Hợp đồng vô hiệu - Một hợp đồng vô hiệu là một hợp đồng không tồn tại theo luật, không có giá trị pháp lý,không có giá trị bắt buộc thực hiện, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối vớ
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH
3.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG
Luật hợp đồng ở Việt nam hiện nay nằm rải rác trong nhiều văn bản có giá trị pháp lýcao thấp khác nhau, nhưng chủ yếu tập trung trong 3 văn bản pháp luật sau: i) Pháp lệnhhợp đồng kinh tế 1989 (nội dung của văn bản này tuy đã từng bước quay trở lại với tự dokhế ước song vẫn chứa đựng nhiều dấu ấn nặng nề của cơ chế cũ), ii) Bộ luật dân sự 1995,iii) Luật thương mại 2005 Theo thuyết về luật chung và luật riêng, có thể xem các quy địnhchung về hợp đồng được quy định từ điều 394 đến 420 BLDS là luật chung cho tất cả cácloại hợp đồng, Dựa trên các quy định chung đó, BLDS và các văn bản pháp luật khác quyđịnh riêng cho các hợp đồng chuyên biệt Và khi áp dụng luật, thì các quy định riêng sẽđược ưu tiên áp dụng trước, nếu thiếu các quy định đó, thì áp dụng các quy định chung đượcghi nhận trong BLDS Với một cách tiếp cận như vậy, phần viết dưới đây giới thiệu nhữngnguyên lý chung của pháp luật hợp đồng
3.1.1 Khái niệm hợp đồng
Chúng ta định nghĩa: hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều người nhằm mụcđích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ Một định nghĩa đơn giản và đầy đủ: một hợp đồng
là một thoả thuận có tính ràng buộc và hiệu lực pháp lý
Trước nhất hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của con người làmphát sinh các hệ quả pháp lý Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất
Hợp đồng là một hành vi pháp lý, hơn thế nữa đó là một hành vi pháp lý đặc biệt: sự thoả
thuận giữa các đương sự Sự thoả hiệp giữa các ý chí, sự ưng thuận giữa các bên là yếu tố
quan trọng nhất của hợp đồng Cơ sở của hợp đồng là sự thống nhất của các ý chí tự do
nhưng ý chí này phải phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với pháp luật Nói cách khác
ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, nhưng ý chí đó không tuyệt đối vìkhông thể trái với lợi ích chung của xã hội và trong những trường hợp đặc biệt ý chí đó phảinhường bước cho lợi ích chung
Khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làmphát sinh các nghĩa vụ Nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp Nói cách khác hiệulực của hợp đồng là tạo lập, biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ Một hợp đồng được thànhlập hợp pháp có giá trị ràng buộc đối với các bên Bản thân hợp đồng không phải là luậtpháp, nhưng hợp đồng được thành lập theo luật pháp thì nó sẽ phát sinh hiệu lực pháp lýgiữa các đương sự Đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng được cả thế giớithừa nhận
3.1.2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Trang 2 Điều kiện về mục đích của thoả thuận: Mục đích của bản thoả thuận có hợp pháp
không?
- Thoả thuận làm những việc bất hợp pháp không được công nhận có hiệu lực theo bất kỳ hệthống pháp luật nào Nói một cách khác nếu mục đích của thoả thuận đi ngược lại với luậtpháp thì thoả thuận đó không có hiệu lực pháp lý
Điều kiện về sự tự nguyện: Các bên đã thực sự đồng ý?
- Sự thoả thuận là một điều kiện cốt yếu của hợp đồng, nhưng sự thoả thuận ấy phải hữuhiệu, tức là không bị khiếm khuyết, nếu không thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực Đó là hệquả tất yếu của nguyên tắc tự do ý chí Hầu hết các hệ thống pháp luật đều dự liệu ba khiếmkhuyết của sự thoả thuận là nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ
+ Nhầm lẫn: là tình trạng một hoặc các bên chủ thể đã đánh giá sai (hình dung sai) vềthực tại khách quan
+ Lừa dối: là việc một bên có những thủ đoạn gian dối đối với bên kia, dẫn đến việcbên đó tham gia giao kết hợp đồng Lừa dối ngăn cản sự thống nhất ý chí, bởi vậy, mộtthoả thuận dựa trên cơ sở lừa dối thì không có hiệu lực
+ Đe doạ: là hành vi trái pháp luật của một bên hoặc người thứ ba tác động vào ý chícủa bên kia làm cho người đó lo sợ sắp phải chịu thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng củamình hoặc người thân và miễn cưỡng giao kết hợp đồng
Điều kiện về chủ thể: Cả hai bên có đủ năng lực để giao kết hợp đồng không?
- Câu hỏi này đưa chúng ta đến một điều kiện để thoả thuận có hiệu lực đó là điều kiện vềchủ thể: các bên trong hợp đồng phải có đủ năng lực, thẩm quyền để giao kết hợp đồng + Đối với cá nhân: pháp luật của các nước đều quy định: việc giao kết với người chưathành niên thì không có hiệu lực Tương tự như vậy, một người tâm thần, mất tríkhông thể giao kết một hợp đồng có hiệu lực, hay như ở một số nước, người say rượu,nghiện ma tuý không thể giao kết hợp đồng
+ Đối với pháp nhân Chúng ta có hai trường hợp:
(i) Trường hợp 1: thoả thuận không có hiệu lực do pháp nhân xác lập không phùhợp với mục đích hoạt động của pháp nhân
(ii) Trường hợp 2: Thoả thuận vô hiệu do người đại diện của pháp nhân không có
đủ thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền
Điều kiện về hình thức của thoả thuận: Thoả thuận có được thể hiện dưới hình thức
luật định không?
- Hình thức của hợp đồng cũng được xác định là một trong các điều kiện có hiệu lực củahợp đồng Khi hợp đồng không tuân thủ các quy định về hình thức (không thể hiện bằng vănbản, không được công chứng nhà nước chứng nhận, không được chứng thực, đăng ký hoặccho phép) trong thực tế sẽ rơi vào một tình trạng lưỡng cực: hoặc có thể trở thành có hiệu
Trang 3lực nếu lỗi hình thức được sửa chữa, hoặc sẽ vô hiệu nếu lỗi hình thức không được sửa chữa(điều 139 BLDS)
Hợp đồng vô hiệu
- Một hợp đồng vô hiệu là một hợp đồng không tồn tại theo luật, không có giá trị pháp lý,không có giá trị bắt buộc thực hiện, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bêntham gia hợp đồng từ thời điểm xác lập do có vi phạm pháp luật hoặc không thể hiện ý chíđích thực của các bên giao kết
- Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
(1) Hợp đồng bị huỷ bỏ
(2) Sự huỷ bỏ có hiệu lực hồi tố: Đối với trường hợp hợp đồng chưa được thực hiện thìcác bên không được thi hành Đối với trường hợp hợp đồng đã được thực hiện thì: i)các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; ii) bên có lỗi gây hiệt hại phải bồithường
(3) Trong một số trường hợp nhất định, tài sản hoa lợi bị tịch thu sung công quỹ
(4) Việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu không thể làm thiệt hại tớiquyền lợi của người thứ ba ngay tình
3.1.3 Giao kết hợp đồng
- Giao kết hợp đồng được hiểu như là một thời điểm mà tại thời điểm đó sự thống nhất ý chícủa các bên đã diễn ra Giao kết hợp đồng được diễn ra như sau: một bên đưa ra một văn kiệnchào hàng gọi là bên chào hàng, bên kia chấp nhận văn kiện chào hàng gọi là bên được chào hàng.Chỉ khi nào hai bên đã thoả thuận thì hợp đồng mới được thành lập và có hiệu lực từ thời điểm giaokết Người ta nói đến sự kiện này bằng một sơ đồ sau
Trang 4- Định nghĩa: sự chào hàng là một sự đề nghị giao kết hợp đồng do bên chào hàng đưa ra
cho bên được chào hàng Việc chào hàng có thể do người bán (chào bán) hoặc người muatiến hành (chào mua)
- Sự chào hàng cần phải rõ ràng, chính xác
- Chào hàng phải được chuyển đến cho một hay nhiều người xác định
- Thời gian hiệu lực của chào hàng Mỗi sự chào hàng đều phải có thời gian hiệu lực của
nó Đối với người chào hàng thời gian đó là thời gian bị ràng buộc, nghĩa là nếu trongkhoảng thời gian này mà người được chào hàng chấp nhận thì người chào hàng phải tuântheo các điều kiện đã được quy định trong văn kiện chào hàng Đối với người được chàohàng, thời gian này là thời gian để chấp nhận hay không Cách xác định thời gian hiệu lựccủa chào hàng
+ Căn cứ vào thông lệ thương mại quốc tế, có mấy quy tắc sau (các nguyên tắc trên đãđược tập quán thương mại, công ước quốc tế về mua bán hàng hoá thừa nhận) : i) Nếungười chào hàng đã quy định một thời gian cụ thể trong chào hàng thì thời gian nàychính là thời hiệu của chào hàng ii) Nếu người chào hàng chưa quy định về thời gian
cụ thể thì nó sẽ có hiệu lực trong thời gian hợp lý, không thể được quyết định một cáchthuần lý mà phải căn cứ vào các yếu tố cụ thể chính yếu sau: a) đặc điểm của thoảthuận; b) đặc điểm của thương phẩm; c) thông lệ ngành nghề; d) phương thức truyềnđạt của sự chào hàng
+ Luật thương mại Việt nam (khoản 1 điều 53): Trong trường hợp thời hạn chấp nhậnchào hàng không được xác định, thì thời hạn trách nhiệm của bên chào hàng là 30ngày, kể từ ngày chào hàng được chuyển đi cho bên được chào hàng
- Người chào hàng có thể thay đổi, rút lại chào hàng nếu: i) chào hàng nêu rõ điều kiệnđược thay đổi, ii) người được chào hàng chưa nhận được chào hàng
- Sự mất hiệu lực của chào hàng: chào hàng không còn hiệu lực trong các trường hợp sau:+ Quá hạn: nếu người được chào hàng chưa chấp nhận trong khoảng thời hiệu thì saukhi hết hạn thời hiệu đó, sự chào hàng ấy hết hiệu lực
+ Người chào hàng chết hoặc bị giải thể trước khi chào hàng được chấp nhận
+ Từ chối: nếu người được chào hàng bày tỏ sự từ chối thì việc chào hàng này sẽkhông còn hiệu lực nữa, và người chào hàng không bị ràng buộc gì
+ Sự chào hàng ngược: Chào hàng ngược là công việc của người được chào thêm bớtcác điều kiện do người chào hàng đưa ra: giá hàng, phương thức thanh toán, thời hạnthanh toán và các điều kiện giao dịch khác Nếu người chào hàng không chấp nhậnchào hàng ngược và không muốn tiếp tục cuộc đàm phán, việc chào hàng ấy coi nhưkhông còn hiệu lực ngay từ khi người chào hàng nhận được chào hàng ngược, cho dù
Trang 5thời hiệu vẫn còn Nếu chào hàng ngược được người chào chấp nhận (sự chấp nhậnnày được coi là một sự chào giá mới) qua một xác nhận chính thức thì hợp đồng vẫn
có thể được thành lập một cách có hiệu lực
3.1.3.2 Sự chấp nhận
- Định nghĩa: chấp nhận chào hàng có thể làm phát được tiến hành thông qua lời nói, vănbản hoặc hành vi cụ thể của người được chào hàng nhằm thông báo cho bên chào hàng vềviệc chấp thuận toàn bộ các nội dung đã nêu trong chào hàng
- Sự chấp nhận buộc phải là vô điều kiện Chấp nhận là sự đồng ý với việc chào hàng, trêntinh thần không có điều kiện "dự phòng", nghĩa là sự chấp nhận đó được coi là phải hoàntoàn nhất trí với nội dung của sự chào hàng Ngược lại, sự chấp nhận bao gồm những điềukiện không giống với điều kiện của chào hàng hoặc có thêm một số điều kiện mới thì đây là
sự chấp nhận có điều kiện (sự chào hàng ngược) Về nguyên tắc, sự chấp nhận có điều kiênnày sẽ làm cho việc chào hàng mất hiệu lực, bên chào hàng có quyền từ chối
- Sự chấp nhận chào hàng phải được chuyển đến tay người chào hàng thì hợp đồng mớiđược coi là đã xác lập
- Sự chấp nhận phải thực hiện khi thời hiệu của sự chào hàng vẫn còn
3.1.4 Nội dung của hợp đồng
3.1.4.1 Những gì thuộc về hợp đồng
Một hợp đồng có thể bao gồm:
- Nội dung của thoả thuận
- Một số phụ lục: là một phần của hợp đồng nhưng được tách riêng khỏi các điều khoản
về quyền và nghĩa vụ của các bên Phụ lục thường được gắn vào hợp đồng với một cáchdiễn đạt tương tự như sau: “Tổng đài điện thoại phải qua một chương trình kiểm tra nêutrong phụ lục D của hợp đồng Khi chương trình kiểm tra được hoàn thành tốt, các bên sẽlập giấy Chứng nhận có chữ ký của hai bên Mẫu giấy chứng nhận nằm trong phụ lục E củahợp đồng”
- Một số tài liệu chuẩn: ngoài phụ lục có chứa nội dung do các bên lập ra, một hợp đồngđôi khi còn có thể đề cập đến các tài liệu quốc tế chuẩn Một ví dụ điển hình làINCOTERMS Cuốn sách này được phòng thương mại quốc tế (ICC) xuất bản tại Paris, giảithích chi tiết các thuật ngữ theo cách hiểu của ICC như "ex work" (xuất khỏi xưởng), "onboard" (trên boong tàu), CIF, FOB,…
- Một số tài liệu hợp đồng: bản vẽ thiết kế, thông báo trúng thầu, bảo lãnh thực hiện thầu,thư uỷ quyền, … Hầu như bất cứ tài liệu nào cũng có thể trở thành một phần của hợp đồngnếu được liệt kê như là tài liệu của hợp đồng Điều khoản này không chỉ đơn thuần biến cáctài liệu trở thành một phần không thể tách rời của hợp đồng mà nó còn thấy trước một vấn
Trang 6đề thường xảy ra là có sự mâu thuẫn giữa các tài liệu khác nhau Trong trường hợp có mâuthuẫn thì bản hợp đồng có hiệu lực cao nhất Và một điều rất quan trọng là phải biết đượcthứ tự ưu tiên của các tài liệu.
Các tài liệu hợp đồng:
Các tài liệu được liệt kê dưới đây là một bộ phận không thể tách rời của hợp đồng.Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các tài liệu thì chúng được ưu tiên theo đúng trình tựsau đây:
i) Thoả thuận này, bao gồm tất cả các phụ lục kèm theo
ii) Toàn bộ tài liệu trong hồ sơ dự thầu và các tài liệu bổ sung có thể có
iii) Bản vẽ thiết kế trong hồ sơ thầu
iv) Thông báo trúng thầu
v) Bảo lãnh thực hiện thầu,
vi) Thư uỷ quyền
3.1.4.2 Các bên tham gia hợp đồng
- Một bản hợp đồng thường là thoả thuận giữa hai bên: hai người thoả thuận về nhữngquyền và nghĩa vụ trong tương lai của họ đối với nhau Các bên có thể là cá nhân hoặc phápnhân
Hình 3.2 Các bên tham gia hợp đồng
Hầu hết các hợp đồng được lập giữa hai bên và về nguyên tắc, chỉ có hai bên mới cóquyền và nghĩa vụ theo như hợp đồng Chúng ta hãy nghiên cứu kỹ "các bên tham gia" này
a) Tên của các bên
- Tên của các bên thường là tên đăng ký kinh doanh đầy đủ của công ty Đôi khi tên công ty
đi kèm với nơi công ty đăng ký thành lập hoặc nơi đặt trụ sở Và để tránh phải nhắc lại cáitên dài dòng này cả trăm lần trong suốt hợp đồng, liền sau đó, người ta đưa ra một cái tênrút gọn, ví dụ: "dưới đây được gọi là bên A", hoặc "dưới đây được gọi là nhà cung cấp",…Cách gọi này làm cho hợp đồng trở nên ngắn gọn hơn Nó cũng làm giảm số sai sót do đánhmáy
- Chúng ta hãy xét ví dụ dưới đây:
Trang 7Hợp đồng chuyển giao công nghệ
Giữa
Công ty Smith, Jones, Wrangle and Ironside Steamship,
một tập đoàn được thành lập và hoạt động theo luật của bang Delarware, USA
có trụ sở tại San Franscisco, Caniforniadưới đây được gọi là "SMITH"
và
Vietnam Investment Construction Trading and Technology Co.Ltd
một công ty được thành lập và hoạt động theo luật của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
có trụ sở tại 12 Tràng Thi, Hà nộidưới đây được gọi là "COMPANY"
b) Chuyển giao quyền và nghĩa vụ
- Một nguyên tắc chung là, các hợp đồng quốc tế nên quy định rõ việc chuyển nhượngquyền và nghĩa vụ đòi hỏi sự thoả thuận của cả hai bên
- Chúng ta hãy xem xét các ví dụ sau:
+ Ví dụ 1: Chuyển nhượng: Không một bên tham gia hợp đồng nào, khi chưa được sựđồng ý bằng văn bản của bên kia, được quyền chuyển nhượng một phần hay toàn bộnhững quyền và nghĩa vụ trong bản hợp đồng này
+ Ví dụ 2: Chuyển nhượng: Các bên có toàn quyền quyết định chuyển nhượng tất cảcác trách nhiệm ghi trong bản hợp đồng này
3.1.4.3 Các điều khoản chính của hợp đồng
a) Hiệu lực hợp đồng.
- Không phải tất cả các hợp đồng đều có hiệu lực sau khi được kí kết; điều khoản hiệu lực
hợp đồng cho biết ngày các quyền và nghĩa vụ bắt đầu có hiệu lực.
- Hiệu lực hợp đồng có hai dạng: (1) Dạng thứ nhất đơn giản: hợp đồng có hiệu lực vàongày kí kết (hay như được gọi trong nhiều hợp đồng là ngày thực hiện) (2) Dạng thứ haicho phép hai ngày: ngày kí kết và ngày có hiệu lực (tức là ngày hợp đồng bắt đầu được thựchiện trên thực tế)
b) Các định nghĩa
- Mục đích chung: các định nghĩa trong hợp đồng phục vụ hai mục đích Thứ nhất đưa ramột từ có thể có nhiều nghĩa và nêu lên nghĩa của từ đó được áp dụng trong hợp đồng Mụcđích thứ hai của các định nghĩa là tránh lặp lại dài dòng
Trang 8- Có hai cách để thể hiện các định nghĩa: i) có thể thu thập tất cả các định nghĩa vào trongmột điều ii) Một phương án khác là định nghĩa mỗi một từ khi lần đầu tiên nó xuất hiệntrong hợp đồng
c) Sự trao đổi: hàng hoá và giá cả.
Hình 3.3 Sự trao đổi hàng hóa và giá cả
- Điều khoản về hàng hoá thường gồm các nội dung sau:
i) Tên hàng hoá: gồm tên thông thường, tên thương mại, tên khoa học (cụ thể đối vớicác loại hàng hoá); tên nơi sản xuất ra nó; quy cách hàng hoá (kích cỡ, khối lượng,…);công dụng
ii) Phẩm chất hàng hoá: xác định phẩm chất dựa vào tài liệu kỹ thuật, hàm lượng củamột chất chính trong hàng hoá, hàng mẫu xem trước, hiện trạng hàng hoá, bằngphương pháp mô tả,… Việc chọn phương pháp thích hợp để xác định chất lượng hànghoá tuỳ thuộc vào loại hàng hoá
iii) Số lượng: quy định chính xác số lượng, quy định áng chừng, quy định trọng lượng(trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh)
iv) Bao bì và ký mã hiệu:
+ Bao bì: a) chất lượng bao bì: theo tiêu chuẩn xuất khẩu phù hợp với cácphương tiện vận tải; cần quy định cụ thể: vật liệu làm bao bì, hình thức làm bao
bì, kích thước bao bì, số lượng bao bì và cấu trúc của nó, đai nẹp bao bì,…; b)phương thức cung cấp bao bì: bên bán cung cấp bao bì cùng với việc giao hàngcho bên mua, bên bán ứng trước bao bì để đóng gói hàng hoá nhưng khi nhậnhàng bên mua phải trả lại bao bì, bên mua gửi bao bì đến trước để đóng gói; c)phương thức xác định giá cả bao bì: có thể được tính vào giá hàng hoặc được tínhriêng
+ Ký mã hiệu: được viết bằng sơn hoặc mực không phai, không nhoè, dễ đọc, dễthấy, không làm ảnh hưởng đến phẩm chất của hàng hoá Đối với hàng hoá thôngthường, phải dùng màu đen hoặc tím; hàng hoá nguy hiểm dùng màu đỏ, hànghoá độc hại dùng màu cam Bề mặt viết ký hiệu phải bào nhẵn
Hàng hóa (hàng hoá hay dịch vụ được cung cấp)
Giá (được trả khi trao đổi)
Trang 9- Điều khoản về giá cả thường ngắn gọn Thông thường nó chỉ giá của hàng hoá hay dịch
vụ cung cấp Điều khoản giá cả thường có các nội dung sau:
i) Tiền tệ được dùng để định giá
ii) Phương pháp định giá
iii) Giảm giá hoặc chiết khấu do trả tiền sớm
iv) Giảm giá hoặc chiết khấu do mua với số lượng lớn
d) Việc trao đổi diễn ra như thế nào: Điều khoản giao hàng và thanh toán.
- Điều khoản về hàng hoá và giá cả cân xứng nhau Đi kèm với mỗi điều khoản này là điềukhoản chỉ phương thức: Hàng hoá được giao như thế nào, dịch vụ được thực hiện như thếnào, giá cả được thanh toán như thế nào Hàng hoá, giao hàng, giá cả và thanh toán; bốnđiều khoản này là trung tâm của hợp đồng
Hình 3.4 Mối quan hệ giữa hàng hóa và giao hàng, giá cả và thanh toán
- Điều khoản giao hàng và thanh toán chặt chẽ phải được soạn thảo với ba bước Bướcmột mô tả tình huống thông thường mà hai bên thoả thuận Bước 2 xác định những tìnhhuống bị coi là vi phạm hợp đồng Bước 3 nêu hậu quả của việc vi phạm hợp đồng
Hình 3.5 Ba bước soạn thảo điều khoản giao hàng và thanh toán
Giao hàng và thanh toán, bước 1: tình huống mong đợi.
- Điều kiện giao hàng gồm các nội dung sau:
Hàng hoá (dùng để trao đổi) Giá cả (dùng để thanh toán trong
Trang 10i) Thời hạn giao hàng
ii) Địa điểm giao hàng (quy định cảng hoặc ga để giao hàng)
iii) Điều kiện giao hàng
iv) Phương thức giao hàng: quy định phương thức giao hàng về số lượng, chất lượng(giao từng đợt, giao một lần, cho phép chuyển tải, ): xác định số lượng thực tế hànghoá được giao, xác định chất lượng hàng hoá
v) Thông báo giao hàng: trước khi giao hàng: người mua thông báo cho người bánnhững điều kiện cần thiết để gửi hàng hoặc chi tiết tàu đến nhận hàng Sau khi giaohàng: người bán phải thông báo tình hình hàng đã giao và kết quả giao hàng
- Điều kiện thanh toán: Điều khoản thanh toán gồm các nội dung sau:
i) Tiền thanh toán
ii) Thời hạn thanh toán: trả ngay, trả trước hoặc trả sau
iii) Phương thức thanh toán: phương thức nhờ thu (Collection), tín dụng chứng từ(Documentary Credit) (L/C), chuyển tiền (Remittance), chuyển khoản, ghi sổ (openaccount)
iv) Các chứng từ thanh toán: những chứng từ cần thiết cho việc thanh toán (thường ápdụng với L/C): vận đơn, hoá đơn thương mại, list hàng hoá, C/O, giấy chứng nhận sốlượng, phẩm chất hàng hoá,…
Giao hàng và thanh toán, bước 2: Xác định sự vi phạm hợp đồng
- Nguyên tắc chung là: trong điều khoản về giao hàng và thanh toán, các bên thống nhất vớinhau những trường hợp nào bị coi là vi phạm hợp đồng và những trường hợp nào không.Thông thường thì các sự kiện bất khả kháng và trì hoãn cho phép không bị xét là vi phạmhợp đồng
Giao hàng và thanh toán, bước: 3 hậu quả của việc vi phạm hợp đồng
- Ở bước 2, các bên đã xác định được các tình huống vi phạm hợp đồng Bước 3 sẽ giảithích hậu quả; bên vi phạm hợp đồng sẽ phải chịu trách nhiệm vật chất như thế nào?
- Bồi thường (rất phổ biến) có hai loại: (1) bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường bằngtiền và (2) bên không vi phạm có quyền chấm dứt hợp đồng
(1) Bồi thường bằng tiền (phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại):
+ Phạt hợp đồng: là số tiền nhất định bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm do
có hành vi vi phạm các điều khoản của hợp đồng
+ Bồi thường thiệt hại: Đây là số tiền bồi thường cho những thiệt hại thực tế màcông ty A phải chịu do việc giao chậm hàng
(2) Biện pháp huỷ bỏ và chấm dứt hợp đồng (kết thúc hợp đồng)
Trang 11Kết thúc hợp đồng là một giải pháp cực đoan, nhưng đôi khi đó lại là lối thoát duynhất Kết thúc hợp đồng là một giải pháp đối với việc vi phạm hợp đồng, thường đượcgọi là chấm dứt có lý do: điều đó có nghĩa là có một nguyên nhân nào đó dẫn đếnchấm dứt hợp đồng Kết thúc hợp đồng sẽ dẫn đến hai khả năng: (i) Hủy bỏ hợp đồng:tất cả sẽ quay trở lại như ban đầu, trước khi hợp đồng được ký kết hoặc (ii) Chấm dứthợp đồng: tất cả sẽ giữ nguyên tình trạng hiện tại, nhưng các quyền và nghĩa vụ củacác bên thì chấm dứt
- Giới hạn trách nhiệm pháp lý Về cơ bản có ba cách giới hạn trách nhiệm pháp lý.
(i) Thứ nhất, với điều khoản phạt hợp đồng thường có một giới hạn tối đa
(ii) Cách thứ hai, cho thấy bên bị thiệt hại có thể tìm một giải pháp khác chứ khôngphải là số tiền phạt, đặc biệt họ có thể tìm đến giải pháp chấm dứt hợp đồng hoặc đòibồi thường thiệt hại bằng cách đưa vụ việc ra toà án hoặc trọng tài
(iii) Cách thứ ba nhằm giới hạn rủi ro là đưa điều khoản trách nhiệm pháp lý vào hợpđồng Điều khoản này đặt ra một giới hạn tổng số tiền bị đòi bồi thường theo các điềukiện phát sinh tối đa theo hợp đồng
Trang 12Hình 3.6 Bảng tóm tắt điều khoản hàng hoá và giá cả, giao hàng và thanh toán
Hàng hoá và giá cả, giao hàng và thanh toán, tất cả cùng với nhau làm nên phần cốtlõi của hầu hết các loại hợp đồng Hệ thống thuật ngữ có thay đổi theo các lĩnh vực khácnhau, nhưng các nguyên tắc chung, như chúng tôi đã đề cập đến, vẫn không thay đổi Sơ đồdưới đây sẽ chỉ rõ các điều khoản và điều kiện mà chúng ta đã thảo luận có quan hệ vớinhau như thế nào?
Bao gồm
Có thể
Tiền tệ được dùng để thanh toán
Bao gồm
Tiền thanh toán
Thời gian thanh toán
Phương thức thanh toán
Chứng từ thanh toán
Những trục trặc nào trong giao hàng bị coi là vi phạm hợp đồng? (ví dụ: giao hàng kém phẩm chất, giao hàng thiếu, thời gian giao hàng,…)
Miễn trừ trách nhiệm vật chất
Những trục trặc nào trong thanh toán bị coi là vi phạm hợp đồng? (ví dụ: chậm thanh toán…) Miễn trừ trách nhiệm vật chất
HẬU QUẢ CỦA VI PHẠM HỢP ĐỒNG LÀ GÌ?
Phạt hợp
đồng
Bồi thường thiệt hại
Huỷ bỏ hợp đồng
Chấm dứt hợp đồng
Trang 13d) Giải quyết tranh chấp
Giải quyết tranh chấp: bên mua và bên bán sẽ nỗ lực, thông qua đàm phán trực tiếp,đàm phán không chính thức để giải quyết bằng hoà giải bất cứ mâu thuẫn, tranh chấp nàophát sinh từ hoặc có liên quan đến hợp đồng
Song có những tranh chấp không thể giàn xếp bằng cách như vậy Trong trường hợpnày, một "bên thứ ba" phải tham gia giải quyết Các bên có thể lựa chọn thủ tục tranh tụng(xét xử tại toà án hoặc thủ tụng trọng tài (phân xử tại trung tâm trọng tài) Những điểmtương đồng và khác biệt, nhưng ưu, nhược điểm của hai hệ thống này sẽ được lý giải tạichương 3
Một vấn đề cơ bản trong điều khoản giải quyết tranh chấp mà chúng ta cần đề cập tới
đó là: xác định luật áp dụng Nếu các bên không quy định luật áp dụng thì cơ quan giảiquyết tranh chấp phải lựa chọn một bộ luật phù hợp nhất
Giải quyết tranh chấp: Tất cả các tranh chấp xuất phát liên quan đến hợp đồng được
ký kết sẽ được giải quyết bằng thủ tục trọng tài phù hợp với nguyên tắc trọng tài của Trungtâm trọng tài quốc tế Việt nam và sẽ được giải quyết theo luật Việt nam
Trang 14Hình 3.7 BẢNG TÓM TẮT CÁC ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG
Hiệu lực của hợp đồng: hợp đồng này sẽ bắt đầu có hiệu lực sau khi đã được hai bên ký kết và vào ngày bên mua mở thư tín dụng tại ngân hàng Nếu như hợp đồng không có hiệu lực trong vòng 90 ngày kể từ ngày ký kết thì hợp đồng không còn hiệu lực và giá trị pháp lý.
Hiệu lực của hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng: hợp đồng này sẽ bắt đầu có hiệu lực sau khi đã được hai bên ký kết và vào ngày bên mua mở thư tín dụng tại ngân hàng Nếu như hợp đồng không có hiệu lực trong vòng 90 ngày kể từ ngày ký kết thì hợp đồng không còn hiệu lực và giá trị pháp lý.
Các định nghĩa
Các định nghĩa (giải thích từ ngữ): Trong hợp đồng này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
"Hợp đồng": có nghĩa là tất cả các điều khoản của hợp đồng, các bảng số liệu kỹ thuật, bản vẽ, tài liệu bỏ thầu, thư thoả thuận,…
"Ngoại tệ": có nghĩa là đồng tiền của bất cứ quốc gia nào ngoại trừ quốc gia nơi hợp đồng được thực hiện…….
Hàng hóa Điều khoản về hàng hoá: Tên hàng hoá, chất lượng, số lượng.
Đóng gói (bao bì),kỹ mã hiệu, bảo hành
Sự trao đổi
hàng hoá - giá cả
Giá cả Điều khoản về giá cả: Tiền tệ được dùng để tính giá, các điều khoản giảm giá ưu đãi (nếu có)
Điều khoản giao hàng
Điều khoản giao hàng Thời hạn giao hàng, Địa điểm giao hàng Phương thức, điều kiện giao hàng Thông báo giao hàng
Điều khoản thanh toán
Điều khoản thanh toán Tiền tệ.
Thời hạn thanh toán Phương thức thanh toán Các chứng từ thanh toán
Việc trao đổi
diễn ra như thế
nào?
Vi phạm điều kiện giao hàng
Điều khoản về sự vi phạm điều kiện giao hàng (giao hàng chậm) Nếu hàng được giao sau ngày giao hàng đã thoả thuận chậm trên 10 ngày, vì bất
kỳ lý do khác không thuộc phạm vi bất khả kháng thì nhà cung cấp sẽ bị coi là trì hoãn giao hàng (giao hàng chậm).
Bên bán phải trả 1% giá trị hợp đồng (hoặc giá trị phần hàng bị giao chậm) cho mỗi một tuần giao hàng chậm, song không vượt quá 10% tổng giá trị hợp đồng Nếu chậm giao hàng quá 10 tuần thì bên mua có quyền huỷ hợp đồng.
Vi phạm điều khoản thanh toán
Điều khoản về sự vi phạm điều khoản thanh toán (chậm thanh toán) Nếu việc thanh toán bị trì hoãn vì những lý do ngoài phạm vi bất khả kháng thì bên mua phải………, song không vượt quá 10% tổng giá trị hợp đồng.
Giải quyết tranh chấp
Điều khoản về giải quyết tranh chấp Bên mua và bên bán sẽ nỗ lực, thông qua đàm phán trực tiếp, đàm phán không chính thức để giải quyết bằng hoà giải bết cứ mâu thuẫn, tranh chấp nào phát sinh từ/hoặc liên quan đến hợp đồng.
Nếu không giải quyết được bằng thương lượng, hoà giải thì tất cả các tranh chấp, khiếu kiện, tranh cãi phát sinh từ/hoặc liên quan đến hợp đồng sẽ được đưa đến giải quyết tại trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam và định đoạt theo luật Việt nam Các bên nhất trí rằng bất kỳ một phán quyết hay quyết định của ban trọng tìa đều ràng buộc cả hai bên Mỗi bên sẽ chịu phần chi phí của mình
Trang 153.1.5 Thực hiện hợp đồng
Nguyên tắc thực hiện hợp đồng Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên phải tuân
thủ những nguyên tắc sau:
- Thực hiện hợp đồng một cách trung thực, hợp tác, đảm bảo tin cậy lẫn nhau
- Thực hiện đúng thoả thuận Các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng và đầy đủ cácđiều khoản của hợp đồng
- Không được xâm phạm lợi ích nhà nước, công cộng và lợi ích hợp pháp của ngườikhác
Trách nhiệm vật chất khi vi phạm hợp đồng.
- Vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng nghĩa vụ theo các điều kiện hợp đồng Điều kiện hợp đồng là bất kỳ điều kiệnnào đã được các bên thoả thuận cụ thể trong hợp đồng hoặc được xác định áp dụngbằng cách khác, ví dụ từ những thông lệ tập tục hoặc các quy phạm dự liệu khi các bênkhông thoả thuận Mọi sai lệch so với các điều kiện này đều được coi là vi phạm hợpđồng Trên thực tế, người ta có thể chia vi phạm hợp đồng thành: a) từ chối thực hiệnnghĩa vụ, b) không có khả năng thực hiện hợp đồng và c) thực hiện không đầy đủ theocác điều kiện của hợp đồng
- Về nguyên tắc, có 4 hậu quả pháp lý có thể áp dụng cho vi phạm hợp đồng bao gồm:đền bù thiệt hại, phạt hợp đồng, huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu thực hiện hợp đồng, trong
đó đền bù thiệt hại là hậu quả pháp lý phổ biến nhất được áp dụng, các hậu quả pháp lýkhác là những ngoại lệ và chỉ được áp dụng rất hạn chế
(1) Bồi thường thiệt hại: là một chế tài tài sản dùng để bù đắp những thiệt hạithực tế cho bên bị vi phạm Chức năng chủ yếu của chế tài này là bội hoàn, bùđắp, khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm Căn cứ phát sinhtrách nhiệm bồi thường thiệt hại: i) có hành vi vi phạm hợp đồng; ii) có thiệt hạithực tế xảy ra; iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hạixảy ra; iv) có lỗi của bên vi phạm Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạmđền bù các thiệt hại trực tiếp và các thiệt hại xảy ra từ quan hệ nhân quả đối vớihành vi vi phạm bao gồm các thiệt hại gián tiếp, chi phí bổ sung, thanh toán chocác bên thứ ba, thất thoát lợi nhuận,… Bên bị vi phạm có nghĩa vụ hạn chế vàchứng minh các thiệt hại thực tế đã xảy ra Các yêu cầu của toà án về chứng cứxác định thiệt hại là chặt chẽ và nghiêm ngặt
(2) Phạt hợp đồng: hay còn gọi là đền bù thiệt hại đã được ước lượng trước Đây
là chế tài được áp dụng nhằm củng cố quan hệ hợp đồng, nâng cao ý thức tôntrọng pháp luật đồng thời phòng ngừa vi phạm pháp luật Cách xác định thiệt hạiước lượng tuỳ theo từng hợp đồng cụ thể, song có thể là một khoản tiền nhất định
Trang 16cho mỗi ngày chậm thi hành nghĩa vụ hoặc một phần trăm nhất định của giá trịhợp đồng Luật Việt nam hạn chế mức phạt là 5% (điều 378 BLDS) hoặc 8%(điều 228 LTM) giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm Bên vi phạm có nghĩa vụ nộpphạt theo thoả thuận, bất luận thiệt hại thực tế đã xảy ra hay chưa
(3) Huỷ bỏ hợp đồng: có thể phân loại vi phạm hợp đồng thành hai loại: vi phạmnhững điều khoản chủ yếu và vi phạm những điều khoản không chủ yếu Cácđiều kiện nào là chủ yếu được xác định tuỳ theo từng trường hợp cụ thể Đối với
vi phạm các điều khoản không chủ yếu, bên bị vi phạm không có quyền yêu cầuhuỷ bỏ hợp đồng, mà chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Ngược lại đốivới vi phạm các điều khoản chủ yếu, bên bị vi phạm có thể lưạ chọn: (1) tiếp tụcthực hiện hợp đồng và đòi đền bù thiệt hại hoặc (2) huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầubồi thường thiệt hại Phạm vi yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp huỷ
bỏ hợp đồng bao gồm các lợi ích và giá trị mà bên bị vi phạm mất đi nếu như hợpđồng chưa được giao kết.(điều 419 BLDS, điều 237 LTM)
(4) Yêu cầu thực hiện hợp đồng: đối với các hợp đồng liên quan đến vật đặcđịnh, ví dụ: đồ cổ, tranh ảnh sách bào cũ không có vật thay thế, đối với các hợpđồng mua bán đất, thuê mua doanh nghiệp, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu toà
án buộc bên vi phạm thực hiện hợp đồng Đây là những trường hợp đặc biệtngoại lệ mà việc dùng tiền đền bù thiệt hại cho người bị vi phạm tỏ ra không hợplý
Các bên được miễn trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng trong hai trường hợp sau:
(i) trường hợp miễn trách đã thoả thuận trong hợp đồng
(ii) trường hợp bất khả kháng (điều 77 LTM, điều 308 BLDS) Bất khả kháng cónghĩa là tất cả các sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát hợp lý của bất kể một bên nào ngăncản hoặc làm trì hoãn việc thực hiện bất kể một trách nhiệm nào trong bản hợp đồng.Bất khả kháng bao gồm, song không giới hạn ở những sự kiện như: chiến tranh, bạoloạn, nổi loạn, các hành động phá hoại, đình công, đóng cửa nhà máy hay bãi công,những bộ luật mới đưa ra hay những quy định của chính phủ, hoả hoạn, cháy nổ, cáctai nạn khác, lũ lụt, bão, động đất hay các hiện tượng thiên nhiên bất bình thường khác
3.1.6 Chấm dứt quan hệ hợp đồng
- Các căn cứ để chấm dứt quan hệ hợp đồng Quan hệ hợp đồng có thể chấm dứt trongnhiều trường hợp khác nhau: a) chấm dứt do hoàn thành hợp đồng, b) chấm dứt do các bênbên thoả thuận, c) chấm dứt theo quy định của pháp luật (ví dụ đối với phá sản hoặc các giớihạn thời gian hợp đồng đối với từng loại hợp đồng cụ thể), d) chấm dứt do hợp đồng khôngcòn đối tượng, e) chấm dứt do vi phạm hợp đồng
Trang 173.2 HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
3.2.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng
3.2.1.1 Định nghĩa hợp đồng tín dụng
Từ khái niệm chung về hợp đồng, căn cứ vào bản chất hoạt động tín dụng của tổ
chức tín dụng cho phép đưa ra một định nghĩa về hợp đồng tín dụng như sau: "Hợp đồng tín
dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức cá nhân có đủ điều kiện do luật dịnh (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm."
3.2.1.2 Chủ thể của hợp đồng tín dụng
Trong giao dịch tín dụng, chủ thể tham gia giao kết hợp đồng tín dụng bao gồm: bêncho vay (các tổ chức tín dụng) và bên vay (các tổ chức cá nhân có đủ những điều kiện doluật định)
Các chủ thể này khi tham gia giao dịch cần phải thoả mãn những điều kiện nhất địnhtheo sự dự liệu của pháp luật
Điều kiện chủ thể đối với bên cho vay (các tổ chức tín dụng)
Theo những điều khoản được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng (1997), một
tổ chức tín dụng muốn trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn cácđiều kiện sau:
- Có giấy phép thành lập và hoạt động do ngân hàng nhà nước cấp
- Có điều lệ do ngân hàng nhà nước chuẩn y
- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp
- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với kháchhàng
Điều kiện chủ thể đối với bên vay
Trên nguyên tắc mọi hợp đồng vay chỉ có thể được thiết lập giữa những chủ thể có
đủ năng lực và thẩm quyền theo luật định Do đó, ngoài các quy định về điều kiện chủ thểđối với bên cho vay, pháp luật còn đòi hỏi bên vay cũng phải thoả mãn những điều kiện nhấtđịnh Những điều kiện đó bao gồm:
- Điều kiện chung:
+ Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Đối với các tổ chức còn phải cóngười đại diện hợp pháp có năng lực và thẩm quyền đại diện
+ Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Điều kiện riêng áp dụng đối với từng chế độ cho vay cụ thể
Trang 18+ Đối với khoản vay theo chế độ tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản (tín chấp):bên vay phải có phương án sử dụng vốn khả thi và có đủ uy tín đối với tổ chức tíndụng, đồng thời phải là các đối tượng thuộc diện được cho vay không cần bảo đảmtheo quy định của Chính phủ.
+ Đối với khoản vay theo chế độ tín dụng không có bảo đảm: bên vay phải cóphương án sử dụng vốn khả thi và có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh củangười thứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh.Tóm lại, pháp luật quy định các điều kiện chủ thể đối với bên cho vay và bên vaytrong hợp đồng tín dụng không chỉ nhằm bảo vệ các lợi ích chính đáng của các bên, giúp họtránh được các thiệt hại hay sai lầm khi giao kết hợp đồng tín dụng trong những điều kiệnkhắt khe, nghiệt ngã của cơ chế thị trường
3.2.1.3 Giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ - pháp
lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định, bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây:
Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng : là hành vi pháp lý do một bên thực hiện
dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia Thông thường, bên đề nghị giao kết hợpđồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơnxin vay, kèm theo các giấy tờ tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hayphương án sử dụng vốn vay Các tài liệu này được bên xin vay gửi cho tổ chức tín dụng vàđược coi như một bằng chứng đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng
Ngoài ra, mặc dù pháp luật thực định chưa dự liệu nhưng thực tiễn giao kết hợp đồngtín dụng ở Việt nam còn cho thấy rằng bên đề nghị giao kết hợp đồng cũng có thể là tổ chứctín dụng Trên thực tế để tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tín dụng,các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh,… đã từng chủ động tìm kiếm khách hàng đểgiao kết hợp đồng tín dụng với tư cách là bên đề nghị Trong trường hợp này, văn bản đềnghị là thư chào mời được gửi cho các tổ chức, cá nhâ có khả năng tài chính mạnh mà tổchức tín dụng lựa chọn là bên đối tác Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng)thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những điều khoản dựthảo cụ thể để cho bên kia xem xét chấp nhận
Thẩm định hồ sơ tín dụng : là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ - pháp
lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay trên
cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không Do tính đặc biệt quan trọng của giai đoạn nàytrong suốt quá trình từ cho vay đến thu nợ, cho nên pháp luật đòi hỏi bên cho vay là tổ chứctín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tính độc lập, phân định rõ ràng tráchnhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay
Trang 19Ngoài ra trong trường hợp cần thiết hoặc pháp luật quy định, tổ chức tín dụng có thểthành lập hội đồng tín dụng để thẩm định hoặc thuê, trưng cầu các cơ quan chuyên môn cóthẩm quyền thẩm định Theo khoản 3, điều 15, qui chế cho vay của tổ chức tín dụng đối vớikhách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN ngày 30/09/1998 củaThống đốc Ngân hàng nhà nước), thời hạn thẩm định hồ sơ là 10 ngày làm việc (đối vớikhoản vay ngắn hạn) và 45 ngày (đối với khoản vay trung, dài hạn) Trong trường hợp từchối cho vay thì tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu
rõ lý do từ chối cho vay
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín
dụng của khách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định chấp nhận hoặc từ chối chovay, dựa vào kết quả thẩm định, phân tích và điều tra đối với khách hàng
Chấp nhận cho vay (chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng) là hành vi pháp
lý do tổ chức tín dụng (thông qua người đại diện hợp pháp của mình thực hiện dưới hìnhthức văn bản chính thức gửi cho bên vay với nội dung đồng ý cho vay kèm theo lời đề nghịgặp gỡ để thoả thuận các điều khoản cụ thể của hợp đồng tín dụng Xét về bản chất pháp lý,hành vi chấp nhận cho vay trên văn bản chỉ có giá trị tuyên bố đồng ý ký kết hợp đồng chứkhông thay thế cho việc giao kết hợp đồng Vì thế mặc dù tuyên bố chấp nhận cho vaynhưng do hợp đồng tín dụng (với ý nghĩa là văn kiện chính thức của giao dịch) vẫn chưađược thiết lập nên các bên chưa bị ràng buộc với các điều khoản của hợp đồng
Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng Đây là giai đoạn cuối cùng
cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng Trong giai đoạn này,các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng Giai đoạn này đượccoi là kết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức ký tên vào văn bản hợp đồng tín dụng
3.2.1.4 Nội dung, hình thức của hợp đồng tín dụng.
Hình thức của hợp đồng tín dụng : trong hoạt động của các tổ chức tín dụng,
pháp luật quy định mọi hợp đồng tín dụng đều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giátrị pháp lý (điều 51-Luật các tổ chức tín dụng)
Nội dung của hợp đồng tín dụng : là tổng thể những điều khoản do các bên có
đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện và phù hợp với pháp luật Các điềukhoản này phản ánh những quyền, nghĩa vụ cụ thể của mỗi bên tham gia hợp đồng Theoquy định của điều 51, nội dung của hợp đồng tín dụng phải bao gồm các điều khoản cụ thểsau đây:
- Điều kiện vay vốn: khi thoả thuận điều khoản này, các bên cần ghi rõ trong hợp đồngnhững tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thoả mãn thì mới được chấp nhận vay vốn Chẳnghạn: bên vay phải có năng lực chủ thể, có tài sản cầm cố, thế chấp, hoặc có bảo lãnh,…
Trang 20- Đối tượng hợp đồng: các bên thoả thuận về số tiền vay, lãi suất, tổng số tiền phải trả khihợp đồng tín dụng đáo hạn
- Thời hạn sử dụng vốn vay: các bên phải ghi rõ trong hợp đồng về ngày, tháng, năm trảtiền hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợp đồng Nếu có thể gia hạn hợp đồng thìcác bên cũng thoả thuận trước về thời gian gia hạn
- Phương thức thanh toán tiền vay: đây là điều khảon rất quan trọng vì nó liên quan trựctiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay Vì thế các bên phải thoả thuận rõ rằng số tiền vay
sẽ được hoàn trả dần hàng tháng hay trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn
- Mục đích sử dụng tiền vay: các bên cần ghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì.Việc thoả thuận điều khoản này được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn về vốncho người đầu tư là các tổ chức tín dụng Đồng thời, để đảm bảo lợi ích của cả hai bên vàđảm bảo cho đồng vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả, pháp luật quy định rằng trong thờigian sử dụng vốn, các bên có quyền thoả thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xétthấy thời cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi
- Giải quyết tranh chấp
Ngoài ra, nếu hợp đồng tín dụng được giao kết có điều khoản bảo đảm bằng tài sảnnhư cầm cố, thế chấp, bảo lãnh thì các bên có thể thoả thuận một điều khoản riêng rẽ nằmtrong hợp đồng tín dụng (hợp đồng chính), hoặc lập thành một hợp đồng phụ đình kèm theohợp đồng chính Trong thực tế các bên thường ký kết một hợp đồng phụ (hợp đồng cầm cố,hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh) theo thể thức luật định nhằm thể hiện rõ ý chí củamình trong việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
3.2.2 Các loại hợp đồng cho vay thông dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng
3.2.2.1 Hợp đồng cho vay có bảo đảm bằng tài sản
- Theo nghĩa pháp lý, cho vay có bảo đảm là một loại quan hệ pháp luật tín dụng trong đó
tổ chức tín dụng thoả thuận để cho khách hàng vay được sử dụng một số tiền của mình trongmột thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả trên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản cầm cố,thế chấp của người vay hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba
a) Cầm cố tài sản để vay vốn ở tổ chức tín dụng
- Cầm cố tài sản vay vốn ở tổ chức tín dụng là việc bên vay cam kết dùng các động sảncủa mình để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng
- Đối tượng cầm cố gồm các động sản có đủ các tiêu chuẩn sau:
+ Đang thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên vay
+ Có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay từ 20% trở lên
+ Không có tranh chấp, không bị pháp luật cấm hoặc hạn chế chuyển nhượng
Trang 21+ Đối với những đối tượng mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu thì giấy
tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản đương nhiên thuộc về tài sản cầm cố
Việc quy định những tiêu chuẩn trên đối với tài sản cầm cố thực chất là một biệnpháp ngăn ngừa và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh của các tổ chức tín dụng, đồng thờigóp phần hạn chế các tranh chấp vốn rất dễ phát sinh từ các hợp đồng tín dụng
- Về thủ tục cầm cố, pháp luật qui định rằng việc cầm cố phải tuân thủ các qui tắc pháp lýsau:
i) Việc cầm cố phải lập thành văn bản có công chứng nhà nước Văn bản này gọi làhợp đồng cầm cố Về nguyên tắc, hợp đồng cầm cố phải do các bên trực tiếp ký kết vàsau đó phải được chứng thực bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sự chứng thực của
cơ quan nhà nước có thảm quyền đối với hợp đồng cầm cố có tác dụng tạo ra chứng cứpháp lý ghi nhận tính xác thực của việc cầm cố, góp phần ngăn ngừa các vi phạm vàbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
ii) Bên cầm cố có nghĩa vụ chuyển giao tài sản cầm cố (kể cả giấy tờ chứng nhậnquyền sở hữu tài sản cầm cố) cho tổ chức tín dụng hoặc người thứ ba (thường là các cơ
sở cho thuê kho bãi) quản lý theo sự thoả thuận của các bên, trừ trường hợpc ác bên cóthoả thuận khác Trong suốt thời gian cầm cố, bên quản lý tài sản không được phépchuyển nhượng, cho thuê hay quyết định số phận pháp lý của tài sản dưới những hìnhthức khác nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của bên kia
iii) Theo pháp luật Việt nam, việc cầm cố chỉ bắt buộc phải đăng ký tại cơ quan nhànước có thẩm quyền đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền
Trang 22i) Đối tượng: cầm cố là các động sản; thế chấp là các bất động sản (trừ một số ngoại lệtài sản là động sản nhưng có thể đem thế chấp như máy bay, tàu thuỷ, ca nô, xà lan,máy móc thiết bị gắn với nhà xưởng,….
ii) Trong cầm cố, bên vay thường phải chuyển giao tài sản cho tổ chức tín dụng quản
lý thì trong thế chấp bên vay thường tiếp tục được quản lý tài sản thế chấp nhưng phảichuyển giao cho tổ chức tín dụng nắm giữ giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu tàisản
c) Bảo lãnh bằng tài sản để vay vốn ở các tổ chức tín dụng.
- Bảo lãnh bằng tài sản vay vốn ở các tổ chức tín dụng là việc một pháp nhân, thể nhâncam kết với tổ chức tín dụng sẽ dùng các tài sản của mình để trả nợ thay cho bên vay khingười này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tíndụng
- Theo điều 370 BLDS, trong trường hợp nhiều người đứng ra bảo lãnh cho một khoảnvay thì tất cả những người bảo lãnh phải liên đới chịu trách nhiệm đố với chủ nợ (trừ trườnghợp giữa họ có thoả thuận rằng mỗi người bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm
vi mình bảo lãnh) Có thể nói theo pháp luật Việt nam, sự bảo lãnh dù trong dân sự haythương mại thì nghĩa vụ liên đới thông thường mang tính đương nhiên, nếu các bên khôngghi vào hợp đồng bảo lãnh về sự phi liên đới của nghĩa vụ bảo lãnh
- Để ngăn ngừa tình trạng lừa đảo và đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh của các tổ chứctín dụng, pháp luật đòi hỏi các bên khi ký hợp đồng bảo lãnh phải tuân theo những quy địnhi) Chủ thể ký hợp đồng bảo lãnh phải là các pháp nhân hoặc cá nhân có đủ năng lựcpháp luật và năng lực hành vi Đối với pháp nhân, phải có người đại diện hợp pháp đủthẩm quyền để thay mặt pháp nhân ký kết hợp đồng bảo lãnh Trong trường hợp tàisản đem bảo lãnh thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người thì phải có sự đồng ýbằng văn bản của tất cả những người đồng sở hữu
ii) Hợp đồng bảo lãnh phải được ký bằng văn bản có chứng thực của cơ quan côngchứng nhà nước Pháp luật không bắt buộc việc bảo lãnh phải đươc đăng ký tại cơquan nhà nước có thẩm quyền vì trên cả phương diện lý thuyết và thưc tế thì người bảolãnh không nhất thiết phải chuyển giao tài sản đem bảo lãnh cho tổ chức tín dụngchiếm giữ, quản lý
iii) Phạm vi bảo lãnh: trên nguyên tắc tự nguyện, người bảo lãnh có quyền cam kết với
tổ chức tín dụng rằng họ sẽ hực hiện thay một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà bên vay
đã không thực hiện theo hợp đồng tín dụng
d) Hiệu lực của hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh
- Về nguyên tắc, hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh chỉ có hiệu lực khi thoả mãn cácđiều kiện sau:
Trang 23+ Chủ thể có đủ năng lực và thẩm quyền
+ Nội dung, hình thức của hợp đồng không trái pháp luật
+ Có sự đồng thuận về ý chí giữa các bên ký kết
+ Nghĩa vụ cần bảo đảm không bị vô hiệu
Như vậy, nếu một hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh không thoả mãn một trongcác điều kiện trên đây thì đương nhiên Toà án có thể tuyên hợp đồng đó vô hiệu
- Sự vô hiệu hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh về nguyên tắc chỉ có thể làm cho hợpđồng tín dụng bị vô hiệu theo khi các bên tham gia hợp đồng tín dụng đã thoả thuận rằngviệc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh là điều kiện bắt buộc để ký hợp đồng tín dụng
3.2.2.2 Hợp đồng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
- Trong thực tế, mặc dù sự bảo đảm cho các khoản vay của tổ chức tín dụng là cần thiếtnhưng không phải mọi khoản vay ở tổ chức tín dụng đều cần có sự bảo đảm bằng tài sản.Đôi khi, các tổ chức tín dụng cung cấp các khoản vay mà không cần có tài sản bảo đảm.Nghiệp vụ này được các tổ chức tín dụng áp dụng đối với các khoản vay mà họ cho rằngngười đi vay có đủ uy tín, có tình hình tài chính lành mạnh, có phương án sử dụng vốn khảthi và khả năng trả nợ chắc chắn hoặc được pháp luật cho phép Nếu trong hợp đồng chovay có bảo đảm bằng tài sản, khả năng thu hồi nợ vay của tổ chức tín dụng là tương đối lớn,ngược lại trong hợp đồng cho vay không có bảo đảm, tổ chức tín dụng chỉ có thể dựa vào sựđánh giá về khả năng trả nợ của người vay thông qua kết quả phân tích và điều tra tín dụngđối với khách hàng
- Điều kiện vay vốn: không phải là những tài sản đem bảo đảm mà bao gồm rất nhiều yếu
tố phản ánh năng lực trả nợ của người vay như :
i) Năng lực chủ thể: có đủ năng lực và thẩm quyền để ký kết hợp đồng tín dụng.ii) Uy tín của người vay
- Sự khác nhau giữa “công nghệ” và “kỹ thuật” là gì? Kỹ thuật là một kỹ năng cần thiết
để thực hiện một số nhiệm vụ đặc thù, thông thường là một kỹ năng cụ thể
Trang 24- Sự khác nhau giữa “công nghệ” và bí quyết Bí quyết là kiến thức cần thiết để thực hiệnmột nhiệm vụ nào đó, còn công nghệ thì hẹp hơn: nó là kiến thức cần thiết để sản xuất hoặcxây dựng một cái gì cụ thể Trong thực tế, phần này đề cập tới ba loại bí quyết: i) bí quyếtquản lý (biết làm thế nào để lập kế hoạch, tổ chức và kiểm tra), ii) bí quyết tài chính (biếtlàm thế nào để lập và thực hiện kế hoạch tài chính và làm thế nào để quản lý kế toán), iii) bíquyết sản xuất (giống như công nghệ).
3.2.1.2 Chuyển giao công nghệ
- Đối tượng của chuyển giao công nghệ là tài sản trí tuệ Tài sản trí tuệ có thể được hiểutheo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các thông tin có giá trị thương mại (gọi là tài sản trí tuệ).Luật của nhiều nước thừa nhận bốn loại tài sản trí tuệ:
(i) Nhãn hiệu thương mại và các dấu hiệu tương tự (nhãn hiệu hàng hoá, quyền sửdụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá)
(ii) Bằng sáng chế và các thiết kế (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng côngnghiệp)
(iii) Bản quyền (quyền tác giả)
(iv) Bí mật thương mại
Nhãn hiệu hàng hoá là dấu hiệu xác định nguồn gốc của hàng hoá Mọi dấu hiệu hoặc
sự phối hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của người cung cấp nàyvới người cung cấp khác, có thể đăng ký nhãn hiệu hàng hoá Chủ nhãn hiệu có quyền ngăncản các bên thứ ba sử dụng chính nhãn hiệu đó hoặc các nhãn hiệu khác có khả năng gâynhầm lẫn về nguồn gốc của người cung cấp
Bằng sáng chế là bằng được cấp cho các phát minh (sản phẩm hoặc quy trình) tronglĩnh vực công nghệ, mang tính mới, sáng tạo và có thể sử dụng trong công nghiệp Bằngsáng chế cho phép nhà sáng chế có lợi nhuận độc quyền từ sáng chế của họ trong thời giangiới hạn Sáng chế trở thành tài sản hợp pháp của họ được bảo hộ trong một thời gian, tức
là, trong khoảng thời gian này không ai được phép thu lợi nhuận từ sáng chế mà khôngđược phép của nhà sáng chế Đổi lại, nhà sáng chế phải công bố tất cả các chi tiết của sángchế cho công chúng, và sau thời kỳ bằng sáng chế có hiệu lực, thì công chúng có thể sửdụng sáng chế một cách tự do
Bản quyền rất giống với bằng sáng chế nhưng nó thường đề cập tới sự sáng tác, biểuthị trí tuệ sáng tạo văn học, âm nhạc hoặc tác phẩm nghệ thuật Bản quyền có lẽ là dạng cổđiển của tài sản trí tuệ Tương tự như bằng sáng chế, người có bản quyền có quyền nghiêmcấm hoặc cho phép người nào đó sao chép lại tác phẩm của mình trong một số năm nhấtđịnh Người đó có thể bán, cho thừa kế hoặc cấp phép sử dụng bản quyền Tuy nhiên, bảnquyền có một số đặc điểm riêng: quyền này được kéo dài trong một khoảng thời gian rất dài(thông thường là cả cuộc đời người sáng tác cộng với một khoảng thời gian sau đó khoảng
Trang 2550 năm); đối tượng của bản quyền là một sự thể hiện ý tưởng chứ không phải bản thân ýtưởng
Bí mật thương mại (thông tin không được tiết lộ) Những thông tin bảo mật là nhữngthông tin cần đáp ứng ba yêu cầu dưới đây của TRIPS (Hiệp định về các khía cạnh liên quanđến thương mại của quyền tài sản trí tuệ - một trong những văn kiện thành lập WTO): thôngtin đó phải bí mật, không được công bố công khai trong công chúng, thông tin đó có giá trịthương mại khi được bảo mật, và người có thông tin đó đã tiến hành các biện pháp cần thiết
để bảo mật thông tin Khi đáp ứng được các yêu cầu đó, người có thông tin có thể nhậnđược một sự bảo hộ chống lại các hành vi của bên thứ ba vi phạm các thói quen kinh doanhđúng đắn để có được thông tin mà không được người có thông tin cho phép
- Công nghệ chuyển giao qua rất nhiều loại hợp đồng khác nhau: hợp đồng cấp phép phát
minh sáng chế, hợp đồng xây dựng nhà máy công nghiệp, hợp đồng đại lý, phân phối,… Ở
đây, chúng ta chỉ nghiên cứu hợp đồng chuyển giao công nghệ dạng thuần khiết: không có máy móc, không có phát minh sáng chế, không xây dựng mà chỉ đơn giản là hợp đồng mua
bí quyết sản xuất
- Hợp đồng chuyển giao công nghệ là sự thoả thuận giữa các bên nhằm xác lập các quyền
và nghĩa vụ đối với nhau trong quá trình chuyển giao công nghệ
3.2.2 Nội dung của hợp đồng chuyển giao công nghệ (xem phụ lục hợp đồng chuyển giao công nghệ)
3.4 HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
3.4.1 Khái niệm, phân loại hợp đồng lao động
3.4.1.1 Khái niệm hợp đồng lao động
- Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động vềviệc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ laođộng (điều 26 Bộ luật lao động)
Đặc trưng của hợp đồng lao động
Đặc trưng thứ nhất: sự phụ thuộc pháp lý của người lao động và người sử dụng lao động
(yếu tố quản lý của người sử dụng lao động với người lao động)
- Đây là đặc trưng tiêu biểu nhất của hợp đồng lao động mà các hệ thống pháp luật khácnhau đều thừa nhận Có thể thấy trong tất cả các loại quan hệ hợp đồng, duy nhất hợp đồnglao động tồn tại đặc trưng này
- Yếu tố chính trong hợp đồng lao động là sự lệ thuộc pháp lý của người lao động vàongười sử dụng lao động Điểm đặc sắc trong khế ước lao động là người lao động không phảichỉ cam kết làm một công việc gì hay cung cấp một dịch vụ nhất định mà còn tự đặt mìnhdưới sự điều khiển của người sử dụng lao động khi làm công việc ấy Trong thực tế, uy
Trang 26quyền của người sử dụng lao động đối với người lao động được biểu lộ bằng quyền ra lệnh,quyền hưởng dụng kết quả công việc và nghĩa vụ trả lương cho công nhân mặc dù có thểkhông được lời một đồng nào từ công việc ấy
Đặc trưng thứ hai: Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công.
- Quan niệm về việc làm: với tư cách là đối tượng của hợp đồng lao động thì bao giờ việclàm cũng có một mối liên hệ xác định tạo ra mối lợi Nói cách khác, cũng như mọi quan hệmua bán khác, việc làm - như một thứ hàng hoá đem bán trên thị trường - trước hết phải cóích, mà ở đây có nghĩa là đem lại cái lợi cho người mua và người bán nó Do đó, việc làmvới ý nghĩa là đối tượng của hợp đồng lao động phải là việc làm có trả công Như vậy, khimột người lao động tham gia quan hệ lao động đã hoàn thành công việc như đã thoả thuậnthì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trả công cho quá trình lao động đó, bất luậnviệc kinh doanh của người sử dụng lao động có lãi hay không Song về bản chất, tiền côngcủa người lao động là giá trị của hàng hoá sức lao động, chính vì vậy, nó được điều chỉnhbằng các quy chế pháp lý tương đối đặc biệt không như giá cả của những hàng hoá thôngthường
- Việc xác định đối tượng hợp đồng lao động là việc làm có trả công, không chỉ có ý nghĩa
đề phân biệt hợp đồng lao động với các hợp đồng khác có nội dung tương tự, mà còn có ýnghĩa trong việc xác định chủ thể trong quan hệ lao động
Đặc trưng thứ ba: Hợp đồng lao động do người lao động đích danh ký kết và thực hiện
- Đặc trưng này xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp đồng lao động Nếu như trong mộtquan hệ hợp đồng dân sự, người ta chỉ quan tâm đến lao động đã kết tinh trong sản phẩm,thì trong quan hệ lao động, các bên không chỉ chú ý đến lao động quá khứ mà họ còn quantâm tới lao động sống, tức lao động đang có, đang diễn ra Hơn nữa, hợp đồng lao độngthường được thực hiện trong môi trường xã hội hoá, có tính chuyên môn hoá và hợp tác hoácao Vì vây, khi người sử dụng lao động thuê người lao động, người ta không chỉ quan tâmtới chuyển môn của họ mà còn quan tâm đến đạo đức, ý thức, nhân thân của người lao động
Do vậy, người lao động phải trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, không đượcchuyển nhượng cho người thứ ba
- Mặt khác, trong hợp đồng lao động, ngoài những quyền và nghĩa vụ do hai bên thoảthuận thì người lao động còn được hưởng một số chế độ, quyền lợi theo quy định pháp luậtnhư: nghỉ hàng năm, lễ tết, chế độ hưu trí,… Những quyền lợi này của người lao động chỉđược hiện thực hoá trên cơ sở sự cống hiến cho xã hội của họ (chủ yếu thể hiện thông quathời gian làm việc, mức tiền lương,…) Vì vậy, để được hưởng những quyền lợi nói trên,người lao động phải trực tiếp thực hiện hợp đồng lao động - đây là lý do thứ hai giải thíchcho đặc trưng này
Trang 27- Song, theo quy định tại khoản 4 điều 30 bộ luật lao động, người lao động có quyềnchuyển nghĩa vụ lao động của mình cho người khác nếu được sự đồng ý của người sử dụnglao động
Đặc điểm thứ tư: sự thoả thuận của các bên thường bị khống chế bởi những giới hạn
pháp lý nhất định (pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể)
- Trong thực tế, với tất cả các quan hệ hợp đồng, sự thoả thuận của các bên bao giờ cũngphải bảo đảm các quy định của pháp luật Đối với hợp đồng lao động, ngoài những đặc điểmnói trên thì sự thoả thuận của các bên còn bị khống chế bởi nguyên tắc: quyền lợi của ngườilao động là tối đa, nghĩa vụ là tối thiểu
- Sự thoả thuận của các bên thường bị khống chế bởi những "ngưỡng" pháp lý nhất địnhcủa pháp luật lao động và thoả ước lao động tập thể như: tiền lương tối thiểu, thời giờ làmviệc, nghỉ ngơi, tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động, bao hiểm xã hội…
Đặc trưng thứ năm: hợp đồng lao động được thực hiện liên tục trong một thời gian nhất
- Sự ngắt quãng, tạm ngừng trong việc thực hiện hợp đồng chỉ được áp dụng trong nhữngtrường hợp pháp luật quy định (điều 35 bộ luật lao động)
3.4.1.2 Phân loại hợp đồng lao động
- Căn cứ vào hình thức hợp đồng, người ta phân hợp đồng lao động thành ba loại: vănbản, lời nói (khẩu ước), hành vi
+ Hợp đồng bằng văn bản áp dụng cho các loại hợp đồng sau: i) hợp đồng lao độngkhông xác định thời hạn, ii) hợp đồng lao động có xác định thời hạn từ 3 tháng trở lên,iii) hợp đồng về coi giữ tài sản gia đình, iv) hợp đồng lao động làm việc trong các cơ
sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, sàn nhảy,… với tư cách là vũ nữ, tiếp viên, nhânviên
+ Hợp đồng bằng lời nói: là hợp đồng do các bên thoả thuận mà không lập thành vănbản Hợp đồng lao động bằng lời nói được áp dụng cho các loại hợp đồng có thời hạndưới 3 tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình nhưng không phải là công việccoi giữ tài sản
+ Hợp đồng lao động bằng hành vi là hợp đồng do các bên tạo nên bằng hành vi củamình Trong quá trình sử dụng lao động, việc mặc nhiên để người lao động làm việc