tìm được chữ quốc ngữ thích đáng để thay thế Nguyễn Du thì khác , cụ đã dùng điển tích để “ làm câu thơ
thêm có ý vị đậm đà mà vẫn lưu loát tự nhiên, không cầu kỳ thắc mắc “như Giáo sư Hà Như Chi đã nhận định (Việt Nam Thi Văn Giảng Luận) Nhưng phải nói, những điển tích mà Nguyễn Du dùng chính đã làm giàu cho nền văn chương quốc ngữ Việt Nam , thậm chí nhiều điển tích đã trở thành ngôn ngữ hoàn toàn Việt Nam , mà nói tới ai ai cũng hiểu ý nghĩa đại cương của nó Chẳng hạn những chữ Biển dâu, Gót sen, Sư tử Hà Đông, kết cỏ ngậm vành , mây
mưa, ba sinh, chắp cánh liền cành v v
Lối dùng điển tích trong tả cảnh
Trang 18Lối tả chân
-Ngoài lối tả cảnh diễm tình, Nguyễn Du còn điểm trang cho truyện Kiều bằng nhiều bức tranh tả chân, tả rất thực, và thuần túy là những họa xinh đẹp, không ngụ tình Những bức tranh bằng thơ có khi tươi tắn, có khi sầu mộng được viết theo lối văn tinh xảo Chỉ cần một vài nét phác họa với những điểm chính hiện hữu
-Đây là cảnh một túp lều tranh bên sông vắng lúc hoàng hôn , vừa giản dị , mộc mạc nhưng cũng rất nên thơ:
Đánh tranh chụm nóc thảo đường
Một gian nước biếc mây vàng chia đôi
-Hoặc chỉ một vài nét chấm phá mà người đọc đã hình dung ra
cảnh một mái tranh nghèo rách nát tơi tả theo tháng ngày:
Nhà tranh vách đất tả tơi Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa
Trang 19-Nỗi lòng của Nguyễn Du rất phức tạp Để hiểu nó, các nhà
nghiên cứu văn học thường dựa vào Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền
và các tác phẩm của ông (đặc biệt là Truyện Kiều) để rút ra một số
nhận định Nhưng những nhận định ấy đến nay vẫn chưa thống nhất, thậm chí còn mâu thuẫn với nhau một cách sâu sắc
-Trích một số ý kiến:
-Năm 1963, GS Phạm Thế Ngũ viết:
-"Một thuyết thịnh hành từ lâu do Trần Trọng Kim xướng ra
rằng Truyện Kiều chứa đựng một tâm sự tha thiết nhất của Nguyễn
Du, ấy là cái tâm sự của kẻ hàng thần nhớ chúa cũ (hoài Lê) Thuyết
trên không phải là điều bị đặt mà có sở cứ rõ ràng Thái độ phò Lê của ông được tỏ rõ trong những mưu toan chống Tây Sơn Về sau, bất đắc dĩ phải ra hợp tác với Nguyễn, ông thường tỏ ra kín đáo, nếu không nói là lãnh đạm, lúc nào cũng như mang nặng trong lòng một bầu u uất khó nói Nỗi lòng ấy chỉ có thể là, như lời ai điếu của Bùi
Kỷ trong bài Truy điệu cụ Tiên Điền vào năm 1927:
Nỗi lòng Nguyễn Du
Trang 20– Dở dang thay cái tu mi
Cực trăm nghìn nỗi trong khi tòng quyền
• "Hành vi của tác giả chứng tỏ, mà văn chương của tác giả nhiều khi cũng hé lộ rõ ràng Nhiều bài thơ chữ Hán của
ông trong Thanh Hiên tập, Bắc hành tập, đầy ý điếu cổ
thương kim, giọng khảng khái bi đát Cho đến bao nhiêu
câu trong chính Truyện Kiều tả thân thế người con gái lưu
lạc cũng gióng lên tiếng đau buồn ấy của tác giả "(tr
360)
• Năm 1967, GS Thanh Lãng viết:
• "Anh em Nguyễn Du đã từng cầm quân ủng hộ nhà Lê, tỏ
ra khí phách hơn người Nhưng công việc không thành, nhà chính trị trẻ tuổi (Nguyễn Du) bỏ về quê, lấy thú chơi săn bắn ở núi Hồng Lĩnh "Và như phần đông nho sĩ
đương thời, ông cho cái đời làm quan dưới một triều đại mới là một trạng thái “thất tiết”, thành ra suốt đời lúc nào ông cũng buồn rầu, ân hận "(tr 612)
Trang 21Kết luận chung
người có con mắt trông thấu cả sáu cõi, có tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”
• Nguyễn Du góp vào dòng sông văn học những viên ngọc nghệ thuật được kết tinh từ những vết thương lòng của một con trai chìm nổi trong biển đời.
• Nguyễn Du là một con người suy nghĩ nhiều về cuộc sống đương thời, có thái độ yêu ghét khá rõ trước cái tốt cái xấu, nhưng không sao thoát khỏi buồn phiền vì không giải thích nổi cuộc đời và không biết phải làm thế nào để thay đổi cuộc đời
đó