Phải sau này, qua nhiều lần nhậu, tôi mới ngộ được rằng, người chịu "thiệt thòi" trong các cuộc nhậu là tôi, chứ không phải là cái "túi" của mấy ông dầu khí.. Không còn phân biệt được đâ
Trang 1MỘT THOÁNG NGUYỄN DUY
Mỗi lần công cán tại Vũng Tàu, xong việc, Nguyễn Quyết Thắng thường hẹn tôi tới mộtquán ăn nào đó Thường thì có thêm một vài vị nữa Họ là bạn ông Thắng và là "VIP" củangành dầu khí Vũng Tàu bé nhỏ Đường từ nhà tôi (có khi là từ cơ quan tôi) tới chỗ ông Thắng hẹn chẳng bao xa, nhưng đường từ đồng lương tháng của tôi tới đồng lương tháng của ông Thắng và đồng nghiệp của ông thì xa vời vợi Tôi đã phải vất vả lắm mới vượt qua được mặc cảm "hoàn cảnh" của mình để tới đó Phải sau này, qua nhiều lần nhậu, tôi mới ngộ được rằng, người chịu "thiệt thòi" trong các cuộc nhậu là tôi, chứ không phải là cái "túi" của mấy ông dầu khí Tinh thần và sức khỏe của tôi không địch nổi cái "hầu bao vơi lại đầy" của mấy ông dầu khí
Lần này thì khác, ông Thắng điện cho tôi từ sáng sớm Ông không có công cán gì ởVũng Tàu cả Là ông chỉ chở Nguyễn Duy- nhà thơ đi Vũng Tàu chơi Ông bảo tôi đừng
đi đâu, ở nhà chờ ông xuống, đi uống bia với nhà thơ Nguyễn Duy Thế thì oách quá! Tôimừng rơn
Tôi đã gặp nhà thơ Nguyễn Duy nhiều lần Nhưng lần nào cũng chỉ là gặp Nguyễn Duy
ở chỗ đông người Nguyễn Duy chi có một, mà người quen thân Nguyễn Duy thì lắm Vàngười muốn quen Nguyễn Duy cũng lắm Do vậy, thường thì tôi cũng chỉ được nghe Nguyễn Duy nói chuyện, đọc thơ giữa đám đông Lần may mắn nhất, là lần, sau cuộc họp, tôi được ngồi xe, đi nhậu cùng Nguyễn Duy Nhậu tá lả, xong về nhà Phạm Văn Đoan, thuở Phạm Văn Đoan còn ở nhà tập thể cơ quan vợ Cái nền nhà Phạm Văn Đoan không lấy gì làm sạch sẽ cho lắm, vậy mà Nguyễn Duy "ngọa" xuống nền nhà, hồn nhiên như đấy là giường khách sạn mấy sao Không còn phân biệt được đâu là ông nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Duy và đâu là ông nhà quê Nguyễn Duy tuế tóa, xuề xòa, chơi được với đủ mọi thứ người "thượng vàng, hạ cám" của cõi đời này
Trông Nguyễn Duy nhỏ thó nằm bệt giữa nền nhà gạch bông của Phạm Văn Đoan, tôi chợt nghĩ, hình như tầm vóc văn hoá, tư tưởng, tinh thần của con người ta thường tỷ lệ nghịch với tầm vóc cơ thể của họ chăng? Tôi nhớ mãi, có lần, cô Cao Thái Bình- một cán bộ lịch sử Đảng cơ quan tôi kiên quyết không tin Nguyễn Duy là Nguyễn Duy Phạmvăn Đoan khi ấy cũng chẳng có cách gì chứng minh được Nguyễn Duy là Nguyễn Duy, nên, phải đến khi tôi đứng ra chứng thực, những hình dong mà cô Cao Thái Bình kể- (mặc dầu, để thuyết phục tôi công nhận là cô đúng, cô đã hơi "bé nhỏ hoá, nhà quê hoá"
Trang 2nhà thơ Nguyễn Duy) rằng chính xác đó là nhà thơ Nguyễn Duy Thì ra ông Nguyễn Duy trong tâm tưởng bạn đọc cao lớn hơn ông Nguyễn Duy thực, ngoài đời.
*
Tôi đọc thơ Nguyễn Duy từ những năm bảy mươi của thế kỉ trước Cũng là thơ chống Mỹ cứu nước cả, nhưng ngay từ hồi đó, thơ Nguyễn Duy đã khác lắm Trong lúc thơ chống Mỹ của Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Mạnh Hảo v.v là thơ trực tuyến nóng hổi, thì thơ chống Mỹ của Nguyễn Duy chỉ là thứ thơ
"gián tiếp" với chiến trường, chiến đấu, chiến tranh Đó là "Hơi ấm ổ rơm" Đó là "Bát nước ngô của bà mẹ Việt ở Quảng Trị" Đó là "Cây tre Việt Nam " Ngay như bài "Bầu trời vuông" viết giữa chiến trường cũng là bài viết về phút yên tĩnh trong chiến tranh Cái sáng tạo, cái phát hiện mới mẻ trong thơ Nguyễn Duy cũng chỉ nằm gọn trong cái
"truyền thống" Thơ Nguyễn Duy là thơ làm phong phú, sinh động và lấp lánh thơ truyền thống Vậy mà, công bằng mà nói, thơ Nguyễn Duy "sáng láng" trong tốp mười, thậm chí
là trong tốp năm của thơ chống Mỹ, trong cách chọn của nhiều người
Tôi có một bạn thơ làm dầu khí, đã mất rồi, tên là Trương Xuân Hoàng, một lần tôiđến nhà Hoàng chơi, thấy Hoàng đang ngồi một mình với chai rượu, trước mặt là tập thơ mới xuất bản của Nguyễn Duy Hoàng bảo tôi: Anh xem này, thơ của em có thua kém gì thơ Nguyễn Duy đâu! Anh đọc thử xem! Tôi chẳng biết nói gì! Thơ Nguyễn Duy không làm người khác thấy sợ, phải vòi vọi ngước lên, mà là làm cho mọi người có cảm giác mình cũng làm được thế Ngày ấy, Hoàng mê thơ lắm, và luôn khao khát làm mới, làm
lạ thơ mình Nhiều nhà thơ cũng có chung khát khao ấy và họ đi tìm tòi sự mới lạ
Nguyễn Duy cũng đi tìm sự mới lạ, nhưng là người lặng lẽ đi tìm cái mới lạ trong cái thông thường, trong "bụi nhân sinh" của cuộc đời này, và dần dà người ta nhận ra thơ Nguyễn Duy " trong quen thấy lạ" Và tôi thấy, hình như người ta thuộc, người ta nhớ thơ Nguyễn Duy hơi bị nhiều
Sau chống Mỹ, trong lúc các nhà thơ chúng ta có xu hướng tập trung sức làm trường ca sử thi : Hữu Thỉnh viết "Đường tới thành phố", Nguyễn Đức Mậu viết "Sư đoàn", Trần Mạnh Hảo viết "Mặt trời trong lòng đất", Nguyễn Trọng Tạo viết "Con đường của những vì sao", Thi Hoàng viết " Gọi nhau qua vách núi " v.v Cùng với những trường ca " Bài ca chim chơrao của Thu Bồn và "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm viết trước đó, những tập trường ca viết trong và sau chống Mỹ thực
sự đã tạo được dấu ấn đậm nét trong lòng độc giả Nguyễn Duy không xuất bản tập trường ca nào cả Sau giải phóng, cứ vài ba năm, anh lại xuất bản một tập thơ Năm 1984
là tập "Ánh trăng" Năm 1987 là tập "Mẹ và em" Năm 1989 là "Đường xa" Năm 1990 là
"Quà tặng" Đến năm 1994, với tập "Về", Nguyễn Duy tuyên bố là thôi, không làm thơ nữa Sau này, trong một bài phỏng vấn, anh giải thích là "thơ bỏ tôi" Nguyễn Duy "Về"
có nhiều lí do Nhưng, trước lúc về, nhiều người biết, trong những tập thơ "hiền từ" vừa
kể trên, Nguyễn Duy đã viết, đã để lại ba bài thơ dài là : "Đánh thức tiềm lực", "Nhìn từ
xa Tổ quốc" và "Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ" Có vẻ như việc xuất bản những bài thơ
"nỗi niềm" như của Nguyễn Duy bây giờ thì bình thường, nhưng hồi đó, in những bài thơ
"nặng đô" như vậy là can đảm lắm
