1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

D:TUANthơ-đời-đẹpNghĩ về thơ nguyễn duy.doc

34 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 180 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phải sau này, qua nhiều lần nhậu, tôi mới ngộ được rằng, người chịu "thiệt thòi" trong các cuộc nhậu là tôi, chứ không phải là cái "túi" của mấy ông dầu khí.. Không còn phân biệt được đâ

Trang 1

MỘT THOÁNG NGUYỄN DUY

Mỗi lần công cán tại Vũng Tàu, xong việc, Nguyễn Quyết Thắng thường hẹn tôi tới mộtquán ăn nào đó Thường thì có thêm một vài vị nữa Họ là bạn ông Thắng và là "VIP" củangành dầu khí Vũng Tàu bé nhỏ Đường từ nhà tôi (có khi là từ cơ quan tôi) tới chỗ ông Thắng hẹn chẳng bao xa, nhưng đường từ đồng lương tháng của tôi tới đồng lương tháng của ông Thắng và đồng nghiệp của ông thì xa vời vợi Tôi đã phải vất vả lắm mới vượt qua được mặc cảm "hoàn cảnh" của mình để tới đó Phải sau này, qua nhiều lần nhậu, tôi mới ngộ được rằng, người chịu "thiệt thòi" trong các cuộc nhậu là tôi, chứ không phải là cái "túi" của mấy ông dầu khí Tinh thần và sức khỏe của tôi không địch nổi cái "hầu bao vơi lại đầy" của mấy ông dầu khí

Lần này thì khác, ông Thắng điện cho tôi từ sáng sớm Ông không có công cán gì ởVũng Tàu cả Là ông chỉ chở Nguyễn Duy- nhà thơ đi Vũng Tàu chơi Ông bảo tôi đừng

đi đâu, ở nhà chờ ông xuống, đi uống bia với nhà thơ Nguyễn Duy Thế thì oách quá! Tôimừng rơn

Tôi đã gặp nhà thơ Nguyễn Duy nhiều lần Nhưng lần nào cũng chỉ là gặp Nguyễn Duy

ở chỗ đông người Nguyễn Duy chi có một, mà người quen thân Nguyễn Duy thì lắm Vàngười muốn quen Nguyễn Duy cũng lắm Do vậy, thường thì tôi cũng chỉ được nghe Nguyễn Duy nói chuyện, đọc thơ giữa đám đông Lần may mắn nhất, là lần, sau cuộc họp, tôi được ngồi xe, đi nhậu cùng Nguyễn Duy Nhậu tá lả, xong về nhà Phạm Văn Đoan, thuở Phạm Văn Đoan còn ở nhà tập thể cơ quan vợ Cái nền nhà Phạm Văn Đoan không lấy gì làm sạch sẽ cho lắm, vậy mà Nguyễn Duy "ngọa" xuống nền nhà, hồn nhiên như đấy là giường khách sạn mấy sao Không còn phân biệt được đâu là ông nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Duy và đâu là ông nhà quê Nguyễn Duy tuế tóa, xuề xòa, chơi được với đủ mọi thứ người "thượng vàng, hạ cám" của cõi đời này

Trông Nguyễn Duy nhỏ thó nằm bệt giữa nền nhà gạch bông của Phạm Văn Đoan, tôi chợt nghĩ, hình như tầm vóc văn hoá, tư tưởng, tinh thần của con người ta thường tỷ lệ nghịch với tầm vóc cơ thể của họ chăng? Tôi nhớ mãi, có lần, cô Cao Thái Bình- một cán bộ lịch sử Đảng cơ quan tôi kiên quyết không tin Nguyễn Duy là Nguyễn Duy Phạmvăn Đoan khi ấy cũng chẳng có cách gì chứng minh được Nguyễn Duy là Nguyễn Duy, nên, phải đến khi tôi đứng ra chứng thực, những hình dong mà cô Cao Thái Bình kể- (mặc dầu, để thuyết phục tôi công nhận là cô đúng, cô đã hơi "bé nhỏ hoá, nhà quê hoá"

Trang 2

nhà thơ Nguyễn Duy) rằng chính xác đó là nhà thơ Nguyễn Duy Thì ra ông Nguyễn Duy trong tâm tưởng bạn đọc cao lớn hơn ông Nguyễn Duy thực, ngoài đời.

*

Tôi đọc thơ Nguyễn Duy từ những năm bảy mươi của thế kỉ trước Cũng là thơ chống Mỹ cứu nước cả, nhưng ngay từ hồi đó, thơ Nguyễn Duy đã khác lắm Trong lúc thơ chống Mỹ của Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Mạnh Hảo v.v là thơ trực tuyến nóng hổi, thì thơ chống Mỹ của Nguyễn Duy chỉ là thứ thơ

"gián tiếp" với chiến trường, chiến đấu, chiến tranh Đó là "Hơi ấm ổ rơm" Đó là "Bát nước ngô của bà mẹ Việt ở Quảng Trị" Đó là "Cây tre Việt Nam " Ngay như bài "Bầu trời vuông" viết giữa chiến trường cũng là bài viết về phút yên tĩnh trong chiến tranh Cái sáng tạo, cái phát hiện mới mẻ trong thơ Nguyễn Duy cũng chỉ nằm gọn trong cái

"truyền thống" Thơ Nguyễn Duy là thơ làm phong phú, sinh động và lấp lánh thơ truyền thống Vậy mà, công bằng mà nói, thơ Nguyễn Duy "sáng láng" trong tốp mười, thậm chí

là trong tốp năm của thơ chống Mỹ, trong cách chọn của nhiều người

Tôi có một bạn thơ làm dầu khí, đã mất rồi, tên là Trương Xuân Hoàng, một lần tôiđến nhà Hoàng chơi, thấy Hoàng đang ngồi một mình với chai rượu, trước mặt là tập thơ mới xuất bản của Nguyễn Duy Hoàng bảo tôi: Anh xem này, thơ của em có thua kém gì thơ Nguyễn Duy đâu! Anh đọc thử xem! Tôi chẳng biết nói gì! Thơ Nguyễn Duy không làm người khác thấy sợ, phải vòi vọi ngước lên, mà là làm cho mọi người có cảm giác mình cũng làm được thế Ngày ấy, Hoàng mê thơ lắm, và luôn khao khát làm mới, làm

lạ thơ mình Nhiều nhà thơ cũng có chung khát khao ấy và họ đi tìm tòi sự mới lạ

Nguyễn Duy cũng đi tìm sự mới lạ, nhưng là người lặng lẽ đi tìm cái mới lạ trong cái thông thường, trong "bụi nhân sinh" của cuộc đời này, và dần dà người ta nhận ra thơ Nguyễn Duy " trong quen thấy lạ" Và tôi thấy, hình như người ta thuộc, người ta nhớ thơ Nguyễn Duy hơi bị nhiều

Sau chống Mỹ, trong lúc các nhà thơ chúng ta có xu hướng tập trung sức làm trường ca sử thi : Hữu Thỉnh viết "Đường tới thành phố", Nguyễn Đức Mậu viết "Sư đoàn", Trần Mạnh Hảo viết "Mặt trời trong lòng đất", Nguyễn Trọng Tạo viết "Con đường của những vì sao", Thi Hoàng viết " Gọi nhau qua vách núi " v.v Cùng với những trường ca " Bài ca chim chơrao của Thu Bồn và "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm viết trước đó, những tập trường ca viết trong và sau chống Mỹ thực

sự đã tạo được dấu ấn đậm nét trong lòng độc giả Nguyễn Duy không xuất bản tập trường ca nào cả Sau giải phóng, cứ vài ba năm, anh lại xuất bản một tập thơ Năm 1984

là tập "Ánh trăng" Năm 1987 là tập "Mẹ và em" Năm 1989 là "Đường xa" Năm 1990 là

"Quà tặng" Đến năm 1994, với tập "Về", Nguyễn Duy tuyên bố là thôi, không làm thơ nữa Sau này, trong một bài phỏng vấn, anh giải thích là "thơ bỏ tôi" Nguyễn Duy "Về"

có nhiều lí do Nhưng, trước lúc về, nhiều người biết, trong những tập thơ "hiền từ" vừa

kể trên, Nguyễn Duy đã viết, đã để lại ba bài thơ dài là : "Đánh thức tiềm lực", "Nhìn từ

xa Tổ quốc" và "Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ" Có vẻ như việc xuất bản những bài thơ

"nỗi niềm" như của Nguyễn Duy bây giờ thì bình thường, nhưng hồi đó, in những bài thơ

"nặng đô" như vậy là can đảm lắm

Trang 3

Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, Nguyễn Duy thường "khuất lấp" đâu đó Anh thoắt ẩn, thoắt hiện trong đời sống cũng như trên văn đàn Khi thì nghe tin anh cùng bạn

bè đang xuyên Việt đi tìm hiểu văn hóa Việt Khi thì nghe tin Nguyễn Duy đang du kí Tây Âu Làm triển lãm thơ Việt ở Hoa Kỳ Khi lại nghe tin Nguyễn Duy đang ở Pháp, lầnhồi theo dấu tích ba ông vua lưu đày ở đảo Réunion Rồi Nguyễn Duy xuất bản thơ về Thiền Nguyễn Duy làm lịch thơ Nguyễn Duy triển lãm ảnh in trên giấy dó v.v Một Nguyễn Duy phong phú, đa dạng và sáng tạo như vậy có họa là "bị thần kinh" mới khôngmong được gặp, được uống rượu cùng

*

Khác với lần gặp Nguyễn Duy tại buổi họp mặt nhân kỉ niệm 55 năm nhà xuất bản Văn học tại Sài Gòn Lần ấy, Nguyễn Duy vừa bị tai nạn té xe "trong chân đang có thép".Trông Nguyễn Duy hom hem gầy yếu lắm Anh bảo là có nhớ tôi nhưng không liên hệ được tên tôi và cái mặt tôi Lần này, vừa gặp nhau là nhớ ngay Lại còn bắt tay, hỏi han vồn vã nữa Tôi trông thần sắc Nguyễn Duy thấy "vượng" hẳn Anh bảo, anh vừa từ Ấn

Độ về Đang làm cái gì đó về thiền Việt bên Ấn Độ Sắp tới lại sang Nêpan tìm hiểu về Phật học

Tiện đây, tôi muốn nói đôi chút về ông bạn Tổng giám đốc, nhà thơ Nguyễn Quyết Thắng của tôi Hình như tôi thấy, mỗi lần gặp nhau, ông Thắng chỉ toàn nói chuyện thơ

Nể mấy ông bạn dầu khí của ông, lúc đầu tôi ái ngại, nói lảng sang chuyện em út, chuyện linh tinh mẹt khác nhưng ông Thắng thì không Ông mặc kệ họ Ông tranh thủ xuất bản thơ ông, mà thơ ông nào có ít Tôi đang lo, có ông Duy mà ông Thắng cũng "cướp" diễn đàn thơ thì gay Nhưng hình như ông Duy đã quen nhậu với "ông nọ, bà kia" rồi Không

dễ gì ông bị người khác "tra tấn" trong các cuộc nhậu được Quả nhiên, chỉ vài câu chuyện ngoài lề nhập cuộc, ông Duy, bằng cái tài của mình, đã nhanh chóng biến ông Thắng - Tổng giám đốc một công ty dầu khí tại thành phố Hồ Chí Minh, ông Trần Hồi- Phó Tổng giám đốc Liên doanh dầu khí Vietsovpetro, ông Văn Bản- đồng hương Thanh Hóa của Nguyễn Duy - kỹ sư địa vật lí và tôi, thành thính giả ngoan ngoãn hết Một cách vui vẻ và tự nguyện, Nguyễn Duy đọc liền một lúc 3 bài thơ dài "gai góc" của anh; lại hátmột bài xẩm- bài mà anh đã từng hát tại hội trương Ba Đình trong Đại hội nhà văn; lại đọc một bài vè về "Đại hội nhà văn bốn"

Thơ "thế sự" của Nguyễn Duy bạo liệt, chân thành và sâu sắc Tôi vốn xuất thân làcán bộ tuyên giáo, không thích thơ "thế sự", không thích thơ "chống tiêu cực" Nhưng khinghe thơ Nguyễn Duy, tôi phải mạnh dạn mở ngoặc (trừ thơ "thế sự" của Nguyễn Duy)

Với thơ ca, mỗi người một quan niệm, chẳng ai giống ai Vẫn biết, thơ hay thì không cứ là viết về đề tài gì Nhưng mỗi bài thơ đều có một đích nhắm Đích nhắm là con "chim sẻ" thì phải dùng "súng hơi thơ" Đích nhắm là chiếc "xe tăng", "cái lô cốt" thì phải là "trọng pháo thơ"

Trang 4

Thời nào cũng vậy, luôn có một dòng thơ công dân.Tuy không phải lúc nào nó cũng được bảo chứng bằng pháp luật, bằng dư luận chính thống Nhưng lúc nào nó cũng được trân trọng, gìn giữ trong trái tim, khối óc của nhân dân Nó được sàng lọc và tồn tại qua nhiều sự biến thiên của thời thế.

Nguyễn Duy kể rằng, vào những năm 1980, giữa lúc thành phố cũng như đất nước đang khó khăn bộn bề, ông bắt đầu bài thơ "Đánh thức tiềm lực" bằng nhưng ray rứt của người lính sau chiến tranh, của nhà thơ đa cảm và của cả một thường dân trước gánh nặng kinh tế gia đình Bài thơ tượng hình từng chút một, đến năm 1982 thì hoàn thành Ông Võ Văn Kiệt, bấy giờ là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh đã lắng nghe trọn vẹn bài thơ "Đánh thức tiềm lực" của Nguyễn Duy Sau một lúc

im lặng, ông chỉ bảo "Nặng lắm! Nhưng chịu được" Sau "Đánh thức tiềm lực", Nguyễn Duy viết tiếp "Tổ quốc nhìn từ xa" và "Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ" Ba bài thơ dài này củaNguyễn Duy hợp lại, có thể đại diện được cho "thế giới quan - nhân sinh quan" của thi sĩ Nguyễn Duy Một học giả, tôi không tiện nhắc tên, gọi thơ Nguyễn Duy là "lương tâm thời đại" Có thể, đấy chỉ là một nhận xét cá nhân, nhưng ít nhiều nó cũng "gợi" một cáchnhìn về "tầm vóc" các nhà thơ

Sẽ còn rất sớm để rút ra một điều gì Và, cũng không nên rút ra một điều gì

Trật tự và hỗn độn chỉ là sự phân biệt tương đối và ngay cả hỗn độn cũng có lí thuyết của nó

Chia tay Nguyễn Duy, tôi cứ bâng khuâng mãi Có thể, giờ này, trong khi tôi đang viết bài này, Nguyễn Duy đang lang thang đâu đó trên đất Phật "Tây Trúc" Phải chăng, ngược với số đông, Nguyễn Duy đang bươn bả, lặn hụp với quá khứ - quá khứ văn hóa dân tộc và quá khứ văn hóa của nhân loại, để nhặt ra trong đó những "bụi vàng" văn hóa đang bị sương khói thời gian che khuất Không hiểu sao, tôi như thấy, Nguyễn Duy cũng đại diện cả cho mình, trong mọi cuộc tiếp xúc văn hóa với rộng dài nhân thế./

trâu bò đủng đỉnh như ngàn năm nay

Cha ta cầm cuốc trên tay

Nhà ta xơ xác hơn ngày xa xưa

Lưng còng bạc nắng thâm mưa

bụng nhăn lép kẹp như chưa có gì

Trang 5

Không răng… cha vẫn cười khì

rượu tăm còn để dành khi con vềngọt ngào một chút nem quê

cay tê cả lưỡi đắng tê cả lòng

Gian ngoài thông thống gian trongsuốt đời làm lụng sao không có gìkhông răng… cha vẫn cười khì

người còn là quý xá chi bạc vàngChiến tranh như trận cháy làng

Bà con ta trắng khăn tang trên đầuvẫn đồng cạn vẫn đồng sâu

chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Đường làng cây cỏ lưa thưa

thanh bình từ ấy sao chưa có gì

không răng… cha vẫn cuời khì

giàu nghèo có số nghĩ chi cho buồn

mẹ ta vo gạo thổi cơm

ba ông táo sứt lửa rơm khói mù

nhà bên xay lúa ù ù

vẫn chày cối thậm thịch như thuở nào

Lũ em ta vác cuốc cào

giục nhau bước thấp bước cao ra đồng

mồ hôi đã chảy ròng ròng

máu và nước mắt sao không có gì

Không răng… cha vẫn cười khì

đời là rứa kể làm chi cho rầu

cha con xa cách đã lâu

mấy năm mới uống với nhau một lần…Ruột ta thắt mặt ta nhăn

Cha ta thì cứ không răng cười cười

Ta đi mơ mộng trên trời

để cha cuốc đất một đời chưa xong

Thanh Hóa, cuối 1988

Về đồng

Tác giả: Nguyễn Duy

Trang 6

Rơm rạ ơi ta trở về đây

gió sùng sục mùi bùn nằng nặng ngấumộc mạc tím cánh hoa bìm bờ dậuvắt vẻo cành tre sáo sậu gọi tên mình

Rơm rạ ơi ta trở về đây

nắng lóng lánh trong veo mầm mạ trắnglưng trần ứa giọt sương người mằn mặntiếng cuốc kêu thất bát buổi trưa đầyRơm rạ ơi ta trở về đây

cô hàng xóm vặn tay bồng tay bếbàn tay ấy có lần ta chạm khẽ

thuở phải lòng nhau nào dám gì đâu

Rơm rạ ơi ta trở về đây

ráng chiều cháy cái màu rơm rạ cháyđồng hí hoáy cố nhân đi cấy

mông nứt đôi nhẫn nại chổng lên trời

Rơm rạ ơi ta trở về đây

xin cúi lạy vong linh làng mạc

bà và mẹ hoá cánh cò cánh vạc

ông và cha man mác kiếp trâu cày

Rơm rạ ơi ta trở về đây

ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng

cỏ áy vàng bãi tha ma vắng

lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà…(Quê nhà, mùa hạ 1992)

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Tác giả: Nguyễn Duy

Bần thần hương huệ thơm đêm

khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bànchân nhang lấm láp tro tàn

xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào

nón mê thay nón quai thao đội đầurối ren tay bí tay bầu

váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùaCái cò… sung chát đào chua…

Trang 7

câu ca mẹ hát gió đưa về trời

ta đi trọn kiếp con người

cũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằmbao giờ cho tới tháng năm

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao

quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…

lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

Kính gửi tuổi học trò

Tác giả: Nguyễn Duy

Học trò con trai ma quỷ

học trò con gái thần tiên

thầy bắt thần tiên ngồi kèm ma quỷ

Bén hơi ma quỉ ghẹo thần tiên

lập lòe đom đóm vĩnh cửu

ô mai đổi kẹo bạc hà

Lấm láp trang đời mỗi dày mỗi kịch

tuổi học trò đồng nghĩa với trang thơthời gian không mất trắng bao giờ

Câu chuyện học trò không đầu không cuốitình ý học trò quả me chua loét

lưu bút mùa hoa phượng cháy không nguôi

Trang 8

Lá thư học trò vu vơ dấm dúi

nỗi nhớ học trò chấp chới suốt đời nhauđẹp như là không đâu vào đâu

Tre Việt Nam

Tác giả: Nguyễn Duy

Tre xanh

Xanh tự bao giờ

Truyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi

Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu

Có gì đâu, có gì đâu

Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều

Rễ siêng không ngại đất nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù

Vươn mình trong gió tre đu

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành

Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh

Tre xanh không đứng khuất mình bóng râmBão bùng thân bọc lấy thân

Tay vin tay níu tre gần nhau thêm

Thương nhau tre chẳng ở riêng

Lũy thành từ đó mà nên hỡi người

Cho dù thân gãy cành rơi

Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho conNòi tre đâu chịu mọc cong

Mới lên đã thẳng như chông lạ thườngLưng trần phơi nắng phơi sương

Có manh áo cộc tre nhường cho con

Măng non là búp măng non

Đã mang dáng thẳng, thân tròn của treNăm qua đi, tháng qua đi

Tre già măng mọc có gì lạ đâu

Trang 9

Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng

cột biên giới đóng từ thương đến nhớ

Thôi thì ta quay lại

chuyện trò cùng cái bóng máu me ta

*

Có một thời ta mê hát đồng ca

chân thành và say đắm

ta là ta mà ta cứ mê ta[ 1 ]

Trang 10

thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ

ợ lên thum thủm cả tim gan

*

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh

nỗi day dứt không nguôi vón sạn gót chânnhói dài mỗi bước

Thời hậu chiến vẫn ta người trong cuộc

xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày ?

dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác

Trang 11

lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương

Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt

tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạptuổi thơ bay như lá ngã tư đường

Trang 12

Xứ sở thật thà

sao thật lắm thứ điếm

điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…

Ðiếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng

điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Ðạo Chích thành tôn giáo phổ thông

Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn

buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…quyền lực bày ra đấu giá trước công đường

sao thật lắm thần dân lìa xứ

lắm cuộc chia li toe toét cười

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa

chen nhau sang nước người làm thuê

Trang 13

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnhnhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về

Lãnh chúa xứ quân san sát vùng cát cứ

lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

Luật pháp như đùa như có như không cómột người đi chật cả con đường

Trang 14

Khốn nạn thân nhau

nặng kiếp phân thân mặt nạ

Thì lột mặt đi lần lữa mãi mà chi

dù dối nữa cũng không lừa được nữakhôn và ngu đều có tính mức độ

biết thế nhưng mà biết làm thế nào

Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bớithầy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội

Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại

lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy

xin đừng hót những lời chim chóc mãi

Ðừng lớn lối khi dân lành ốm đóivẫn còng làm cho thẳng lưng ăn

Ðổi mới thật không hay giả vờ đổi mới?máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

Trang 15

Thật đáng sợ ai không có ai thươngcàng đáng sợ ai không còn ai ghét

Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết

ta là gì ?

ta cần thiết cho ai ?

*

Có thể ta không tin ai đó

có thể không ai tin ta nữa

dù có sao vẫn tin ở con người

Dù có sao

đừng khoanh tay

khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối

Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn ?những người tốt đang cần liên hiệp lại!

Trang 16

Rơm rạ ơi ta trở về đây

gió sùng sục mùi bùn nằng nặng ngấu

mộc mạc tím cánh hoa bìm bờ dậu

vắt vẻo cành tre sáo sậu gọi tên mình

Rơm rạ ơi ta trở về đây

nắng lóng lánh trong veo mầm mạ trắng

lưng trần ứa giọt sương người mằn mặn

tiếng cuốc kêu thất bát buổi trưa đầy

Rơm rạ ơi ta trở về đây

cô hàng xóm vặn tay bồng tay bế

bàn tay ấy có lần ta chạm khẽ

thuở phải lòng nhau nào dám gì đâu

Rơm rạ ơi ta trở về đây

ráng chiều cháy cái màu rơm rạ cháy

đồng hí hoáy cố nhân đi cấy

mông nứt đôi nhẫn nại chổng lên trời

Rơm rạ ơi ta trở về đây

xin cúi lạy vong linh làng mạc

bà và mẹ hoá cánh cò cánh vạc

ông và cha man mác kiếp trâu cày

Rơm rạ ơi ta trở về đây

ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng

cỏ áy vàng bãi tha ma vắng

lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà…

(Quê nhà, mùa hạ 1992

Hơi ấm ổ rơm

Tôi gõ cửa ngôi nhà tranh nhỏ bé ven đồng chiêm

Bà mẹ đón tôi trong gió đêm

- Nhà mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ

Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ

Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm

Trang 17

Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm

Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộngTrong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm

Của những cọng rơm xơ xác gầy gò

Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no

Riêng cái ấm nồng nàn như lửa

Cái mộc mạc lên hương của lúa

Đâu dễ chia cho tất cả mọi người

Bình Lục – một đêm lỡ đường

Một góc chiều Hà Nội

Hồ Gươm xanh màu xanh cổ tích

Con rùa vàng gửi bóng ở trên mây

Cây si mọc chúc cành xuống nước

Thê Húc cong cong một nét lông mày

Tóc em dài cho ta nhìn thấy gió

Áo em bay cho mờ tỏ thân hình

Em sâu sắc như kinh thành cổ kính

Gốc si già da mốc ngói rêu xanh

Em nhẹ nhõm đi về trong phố cũ

Tường nhà lở vôi cửa gỗ bức bàn

Ta lặn lội như một thằng ăn trộm

Nơm nớp lo mình bị bắt quả tang

Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại

Để dành thành mất cắp cả tình yêu

Thế là ta mồ côi em mãi mãi

Cái vu vơ chết đuối dưới sương chiều

Cửa gỗ cài then….bóng em mất hút

Xe cúp đã thay cho ngựa tía võng điều

Ta trở lại gốc si già…và làm lại

Làm thơ tình tặng những lứa đang yêu…

Có một buổi chiều nào

Ngày đăng: 08/06/2015, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w