1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Áo dài - Truyền thống Việt

40 1,9K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áo Dài - Truyền Thống Việt
Trường học Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử và Văn hóa Việt Nam
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 21,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áo dài là loại trang phục truyền thống của Việt Nam , che thân người từ cổ đến đầu gối hoặc quá đầu gối, dành cho cả nam lẫn nữ.. Các thiếu nữ biểu diễn múa trong trang phục áo dài và nó

Trang 1

Áo dài là loại trang phục truyền thống của Việt Nam , che thân người từ cổ đến đầu gối hoặc quá đầu gối, dành cho cả nam lẫn nữ Áo dài thường được mặc vào các dịp lễ hội trang trọng, nữ sinh mặc khi đi học.

Trang 2

Các thiếu nữ biểu diễn múa trong trang phục áo dài và nón lá

Khác với kimono Nhật Bản hay hanbok Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại vừa hiện đại Trang phục dành chủ yếu cho nữ này không bị giới hạn nơi hay dịp để mặc mà có thể mặc mọi nơi, mọi lúc: dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này

Áo dài có thể có nhiều màu nhưng đẹp nhất là áo dài trắng; áo dài mặc kèm với áo lá, mang

giày cao gót trắng, đội nón lá màu trắng.

Trang 3

Khi nói đến khía cạnh thẩm mỹ, văn hóa - trang phục truyền thống của người Việt,

người ta thường nghĩ ngay đến tà áo dài và chiếc nón lá, thật vậy, trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống mang tính lịch sử lâu đời của người Việt

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài Việt với hai tà áo thướt tha trong gió

đã được tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn cách ngày nay hằng nghìn năm (2879.BC-258.BC):

Trang phục Việt cổ thể hiện trên kiếm đồng Đông Sơn.

Trang 4

Tiền thân

Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao (chưa có tài liệu ghi nhận và người nghiên cứu) Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ Sử gia Đào Duy Anh viết, "Theo Sử ký thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta,

mặc áo dài về bên tả (hình thức tả nhiệm): ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu

Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu Từ đó chép thì ta có thể suy luận rằng: hồi trước Bắc thuộc người Việt gài áo về tay trái, sau bắt chước người Trung Quốc mặc áo gài về tay phải.Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm bốn vạt nửa: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái) Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy xắn quai cồng để tiện cho việc

gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ

Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng tháo vát Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân thế nào đó

để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các Thế là ra đời áo ngũ thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm

Nho giáo và ngũ hành theo triết học Đông phương

Trang 5

Truyền thuyết kể lại rằng khi cưỡi voi xông trận, Hai Bà Trưng (40-43.AD) đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng Do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt xưa tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân.

Trang 6

Theo thời gian, khoảng từ thế kỷ 17 - thế kỷ 19, để có dáng dấp trang trọng và mang vẻ quyền quý hơn, phụ nữ nơi thành thị đã biến tấu kiểu áo ngũ thân từ chiếc áo dài tứ thân nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của người phụ nữ Giống như một quy luật, trang phục cũng đi liền với diễn biến của lịch sử, chiếc áo dài ngũ thân vẫn không thể là điểm dừng của trang phục truyền thống Việt Nam

Áo dài tứ thân.

Trong sách "Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la

Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine", xuất bản

tại Lille năm 1631, giáo sĩ Borri đã tả rõ về cách ăn mặc của

người Việt ở đầu thế kỷ 17: "Người ta mặc năm sáu cái áo dài,

áo nọ phủ lên áo kia, mỗi cái một màu Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những dải dài Khi đi lại, các dải này quyện vào nhau trông đẹp mắt…”

Tượng Ngọc Nữ (thế kỷ 17)

Trang 7

Các bộ phận của chiếc áo dài phổ biến với hình thức cố định ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương ( 1739 - 1765 )

Các văn bản Việt Nam dùng chữ Hán Nôm, áo dài viết bằng chữ Nôm là 襖長 .

Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa đến

TK IIX lối ăn mặc của người Việt vẫn hay bắt chước lối của người phương Bắc, dưới thời các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong do nhu cầu khai phá khẩn hoang, nhận hàng vạn người Minh Hương (người Khách Trú) bất mãn với nhà Thanh sang định cư lập nghiệp Trước làn sóng xâm nhập mới này, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo

đó thi hành Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam, như sau: "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện

khi làm việc thì được phép " (sách Đại Nam

Thực Lục Tiền Biên) Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê

Quý Đôn viết "Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy".

Trang 8

Cho đến đầu thế kỷ 20, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân, hay năm

tà Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay vì các loại vải ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40cm Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra

từ sườn đến gấu và không chít eo Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80cm Cổ áo chỉ cao khoảng 2 - 3cm Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lớp lót

Riêng ở miền Bắc khoảng

năm 1910 -

1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3cm bên phải cổ áo,

và cài khuy cổ lệch làm hở ra cho quyến rũ hơn và cũng để diện chuỗi hột trang sức nhiều

vòng

Trang 9

Những cách tân cho áo dài Việt

Nổi nhất lúc ấy là nhà may Cát Tường ở phố Hàng Da, Hà Nội Năm 1939 tung ra một

kiểu áo dài được ông Âu hóa Áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may không nối

sống bên dưới, chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo Nhưng cổ áo khoét hình trái tim Có khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ Vai áo may bồng, tay nối ở vai Khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải

Đến khoảng năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may

có eo Các thợ may lúc đó đã khôn khéo cắt áo lượn theo thân người Thân áo sau rộng hơn thân áo trước,

để áo ôm theo thân dáng mà không cần chít eo Vạt áo cắt hẹp hơn Thân áo trong được cắt ngắn dần từ giai đoạn này Cổ áo bắt đầu cao lên, khi gấu được hạ thấp xuống.

Đến những năm 1990, áo dài đã trở lại, cầu kỳ hơn, thanh nhã hơn và bắt đầu được bạn bè Quốc Tế nghĩ tới như là một biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.

Trang 11

Aó dài trắng dành cho nữ sinh;

Áo dài màu đỏ (thường dùng trong lễ cưới,

hỏi, lễ hội của người Việt)

Chiếc áo dài có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo

Chiếc áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ "sản xuất đại trà" cho chiếc áo dài Người đi may được lấy số đo thật kỹ Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ mới hoàn thiện

Trang 12

Thiếu nữ bên hoa huệ Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" của họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, là một trong những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam đầu tiên và nổi tiếng bậc nhất, miêu tả một cô gái mặc áo dài trắng ngồi bên một bình hoa huệ.

Trong thơ ca

Hình ảnh phụ nữ/con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống đã được nhiều nghệ sĩ ghi lại, nổi bật nhất là trong thơ và nhạc Bài thơ nổi tiếng về chiếc áo dài có thể kể là "Áo lụa Hà Đông" của Nguyên Sa, bài này được phổ nhạc thành một bài hát nổi tiếng và là cảm hứng cho một bộ phim điện ảnh cùng tên: Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Trang 13

Bài "Tương tư" của Nguyên Sa có đoạn

ca ngợi chiếc áo dài:

Có phải em mang trên áo bay

Hai phần gió thổi, một phần mây

Hay là em gói mây trong áo

Rồi thở cho làn áo trắng bay

Trang 14

Trong thơ Bùi Giáng, màu áo dài của

ký ức được nâng lên thành huyền thoại:

Biển dâu sực tỉnh giang hà Còn sơ nguyên mộng sau tà

áo xanh

Trang 15

Áo tà nguyệt bạch

Ôm nghiêng cặp sách Vai nhỏ tóc dài".

"Ngày xưa Hoàng Thị" của Phạm Thiên Thư kể về chuyện tình thuở học sinh với cô gái họ Hoàng, cô xuất hiện trong

bài với những nét phác họa:

Trang 16

Và có lẽ trong những vần thơ rất dung dị sau đây của Huy Cận cũng có hình bóng của chiếc áo dài trắng nữ sinh: Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong

Hôm xưa em đến mắt như lòng

Nở bừng ánh sáng em đi đến Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng (Áo trắng).

Trang 18

BEST PICTURE SETS: NỮ SINH

Trang 20

Bài "Một thoáng quê hương" của Từ Huy nổi tiếng một thời với câu:

Tà áo em bay, bay, bay, bay trong gió nhẹ nhàng

Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố, sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó em ơi

Áo dài chiếc áo tôn thêm vẻ đẹp của người thiếu nữ.

Trang 27

"Vì em là gió gió vẫn cứ phiêu du hoài "

Đúng tiêu chí một nền văn hóa hiện đại

đậm đà bản sắc dân tộc.

Trong đó sự kín đáo truyền thống và

phong cách ăn mặc hiện đại được kết hợp

(áo che phủ toàn thân người mặc, nhưng

mà mỏng te hoặc bó sát "tôn vinh đường

cong"

Hãy sống và ước vọng

để thấy đời mênh mông

Trang 39

Áo dài thần công với ánh mắt,

cử chỉ

và những màn kungfu tuyệtđỉnh…

Ngày đăng: 14/07/2014, 11:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh phụ nữ/con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống đã được nhiều nghệ sĩ ghi lại,  nổi bật nhất là trong thơ và nhạc - Áo dài - Truyền thống Việt
nh ảnh phụ nữ/con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống đã được nhiều nghệ sĩ ghi lại, nổi bật nhất là trong thơ và nhạc (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w