1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NHỮNG RỐI LOẠN GIÁP TRẠNG (THYROID DISORDERS) pptx

23 393 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 158,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bão giáp thyroid storm xảy ra nơi 1% đến 2% những bệnh nhân bị nhiễm độc tuyến giáp thyrotoxicosis.. Nhiễm độc tuyến giáp thyrotoxicosis để chỉ tình trạng hormone giáp trạng lưu thông tr

Trang 1

NHỮNG RỐI LOẠN GIÁP TRẠNG

(THYROID DISORDERS)

1/ NHỮNG TÌNH TRẠNG LIÊN QUAN VỚI TUYỂN GIÁP

NÀO ĐƯỢC XEM LÀ CẤP CỨU THẬT SỰ?

Những cấp cứu thật sự gồm những tình trạng đe dọa đến tính mạng như hôn mê phù niêm (myxedema coma) và bão giáp (thyroid storm) Bệnh tuyến giáp là bệnh thường xảy ra Tần số giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism) nơi người trưởng thành ở Hoa Kỳ là 1 trên 20 Tuy nhiên, hôn mê phù niêm, hiếm khi xảy ra, chịu trách nhiệm khoảng dưới 1% những trường hợp thiểu năng tuyến giáp Bão giáp (thyroid storm) xảy ra nơi 1% đến 2% những bệnh nhân bị nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis) Tỷ lệ tử vong của bão giáp và hôn mê phù niêm không điều trị là 80% đến 100%, và với điều trị là 15% đến 50% Đôi khi, những biến chứng nhãn khoa của bệnh Grave có thể đòi hỏi điều trị cấp cứu

Trang 2

2/ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NHIỄM ĐỘC TUYỀN GIÁP

(THYROTOXICOSIS) VÀ ƯU NĂNG TUYỂN GIÁP

(HYPERTHYROIDISM) ?

Nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis) để chỉ tình trạng hormone giáp trạng lưu thông trong máu quá mức, do nhiều nguyên nhân (ví dụ : uống hormone giáp trạng quá liều, viêm, hay tăng năng tuyến giáp (thyroid hyperfunction)

Uu năng tuyến giáp (hyperthyroidism) chỉ hormone giáp trạng lưu

thông trong máu quá mức, nguyên nhân chỉ là do tăng năng tuyến giáp

3/ NHỮNG NGUYÊN NHÂN THÔNG THƯỜNG NHẤT CỦA

NHIỄM ĐỘC TUYỂN GIÁP, VÀ CHÚNG CÓ TRIỆU CHỨNG NHƯ

THỂ NÀO ?

A/ Sản xuất hormone giáp trạng quá mức :

(1) Bệnh Grave chịu trách nhiệm 85% của tất cả các trường hợp

nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis) Thông thường nhất, các bệnh nhân là những phụ nữ, 20 đến 40 tuổi, có bướu giáp (goiter) và lồi mắt (exophthalmos)

Trang 3

(2) Bướu giáp độc nhiều hòn (toxic multinodular goiter) là nguyên

nhân thông thường đứng thứ hai của nhiễm độc tuyến giáp Bệnh nhân thông thường là người già và có những bất thường tim mạch, nổi trội với suy tim sung huyết và loạn nhịp nhanh

(3) Tiếp xúc với iode có thể gây nên chứng nhiễm độc tuyến giáp nơi

những bệnh nhân với bướu giáp độc nhiều hòn hay bệnh Grave Các nguồn tiếp xúc có thể gồm có chất cản quang, dung dịch potassium iodine, amiodarone, và những liều lượng cao povidone-iodine (Iso-bétadine)x dùng tại chỗ

B/ Sự rò hormone giáp trạng :

(1) viêm tuyến giáp bán cấp (subacute thyroiditis) là một tình trạng viêm thường được thấy nơi các phụ nữ trẻ Nguyên nhân thông thường này của nhiễm độc tuyến giáp hậu sản (postpartum thyrotoxicosis) có dấu hiệu bướu giáp

(2) Viêm do bức xạ là một nguyên nhân khác

C/ Sử dụng hormone giáp trạng ngoại tại :

Trang 4

(1) Nhiễm độc tuyến giáp nhân tạo (thyrotoxicosis factitia) là một hội

chứng loại Munchausen, trong đó bệnh nhân dùng hormone giáp trạng để gây bệnh

(2) Ngộ độc hormone giáp trạng (thyroid hormone overdose) hay ăn

thịt chứa mô tuyến giáp của bò cũng có thể gây nhiễm độc tuyến giáp

4/ LIỆT KÊ NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA

NHIỄM ĐỘC TUYỂN GIÁP

- Toàn thân : mệt mỏi, yếu người, không chịu được nhiệt, toát mồ hôi, sốt, mất cân

- Thần kinh tâm thần : run rẩy, tăng phản xạ, lãnh đạm (apathy), lo âu, bất ổn cảm xúc, loạn tâm thần (psychosis)

- Nhãn khoa : lồi mắt (exophthalmos), lid lag, khô mắt

- Tim mạch : tim nhịp nhanh, hồi hộp, suy tim sung huyết

- Huyết học : thiếu máu, tăng bạch cầu

- Dạ dày ruột : ỉa chảy

- Da : rụng tóc, bong móng (onycholysis)

Trang 5

5/ BƯỚU GIÁP CÓ PHẢI LUÔN LUÔN HIỆN DIỆN TRONG

NHIỄM ĐỘC TUYẾN GIÁP ?

Không Một bướu giáp (goiter) thường không hiện diện nơi một bệnh nhân với nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis) Hai tình trạng nhiễm độc tuyến giáp màkhông có bướu giáp là uống hormone giáp trạng và nhiễm độc tuyến giáp lãnh đạm (apathetic thyrotoxicosis) Một bướu giáp có thể hiện diện trong thiểu năng tuyến giáp (hypothyroidism) Thiểu năng tuyến giáp được thấy trong những dạng bướu giáp của bệnh viêm tuyến giáp (thyroiditis), trong đó, ở những giai đoạn tiến triển, tuyến giáp bị “kiệt quệ” (burned out) và mô sẹo khiến cho tuyến lớn lên

6/ NHIỄM ĐỘC TUYẾN GIÁP LÃNH ĐẠM (APATHETIC

THYROTOXICOSIS) LÀ GÌ ?

- Một bệnh cảnh không điển hình và thường bị bỏ sót của chứng tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidism), thường được thấy nơi người già nhưng được ghi nhận ở bất cứ lứa tuổi nào, ngay cả ở trẻ em Bệnh nhân điển hình

là một người già 70 đến 80 tuổi với một tuyến giáp nhỏ hay không thể ấn chẩn được Vài bệnh nhân có những dấu hiệu nhãn khoa đặc trưng của tăng năng tuyến giáp Chẩn đoán này nên được xét đến nơi người già với sụt cân mãn tính, yếu cơ vùng gần của chi, trầm cảm, ngủ lịm (lethargy), tư duy trì

Trang 6

chậm (slow mentation), gương mặt lãnh đạm (apathetic facies), rung nhĩ mới xảy ra hay suy tim sung huyết

7/ BÃO GIÁP (THYROID STORM) LÀ GÌ ?

- Bão giáp là một tình trạng bệnh lý đe dọa đến tính mạng, được đặc trưng bởi sự gia tăng quá mức của những biểu hiện của nhiễm độc tuyến giáp

- Bão giáp là một tình trạng tăng chuyển hóa do ưu năng tuyến giáp Bão giáp thường được thấy nơi những bệnh nhân có ưu năng tuyến giáp không được nhận biết hay được điều trị không đầy đủ

- Tỷ lệ tử vong cao (10-75%) mặc dầu được điều trị

8/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA BÃO GIÁP LÀ

GÌ ?

- Sốt là biểu hiện lâm sàng chính yếu Tim đập nhanh thường hiện diện, và nhịp thở nhanh (tachypnea) thường xảy ra, nhưng huyết áp có thể thay đổi Loạn nhịp tim, suy tim sung huyết, và những triệu chứng thiếu máu cục bộ cơ tim có thể xảy ra Nôn, mửa, ỉa chảy, và đau bụng là những triệu chứng thông thường Những biểu hiện hệ thần kinh trung ương gồm có tăng

Trang 7

vận động (hyperkinesis), loạn tâm thần, và hôn mê Một bướu giáp là một dấu hiệu hữu ích nhưng không luôn luôn hiện diện

- Những triệu chứng và dấu chứng liên kết với bão giáp là do sự gia tăng hoạt tính của hệ giao cảm Những dấu hiệu thông thường nhất là sốt, tim đập nhanh, biến đổi tri giác và toát mồ hôi

- Những rối loạn hệ thần kinh trung ương thường xảy ra và gồm có lú lẫn (confusion), mê sảng (delirium), co giật, và hôn mê

- Những bất thường tim mạch thường hiện diện, với tim nhịp nhanh xoan là thường xảy ra nhất Những loạn nhịp khác gồm có rung nhĩ và ngoại tâm thu thất Bệnh nhân có thể có những triệu chứng và dấu chứng của suy tim sung huyết

9/ NHỮNG GÌ PHÂN BIỆT CƠN BÃO GIÁP (THYROID

STORM) VỚI NHIỄM ĐỘC TUYẾN GIÁP (THYROTOXIOSIS) ?

Hầu hết những tình trạng nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis) có thể điều trị ngoại trú, trong khi bão giáp (thyroid storm) là một cấp cứu nội khoa Không có những tiêu chuẩn chẩn đoán tuyệt đối cho bão giáp, nhưng bệnh cảnh lâm sàng thường gồm có :

Trang 8

(1) Những biểu hiện quá mức của nhiễm độc tuyến giáp

(2) Nhiệt độ lớn hơn 37,7 độ C

(3) tim đập nhanh không tỷ lệ với sốt

(4) loạn chức năng của hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch, hay hệ

và sepsis Một bệnh sử bệnh tuyến giáp, điều trị tuyến giáp trước đây hay phẫu thuật là hữu ích trong việc phân biệt bão giáp với những bệnh lý này

11/ VAI TRÒ CỦA NHỮNG TRẮC NGHIỆM CHỨC NĂNG

TUYẾN GIÁP TRONG CHẤN ĐOÁN BÃO GIÁP ?

- Mặc dầu các xét nghiệm chức năng tuyến giáp nơi bệnh nhân với bão giáp (thyroid storm) là bất thường, nhưng chúng có thể không khác

Trang 9

nhiều với các xét nghiệm chức năng nơi bệnh nhân với nhiễm độc tuyến giáp

và không thể phân biệt hai bệnh lý này Chẩn đoán bão giáp là chẩn đoán lâm sàng

- Trong bão giáp, các nồng độ trong huyết thanh của T4, T3, T3RU, T4 tự do và T3 tự do tất cả thường gia tăng và nồng độ trong huyết thanh của TSH thường không thể phát hiện được Những bất thường xét nghiệm khác gồm có thiếu máu, tăng bạch cầu, tăng glucose-huyết, azotemia, tăng canxi-huyết, và tăng các enzymes gan

- Nói chung, những nồng độ hormone giáp trạng không giúp phân biệt giữa ưu năng tuyến giáp triệu chứng, không có biến chứng, với cơn bão giáp

- Bão giáp là một chẩn đoán lâm sàng bởi vì các xét nghiệm không giúp phân biệt nó với ngộ độc tuyến giáp

12/ CÁC BỆNH NHÂN PHÁT TRIỂN BÃO GIÁP NHƯ THỂ

NÀO ?

Bão giáp nói chung xảy ra nơi những bệnh nhân có nhiễm độc tuyến giáp không được nhận biết hay không được điều trị thích đáng và có một

Trang 10

biến cố thúc đẩy được thêm vào, như giải phẫu tuyến giáp, giải phẫu không phải tuyến giáp, nhiễm trùng, hay chấn thương

13/ LIỆT KÊ NHỮNG TÌNH TRẠNG THÚC ĐẨY CƠN BÃO

GIÁP (THYROID STORM)

- Ngưng điều trị kháng giáp trạng

- điều trị cắt bỏ tuyến giáp mới đây

14/ CƠN BÃO GIÁP ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?

Xử trí cấp cứu của cơn bão tuyến giáp chủ yếu tương tự với nhiễm độc tuyến giáp, chỉ khác là khẩn cấp hơn

Điều trị từng bước của Nhiễm độc tuyến giáp mất bù

Trang 11

Điều trị có thể được chia thành 5 bước : hỗ trợ chung, cản sự tổng hợp hormone giáp trạng, làm chậm sự phóng thích hormone giáp trạng, phong bế các tác dụng ngoại biên của hormone giáp trạng, và nhận diện và điều trị những yếu tố thúc đẩy cơn bão giáp

A Điều trị hỗ trợ :

- Điều trị chung : oxy, monitor tim

- Sốt : chườm lạnh ngoài, acetaminophen (aspirin bị chống chỉ định bởi vì có thể làm gia tăng T4 tự do)

- Mất nước : truyền dịch bằng đường tĩnh mạch (fluid challenge) :

bệnh nhân thường giảm thể tích máu (hypovolémique)

- Dinh dưỡng : glucose, đa vitamin, bao gồm folate (thiếu hụt do tăng chuyển hóa)

- Điều trị thay thế tuyến thượng thận (thiếu hụt do tăng chuyển hóa) : hydrocortisone, 200 mg tiêm tĩnh mạch khởi đầu, sau đó 100 mg 3 lần mỗi ngày cho đến khi ổn định

- Suy tim (rung nhĩ, suy tim sung huyết) : digoxin (nhu cầu gia tăng), thuốc lợi tiểu, sympatholytics nếu cần

Trang 12

- Điều trị các yếu tố thúc đẩy : trị liệu nếu có chỉ định

B Ức Chế sự sinh tổng hợp hormone giáp trạng : Thionamides :

1/ Propylthiouracil (PTU), 1200-1500 mg/ngày, được cho với một liều

tấn công 600-1000 mg, tiếp theo sau đó 200-250mg mỗi 4 giờ, bằng đường miệng, bằng ống mũi-dạ dày, hay bằng trực tràng Propylthiouracil không những ức chế sự tổng hợp của hormone giáp trạng mà còn ức chế sự biến đổi ngoại biên T4 thành T3 Những tác dụng phụ gồm có ban dị ứng (5%), sự biến đổi các trắc nghiệm gan và mất bạch cầu hạt (agranulocytose)

hay 2/ Methimazole (Tapazole), 120 mg/ngày được cho 20 mg bằng đường miệng mỗi 4 giờ (hoặc 40 mg được nghiền trong một dung dịch nước, cho bằng đường hậu môn) với hoặc không một liều tấn công 60-100mg

hay 3/ Thiamazol (Strumazol), 20 mg mỗi 4 giờ

Propylthiouracil, methimazole, và carbimazole cản sự tổng hợp hormone giáp trạng chủ yếu bằng cách cản những phản ứng được xúc tác bởi enzyme peroxidase của tuyến giáp Methimazole thường được xem là có tác dụng mạnh hơn propylthiouracil Nơi những bệnh nhân hôn mê với bão giáp, propylthiouracil hay methimazole có thể được cho qua một ống mũi-dạ dày bởi vì những thuốc này không có dưới dạng tiêm

Trang 13

C Phong bế sự phóng thích hormone giáp trạng : Iodides (ít nhất 1 giờ sau bước B)

Iode có thể được thêm vào trong những trường hợp nặng, 1-2 giờ sau khi cho liều lượng tấn công propylthiouracil (để làm phong bế trước hết sự tổng hợp hormone giáp trạng) Người ta có thể cho Iode bằng đường miệng dưới dạng dụng dịch Lugol (X giọt, 3 lần mỗi ngày) hay bằng đường tĩnh mạch dưới dạng iodure de sodium (500-1000mg, 2 lần mỗi ngày) Trong trường hợp dị ứng, lithium có thể được xét đến

1/ Dung dịch Lugol, 30-60 giọt/ngày, dùng bằng đường miệng, 3-4

lần mỗi ngày

hay 2/ Ipodate (Orografin) : 0,5-3g/ngày (đặc biệt hữu ích với viêm

tuyến giáp hay ngộ độc hormone giáp trạng)

hay 3/ Lithium carbonate (nếu dị ứng với iode hay mất bạch cầu hạt

(agranulocytosis) xảy ra với thionamides), 300mg, đường miệng, mỗi 6 giờ

và sau đó để duy trì nồng độ lithium ở mức 1 mEq/L

D Đối kháng với các tác dụng của hormone ngoại biên : sympatholytics :

Trang 14

1/ Propranolol, 2-5 mg tiêm tĩnh mạch mỗi 4 giờ hay truyền tĩnh mạch

5-10 mg/ giờ Đối với những bệnh nhân ít nhiễm độc hơn, dùng thuốc viên 20-200mg mỗi 4 giờ (chống chỉ định trong bệnh co thắt phế quản và suy tim sung huyết hay điều trị những bệnh nhân bị suy tim sung huyết với digitaline trước khi dùng propranolol)

2/ Reserpine, 2,5-5mg tiêm thịt mỗi 4 giờ, cho liều thử nghiệm 1mg

trước, trong khi theo dõi huyết áp

hay 3/ Guanethidine, 30-40 mg mỗi 6 giờ, đường miệng

15/ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC HORMONE GIÁP TRẠNG NHƯ THẾ

NÀO ?

