Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có
Trang 1Cây thuốc vị thuốc Đông y - CẨU TÍCH
Vị thuốc Cẩu tích
CẨU TÍCH (狗脊)
Rhizoma Cibotii
Tên khác: Kim Mao Cẩu Tích, Cu Ly, Nhung Nô, Xích Tiết
Tên khoa học: Cibotium barometz J Sm = Dicksonia barometz L.), họ Kim mao
(Dicksoniaceae)
Mô tả:
Trang 2Cây: Cây có thân thường yếu, nhưng cũng có thể cao 2,5-3m Lá lớn có cuống dài 1-2m, màu nâu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bóng phủ dày đặc Phiến dài tới 3m, rộng 60-80cm Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan- ngọn giáo dài 30-60cm Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông len Ổ túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu nâu, có 2 môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn, thuôn
Dược liệu: Đoạn thân rễ đã loại bỏ lớp lông màu vàng nâu bên ngoài, mặt ngoài rất gồ ghề, khúc khuỷu, có những chỗ lồi lên thành mấu, màu nâu hoặc nâu hơi hồng, đường kính 2 - 5 cm, dài 4 - 10 cm, rất cứng, khó cắt, khó bẻ gẫy; đôi khi còn sót lại ít lông màu vàng nâu Dược liệu khi dùng thường đã thái thành phiến mỏng hình dạng thay đổi, mặt cắt ngang nhẵn, màu nâu hồng hay nâu nhạt, có vân
Bộ phận dùng: Thân rễ đã cạo sạch lông, phơi hay sấy khô của cây Lông culi
(Cibotium barometz J Sm = Dicksonia barometz L.), họ Kim mao
(Dicksoniaceae)
Phân bố: Cây phân bố rất rộng rãi ở ven rừng phục hồi sau nương rẫy và trên các
tràng cây bụi hoặc nơi đất ẩm gần bờ khe suối, rừng núi ở khắp các tỉnh từ Lào Cai Hà Giang, qua Quảng Nam-Đà Nẵng đến Lâm Đồng
Thu hái: Thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa thu- đông, cắt bỏ rễ con và cuống
lá, cạo hết lông vàng để riêng Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4-10mm, phơi hay sấy khô Cần bảo quản nơi khô ráo Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng
Thành phần hóa học: Thân rễ cẩu tích chứa tinh bột (30%) và aspidinol, lông
Trang 3vàng ỏ thân rễ có tanin và sắc tố
Công năng: Bổ can thận, mạnh gân xương, trừ phong thấp
Công dụng:
Chữa đau khớp, đau lưng, phong thấp, tay chân nhức mỏi, đau dây thần kinh toạ, người già thận yếu đi tiểu nhiều
Lông vàng quanh thân rễ dùng đắp ngoài chữa các vết thương chảy máu Người ta thường để nguyên thân rễ với 4 gốc cuống lá tạo hình con vật 4 chân có lông vàng (Kim mao Cẩu tích) rồi phun rượu vào tạo ẩm cho lông mọc nhiều để lấy lông dùng cầm máu Hoặc lấy đoạn thân rễ có lông đem treo lên, thỉnh thoảng lại phun rượu để lông mọc tiếp
Cách dùng, liều lượng: 10-18g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, ngâm rượu
Bào chế: Rang cát nóng, cho dược liệu đã thái phiến vào, tiếp tục rang cho cháy hết lông còn sót lại Lấy ra để nguội, rửa sạch, ngâm nước 12 giờ, đồ kỹ cho mềm, tẩm rượu 12 giờ rồi sao vàng có thể chích muối ăn để tăng bổ thận
Bài thuốc:
Trị đau lưng, gân mạch khớp chân khó cử động:
- Cẩu tích, đỗ trọng, khương hoạt, nhục quế mỗi thứ 30 g; tỳ giải, chế phụ tử, ngưu tất mỗi thứ 50 g; tang ký sinh 40 g Rượu trắng 1.500 ml ngâm một tuần, lọc phần trong để uống Hoặc ngâm 3 lần nhập lại để uống thì kinh tế hơn
- Cẩu tích, khương hoạt, đỗ trọng, quế tâm, tang ký sinh, phụ tử chế mỗi thứ 30 g;
Trang 4tỳ giải, ngưu tất mỗi thứ 45 g Rượu trắng 2.500 ml ngâm như trên (hai bài trên cùng công dụng, cùng thành phần, khác liều lượng)
Trị can thận hư suy, phong thấp lưng chân đau: Cẩu tích, đan sâm, hoàng kỳ mỗi thứ 30 g, đương quy 25 g, phòng phong 15 g; rượu trắng 1.000 ml
Trị lưng đau, gối mỏi thuộc thận âm hư: Cẩu tích, thỏ ty tử, đương quy, phục linh, lượng bằng nhau Nghiền thành bột, luyện mật ong thành viên 9 g Ngày uống 3 lần Mỗi lần 1-2 viên uống với nước sôi
Bổ thận cường yêu (yêu = cột sống): Can thận bất túc, đau mỏi thắt lưng tiểu tiện luôn, phụ nữ đới hạ Cẩu tích 16 g, ngưu tất, thỏ ty tử, sơn thù du, lộc giao
(chưng), đỗ trọng mỗi thứ 12 g, thục địa 16 g Sắc uống
Lưng gối mỏi do thận can hư: Cẩu tích 10 g, sa uyển tử 12-15 g, đỗ trọng 10-12 g Sắc uống ngày một thang
Viêm cột sống tăng sinh có gai do can thận bất túc: Cẩu tích, bạch thược, thục địa, nhục thung dung, ngưu tất, cốt toái bổ mỗi thứ 15 g; sơn thù du, câu kỷ tử, nữ trinh
tử, đương quy mỗi thứ 10 g; kê huyết đằng 30 g; mộc hương 6 g Sắc uống ngày một thang
Đau nhức tất cả các khớp to nhỏ (riêng từng khớp hoặc cùng lúc nhiều khớp vào buổi sáng ngủ dậy hoặc về chiều tối nhiều hơn): Cẩu tích 30 g; cốt toái, huyết giác, độc hoạt, ngưu tất mỗi thứ 20 g; sinh địa, mạch môn, mộc qua, đan bì, cốt khí củ mỗi thứ 15 g
Nếu đau lưng, nhức mỏi, gia thêm ba kích, tục đoạn, hà thủ ô mỗi thứ 12 g Chân
tê bì hay hơi nề, gia mộc thông, tỳ giải, thiên niên kiện mỗi thứ 12 g Sưng khớp
có sốt, gia hoàng đằng 12 g, bạch chỉ 6 g
Trang 5Đau đầu, khó ngủ, táo bón, huyết áp cao thêm quyết minh tử (hạt muồng sao) 24 g
Các khớp tê buốt, sưng phát cước, sợ nước, sợ lạnh ăn kém tiêu, đại tiện lỏng: Cẩu tích, bạch chỉ, cốt toái, thiên niên kiện, độc hoạt, thương truật đều 15 g; bạch truật
20 g; xuyên khung, tô mộc, tùng hương hay nhũ hương, quế chi đều 10 g; phụ tử chế, cam thảo đều 8 g Sắc uống hai ngày một thang
Kiêng kỵ: Thận hư nhiệt, nước tiểu vàng không nên dùng