Trang 3Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Nguyễn Duy thường "khuất lấp" đâu đó Anh thoắt ẩn, thoắt hiện trong đời sống cũng như trên văn đàn Khi thì nghe tin anh cùng bạn
bè đang xuyên Việt đi tìm hiểu văn hóa Việt Khi thì nghe tin Nguyễn Duy đang du kí Tây Âu Làm triển lãm thơ Việt ở Hoa Kỳ Khi lại nghe tin Nguyễn Duy đang ở Pháp, lầnhồi theo dấu tích ba ông vua lưu đày ở đảo Réunion Rồi Nguyễn Duy xuất bản thơ về Thiền Nguyễn Duy làm lịch thơ Nguyễn Duy triển lãm ảnh in trên giấy dó v.v Một Nguyễn Duy phong phú, đa dạng và sáng tạo như vậy có họa là "bị thần kinh" mới khôngmong được gặp, được uống rượu cùng
*
Khác với lần gặp Nguyễn Duy tại buổi họp mặt nhân kỉ niệm 55 năm nhà xuất bản Văn học tại Sài Gòn Lần ấy, Nguyễn Duy vừa bị tai nạn té xe "trong chân đang có thép".Trông Nguyễn Duy hom hem gầy yếu lắm Anh bảo là có nhớ tôi nhưng không liên hệ được tên tôi và cái mặt tôi Lần này, vừa gặp nhau là nhớ ngay Lại còn bắt tay, hỏi han vồn vã nữa Tôi trông thần sắc Nguyễn Duy thấy "vượng" hẳn Anh bảo, anh vừa từ Ấn
Độ về Đang làm cái gì đó về thiền Việt bên Ấn Độ Sắp tới lại sang Nêpan tìm hiểu về Phật học
Tiện đây, tôi muốn nói đôi chút về ông bạn Tổng giám đốc, nhà thơ Nguyễn Quyết Thắng của tôi Hình như tôi thấy, mỗi lần gặp nhau, ông Thắng chỉ toàn nói chuyện thơ
Nể mấy ông bạn dầu khí của ông, lúc đầu tôi ái ngại, nói lảng sang chuyện em út, chuyện linh tinh mẹt khác nhưng ông Thắng thì không Ông mặc kệ họ Ông tranh thủ xuất bản thơ ông, mà thơ ông nào có ít Tôi đang lo, có ông Duy mà ông Thắng cũng "cướp" diễn đàn thơ thì gay Nhưng hình như ông Duy đã quen nhậu với "ông nọ, bà kia" rồi Không
dễ gì ông bị người khác "tra tấn" trong các cuộc nhậu được Quả nhiên, chỉ vài câu chuyện ngoài lề nhập cuộc, ông Duy, bằng cái tài của mình, đã nhanh chóng biến ông Thắng - Tổng giám đốc một công ty dầu khí tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Trần Hồi- Phó Tổng giám đốc Liên doanh dầu khí Vietsovpetro, ông Văn Bản- đồng hương Thanh Hóa của Nguyễn Duy - kỹ sư địa vật lí và tôi, thành thính giả ngoan ngoãn hết Một cách vui vẻ và tự nguyện, Nguyễn Duy đọc liền một lúc 3 bài thơ dài "gai góc" của anh; lại hátmột bài xẩm- bài mà anh đã từng hát tại hội trương Ba Đình trong Đại hội nhà văn; lại đọc một bài vè về "Đại hội nhà văn bốn"
Thơ "thế sự" của Nguyễn Duy bạo liệt, chân thành và sâu sắc Tôi vốn xuất thân làcán bộ tuyên giáo, không thích thơ "thế sự", không thích thơ "chống tiêu cực" Nhưng khinghe thơ Nguyễn Duy, tôi phải mạnh dạn mở ngoặc (trừ thơ "thế sự" của Nguyễn Duy)
Với thơ ca, mỗi người một quan niệm, chẳng ai giống ai Vẫn biết, thơ hay thì không cứ là viết về đề tài gì Nhưng mỗi bài thơ đều có một đích nhắm Đích nhắm là con "chim sẻ" thì phải dùng "súng hơi thơ" Đích nhắm là chiếc "xe tăng", "cái lô cốt" thì phải là "trọng pháo thơ"
Trang 4Thời nào cũng vậy, luôn có một dòng thơ công dân.Tuy không phải lúc nào nó cũng được bảo chứng bằng pháp luật, bằng dư luận chính thống Nhưng lúc nào nó cũng được trân trọng, gìn giữ trong trái tim, khối óc của nhân dân Nó được sàng lọc và tồn tại qua nhiều sự biến thiên của thời thế.
Nguyễn Duy kể rằng, vào những năm 1980, giữa lúc thành phố cũng như đất nước đang khó khăn bộn bề, ông bắt đầu bài thơ "Đánh thức tiềm lực" bằng nhưng ray rứt của người lính sau chiến tranh, của nhà thơ đa cảm và của cả một thường dân trước gánh nặng kinh tế gia đình Bài thơ tượng hình từng chút một, đến năm 1982 thì hoàn thành Ông Võ Văn Kiệt, bấy giờ là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã lắng nghe trọn vẹn bài thơ "Đánh thức tiềm lực" của Nguyễn Duy Sau một lúc
im lặng, ông chỉ bảo "Nặng lắm! Nhưng chịu được" Sau "Đánh thức tiềm lực", Nguyễn Duy viết tiếp "Tổ quốc nhìn từ xa" và "Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ" Ba bài thơ dài này củaNguyễn Duy hợp lại, có thể đại diện được cho "thế giới quan - nhân sinh quan" của thi sĩ Nguyễn Duy Một học giả, tôi không tiện nhắc tên, gọi thơ Nguyễn Duy là "lương tâm thời đại" Có thể, đấy chỉ là một nhận xét cá nhân, nhưng ít nhiều nó cũng "gợi" một cáchnhìn về "tầm vóc" các nhà thơ
Sẽ còn rất sớm để rút ra một điều gì Và, cũng không nên rút ra một điều gì
Trật tự và hỗn độn chỉ là sự phân biệt tương đối và ngay cả hỗn độn cũng có lí thuyết của nó
Chia tay Nguyễn Duy, tôi cứ bâng khuâng mãi Có thể, giờ này, trong khi tôi đang viết bài này, Nguyễn Duy đang lang thang đâu đó trên đất Phật "Tây Trúc" Phải chăng, ngược với số đông, Nguyễn Duy đang bươn bả, lặn hụp với quá khứ - quá khứ văn hóa dân tộc và quá khứ văn hóa của nhân loại, để nhặt ra trong đó những "bụi vàng" văn hóa đang bị sương khói thời gian che khuất Không hiểu sao, tôi như thấy, Nguyễn Duy cũng đại diện cả cho mình, trong mọi cuộc tiếp xúc văn hóa với rộng dài nhân thế./
trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay
Cha ta cầm cuốc trên tay
Nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa
Lưng còng bạc nắng thâm mưa
bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì
Trang 5Không răng… cha vẫn cười khì
rượu tăm còn để dành khi con vềngọt ngào một chút nem quê
cay tê cả lưỡi đắng tê cả lòng
Gian ngoài thông thống gian trongsuốt đời làm lụng sao không có gìkhông răng… cha vẫn cười khì
người còn là quý xá chi bạc vàngChiến tranh như trận cháy làng
Bà con ta trắng khăn tang trên đầuvẫn đồng cạn vẫn đồng sâu
chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
Đường làng cây cỏ lưa thưa
thanh bình từ ấy sao chưa có gì
không răng… cha vẫn cuời khì
giàu nghèo có số nghĩ chi cho buồn
mẹ ta vo gạo thổi cơm
ba ông táo sứt lửa rơm khói mù
nhà bên xay lúa ù ù
vẫn chày cối thậm thịch như thuở nào
Lũ em ta vác cuốc cào
giục nhau bước thấp bước cao ra đồng
mồ hôi đã chảy ròng ròng
máu và nước mắt sao không có gì
Không răng… cha vẫn cười khì
đời là rứa kể làm chi cho rầu
cha con xa cách đã lâu
mấy năm mới uống với nhau một lần…Ruột ta thắt mặt ta nhăn
Cha ta thì cứ không răng cười cười
Ta đi mơ mộng trên trời
để cha cuốc đất một đời chưa xong
Thanh Hóa, cuối 1988
• Về đồng
Tác giả: Nguyễn Duy
Trang 6Rơm rạ ơi ta trở về đây
gió sùng sục mùi bùn nằng nặng ngấumộc mạc tím cánh hoa bìm bờ dậuvắt vẻo cành tre sáo sậu gọi tên mình
Rơm rạ ơi ta trở về đây
nắng lóng lánh trong veo mầm mạ trắnglưng trần ứa giọt sương người mằn mặntiếng cuốc kêu thất bát buổi trưa đầyRơm rạ ơi ta trở về đây
cô hàng xóm vặn tay bồng tay bếbàn tay ấy có lần ta chạm khẽ
thuở phải lòng nhau nào dám gì đâu
Rơm rạ ơi ta trở về đây
ráng chiều cháy cái màu rơm rạ cháyđồng hí hoáy cố nhân đi cấy
mông nứt đôi nhẫn nại chổng lên trời
Rơm rạ ơi ta trở về đây
xin cúi lạy vong linh làng mạc
bà và mẹ hoá cánh cò cánh vạc
ông và cha man mác kiếp trâu cày
Rơm rạ ơi ta trở về đây
ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng
cỏ áy vàng bãi tha ma vắng
lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà…(Quê nhà, mùa hạ 1992)
• Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Tác giả: Nguyễn Duy
Bần thần hương huệ thơm đêm
khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bànchân nhang lấm láp tro tàn
xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào
Mẹ ta không có yếm đào
nón mê thay nón quai thao đội đầurối ren tay bí tay bầu
váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùaCái cò… sung chát đào chua…
Trang 7câu ca mẹ hát gió đưa về trời
ta đi trọn kiếp con người
cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Bao giờ cho tới mùa thu
trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằmbao giờ cho tới tháng năm
mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
Ngân hà chảy ngược lên cao
quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương
• Kính gửi tuổi học trò
Tác giả: Nguyễn Duy
Học trò con trai ma quỷ
học trò con gái thần tiên
thầy bắt thần tiên ngồi kèm ma quỷ
Bén hơi ma quỉ ghẹo thần tiên
lập lòe đom đóm vĩnh cửu
ô mai đổi kẹo bạc hà
Lấm láp trang đời mỗi dày mỗi kịch
tuổi học trò đồng nghĩa với trang thơthời gian không mất trắng bao giờ
Câu chuyện học trò không đầu không cuốitình ý học trò quả me chua loét
lưu bút mùa hoa phượng cháy không nguôi
Trang 8Lá thư học trò vu vơ dấm dúi
nỗi nhớ học trò chấp chới suốt đời nhauđẹp như là không đâu vào đâu
• Tre Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy
Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Truyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo
Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râmBão bùng thân bọc lấy thân
Tay vin tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người
Cho dù thân gãy cành rơi
Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho conNòi tre đâu chịu mọc cong
Mới lên đã thẳng như chông lạ thườngLưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng thẳng, thân tròn của treNăm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu
Trang 9Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng
cột biên giới đóng từ thương đến nhớ
Thôi thì ta quay lại
chuyện trò cùng cái bóng máu me ta
*
Có một thời ta mê hát đồng ca
chân thành và say đắm
ta là ta mà ta cứ mê ta[ 1 ]
Trang 10thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ
ợ lên thum thủm cả tim gan
*
Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh
nỗi day dứt không nguôi vón sạn gót chânnhói dài mỗi bước
Thời hậu chiến vẫn ta người trong cuộc
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày ?
dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác
Trang 11lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt
tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạptuổi thơ bay như lá ngã tư đường
Trang 12Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…
Ðiếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng
điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn
Ðạo Chích thành tôn giáo phổ thông
Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn
buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…quyền lực bày ra đấu giá trước công đường
sao thật lắm thần dân lìa xứ
lắm cuộc chia li toe toét cười
Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa
chen nhau sang nước người làm thuê
Trang 13Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnhnhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về
Lãnh chúa xứ quân san sát vùng cát cứ
lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa
Luật pháp như đùa như có như không cómột người đi chật cả con đường
Trang 14Khốn nạn thân nhau
nặng kiếp phân thân mặt nạ
Thì lột mặt đi lần lữa mãi mà chi
dù dối nữa cũng không lừa được nữakhôn và ngu đều có tính mức độ
biết thế nhưng mà biết làm thế nào
Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bớithầy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội
Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại
lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy
xin đừng hót những lời chim chóc mãi
Ðừng lớn lối khi dân lành ốm đóivẫn còng làm cho thẳng lưng ăn
Ðổi mới thật không hay giả vờ đổi mới?máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?
Trang 15Thật đáng sợ ai không có ai thươngcàng đáng sợ ai không còn ai ghét
Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết
ta là gì ?
ta cần thiết cho ai ?
*
Có thể ta không tin ai đó
có thể không ai tin ta nữa
dù có sao vẫn tin ở con người
Dù có sao
đừng khoanh tay
khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối
Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn ?những người tốt đang cần liên hiệp lại!
Trang 16Rơm rạ ơi ta trở về đây
gió sùng sục mùi bùn nằng nặng ngấu
mộc mạc tím cánh hoa bìm bờ dậu
vắt vẻo cành tre sáo sậu gọi tên mình
Rơm rạ ơi ta trở về đây
nắng lóng lánh trong veo mầm mạ trắng
lưng trần ứa giọt sương người mằn mặn
tiếng cuốc kêu thất bát buổi trưa đầy
Rơm rạ ơi ta trở về đây
cô hàng xóm vặn tay bồng tay bế
bàn tay ấy có lần ta chạm khẽ
thuở phải lòng nhau nào dám gì đâu
Rơm rạ ơi ta trở về đây
ráng chiều cháy cái màu rơm rạ cháy
đồng hí hoáy cố nhân đi cấy
mông nứt đôi nhẫn nại chổng lên trời
Rơm rạ ơi ta trở về đây
xin cúi lạy vong linh làng mạc
bà và mẹ hoá cánh cò cánh vạc
ông và cha man mác kiếp trâu cày
Rơm rạ ơi ta trở về đây
ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng
cỏ áy vàng bãi tha ma vắng
lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà…
(Quê nhà, mùa hạ 1992
• Hơi ấm ổ rơm
Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm
Bà mẹ đón tôi trong gió đêm
- Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ
Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ
Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm
Trang 17Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm
Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộngTrong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm
Của những cọng rơm xơ xác gầy gò
Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no
Riêng cái ấm nồng nàn như lửa
Cái mộc mạc lên hương của lúa
Đâu dễ chia cho tất cả mọi người
Bình Lục – một đêm lỡ đường
• Một góc chiều Hà Nội
Hồ Gươm xanh màu xanh cổ tích
Con rùa vàng gửi bóng ở trên mây
Cây si mọc chúc cành xuống nước
Thê Húc cong cong một nét lông mày
Tóc em dài cho ta nhìn thấy gió
Áo em bay cho mờ tỏ thân hình
Em sâu sắc như kinh thành cổ kính
Gốc si già da mốc ngói rêu xanh
Em nhẹ nhõm đi về trong phố cũ
Tường nhà lở vôi cửa gỗ bức bàn
Ta lặn lội như một thằng ăn trộm
Nơm nớp lo mình bị bắt quả tang
Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại
Để dành thành mất cắp cả tình yêu
Thế là ta mồ côi em mãi mãi
Cái vu vơ chết đuối dưới sương chiều
Cửa gỗ cài then….bóng em mất hút
Xe cúp đã thay cho ngựa tía võng điều
Ta trở lại gốc si già…và làm lại
Làm thơ tình tặng những lứa đang yêu…
• Có một buổi chiều nào