Ngộ độc hormone giáp trạng (thyroid hormone overdose) có bệnh cảnh như nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis) và thường nhất xảy ra sau khi uống thuốc mãn tính Tử vong hiếm khi xảy ra với ngộ độc cấp tính Độc tính sau khi uống quá liều cấp tính có thể xảy ra trong vòng 4 đến 12 giờ hay

có thể trì hoãn trong 5 đến 11 ngày, đặc biệt là với ngộ độc T4 (levothyroxine) Điều trị ngộ độc cấp tính được tiến hành như thường lệ, gồm có than hoạt hoá (charcoal) và xét nghiệm tìm những chất được uống vào đồng thời Rửa dạ dày có thể được xét đến đối với những bệnh nhân đến

Trang 15

1 giờ sau khi uống Nếu quá liều mãn tính là do thuốc, liều lượng levothyroxine của bệnh nhân được ngừng lại trong 1 tuần và bắt đầu trở lại với một liều thu giảm

16/ MÔ TẢ BỆNH MẮT GRAVES (GRAVES’

OPHTHALMOPATHY) ?

Bệnh mắt Grave (Graves’ ophthalmopathy) thường là một quá trình bệnh lý tự giới hạn, liên kết với một bệnh sử tăng năng tuyến giáp đang xảy

ra hay đã có trước đây Những đặc điểm lâm sàng hiện diện gồm có co rút

mí mắt (eyelid retraction), lồi mắt (proptosis), phù kết mạc (chemosis), phù quanh hốc mắt, và song thị (diplopia) với chuyển động nhãn cầu kém Bệnh mắt rõ trên lâm sàng xảy ra nơi khoảng ½ bệnh nhân bị bệnh Graves

17/ KHI NÀO ĐIỀU TRỊ BỆNH MẮT GRAVES LÀ MỘT TÌNH

TRẠNG CẤP CỨU ?

Với bệnh mắt nghiêm trọng, bệnh nhân có thể kêu mờ mắt nhiều ngày hay nhiều tuần, kéo dài với mắt khép lại và độ sáng của màu sắc bị giảm Những triệu chứng này có thể là dấu hiệu đè ép của dây thần kính thị giác (optic nerve) Giác mạc để mở mãn tính có thể gây nên viêm giác mạc (keratitis) hay loét giác mạc, với triệu chứng đau mắt, sợ ánh sáng, kết mạc

Trang 16

sung huyết, mất thị lực Cần hội chẩn tức thời chuyên khoa mắt Bệnh thần kinh thị giác (optic neuropathy) khởi đầu được điều trị với steroids liều cao (prednisone, 1-2 mg/kg, đường miệng) Những loét giác mạc, có hay không

có viêm giác mạc, đòi hỏi cấy và cho kháng sinh tại chỗ Việc sử dụng thuốc làm liệt thể mi (cycloplegic) nên được bàn với thầy thuốc mắt hội chẩn

18/ KẾ CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA GIẢM NĂNG TUYẾN

GIÁP ?

Giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism) là sự thiếu hụt hormone giáp trạng Những cơ chế chính gồm có

(1) nguyên phát : loạn chức năng của tuyến giáp

(2) thứ phát : thiếu hụt TSH (thyroid-stimulating hormone) từ tuyến yên, và (3) tam phát : thiếu hụt TRH (thyrotropin-releasing hormone) từ vùng dưới đồi (hypothalamus)

Giảm năng tuyến giáp nguyên phát (primary hypothyroidism) thường xảy ra nhất và những nguyên nhân gồm có viêm tuyến giáp tự miễn dịch hay bán cấp, bệnh Grave giai đoạn cuối, tình trạng sau khi cắt bỏ tuyến giáp hoặc sau khi điều trị bằng phóng xạ, do thuốc (iodides, lithium, thionamides, amiodarone), bẩm sinh, và khối u

Ngày đăng: 13/07/2014, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN