1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Các cây thuốc - vị thuốc Đông y - CÂY CHỔI XỂ pot

12 603 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 323,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các cây thuốc - vị thuốc Đông y phần 4 CÂY CHỔI XỂ Cây Chổi xể CÂY CHỔI XỂ Herba Baeckeae Tên khác: Chổi sể, Thanh cao, Cây chổi trện... Phân bố: Cây mọc rất nhiều trên các đồi khô m

Trang 1

Các cây thuốc - vị thuốc Đông y

(phần 4)

CÂY CHỔI XỂ

Cây Chổi xể

CÂY CHỔI XỂ

Herba Baeckeae

Tên khác: Chổi sể, Thanh cao, Cây chổi trện

Trang 2

Tên khoa học: Baeckea frutescens L., họ Sim (Myrtaceae)

Mô tả: Cây bụi, phân nhánh nhiều, cao 50 - 150cm Lá mọc đối, hình dải hay hình

dùi dạng dải, dài 5 - 8mm, rộng 0,4 - 0,6mm, đầu nhọn, không lông, có tuyến mờ nâu, cuống rất ngắn

Hoa mọc đơn độc ở nách lá, lưỡng tính, màu vàng trắng, đường kính cỡ 2 - 3mm; cuống hoa cỡ 1mm, mang ở giữa 2 lá bắc rất nhỏ, sớm rụng Đài hoa hình ống, dài

cỡ 1mm, chia 5 thùy hình tam giác, tồn tại; cánh hoa 5, gần tròn, dài cỡ 4mm; nhị

10, ít khi 8, ngắn hơn cánh hoa; bầu ha,̣ 3 ô, mỗi ô chứa 2 noãn

Quả nang nhỏ, dài cỡ 1mm, mở theo đường rách ngang; hạt có cạnh

Bộ phận dùng: Lá, phần trên mặt đất

Phân bố: Cây mọc rất nhiều trên các đồi khô miền Trung Du, từ Hà Bắc, Quảng

Ninh, Bắc Thái, Vĩnh Phú đến Thừa Thiên - Huế, Quang Nam - Ðà Nẵng, Phú Yên, thường mọc chung với Sim, Mua, Tràm, có khi mọc thành rừng

Thu hái: Cây lúc đang có hoa, phơi hoặc sấy khô Có thể cắt lấy tinh dầu mà

dùng

Thành phần hóa học: Toàn cây chứa tinh dầu màu vàng nhạt, thơm gần như dầu

khuynh diệp với tỷ lệ 0,5-0,7% Ở nước ta, tinh dầu Chổi chứa 35% a- thuyon và a- pinen, 4% limonen, 15% cineol, 11% ylangen Tuỳ xuất xứ mà thành phần có thể khác nhau

Công năng: Tán phong hàn, khai khiếu, giúp tiêu hoá, thông huyết mạch, sát

Trang 3

khuẩn

Công dụng:

Thân, cành dùng làm chổi và cất dầu thơm để dùng trong y dược

Người ta thường dùng cây đốt xông khói hoặc nấu nước xông chữa cảm cúm, nhức đầu, đau bụng, vàng da, sởi Còn dùng chữa chảy máu cam, lở ngứa, kém tiêu, ỉa ra máu và kinh nguyệt không đều

Rượu chổi dùng xoa bóp chữa thấp khớp Hoa chổi dùng làm thuốc điều kinh và

ăn uống kém tiêu

Cách dùng, liều lượng: Sắc lá và hoa làm nước uống (6-8g) Đốt cây khô để xông, dùng tinh dầu xoa bóp

Bài thuốc:

1 Chữa phong thấp đau xương, đau bụng lạnh dạ, nôn, ỉa, dùng cành và hoa lá Chổi 20-40g sắc uống Ngoài dùng dầu Chổi xoa bóp hoặc dùng cành lá Chổi để đốt xông hơi

2 Chữa chân thũng sưng hay lở ngứa; nấu nước cây Chổi để ngâm rửa

3 Chữa kinh bế hay chậm thấy kinh, dùng hoa Chổi, lá Móng tay, mỗi vị 40g; Nghệ đen; Ngải máu, mỗi vị 10-20g sắc uống Cấm dùng cho người có thai

Trang 4

CÂY KHÔI

Cây Khôi

CÂY KHÔI

Folium Ardisiae Silvestris

Tên khác: Cây độc lực, Đơn tướng quân, Cây lá khôi, Khôi nhung, Khôi tía

Tên khoa học: Ardisia sylvestris Pitard., họ Đơn nem (Myrsinaceae)

Trang 5

Mô tả: Cây nhỏ cao tới 2m, thân rỗng xốp, ít phân nhánh Lá tập trung ở đầu ngọn

hay các nhánh bên; phiến lá thon ngược dài 15-40cm, rộng 6-10cm, mặt trên màu lục sẫm mịn như nhung, mặt dưới màu tím đỏ, gân nổi hình mạng lưới, mép lá có răng cưa nhỏ Hoa mọc thành chùm, dài 10-15m, màu trắng pha hồng tím gồm 5 lá đài và 3 cánh hoa Quả mọng, khi chín màu đỏ

Hoa tháng 5-7, quả tháng 2

Phân bố: Cây mọc rải rác ở các tỉnh miền núi phía bắc và trung như: Lào Cai

(Sapa), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Quảng Ninh, Vĩnh phúcc (Tam Đảo), Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa (Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thạch Thành), Nghệ An (Qùi Châu), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Phú Lộc), Quảng Nam - Đà Nẵng

Bộ phận dùng: Lá

Thành phần hoá học: Tanin

Công năng: Làm giảm độ acid của dạ dày

Công dụng: Chữa đau dạ dày

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 40-80g sắc uống phối hợp với các vị thuốc

khác

Bài thuốc: Nhân dân miền ngược vùng Lang chánh, Ngọc lạc tỉnh Thanh hoá

thường dùng lá Khôi chế biến, sắc uống chữa đau bụng Hội Đông y Thanh hoá đã kếp hợp dùng lá Khôi (80g), lá Bồ công anh (40g) và lá Khổ sâm (12g) sắc uống

Trang 6

chữa đau dạ dày; có thể gia thêm lá Cam thảo dây (20g) Nhiều địa phương khác ở tỉnh Nghệ an cũng dùng lá Khôi chữa đau dạ dày Lá Khôi được dùng với lá Vối,

lá Hoè nấu nước tắm cho trẻ bị sài lở, hoặc giã với lá Vối trộn với dầu vừng đắp nhọt cho trẻ Đồng bào Dao dùng rễ cây Khôi thái nhỏ phơi khô ngâm rượu uống cho bổ huyết, lại dùng sắc uống chữa kiết lỵ ra máu, đau yết hầu và đau cơ nhục

CÂY LÁ NGÓN

Cây Lá ngón

Trang 7

CÂY LÁ NGÓN

Tên khoa học: Gelsemium elegans Benth., họ Mã tiền (Loganiaceae)

Mô tả: Cây lá ngón thuộc loại cây bụi leo, có nhiều cành leo dựa vào cây khác Lá

mọc đối, màu xanh bóng, hình tròn, đầu nhọn Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá hoặc đầu cành, màu vàng, hình ống nhỏ, xòe 5 cánh Mùa hoa từ tháng 6 - 10 Quả nang thon dài, màu nâu, chứa nhiều hạt Hạt nhỏ, hình hạt đậu, màu nâu nhạt, có cánh mỏng phát tán theo gió rất xa Cây lá ngón mọc hoang khắp nơi trong nước ta, phổ biến ở vùng rừng núi

Bộ phân dùng: lá, rễ

Phân bố: Cây mọc hoang ở một số vùng đồi, núi nước ta

Thành phần hoá học: Alcaloid (gelsemin, gelmicin )

Công dụng: Chữa mụn nhọt độc, chữa vết thương do ngã hay bị đánh đòn

Cách dùng, liều lượng: Giã nhỏ đắp ngoài hoặc sắc lấy nước rửa chỗ đau

Ghi chú: Cây Lá ngón là nguyên nhân của rất nhiều vụ ngộ độc ở các vùng rừng,

núi Alcaloid của Cây lá ngón có độc tính rất mạnh, dễ gây ngộ độc chết người Khi ngộ độc bị nôn mửa, hôn mê, giãn đồng tử, ngạt hô hấp, các cơ bị mềm nhũn, đau bụng dữ dội, chảy máu dạ dày, ruột Khi ngộ độc phải rửa dạ dày, chuyển đến bệnh viện cấp cứu

Trang 8

CÂY NGỌT NGHẸO

Hoa cây Ngọt nghẹo

CÂY NGỌT NGHẸO

Tuber et Folium Gloriosae

Tên khác: Vinh quang rực rỡ

Tên khoa học: Gloriosa superba L = Gloriosa symplex Don., họ Hành

(Liliaceae)

Mô tả: Cây mọc ở đất, có thân bò, leo cao 1-1,5m nhờ đầu lá biến thành vòi quấn,

láng, trắng hay vàng Hoa to, dẹp, đính cạnh các lá ở ngọn Đài và tràng như nhau, vàng ở gốc, đỏ ở đầu lúc mới nở, rồi đỏ đậm, mép nhăn nheo Nhị to, chỉ nhị đỏ,

Trang 9

vòi nhuỵ ngang Quả nang dài 4-5cm, có 3 ô, mở vách

Mùa hoa tháng 5-11

Bộ phận dùng: Thân rễ, lá

Phân bố: Thường mọc ở các đồng cát dựa biển và trên các đất trống, trảng nắng ở

các tỉnh Nam Trung bộ Việt Nam Cũng được trồng ở nhiều nơi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long làm cây cảnh vì hoa đẹp

Thành phần hoá học: Thân rễ chứa alcaloid colchicin (0,3%), gloriosin, acid

tannic, tinh bột, đường khử Trong lá có colchicin, dimethylcolchicin,

N-formyldeacetylcolchicin và lumicolchicin và hai alcaloid khác có liên quan

Tác dụng dược lý: Thân rễ rất độc, có tác dụng xổ, lợi mật, trừ giun Nó có tính

kích thích dạ dày ruột nên có thể gây nôn và xổ, nước chiết củ có tính kháng khuẩn đối với Staphylococcus aureus

Công dụng:

Dịch lá dùng để diệt chấy và các vật ký sinh ở tóc, lá giã ra trị ghẻ khoét (ghẻ ăn miệng như nồi vôi) Thường dùng dưới dạng thuốc đắp

Có thể dùng làm nguồn nguyên liệu chiết Colchicin

Trang 10

CÂY SỮA

Cây Sữa

CÂY SỮA

Cortex Alstoniae

Tên khác: Vỏ sữa, Mùi cua, Mò cua

Tên khoa học: Alstonia scholaris (L.) R.Br., họ Trúc đào (Apocynaceae)

Mô tả: Cây sữa là một loại cây to, có thể cao từ 15-30m Cành mọc vòng, lá cũng

mọc vòng, phiến lá hình bầu dục dài, đầu tù hoặc hơi nhọn, đáy lá hình nêm, mặt

Trang 11

trên bóng, mặt dưới mờ, phiến cứng dài 8-22cm, rộng 5,5-6,5cm Gân song song

và mau Hoa nhỏ, màu trắng xám, mọc thành xim tán Quả gồm hai đại dài 25-50cm, gầy, mọc thõng xuống, màu nâu, có gân dọc Hạt nhiều, nhỏ dẹt, hai đầu tròn hoặc cụt, dài 7mm, rộng 2,5mm, trên mặt có lông màu nâu nhạt

Mùa hoa nở từ tháng 8 đến tháng 12

Toàn cây có chất nhựa mủ trắng, khi khô giống như chất cao su

Bộ phận dùng: Vỏ thân đã cạo bỏ lớp bần phơi hay sấy khô của cây Sữa

(Alstonia scholaris (L.) R.Br.)

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta

Thu hái: Vỏ hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa xuân, hạ Hái về phơi hoặc

sấy khô để dành Hiệu suất thấp Một cây 25 năm cho chừng 19kg vỏ khô

Tác dụng dược lý:

Năm 1906, Bacon đã nghiên cứu tác dụng dược lý của những alcaloid chiết từ vỏ cây sữa và kết luận rằng tác dụng gần giống như chất quinin

Năm 1926, José K Santos (Philipin) có nghiên cứu kỹ hơn và công bố kết quả nghiên cứu trong báo khoa học ở Philippin (Philipin J Sci., 3:31)

Thành phần hoá học: Alcaloid

Công năng: Thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, chỉ thống, bình suyễn, chỉ khái, phát hãn, dùng ngoài cầm máu

Trang 12

Công dụng: Làm thuốc bổ, chữa sốt, điều kinh, chữa lỵ

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 1-3g bột vỏ phơi khô dạng thuốc sắc hoặc cao

lỏng Có thể dùng dưới dạng rượu thuốc

Bài thuốc:

1 Bột vỏ cây sữa phơi khô hoặc sấy khô rồi tán nhỏ, ngày uống 0,2-0,3g

Có thể ngâm rượu uống như sau:

2 Rượu vỏ cây sữa: Vỏ cây sữa tán nhỏ 75g, rượu uống (35-400) 500ml, đậy kỹ, ngâm trong 7 ngày, thỉnh thoảng lắc đều Sau đó lọc và thêm rượu vào cho đủ 500ml

Ngày uống 4-8g rượu này Uống 15 phút trước 2 bữa ăn chính

3 Cao lỏng vỏ cây sữa: Chế bằng cồn 600 theo phương pháp chế cao lỏng Hoặc

có thể ngâm bột vỏ sữa với cồn 600 trong 7 ngày Thỉnh thoảng lắc, lọc và thêm cồn 600 cho bằng trọng lượng của vỏ Ví dụ ngâm 1kg vỏ thì sẽ được 1 lít cao lỏng Cao lỏng này dùng với liều 0,5-1,5g mỗi ngày Nhiều nhất chỉ uống 2g/lần

và 6g trong 1 ngày

Ngày đăng: 14/07/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm