Và “Con cò” là bài thơ tiêu biểu cho một hồn thơ như thế, một bài thơ mà chất triết lí, suy tưởng đã hoà làm một với những lời ca đẹp đẽ nhất ca ngợi tình mẹ, ca ngợi ý nghĩa của những l
Trang 1Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và "Truyện Kiều"
I.Nguyễn Du
1.Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê làng Tiên
Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; sinh trưởng trong một gia đình đại quí tộc có truyền thống văn học và nhiều đời làm quan
2.Nguyễn Du sinh trưởng trong một thời đại có nhiều biến động dữ dội: Xã hội phong
kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng sâu sắc, phong trào nông dân khởi nghĩa nổ
ra liên tục mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn Phong trào nông dân Tây Sơn thất bại, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập
3.Trong hoàn cảnh ấy, Nguyễn Du đã sống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc( 1786 –
1796 ) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh ( 1796 – 182) Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn Năm 1813 – 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc, năm 1820 khi chuẩn bị làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh và mất tại Huế
4.Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá dân tộc và văn chương
Trung Quốc Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn
5.Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng chữ Hán
và chữ Nôm Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ ( Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục ) với tổng số 243 bài Về chữ Nôm xuất sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn chiêu hồn
II.Truyện Kiều
1.Nguồn gốc Truyện Kiều: Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du có dựa theo cốt truyện Kim
Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ( Trung Quốc ) Nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du là hết sức lớn, mang ý nghĩa quyết định đến sự thành công của tác phẩm
2.Giá trị nội dung và nghệ thuật
a.Nội dung: Truyện Kiều có hai giá trị lớn là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo Truyện
Trang 2Kiều là bức tranh hiện thực về một xã hội bất công, tàn bạo, là tiếng nói thương cảm trước số phận bi kịch của con người, tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực xấu xa, tiếng nói khẳng định, đề cao tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chân chính của con người như khát vọng về quyền sống, khát vọng tự do, công lí, khát vọng tình yêu, hạnh phúc…
b.Nghệ thuật: Tác phẩm là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các
phương diện ngôn ngữ và thể loại Với Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc và thể thơlục bát đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ Nghệ thuật tự sự đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn truyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc họa tính cách và miêu tả tâm lí con người
Phân tích bài thơ CON CÒ
CON CÒ
Đã là người Việt nam, ai lớn lên mà chẳng mang theo, dù ít, dù nhiều hơi ấm của những lời ru, những lời yêu thương êm đềm khi xưa mẹ hát Đã mang trong mình dòng máu Việt, ai mà chẳng có một góc tuổi thơ trong sang, hồn nhiên, chập chờn theo đôi cánh cò trắng ở nơi sâu thẳm hoài niệm, tâm hồn Chế Lan Viên cũng vậy, ông cũng là người ViệtNam, dòng máu chảy trong huyết quản ông cũng mang tên Lạc Hồng, có lẽ vì thế, trong thơ ông, dù là suy ngẫm, dù là triết lí, ta vẫn gặp lời ru ầu ơ của mẹ, ta vẫn thấy kỉ niệm tuổi thơ nồng cháy, ta vẫn nghe trong gió thong thả nhịp vỗ cánh cò Và “Con cò” là bài thơ tiêu biểu cho một hồn thơ như thế, một bài thơ mà chất triết lí, suy tưởng đã hoà làm một với những lời ca đẹp đẽ nhất ca ngợi tình mẹ, ca ngợi ý nghĩa của những lời hát ru với cuộc đời mỗi con người
Trong trang thơ, cánh cò không tự có, không tự hiện hữu bất di bất dịch như muôn vàn câu chữ của thi ca, nó phải bay ra từ một miền xa xôi lắm Chế Lan Viên đã đánh thức cánh cò yên ngủ, gọi cò về với những lời ru ấp ủ trong tâm hồn thi nhân để rồi, qua lời ru của mẹ trên trang thơ, con cò bắt đầu đến với tuổi thơ diệu kì của đứa trẻ Dịu dàng, ên ái,người mẹ bắt đầu thủ thỉ, tâm tình với niềm yêu thương tha thiết: “Con cò bế trên tayCon chưa biết cánh cò
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay”
Rất tự nhiên, mẹ thấy con vẫn còn bé bỏng lắm, vẫn còn phải bế trên tay mẹ Con đã biết cánh cò trắng là gì đâu, con đã biết cuộc đời xung quanh là gì đâu, con chỉ đón nhận cuộcđời một cách vô thức Vô thhức thôi nhưng dường như đứa trẻ đã cảm nhận được cánh còtrắng đang bay đến bên mình, đã nghe thấy âm điệu ngọt ngào trong trẻo của lời ru Em chưa hiểu tình mẹ, nhưng mơ hồ, em đã thấy bên em một sự che chở, vỗ về thiêng liêng, một tình yêu thương êm đềm, trìu mến Và cánh cò, cánh cò bắt đầu chao lượn trong lời hát ru con:
Con cò bay la
Con cò bay lả
Trang 3Con cò cổng phủ
Con cò Đồng Đăng
Thi sĩ không trích hết lời ca dao, chỉ gợi thôi mà cả một bầu không khí đã rất xa xăm bỗng trở về nguyên vẹn Nơi thanh bình và yên ả Nơi ấy có cánh cò, có những hình ảnh rất đẹp đã đi vào tiềm thức không biết bao thế hệ con người Ở nơi ấy, ta vẫn nghe được tiếng cuộc đời vất vả, nhọc nhằn của người nông dân và đặc biệt là những người phụ nữ, những người chị, người mẹ Việt Nam, tiếng những đứa con yêu thương tha thiết, sẵn sang hi sinh cho con tất cả những cánh cò kia, dù sa cơ, dù chết cũng xin được “xáo nướctrong” để khỏi mang tiếng xấu cho đàn con nhỏ Dẫu rằng đó là lời hát ru, lời ca dao cáchtân trong thơ hiên đại, cánh cò vẫn mang theo cả nỗi buồn, niềm vui hoà lẫn, khiến người đọc phải nghĩ, phải suy Người mẹ ru con trong vất vả, nhọc nhằn càng gieo thêm đắng cay, cái vị đẵng cay mà Xuân Quỳnh từng không giấu nổi xúc động khi nghe câu hát ấy trong “gió Lào” và “cát trắng” miền Trung:
“Trong gió nóng những trưa hè ngột ngạt
Mẹ ru tôi hạt cát sạn hàm răng”
Lời ru của mẹ có đứa con bé bỏng, có cánh cò yếu đuối, nó không còn là lời hát ru nữa,
nó là lời tâm tình của trái tim người mẹ nhân từ, bao dung Khi thì mẹ thương con, khi thì
mẹ thương cánh cò cả cuộc đời yếu đuối Dù rằng lời ru có mang theo bao điều như thế,
em bé vẫn say ngủ ngon lành Tình mẹ hoà vào lời ru vẫn vỗ về tâm hồn non nớt, vẫn chocon niềm yêu thương và che chở tuyệt vời Bầu không khí của hoài niệm quá khứ dần dầnkhép lại, đưa con người trở về với thực tại, với mẹ, với em:
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Cánh cò mềm mẹ đã sẵn tay nâng
Lời mẹ trứoc kia còn trầm, buồn vang lên trong cái âm điệu dài, xa vắng vậy mà giờ đây sao trìu mến, sao tha thiết đến lạ lung, vỗ về, nâng giấc tình yêu, thi nhân bước đến khoảng trời vời vợi chân lí, nơi ấy có một sự thực mà cả đời người kiếm tìm mới chợt hiểu, nó ở bên ta, nó ở giữa cuộc đời:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con
“Dù”, “vẫn”, sự khẳng định chắc chắn hơn bao giờ hết Nó hiển nhiên như chính cuộc đời Con dù lớn khôn, dù trưởng thành đến đâu, trước long mẹ bao la con vẫn luôn bé bỏng Mặt trời con luôn sưởi ấm trái tim mẹ, còn mẹ, mẹ mãi yêu con, yêu con bằng tình yêu theo bé bước đi mãi mãi Tình mẹ là thế, bao la, lời ru của mẹ là thế, êm đềm, tha thiết, suốt đời con được hưởng, suốt đời con tìm thấy, nhưng chắc gì con đã thấu hiểu, cả cuộc đời mẹ đã gửi vào trong đó tất cả tình cảm, tất cả sự chở che, tất cả tình yêu thương
êm đềm tha thiết:
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
( Nguyễn Duy )
Trang 4Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết những vần thơ như thế vì bằng trải ngiệm ông đã hiểu cái bao la bất tận của tình mẹ yêu con Còn Chế Lan Viên, thi sĩ tìm thấy trong cánh cò yêu thương bay ra từ câu hát, một triết lí thiêng liêng đủ soi rọi mọi tâm hồn tận ngóc ngách sâu thẳm nhất Có lẽ phút hiểu ra cái điều cả đời mình tìm kiếm, nhà thơ phải nén lại niềm xúc động đến rưng rưng trực tuôn trào ra khoé mắt để viết lên cái điều ấp ủ bấy lâu, rằng tình mẹ là vĩnh hằng, bất diệt, luôn tìm thấy bên cuộc đời chúng ta, rằng long mẹ là bao la, vô bờ bến, luôn ôm ấp tâm hồn mỗi con người Với mẹ, con là hơi ấm nồng nàn,
là sự sinh tồn, sự sống, con đem lại cho mẹ hơi sống, niềm hạnh phúc yêu thương lớn nhất cuộc đời Ta chỉ có thể nói như vậy về cái quy luật bất biến ấy, vì tự nó đã nói lên tất
cả những điều thấm thía nhất trong cuộc đời Biểu tượng của long mẹ thì thiêng liêng, biểu tượng của cuộc đời thì ấm áp:
Đúng như lời nhà phê bình Phạm Thu Yến viết:
“Sau lời à ơi ban đầu, người hát quên mình đang trò chuyện với đứa con, … Người mẹ dường như đang đối thoại với chính long mình”
lời hát chỉ là lời ru qua cái “à ơi” quen thuộc, còn tất cả, chúng đã thuộc về tâm sự của cả đời người mẹ, nghĩa là thuộc về cái thế giới nội tâm trong sâu thẳm tâm hồn Mẹ ru con
từ lúc tóc còn xanh đến khi đầu bạc, nào ai đếm được nỗi buồn vui cuộc đời mẹ đã gửi vào lời hát Cánh cò cũng thế, nó mang theo sự phát triển cuối cùng, trở thành cuộc đời, cũng buồn, cũng vui, còng nông sâu như lßng mẹ, mẹ mang cả vào giấc ngủ của con Nó
là tiếng long của một người phụ nữ mà cũng là tất cả những người phụ nữ trên dất nước Việt Nam Nó là âm thanh của một cuộc đời khắc khổ, một kiếp sống nghèo nhưng chan chứa niềm hạnh phúc, yêu thương chân thành mộc mạc con người Việt Nam đã ôm ấp từ muôn thủa ngày xưa, sau luỹ tre làng, bên cây đa, bến nước, mái đình thân thuộc khi con
cò “vỗ cánh qua nôi’ em bé đâu có biết, cò đã chở theo cả một đời người về bên câu hát, đời người như mẹ, như chị, như cuộc đời tất cả nhũng người phụ nữ Việt Nam chỉ biết sống, sống và hi sinh hết thảy, trong lặng lẽ, âm thầm Cuộc đời ấy, dù đắng, dù cay, dù khổ đau, dù mất mát vẫn muôn đời là vậy son sắt, thuỷ chung, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, cho đến khi ngọn gió cuộc đời ngừng thổi vào cái kiếp người đã thuộc về yêu thương và nước mắt:
Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi
Có bao giờ cánh cò đẹp và thân thiết đến vậy không? Có bao giờ sự liên tưởng của con người lại trong và tinh kh«i đến vậy ko? để một cánh cò bay ra từ câu hát gợi lên cả niềm yêu thương và tấm lßng của con người? Cò và em bé như đôi bạn thân thiết, nghĩa là cũng trong s¸ng cũng hồn nhiên cũng chan chứa biết bao ước mơ và hi vọng như màu cánh cò trắng, thong thả nhịp bay trên bầu trời xanh thẳm tương lai Hai người bạn hai tâm hồn non nớt, Đắp chung đôi cánh ấm áp của cò Hình ảnh thơ có cái hiện thực của
Trang 5cuộc đời quanh em bé vừa có cái huyền ảo, lấp lánh của một thế giới cổ tích xa xăm, gợi lên sự gắn bó thân thiết, cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng bên nhau dù là trong giấc ngủ tuổi thơ, dù là trên con đường tương lai rộng bước cánh cò bay ra từ câu hát ru con cũng như lời ru, cũng như tình mẹ sẽ theo con dù hết cuộc đời Ôi, với mỗi người, đâu có niềm hạnh phúc nào bằng niềm hạnh phúc được che chở yêu thương trong tình mẹ bao la, vô
bờ bến, đâu có sự chuẩn bị quý giá nào bằnh tâm hồn trong s¸ng, tinh khôi mẹ ấp ủ cho con bằng cả trái tim mình Từ tuổi thơ, mẹ trông thấy trên bước đường con đi , những buổi cắp sách đến trường đầy niềm vui, hi vọng Ở n¬i ấy vẫn có cánh cò tuổi thơ, vẫn cótình mẹ đi theo dìu dắt Tình mẹ cứ theo con đi suốt năm tháng, trở thành hành trang cho đứa con bé bỏng bước vào đời Con sẽ bước đi trong niềm tin mạnh mÏ vì:
Cánh cò trắng bay theo gót đôi chân
Cánh cò tuổi thơ sẽ chắp cánh giấc mơ đẹp đẽ, đưa em đến những phương trời xa Như cánh cò trong thơ Trần Đăng Khoa khiêng nắng về đánh thức ngày mới:
“ Cánh cò trắng khiêng nắng qua s«ng…”
Cánh cò cña Chế Lan Viên biết đánh thức cả bầu trời lấp lánh hi vọng những vì sao mơ ước, cho em thơ tương lai đẹp đẽ, sáng rực lên muôn vạn sắc màu Và trong muôn vàn sắc màu rực rỡ ấy, rất nhẹ nhàng đọng lại một thứ màu dìu dịu yêu thương, màu của tình mẫu tử, để rồi cho con Đâu rồi cái cánh cò trắc trờ, hiểm nguy trong câu hát thủa xưa, chỉ còn cánh cò em,, ngủ ngon trong vòng tay mẹ Em và cò hoá thân vào nhau trong vòng tay ấm áp yêu thương Cứ như vậy, em bé ngủ yên trong tình mẹ dạt dào, trong sự che chở, chăm sóc, nâng niu ẩn chứa yêu thương vô bờ bến Đứa bé đón nhận tình yêu, đón nhận lời ru vô thức để rồi mang hơi ấm của lời ru vô thức ấy đi theo suốt cuộc đời Lời ru - giọt mật đầu tiên mẹ rót cho em bé trong cuộc đời nó sóng sánh tình mẹ, sóng sánh không khí của đất tròi thấm vào lời ru Em ngủ say, ngủ say trong tình mẹ, ngủ say trong tình yêu thương của đất trời bao la ban cho những thiên thần cho những tâm hồn bé nhỏ Và khi ấy, dù:
“ Con chưa biết con cò, con vạc
Con chưa biết những cành mền mẹ hát
Sữa mẹ nhiều con ngủ cgẳng phân vân”
mẹ vẫn gọi con mẹ vẫn nhắc tên con, sự lặp lại những lời yêu thương ấy là lời nhắn nhủ, lời giãi tỏ tâm tình, tràn đầy tình yêu con Cánh cò, cánh vạc bay, ngân xa mãi tình yêu
vô tận ấy Em bé có hiểu tình mẹ ko nhỉ? Nhưng thôi, cứ ngủ đi em ạ, vì còn gì em ả, thanh bình bằng giấc ngủ của em trong lời ru ầu ơ tha thiết
Cánh cò đến, trong lời ru tuổi thơ, dịu dàng, êm ái là vậy mà theo ta đi mãi, đi suốt nhữngchặng đường dài, gắn bó bền bỉ, thân thương cho con người tựa vững chắc nhất
“ Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!”
Trang 6Lời ru của mẹ vỗ về cho em ngon giấc, nó ngọt lịm, thanh bình như tình mẹ bao thủa vẫn vậy, vẫn nhẹ nhàng nâng đỡ đời con Và cánh cò, từ một miền xa xăm nào đó, lại đến cùng lời mẹ hát ru, chở theo cả niềm yêu thương ấm áp về cùng giấc ngủ trẻ thơ:
“ Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuỗng bể
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con”
Ta tự hỏi lòng chẳng lẽ còn thứ tình cảm tha thiết, mãnh liệt hơn thứ tình cảm kia nữa? Một tình cảm vượt lên trên tất cả khó khăn, ngăn cách, nối liền những nẻo xa xăm, một tình cảm có sức lay động, ám ảnh tâm can dù mới chỉ làn đầu nhìn thấy ôi! Tình mẫu tử… có lẽ còn thiêng liêng hơn mọi điÒu thiêng liêng nhất Lặp cấu trúc ngữ pháp ư? đối ư? Và còn cả điệp từ nữa? đừng hỏi vỉ sao thi sĩ lại viết như thế, vì đâu còn cách nào khácdiễn tả hết sự thiêng liêng cao quý of tình mẹ, of tấm lòng ăm ắp nhân hậu đầy yêu thương trong trái tim người mẹ dành cho con Con có thể ngủ yên, có thể vui sướng cắp sách đến trường, có thể vững bước chắc trên đường đời song gió, tất cả vì đã có tình mẹ chở che, nâng bước con đi Dù ở đâu, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, lòng mẹ cũng nhưcánh cò kia, vẫn bên con, vẫn lặn lội đi tìm, lặn lội sưởi ấm trái tim con, cho con sức mạnh, cho con niềm tin vào cuộc sống Mẹ có thể làm tất cả vì con như cánh cò kia một đời hi sinh ko mệt mỏi Lời thơ ẩn chứa một sức mạnh tiềm tàng, một sự khẳng định chắcchắn: tình mẹ bền chặt sẽ theo con đi suốt cuộc đời, sẽ trở thành một phần tâm hồm ko thể thiếu, soi rọi mọi nẻo đường con sẽ bước chân qua Tình mẹ, lònh yêu thương bao la của mẹ sẽ gửi trọn vào cuộc đời con mãi mãi, vì với mẹ đâu còn thứ gỉ thiêng liêng và gần gũi hơn con, hơn vầng mặt trời ấm ý nghĩa nhất đời mẹ, hơn lẽ sống mà vì nó mẹ có thể dâng trọn cuộc đời Từ gấp lại trang sách, em bé sẽ theo cò bước thẳng vào cuộc đời mai sau Kì thực em bé vẫn còn bé bỏng lắm, vẫn còn đang ngủ ngon lành trong cánh nôi tuổi thơ nhưng ước mơ of mẹ về một tương lai đẹp mai sau cứ theo tình yêu cháy lên mãi
mẹ độc thoại với chính lònh mình, tự soi long mình trong tình cảm yêu con tha thiết:
“ Lớn lên, lớn lên, lớn lên…
Con làm gì?
Trang 7Con làm thi sĩ
Cánh cò trắng lại bay hoài kh«ng nghỉ
Trước hiên nh
Và trong hơi mát câu văn…”
Chưa bao giờ ước mơ cháy bỏng, tha thiết đến như thế, mẹ ước mơ và gửi trọn ước mơ ấyvào đôi chân con mai này sẽ bước trên đường đời, sẽ vươn tới những khát khao mẹ ấp ủ bằng cả niềm tin mẹ hỏi lòng và tự trả lời cho câu hỏi: mẹ muốn con làm thi sĩ, mang cáiđẹp đến cho cuộc đời qua những vần thơ về mẹ, về con, về cuộc sống xung quanh đang từng ngày nuôi con lớn khôn Mẹ muốn cuộc đời con mãi mãi đẹp mãi mãi trong sáng như bài thơ đẹp đẽ nhất Và bên con, cánh cò vẫn còn đó, vẫn bền bỉ chở ý thơ theo đôi cánh bay bổng cò mãi mãi hồn nhiên trong sáng, mãi mãi đem theo ý thơ gắn kết cuộc đời, cò sẽ còn mãi mãi dịu nhẹ, khẽ lướt trong hơi mát câu văn tô điểm thêm giá trị tinh thần of cuộc sống, nuôi lớn những tâm hồn đẹp đẽ biết ước mơ Cánh cò cứ lớn dần, cứ đẹp dần trong lời ru of mẹ, chở yêu thương đi khắp nẻo thế gian Cánh cò đã đuợc hình tượng hoá thành tình mẹ, yêu thương, che chở, nuôi dưỡng tâm hồn con Phải sống trong cái nôi yêu thương ấy, phải để lêi ru thấm vào từng hơi thở, ta mới chợt hiểu tình mẹ cao đẹp, bao la quý giá biÕt nhường nào Mẹ ru con đó là sự yên ổn thanh bình Từ lâu lời ru rất đỗi bình dị, từ cánh cò rất đỗi thân quen, thi sĩ đã khái quát thành triết cảm, of tình mẫu tử thiêng liêng…
_sưu tầm_
"Làng" của Kim Lân thể hiện những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời
kháng chiến chống thực dân Pháp
Đề bài: Truyện ngắn làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì về những chuyển
biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp Dựa vào đoạn trích trong Ngữ văn 9, tập một, để trình bày ý kiến của em.
DÀN BÀI CHI TIẾT
A- Mở bài:
- Kim Lân thuộc lớp các nhà văn đã thành danh từ trước Cách mạng Tháng 8 – 1945 với những truyện ngắn nổi tiếng về vẻ đẹp văn hoá xứ Kinh Bắc Ông gắn bó với thôn quê, từlâu đã am hiểu người nông dân Đi kháng chiến, ông tha thiết muốn thể hiện tinh thần kháng chiến của người nông dân
- Truyện ngắn Làng được viết và in năm 1948, trên số đầu tiên của tạp chí Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc Truyện nhanh chóng được khẳng định vì nó thể hiện thành công một
Trang 8tình cảm lớn lao của dân tộc, tình yêu nước, thông qua một con người cụ thể, người nông dân với bản chất truyền thống cùng những chuyển biến mới trong tình cảm của họ vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
B- Thân bài
1 Truyện ngắn Làng biểu hiện một tình cảm cao đẹp của toàn dân tộc, tình cảm quê
hương đất nước Với người nông dân thời đại cách mạng và kháng chiến thì tình yêu làngxóm quê hương đã hoà nhập trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến Tình cảm đó vừa
có tính truyền thống vừa có chuyển biến mới
2 Thành công của Kim Lân là đã diễn tả tình cảm, tâm lí chung ấy trong sự thể hiện sinh
động và độc đáo ở một con người, nhân vật ông Hai ở ông Hai tình cảm chung đó mang
rõ màu sắc riêng, in rõ cá tính chỉ riêng ông mới có
a Tình yêu làng, một bản chất có tính truyền thông trong ông Hai.
- Ông hay khoe làng, đó là niềm tự hào sâu sắc về làng quê
- Cái làng đó với người nồn dân có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong đời sống vật chất
và tinh thần
b Sau cách mạng, đi theo kháng chiến, ông đã có những chuyển biến mới trong tình cảm.
- Được cách mạng giải phóng, ông tự hào về phong trào cách mạng của quê hương, vê việc xây dựng làng kháng chiến của quê ông Phải xa làng, ông nhớ quá cái khong khí
“đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…”; rồi ông lo “cái chòi gác,… những đường hầm bímật,…” đã xong chưa?
- Tâm lí ham thích theo dõi tin tức kháng chiến, thích bìh luận, náo nức trước tin thắng lợi ở mọi nơi “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng cũng vậy, hôm naydăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà thằng Tây không bước sớm”
c Tình yêu làng gắn bó sâu sắc với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí
ông khi nghe tin làng theo giặc
- Khi mới nghe tin xấu đó, ông sững sờ, chưa tin Nhưng khi người ta kể rành rọt, không tin không được, ông xấu hổ lảng ra về Nghe họ chì chiết ông đau đớn cúi gầm mặt xuống
mà đi
- Về đến nhà, nhìn thấy các con, càng nghĩ càng tủi hổ vì chúng nó “cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi” Ông giận những người ở lại làng, nhưng điểm mặt từng người thì lại không tin họ “đổ đốn” ra thế Nhưng cái tâm lí “không có lửa làm sao có khói”, lại bắt ông phải tin là họ đã phản nước hại dân
Trang 9- Ba bốn ngày sau, ông không dám ra ngoài Cai tin nhục nhã ấy choán hết tâm trí ông thành nỗi ám ảnh khủng khiếp Ông luôn hoảng hốt giật mình Khong khí nặng nề bao trùm cả nhà.
- Tình cảm yêu nước và yêu làng còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt: Đã có lúc ông muốn quay về làng vì ở đây tủi hổ quá, vì bị đẩy vào bế tắc khi có tin đồn không đâu chứa chấp người làng chợ Dầu Nhưng tình yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến đã mạnh hơn tình yêu làng nên ông lại dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù” Nói cứng như vậy nhưng thực lòng đau như cắt
- Tình cảm đối với kháng chiến, đối với cụ Hồ được bộc lộ một cách cảm động nhất khi ông chút nỗi lòng vào lời tâm sự với đứa con út ngây thơ Thực chất đó là lời thanh minh với cụ Hồ, với anh em đồng chí và tự nhủ mình trong những lúc thử thách căng thẳng này:
+ Đứa con ông bé tí mà cũng biết giơ tay thề: “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!” nữa
d Khi cái tin kia được cải chính, gánh nặng tâm lí tủi nhục được trút bỏ, ông Hai tột cùng
vui sướng và càng tự hào về làng chợ Dầu
- Cái cách ông đi khoe việc Tây đốt sạch nhà của ông là biểu hiện cụ thể ý chí “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước” của người nông dân lao động bình thường
- Việc ông kể rành rọt về trận chống càn ở làng chợ Dầu thể hiện rõ tinh thần kháng chiến
và niềm tự hào về làng kháng chiến của ông
3 Nhân vật ông Hai để lại một dấu ấn không phai mờ là nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lí
tính cách và ngôn ngữ nhân vật của người nông dân dưới ngòi bút của Kim Lân
- Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống thử thách bên trong để nhân vật bộc lộ chiềusâu tâm trạng
- Miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ đối
Trang 10Cảm Nhận Về Ánh Trăng ( Nguyễn Duy) - Ngữ Văn 9
CẢM NHẬN VỀ ÁNH TRĂNG ( NGUYỄN DUY)
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại Nếu như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung
và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí
“uống nước nhớ nguồn” (Nguyễn Vũ Như Ý - học sinh trường PTNK thành phố Hồ Chí Minh)
Bài do cô giáo Lê Thị Kiều Nga, giáo viên trường THCS Coltete thành phố Hồ Chí Minh,cung cấp
========================*****===================== ===
Bài làm:
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình Trăng đã trở thành đề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời đại Nếu như “
Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh đêm trăng sáng tuyệt đẹp gợi lên nỗi niềm nhớ quê
hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung dung
và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì đến với bài thớ “Ánh trăng” của Nguyễn
Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc.Đó chính là đạo lí
“uống nước nhớ nguồn”.
Những sáng tác thơ của Nguyễn Duy sâu lắng và thấn đẫm cái hồn của ca dao, dân ca Việt Nam Thơ ông không cố tìm ra cái mới mà lại khai thác, đi sâu vào cái nghĩa tình muôn đời của người Việt “Ánh trăng” là một bài thơ như vậy.Trăng đối với nhà thơ có ý
Trang 11nghĩa đặc biệt: đó là vầng trăng tri kỉ, vầng trăng tình nghĩa và vầng trăng thức tỉnh Nó như một hồi chuông cảng tỉnh cho mỗi con người có lối sống quên đi quá khứ.
Tác giả đã mở đầu bài thơ với hình ảnh trăng trong kí ức thuổi thơ của nhà thơ và trong chiến tranh:
“Hồi nhỏ sống với đồng với sông rồi với bể hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thành tri kỉ”
Hình ảnh vầng trăng đang được trải rộng ra trong cái không gian êm đềm và trong sáng của thuổi thơ Hai câu thơ với vỏn vẹn mười chữ nhưng dường như đã diễn tả một cách khái quát về sự vận động cả cuộc sống con người Mỗi con người sinh ra và lớn lên có nhiều thứ để gắn bó và liên kết Cánh đồng, sông và bể là nhưng nơi chốn cất giữ bao kỉ niệm của một thời ấâu thơ mà khó có thể quên được Cũng chính nới đó, ta bắt gặp hình
ảnh vầng trăng Với cách gieo vần lưng “đồng”, “sông” và điệp từ “ với” đã diễn tả tuổi
thơ được đi nhiều, tiếp xúc nhiều và được hưởng hạnh phúc ngắm những cảnh đẹp của bãi bồi thiên nhiên cũa tác giả.Tuổi thơ như thế không phải ai cũng có được ! Khi lớn lên,
vầng trăng đã theo tác giả vào chiến trường để “chờ giặc tới’.Trăng luôn sát cách bên
người lính, cùng họ trải nghiệm sương gió, vượt qua những đau thương và khốc liệt của bom đạn kẻ thù Người lính hành quân dưới ánh trăng dát vàng con đường, ngủ dưới ánh trăng, và cũng dưới ánh trăng sáng đù, tâm sự của những người lính lại mở ra để vơi đi
bớt nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà Trăng đã thật sự trởø thành “tri kỉ” của người lính trong
nhưng năm tháng máu lửa
Khổ thơ thứ hai như một lời nhắc nhở về những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước hiền hậu, bình dị Vầng trăng đù, người bạn tri kỉ
đó, ngỡ như sẽ không bao giờ quên được:
“Trần trụi với thiên nhiên hồn nhiên như cây cỏ ngỡ không bao giờ quên cái vầng trăng tình nghĩa”
Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm cho âm
điệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng đang tràn đầy Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ đã tô đâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị đó là tâm hồn của những người nhà quê, của đồng, của sông của bể và của những người lính hồn nhiên, chân chất ấy Thế rồi cái tâm hồn - vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường”
Trang 12Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà Thế nhưng con người không thể kháng cự lại sự thay đổi đó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với những thứ xa
hoa nơi “ánh điện, cửa gương” Và rồi trong chính sự xa hoa đó, người lính đã quên đi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên được, “người tri kỉ
ấy” đi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không biết Phép nhân hoá
vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì đó làm rung động lòng người đoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người Cũng chính phép nhân hoá đó làm cho người đọc cảm thương cho một “người bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên Sự ồn
ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác đã lôi kéo con người ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người đã lấn át lí trí của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ Con người khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản củacuộc sống, đó chình là tình cảm con người Nhưng rồi một tình huống bất ngờ xảy ra buộc người lính phải đối mặt:
“Thình lình đèn điện tắt phòng buyn -đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn”
Khi đèn điện tắt, cũng là khi không còn được sống trong cái xa hoa, đầy đủ về vật chất,
người lính bỗng phải đối diện với cái thực tại tối tăm Trong cái “thình lình”, “đột ngột”
ấy, người lính vôi bật tung cửa sổ và bất ngờ nhận ra một cái gì đó Đó chẳng phải ai xa
lạ mà chính là người bạn tri kỉ năm xưa của mình đây hay sao? Con người ấy không hề biết được rằng cái người bạn tri kỉ, tình nghĩa, người bạn đã bị anh ta lãng quên luôn ở
ngoài kia để chờ đợi anh ta “Người bạn ấy” không bao giờ bỏ rơi con người, không bao
giờ oán giận hay trách móc con người vì họ đã quên đi mình Vầng trăng ấy vẫn rất vị tha
và khoan dung, nó cũng sẵn sàng đón nhận tấm lòng của một con người biết sám hối, biếtvươn lên hoàn thiện mình Cuộc đời mỗi con người không ai có thể đóan biết trước được.Không ai mãi sống trong một cuộc sống yên bình mà không có khó khăn, thử thách Cũng như một dòng sông, đời người là một chuỗi dài với những qunh co, uốn khúc Và chính trong những khúc quanh ấy, những biến cố ấy, con người mới thật sự hiểu được cái
gì là quan trọng, cái gì sẽ gắn bó với họ trong suốt hành trình dài và rộng của cuộc đới Dường như người lính trong bài thơ đã hiểu được điều đó!
“Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng”
Khi người đối mặt với trăng, có cái gì đókhiến cho người lính áy náydù cho không bị quở
trách một lời nào Hai từ “mặt” trong cùng một dòng thô: mặt trăng và mặt người đang
cùng nhau trò chuyện Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong tận đáy lòng
và dường như nước mắt đang muốn trào ra vì xúc động trước lòng vị tha của người bạn
“tri kỉ” của mình Đối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như đang xem một
Trang 13thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và có “bể” Chính
những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt nước mắt ấy đã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh trong sáng lại Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh được láy lại làm sáng tỏ những điều
mà con người cảm nhận được Cái tâm hồn ấy, cái vẻ đẹp mộc mạc ấy không bao giờ bị mất đi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương Đoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh đi vào lòng người
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba đã thực sự thức tỉnh con người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình”
Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc độc đáo và đạt tới chiều sâu tư tưởng và triết lí
“Trăng tròn vành vạnh” là vẻ đẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn đầy và không hề bị suy
suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng không nói
gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn đó đủ khiến cho con người giật mình Ánh trăng nhưmột tấm gương để cho con người soi mình qua đó, để con người nhận ra mình để thức tỉnh lương tri Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ điều gì trong tâm hồn anh ta Nhưng dù gì đi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc cũng luôn vậy bọc và che chởù cho con người
“Ánh trăng” đã đi vào lòng người đọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở đối với mỗi
người: Nếu ai đã lỡ quên đi, đã lỡ đánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị đó còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì hãy nâng niunhững kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, đừng để quá muộn Bài thơ không chỉ hay
về mắt nội dung mà cón có những nét đột phá trong nghệ thuật Thể thơ năm chữ được vận dụng sáng tạo, các chữ đầu dòng thơ không viết hoa thể hiện những cảm xúc liền mạch của nhà thơ Nhịp thơ biến ảo rất nhanh, giọng điệu tâmtình đã gấy ấn tượng mạnh trong lòng người đọc/./
Đọc truyện ngắn "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng
ĐỌC TRUYỆN NGẮN “CHIẾC LƯỢC NGÀ” CỦA NGUYỄN QUANG SÁNG
Câu chuyện viết về tình cha con của những người kháng chiến, những người cách mạng Nhưng đó cũng là tình phụ tử muôn đời
Truyện không dài, tình tiết không li kì, tư tưởng cũng không phức tạp Nó chân thực và giản dị, vì thế mà cảm động Ấy là cốt cách của một truyện hay
Trang 14Truyện nói đến ba nhân vật: một người con và hai người cha Truyện viết về hai cuộc gặp
gỡ ngắn ngủi, éo le: cuộc gặp gỡ đầu tiên mà cũng là cuối cùng của cô con gái với cha mình và cuộc gặp gỡ cũng của người con ấy với bạn chiến đấu của người cha đã hi sinh.Truyện xoay quanh một kỉ vật đơn sơ mà vô giá, chính nó đã nối hai cuộc gặp gỡ với ba con người: chiếc lược ngà Nhưng vang vọng suốt cả câu chuyện, suốt những quãng đời, suốt những cuộc đời ấy chỉ có một tiếng kêu, một tiếng kêu bình dị mà thiêng liêng bậc nhất của cõi đời này: Ấy là tiếng Ba
Nhìn từ tình huống truyện, Chiếc lược ngà là một truyện ngắn không chỉ có một tình huống duy nhất mà có hai tình huống, mỗi tình huống xoay quanh một cuộc gặp gỡ Mỗi tình huống ấy là hạt nhân của một truyện nhỏ mà ta có thể gọi thành tên: truyện nhỏ thứ nhất có thể gọi là Cái thẹo của cha, truyện nhỏ thứ hai là Chiếc lược cho con Truyện thứ nhất làm tiền đề cho truyện thứ hai Hai truyện nhỏ liên hoàn tạo thành một truyện lớn hoàn chỉnh
Đó là dạng tình huống giàu kịch tính Vì thế cũng có thể xem Chiếc lược ngà như một vở kịch nhỏ gồm hai màn khá rõ rệt Mỗi màn là một cuộc gặp gỡ éo le mà cảm động
* *
*Hãy nói về cuộc gặp gỡ thứ nhất Khi ấy, nhân vật Thu còn là một cô bé Người cha được
về thăm nhà sau bao nhiêu năm ở chiến khu Khao khát đốt lòng ông là được gặp con, là được nghe con gọi tiếng ba, để được sống trong tình cảm cha con, mà lâu nay ông chưa từng được sống, bấy lâu ông mong đợi Nhưng mọi chuyện đã diễn ra không ít trái ngang.Đứa con gái đã hoàn toàn lạnh lùng trước mọi tình cảm vồ vập của cha Ông càng xích lạigần, nó càng lùi xa Ông càng chiều thương, nó càng lảng tránh Ông càng khao khát được nghe tiếng ba từ lòng con, nó càng cố tình cự nự Ngọn lửa nồng nàn của lòng cha
cứ bị những đối xử xa lánh, ương ngạnh của con giội xuống những gáo nước lạnh Có những tình huống tưởng chừng cô bé không thể ương bướng được nữa, ấy thế mà nó vẫn quyết liệt Đó là lúc cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước Nó đã phải cầu cứu đến người lớn Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua, không thể chiến tranh lạnh được nữa - nó buộc phải gọi ba để được giúp đỡ Nhưng không Nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong! Chỉ cần nói lên cái tiếng ba ấy thôi, là
nó sẽ thoát khỏi thế bí Nhưng quyết không! Nó vẫn hành động theo sự bướng bỉnh, bất cần! Tự mình làm lấy một công việc nguy hiểm và quá sức! Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ, không chịu thua cuộc Điều ấy đã làm cho người cha, người bạn của cha và
cả người đọc đau lòng Còn gì đau lòng cho bằng người cha giàu lòng thương yêu con,
mà lại bị chính đứa con ấy kiên quyết chối bỏ!
Nhưng, khi ta hiểu ra thì lại thấy rằng: chính cái hành động đáng ghét ấy lại vô cùng đángquý! Chính thái độ quyết liệt ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha Đơn giản vì bấy giờ, cô bé thấy vết thẹo dài trên má người đang xưng là ba đây không giống với ảnh cha mình Cô bé không tin, và thậm chí còn ngờ vực.Điều đáng nói là cô bé không dễ tin người khác Cả bạn của cha, cả mẹ xác nhận là cha
Trang 15Nhưng không ai tháo gỡ được thắc mắc thầm kín trong lòng mình, thì cô bé vẫn chưa chịu thông Còn chưa thông thì còn chưa chịu Nó không đơn thuần là sự bướng bỉnh của một con bé đỏng đảnh, nhiễu sách, mà đó là sự kiên định, quyết liệt của một người có lập trường Đây chính là cái mầm sâu kín, sau này làm nên tính cách cứng cỏi ngoan cường của chị giao liên giải phóng Đến khi được ngoại giảng giải về lai lịch vết thẹo trên má
ba, thì Thu mới vỡ lẽ đó thực là ba mình Hình ảnh người ba thân yêu trên ảnh, người ba kính mến mà cô bé ghi sâu trong lòng, đến lúc ấy, mới nhập vào người đang xưng ba có vết thẹo dài đây Đã vỡ lẽ, thì lòng yêu ba nhân lên gấp bội Nhưng muộn quá, đúng lúc
ba từ giã lên đường, nó mới có thể gọi ba Tiếng ba vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô bé Cái tiếng mà ba nó đã chờ đợi suốt chín năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày trời về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe, thì bất ngờ, nó thét lên Nó vỡ ra, còn lòng người đọc thì nghẹn lại Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa: Nhưng thật lạ lùng, đúng lúc ấy,tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba… Ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót
xa (…) Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!
Ba nó bế nó lên Nó hôn ba nó khắp mọi nơi Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa Đối với người cha ấy, đó là tiếng gọi ba đầu tiên và cũng
là những tiếng cuối cùng ông nghe được từ con!
Có thể còn kể thêm nhiều nét tính cách khác ở nhân vật Thu, nhưng đây là vẻ đẹp cốt lõi của hình tượng nhân vật này khi còn là một cô bé
Còn người cha, ông cũng có nhiều nét đẹp khác như chiến đấu ngoan cường, trung thành với cách mạng, gắn bó với quê hương, đồng chí, đồng đội… Nhưng vẻ đẹp nổi bật nhất được tô đậm ở đây chính là tình phụ tử Những ngày chưa được gặp con, người cha ấy khổ sở nôn nao bao nhiêu, thì giây phút được nhìn thấy con, ông càng vồ vập, cuống quýtbấy nhiêu Và khi con không nhận mình ngay, ông đã đau khổ và kìm nén đau khổ như thế nào Tuy nhiên, tất cả những biểu hiện ấy chỉ là thứ yếu Điều cảm động nhất là việc
tự tay làm chiếc lược ngà cho con gái Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba, đó
là mong ước đơn sơ của đứa con gái bé bỏng trong giây phút cha con từ biệt Nhưng đối với người cha ấy, đó là mong ước đầu tiên mà cũng là duy nhất Cho nên, nó cứ thôi thúc trong lòng Kiếm cho con cây lược, trở thành bổn phận của người cha, thành tiếng gọi cầukhẩn của tình phụ tử trong lòng Ông đã làm công việc ấy bằng tất cả sức mạnh và sự cố gắng của tình phụ tử Ông đã ngồi bật dậy như bỗng lóe lên một sáng kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua sắm được cây lược Làm lược từ ngà voi là cách khắc phục khó khăn Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quý hiếm - chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý giá ấy Và, anh không muốn mua, mà muốn tự tay mình làm ra Anh sẽ đặt vào
Trang 16đấy tất cả tình cha con của mình Kiếm được ngà voi mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà Vậy đấy, khi người ta hóa thành con trẻ, lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách người cha cao quý của mình Rồi, anh ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ bạc, anh gò lưng tẩn mẩn khắc từng nét: Yêu nhớ tặng Thu con của ba Anh thường xuyên lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân - nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời Cho nên cây lược ngà
đã kết tinh trong đó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kì diệu làm sao!
Thế rồi, anh không kịp đưa cây lược ngà đến tận tay cho con Người cha ấy đã hy sinh Nhưng hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được Không còn đủ sức trăng trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc đưa tay vào túi, móc cái lược đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu Nhưng đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc Bởi đó là sự ủy thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử!
Bắt đầu từ giây phút ấy, cây lược ngà của tình phụ tử đã biến người đồng đội thành một người cha - người cha thứ hai của cô bé Thu
* *
*
Và cuộc gặp gỡ thứ hai đã diễn ra Giữa hai cuộc gặp gỡ, cô bé Thu bướng bỉnh ngày nào
đã kịp trở thành cô giao liên giải phóng Cô đã được tin ba mình hy sinh Lòng căm thù giặc giết hại người cha thân yêu đã khiến cô cầm súng Vậy là, đi đánh giặc, với Thu trước hết cũng là xuất phát từ tình phụ tử Có lẽ, Thu cũng đã quên chuyện cây lược thuở
bé rồi! Nhưng cây lược ấy vẫn được gìn giữ cẩn trọng và vẫn thầm lặng tìm cô trên những ngả chiến trường
Cuộc gặp gỡ thứ hai vừa tất yếu vừa tình cờ Tất yếu vì sớm muộn gì rồi cũng sẽ diễn ra Còn tình cờ vì cả bác Ba lẫn cô Thu đều không thể ngờ rằng họ gặp gỡ trên đường chiến đấu và lại cũng trong thời khắc ngắn ngủi thế Trước kia, Thu không nhận ba vì nhầm vếtthẹo Còn bây giờ cũng có một thoáng không nhận vì nghĩ rằng bác Ba đã nhầm Nhưng thực ra chẳng có ai nhầm! Người cần trao cây lược, bác Ba đã tìm thấy
Nếu trong những ngày mang chiếc lược, sự cẩn trọng nâng niu đã thực sự khiến bác Ba trở thành một người cha, thì giờ đây khi nhìn cô bé Thu, tình cha con đang dâng lên trongBác: Thấy cháu nhìn ngắm cây lược, tim tôi nhói đau Tôi biết cháu đang bàng hoàng trước hạnh phúc bất ngờ Tôi không muốn làm gì xao động đến hạnh phúc của cháu, tôi thấy cần phải nói dối :
- Ba cháu vẫn khỏe, ba cháu không về được, nên gửi cho bác (…)
Nhìn cháu tôi bỗng buột miệng :
- Thôi, ba đi nghe con!
Trang 17Tôi không nghe cháu đáp lại, chỉ thấy đôi môi tái nhợt của cháu mấp máy.
Trong cuộc chia tay thứ nhất, tiếng ba của bé Thu kêu thét lên xé tan sự im lặng, xé cả gan ruột mọi người, đó là tiếng gọi ba của một đứa trẻ Còn trong cuộc chia tay thứ hai này, tôi không nghe cháu gọi tôi là ba Nhưng những lúc nằm một mình, nhớ lại thì tôi nghe tiếng gọi ba của cháu và tiếng ba như vang lên từ trong tâm tôi Ấy là tiếng gọi ba của một người lớn Một tiếng ba ngây thơ, bồng bột, và một tiếng ba mặn mà, từng trải của những người đã chịu đựng mất mát hy sinh Tiếng ba nào cũng chân tình và tự nhiên bởi nó buột ra từ trong tâm khảm con người Tình phụ tử cao đẹp cứ truyền qua lồng ngực những người cha như một dòng máu bất tận Và tình cha con cũng dào dạt muôn đời bất diệt trong lòng những đứa con Tình người thiêng liêng ấy không kẻ thù nào có thể tiêu diệt được, trái lại, nó càng sáng đẹp hơn, bền bỉ hơn trong đạn bom tàn phá Đó chẳng phải là điều sâu kín nhất mà truyện ngắn Chiếc lược ngà muốn gửi đến mỗi người đọc chúng ta hay sao?
ảm nhận về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "Bến quê" Cảm nhận về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm "Bến quê" của Nguyễn Minh Châu
Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống
Mỹ ,Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nưu?c nhà Truyện ngắn của ông thưuờng chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con ngưuời và cuộc đời “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó
Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy Bị cột chặt trên giuờng bệnh ,Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông Cảnh vật nơi
ấy đẹp nhưu thơ nhưu hoạ :Những bông bằng lăng cuối mùa thưua thớt nhung đậm sắc ,con sông Hồng màu đỏ nhạt ,ánh nắng sớm ,vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi
nhưung duường nhuư rất mới mẻ đối với anh Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp
và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót ,bởi một ngưuời “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưua từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay truước cửa sổ nhà mình ” Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giưuờng bệnh Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con Sáng hôm ấy ,bằng trực giác ,anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa ,anh mới cảm nhận thấm thía về nguười
vợ của mình Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá ”, “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”,anh nói với vợ những lời xót xa, ân hận : “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”.Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng
Trang 18hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó, mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm, Nhĩ đã tìm thấy được nơi nưưuơng tựa là gia đình trong những ngày này ”.Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng, cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng nhưu sự tảo tần
và đức hy sinh của vợ Trưuớc khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ ,vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh ,kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thuương và tận tuỵ Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên, tin cậy sau cả một đời bôn tẩu ,kiếm tìm
Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế Cũng trong buổi sáng hôm
ấy, khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ ,Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và
vô vọng là một lần đuược đặt chân lên bãi bồi bên kia sông Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững ,bình dị mà sâu xa của cuộc sống ,những giá trị dễ bị ta vô tình ,bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi , cuốn nguười
ta đi Sự nhận thức này chỉ đến đưưuợc với ta khi đã từng trải Với Nhĩ ,đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giưuờng bệnh.Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa : “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải ,đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống nhuư một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ” Với anh, bây giờ đó thực sư? là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ” ” Không thể tự làm điều mình khao khát,Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông ,đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ Oái oăm thay ,đứa con không hiểu ưuớc muốn của cha ,đã đi một cách miễn cưưuỡng và bị cuốn vào trò chơi phá
cờ thế trên hè phố Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.Từ
đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời ngưuời “Con nguười ta trên đưuờng đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng
chình”.Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”.
Ở cuối truyện ,khi Nhĩ tuưởng tuượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bưuớc chân lên mặt đất dấp dính phù sa Nhĩ xúc động mạnh ,chân dung anh khác thưuờng “mặt mũi đỏ rựng ,hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”.Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này ,Nhĩ thu hết tàn lực ,đu nguười lên cửa sổ ,giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y nhuư đang khẩn thiết ra hiệu cho một ngưuời nào đó ”.Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày ?Và duờng nhưu nó còn có ý nghĩa khái quát hơn :Muốn thức tỉnh mọi ngưuời vưuợt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đưuờng đời
để hứơng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững ! Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức,suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh ,chi tiết mang ý nghĩa biểu tưuợng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm.Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp ,tinh
tế ,giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm ,suy ngẫm của tác giả
Trang 19đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn t?ương riêng cho tác phẩm
Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại
nhuưng dưu âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dưuờng nhưu vẫn còn lan toả đâu đây,thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị ,gần gũi của gia đình ,quê hưuơng ,xứ sở
Bức tranh tâm trạng qua tám câu cuối đoạn trích
“Kiều ở lầu Ngưng Bích
Nếu toàn cảnh Truyện Kiều có bộ tranh thơ Tứ Bình nổi tiếng, thì ở một góc độ nào đó, bốn khung tranh tâm trạng độc đáo này cũng là bộ Tứ Bình về cảm xúc Vừa có nhạc điệu từ điệp từ liên hoàn buồn trông, vừa khắc họa cảnh sắc từ nhiều góc độ, tám câu cuốiKiếu ở lầu Ngưng Bích thật đúng là một trong những đoạn thơ đỉnh cao trong hơn ba nghìn dòng thơ Truyện Kiều
Chủ đề: Bức tranh tâm trạng qua tám câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” Nền văn học Việt Nam xưa được ví như bức tường cao dày của xúc cảm và tri thức Trước những bước đi của thời gian, dường như nó càng thêm vững chãi, uy nghi và lộng lẫy hơn bao giờ hết Bằng chứng là, dù có mấy trăm, mấy nghìn năm trôi qua, người ta vẫn không ngừng lần mò, tìm về với tinh hoa nghệ thuật của nền cổ văn vốn đã ít nhiều nằm khuất dưới lớp bụi mờ thời gian Một trong những thi phẩm cho đến tận bây giờ vẫn không giảm sức hút, vẫn được cho là còn quá nhiều để hiểu, để khám phá, chính là Đoạn trường tân thanh- kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, biểu tượng lớn cho văn học trung đại Việt Nam Xuyên suốt tác phẩm là nét gợi hình, tả cảnh, lối tự sự độc đáo, đầy sáng tạo Không ngoại lệ, nghệ thuật tả tâm cũng là yếu tố đẩy Truyện Kiều lên đỉnh cao rực
rỡ Hai mươi dòng lục bát Kiều ở lầu Ngưng Bích thể hiện rõ ánh nhìn sâu của Nguyễn
Du trong từng xúc cảm mỏng manh của Kiều
Đoạn trích nằm ở phần thứ hai của truyện- Gia biến và lưu lạc, như những cụm mây đen đầu tiên che phủ lên cuộc đời Kiều Đành đoạn dứt tình với Kim Trọng, nàng nguyện hiến thân cứu cha Cái trong trắng của một tiểu thư từ nhỏ được mẹ cha bảo bọc, tình phụ
tử sâu nặng và lòng hiếu thảo của đứa con ngoan đã đẩy nàng Kiều vào vòng lừa lọc từ những kẻ buôn người Nỗi uất ức của nàng được Tú Bà xoa dịu bằng ngày tháng giam cầm ở lầu cao với cớ rằng để nàng tịnh tâm, bình phục Ngọn lầu ấy tên là Ngưng Bích, một cái tên quá đẹp so với những cô đơn, tẻ nhạt mà nàng Kiều phải trải qua tại đây Tọa lạc ở một vùng nổi tiếng với kỹ nghệ ngọc trai thu hút nhiều thương gia, lầu Ngưng Bích như hạt ngọc bích quý giá ngưng đọng, cốt để khóa chặt cái thời xuân sắc tươi đẹp nhất của người con gái họ Vương Trái hẳn với không khí buôn bán sầm uất bên ngoài, bao trùm lấy không gian trong lầu chỉ là tiếng sóng vỗ ào, ngọn gió biển nặng nề lướt qua, và
Trang 20những suy tư khó nhọc của một phận hồng nhan Lầu Ngưng Bích nói cho cùng cũng chỉ mới là điểm khởi đầu cho đắng cay về sau của Kiều, nhưng âm điệu buồn da diết của cả đoạn trích đã cho thấy bao đau thương dồn nén trong hồn người, thấm đẫm cả một vùng trời đất rồi lại sắt se vào lòng Một khoảng mênh mang trĩu nặng trao qua nhận lại giữa người với cảnh đã làm nên khúc thiên sầu Kiều ở lầu Ngưng Bích, đặc biệt là tám dòng tuyệt bút cuối cùng
Chưa bước vội vào tấm tranh ảm đạm của tâm trạng nàng Kiều, Nguyễn Du khéo léo gợi
mở trước không gian nơi lầu son cao đẹp về hình thức nhưng mang đến cho con người ta cái bi thảm về tinh thần Nếu nói sáu dòng thơ mở đầu là bức họa bằng ngôn từ thì đó thật
sự là một bức họa đẹp Có núi chập chình ngoài xa, có vầng trăng treo trên đỉnh đầu, không gian khoáng đãng mênh mông Nhưng trong cái cao rộng mỹ mãn của thiên nhiên lại thiếu nét đẹp con người Khung cảnh mờ ảo chìm trong cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặmkia vắng vẻ đến quạnh hiu, nàng Kiều dường như chỉ là cái bóng nhỏ lạc lõng giữa cảnh vật xung quanh Một ngày từ sớm cho đến khuya, Kiều chỉ biết quanh quẩn với mây với đèn Nàng đối cảnh nhiều tới nỗi một phần đất trời quạnh quẽ như hóa tâm trạng, làm dâng đầy cái niềm xót xa đau đáu trong lòng bấy lâu Càng hướng ra thiên nhiên, Kiều càng thấy rõ sự cô đơn vây kín từng ngày, càng day dứt khôn nguôi, nhớ cha, nhớ mẹ và nhớ chàng Kim ngày nào cùng hẹn ước Với Kim Trọng, nàng vẫn chưa thể dẹp yên suy nghĩ phụ bạc, chính nàng đã tự tay cắt đứt sợi tơ hồng, đã đẩy chàng vào mỏi mòn trông ngóng Niềm tin sắt đá vào lời thề dưới trăng đêm ấy sẽ là lưỡi dao nhọn đâm vào tim chàng, khi mà giờ đây, thân phận nàng đã “hạc nội mây ngàn”, không biết rồi lưu lạc về đâu Kiều bây giờ có lẽ đã thấm thía cái trơ trọi, bơ vơ nơi đất khách, nhưng mối tình đầuđẹp như mộng ngày ấy vẫn gieo cho Kiều khát vọng son sắt, thủy chung Với cha mẹ, nàng thương xót hình dung cảnh đấng phụ thân, phụ mẫu thấp thỏm chờ trông Qua cơn biến cố, rồi mẹ cha sẽ như thế nào? Nàng đi rồi, ai lo phụng dưỡng bậc sinh thành? Đành
là dứt tình vì cha, nhưng trong tận thâm tâm một đứa con hiếu thảo, bấy nhiêu vẫn chưa thật tròn đạo làm con Hết cái day dứt phụ tình Kim, nàng lại nghĩ đến cái tội phụ công sinh dưỡng, không thể chăm sóc cha mẹ khi về già là một trong những nỗi niềm cứ canh cánh trong Kiều lúc bấy giờ Từ những nỗi niềm buồn thương đó, cụ Nguyễn Du đã khéo léo tô thêm màu xám trên ánh nhìn xa xăm của Kiều, đẩy sầu não lên thành đỉnh điểm, qua tám câu khép lại đoạn trích:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Tâm trạng buồn nhớ của Kiều giờ đi cả vào ánh mắt Người buồn thì cảnh cũng buồn Vẫn là cảnh đó, không gian đó, nhưng đã chất chứa phần nào nỗi lòng Kiều Khung tranh buồn thứ nhất mở ra ngay thời điểm chiều hôm- là thời điểm quen thuộc của nghệ thuật, của những lưu luyến khó tả Cửa bể chiều hôm gợi trước mắt ta hình ảnh những tia nắng leo lắt cuối ngày phản chiếu lên mặt biển xanh thẳm rồi lan ngay ra không gian xung quanh, khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm tối, có cái gì da diết như đêm luyến ngày, như niềm lưu luyến tha thiết của Kiều về ngày tháng êm đềm xưa kia Cửa biển trong ánh chiều tà yếu ớt bao trùm luôn cả những con thuyền căng buồm lộng gió ngoài xa- những con thuyền chở hy vọng của nàng Kiều được một lần tự do ngoài bầu trời rộng mở, vượt khỏi cái tù túng tẻ nhạt nơi lầu son gác tía Những cánh buồm đều ở rất xa, thoắt ẩn thoắt hiện trong ánh hoàng hôn trĩu buồn, như niềm hy vọng của nàng chỉ là những chấm nhỏ ngoài khơi xa mịt mờ, những từ thấp thoáng, xa xa càng khiến hy vọng nhạt nhòa
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Trang 21Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Qua khung tranh thứ hai, vẫn là ánh nhìn vào nước, nhưng đã gần hơn Có lẽ nào nàng Kiều đã bắt đầu nhượng bộ trước những xa xăm của cuộc đời, nhìn gần để có thêm ít hy vọng, dù nhỏ Ngờ đâu, cái mà nàng trông thấy còn dữ tợn hơn bội phần Cánh hoa mỏng manh dập dìu trước ngọn nước từ trên cao đổ xuống Thử hỏi, cánh hoa mỏng manh ấy làm sao chịu nổi sức nước tràn? Thân phận Kiều cũng vậy, quá bé nhỏ trước dòng đời Chỉ bấy nhiêu thôi cũng cho thấy sự nhạy cảm của Kiều Cái man mác trôi của hoa thể hiện cái băn khoăn, lo lắng cho thân phận lạc loài, vô định của nàng Kiều bây giờ cũng như bông hoa kia, không còn người thân bên cạnh, tự nàng phải bước lên những chông gai của cuộc đời
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Rồi Kiều bắt đầu đảo mắt đến cái sắc xanh nối tiếp của trời và đất Tuy nhiên, bãi cỏ không mang màu xanh tươi như tiết thanh minh tháng ba, từ láy rầu rầu gợi cho ta sự tàn
úa đến thảm thương Xanh trời nối tiếp xanh đất nhưng xanh nào cũng là màu xanh tàn
úa, héo hắt Màu xanh tàn héo ấy khiến xanh xanh cả đất trời Kiều nhìn vào màu xanh mong tìm kiếm chút hy vọng nhỏ nhoi lần nữa, nhưng cũng như những lần trước, Kiều quay đi với nỗi thất vọng ngập tràn Cảnh buồn hay vì người buồn nên cảnh mới buồn thì không biết, chỉ biết lần này, nàng Kiều đã thật sự tuyệt vọng, chẳng còn đối cảnh nào khiến nàng thấy ý muốn níu kéo của mình là đúng Mọi thứ đều đưa nàng vào suy nghĩ dằn vặt và đau xót hơn
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Trong lúc tuyệt vọng nhất, Kiều thấy mình dường như chao đảo Từng ngọn gió mạnh thổi sóng vỗ ầm ầm Quang cảnh đã thôi yên lặng, mặt biển dậy sóng, lòng Kiều cũng dậy sóng Những đợt sóng dữ dội như dự báo trước điều bất an, như cảnh báo một tương lai bão táp đang chờ Kiều trước mắt Người con gái tài sắc trong hoàn cảnh đó đã hoảng loạn vô cùng
Tám dòng thơ cuối này tạo nên bốn khung tranh tâm trạng của nàng Kiều Mỗi khung tranh là một trạng thái tâm lý khác nhau Điệp từ buồn trông diễn tả cái tăng tiến đến choáng ngợp của từng cung bậc xúc cảm trong Kiều Nỗi buồn tủi ban đầu đã dồn nghẹn trong lòng thành niềm lo sợ về thân phận lạc loài, cái héo hắt, tuyệt vọng trước thực tại, trào ra thành nỗi hoảng sợ tột độ, hoàn toàn mất phương hướng Yếu tố không nhỏ giúp cho sự tăng tiến về cảm xúc trở nên dữ dội mà lại sít sao, tự nhiên vô cùng chính là hệ thống từ láy tầng tầng lớp lớp, khiến mấy dòng thơ từ tha thiết trở thành mạnh mẽ, từ mạnh mẽ lại trở về tha thiết Có thể nói, đại thi hào Nguyễn Du là một nhà bác học của ngôn từ và cảm xúc Những từ ngữ ông sử dụng luôn uyên thâm nhưng vững nghĩa và dễ hiểu Nghệ thuật dụng từ trong tám câu cuối của đoạn trích này đã góp phần đưa nó thànhthiên sầu khúc Ngoài ra, cái tài của cụ Nguyễn là vừa để cho Kiều nhìn cảnh bằng con mắt chủ quan của tâm trạng, lại vừa ngầm thể hiện sự xót thương thân phận người trong cảnh từ địa vị của một nhà nhân đạo chủ nghĩa, làm cho dòng thơ có sức gợi cảm mãnh liệt, chinh phục bao tầng lớp độc giả
Nếu toàn cảnh Truyện Kiều có bộ tranh thơ Tứ Bình nổi tiếng, thì ở một góc độ nào đó, bốn khung tranh tâm trạng độc đáo này cũng là bộ Tứ Bình về cảm xúc Vừa có nhạc điệu từ điệp từ liên hoàn buồn trông, vừa khắc họa cảnh sắc từ nhiều góc độ, tám câu cuốiKiếu ở lầu Ngưng Bích thật đúng là một trong những đoạn thơ đỉnh cao trong hơn ba
Trang 22nghìn dòng thơ Truyện Kiều
(sưu tầm)
(ST) Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà"
Cảm nhận về tình cha con trong truyện "Chiếc lược ngà"
Truyện “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng) được viết trong cuộc kháng chiến chống Mĩ nhưng chủ yếu tập trung nói về tình người trong cảnh ngộ
éo le của chiến tranh Đoạn trích “Chiếc lược ngà” (Sgk Văn 9, tập I) thể hiện tình cha con thắm thiết, sâu nặng của ông Sáu và bé Thu.
Ông Sáu về thăm nhà sau bao năm ở chiến khu với cái tình của người cha nôn nao, cháy bỏng khát khao được gặp con Nhưng ngay từ giây phút đầu, điều mà ông bấy lâu mong đợi được nghe con gái gọi tiếng “Ba !” không được đền đáp Đứa trẻ hoàn toàn ngơ ngác, lạnh lùng, đối xử với ông như người
xa lạ Với lòng mong nhớ con, ông càng đón chờ tình cảm của con, nó càng cố tình cự nự Điều đó, khiến ông đau đớn “hai tay buông xuống như bị gãy” Có những tình huống, tưởng chừng thế nào nó cũng chịu thua, không ương ngạnh được nữa, phải gọi tiếng “Ba” Nhưng nó vẫn không chịu cất tiếng
“Ba” mà ông Sáu chờ đợi.
Hành động trẻ con, nói năng cộc lốc, ngang ngạnh của Thu dành cho Ba khiến ông Sáu, bạn ông Sáu
Trang 23và cả người đọc đau lòng và suy nghĩ Khi có gia đình, hạnh phúc được làm cha, tiếng gọi “Ba” của đứa con gái yêu chưa dành cho ông khiến ông “khổ tâm đến nỗi không khác được, chỉ biết nhìn con vừa khẽ lắc đầu vừa cười”.
Phản ứng tâm lí của Thu là hoàn toàn tự nhiên Thu còn quá bé để có thể hiểu tình thế éo le xảy ra trong chiến tranh Bản thân người lớn cũng chưa ai chuẩn
bị cho Thu ứng phó với bất thường Điều đó, người đọc cảm được tình cảm chân thật, sâu sắc, mãnh liệt Thu dành cho ba - người mà Thu biết trên ảnh,
người cha được cô bé ghi sâu trong lòng từ tấm ảnh, không phải người đàn ông xưng là "ba".
Đến khi được bà ngoại tháo gỡ thắc mắc trong lòng,
về lai lịch vết thẹo, Thu vỡ lẽ đó thực là ba mình Trăn trở dằn vặt, cùng tình yêu, khát khao bấy lâu mong gặp mặt cha dồn nén, bùng nổ dữ dội, quyết liệt vào giờ phút trước khi người cha lên đường Tiếng “Ba a a ba !” vỡ ra từ sâu thẳm lòng cô
bé Tiếng kêu mà ba nó chờ đợi bao năm ròng
Tiếng kêu làm nhói tim mọi người Ông Sáu sung sướng, hạnh phúc nghẹn lời, không cầm được nước mắt Thu vồ vập, cuống quít, níu giữ cha, níu giữ yêu thương bấy lâu nó mong đợi “Nó hôn ba nó cùng khắp Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được
ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”.
Trang 24Đối với người cha, đó là tiếng “ba” đầu tiên và cũng
là tiếng yêu thương cuối cùng ông được nghe từ con ! Ở chiến khu, ông cố gắng hết sức, thận trọng,
tỉ mỉ làm cho con chiếc lược ngà Ông đặt vào đấy tất cả tình cảm cha con Chiếc lược trở thành vật thiêng, an ủi ông “gỡ rối phần nào tâm trạng”, nuôi dưỡng tình cha con Ông thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt” Lòng yêu con đã biến
người chiến sĩ thành một nghệ nhân - nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời Trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, nhờ bạn chuyển lại cho con - cử chỉ chuyển giao đó
là một ước nguyện giữ gìn muôn đời tình cảm cha con, ruột thịt.
Truyện “Chiếc lược ngà” đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh
Hình ảnh cây lược được gắn vào đó một trái tim thổn thức tình ruột thịt, khẳng định giá trị nhân bản sâu sắc, cao đẹp thiêng liêng !
(Sưu tầm) Hình ảnh người lính trong hai tác phẩm
"Đồng chí" và "bài thơ về tiểu đội xe không kính" Dàn ý phần thân bài
Ý 1: Giới thiệu chung
- Về đề tài: Dân tộc ta đứng lên tiến hành hai cuộc chiến tranh cách mạng oanh liệt chốngPháp và chống Mỹ Lẽ tất nhiên, ở đất nước hơn ba mươi năm chưa rời tay súng Hình
Trang 25ảnh anh “Bộ đội cụ Hồ” là hình ảnh “con người đẹp nhất” đáng yêu nhất trong văn thơ và
là niềm tự hào lớn của dân tộc
- Về hai tác phẩm: Cùng với nhiều bài thơ khác, bài thơ “Đồng chí” sáng tác vào đầu năm
1948 khi tác giả Chính Hữu chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc, bài thơ “Tiểu đội xe không kính” sáng tác năm 1969 khi tác giả Phạm Tiến Duật tham gia họat động ở tuyến đường Trường Sơn đã khắc họa thành công về đề tài người lính
- Về luận đề: hình tượng anh bộ đội được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ trong văn chương Việt Nam hai gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong hai thời kỳ lịch sử
Ý 2: Phân tích lịch sử
1 Những điểm chung: Đây là người lính của nhân dân nên họ cùng mang những vẻ đẹp
chung:
- Yêu nước, yêu quê hương yêu đồng chí:
+ Có thể phân tích các câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra trận” (Đồng chí) và “Xevẫn chạy vì miền nam phía trước” (Tiểu đội xe không kính)
+ Có thể phân tích cử chỉ nắm tay chất chứa bao tình cảm không lời trong cả hai bài thơ thể hiện sự gắn bó đồng chí
- Vượt qua mọi khó khăn gian khổ để quyết tâm tiêu diệt giặc hoàn thành nhiệm vụ: + Tất cả những khó khăn gian khổ, thử thách được tái hiện bằng những chi tiết hết sức thật, không né tránh tô vẽ trong cả hai bài thơ
+ Thế mà, các chiến sĩ đều có một tư thế ngoan cường “chờ giặc tới”, “ung dung nhìn thẳng”
- Lạc quan tin tưởng: Cả hai bài thơ đều thể hiện tinh thần lạc quan của người lính Từ
“miệng cười buốt giá” của anh bộ đội kháng chiến chống Pháp đến “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” của anh lính lái xe thời chống Mỹ đều thể hiện tinh thần lạc quan, khí phách anh hùng
2 Những điểm riêng khác nhau
- Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu thể hiện người lính nông dân thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc Tình đồng chí thiềng liêng hòa quyện với tình giao tiếp khi lý tưởng chiến đấu đã rực sáng trong tâm hồn
“Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!”
Trang 26- Bài thơ “Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật thể hiện người lính lái xe trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với vẻ đẹp trẻ trung, ngang tàng Đây là thế hệ những người lính có học vấn, có bản lĩnh chiến đấu, có tâm hồm nhạy cảm, có tính cách riêng mang chất “lính”đáng yêu Họ tất cả vì miền Nam ruột thịt với trái tim yêu nước cháy bỏng
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Ý 3: Đánh giá chung
- Hình tượng người lính dù ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến chống Mỹđều mang phẩm chất cao đẹp của “anh bộ đội cụ Hồ” thời đại đã cung cấp cho các nhà thơ nhưng nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tại nên những hình tượng làm xúc động lòng người
- Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những người đồng đội của mình Vì thế, hình tượng người chân thật và sinh động
Vẻ đẹp người lính trong hai tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" và "Những ngôi sao xa xôi"
Vẻ đẹp người lính trong hai tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" và
"Những ngôi sao xa xôi"
Chiến tranh đã đi qua hơn ba mươi năm Thế nhưng, những ký ức về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc, ký ức về những con người anh hùng trong một thời đại anh hùng thì vẫn tươi mới, nguyên vẹn mỗi khi ta đối diện từng trang sách trong những tác phẩm văn học của thời kỳ này
Bằng cảm hứng lãng mạn, kết hợp với khuynh hướng sử thi, văn học Việt Nam trong giaiđoạn chống Mỹ cứu nước đã xây dựng trong văn thơ tượng đài những chiến sĩ anh hùng
Họ là những “Thạch Sanh của thế kỷ XX” Chiến công của họ đẹp và phi thường như huyền thoại
Có hai tác phẩm được coi là tiêu biểu cho cảm hứng ngợi ca người chiến sĩ anh hùng của văn học thời kỳ này, đó là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật và
“Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê Mỗi tác phẩm là một bức tranh đẹp về hình tượng người chiến sĩ điển hình cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh quang vinh
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969, rút
từ tập thơ “Vầng trăng, quầng lửa” là một bài thơ độc đáo trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969-1970 Bài thơ khắc họa vẻ đẹp người chiến sĩ lái xe
Trang 27trên tuyến đường Trường Sơn ác liệt Vẻ đẹp độc đáo được thể hiện ngay trong tên gọi của bài thơ Đó là sự thống nhất giữa hai sự vật tưởng như tương phản gợi ấn tượng về chất thơ lãng mạn và sự trần trụi khốc liệt
Khai thác đề tài chiến tranh, tác giả không chỉ tô đậm tính chất ác liệt, tàn khốc nhằm làmnổi bật sự phi thường của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam mà Phạm Tiến Duật
đã có cách nhìn, cách cảm khá mới lạ và thú vị Từ trong sự tàn khốc ấy, chất thơ vẫn cứ tuôn trào !
Câu thơ mở đầu như một lời tự sự xen lẫn miêu tả:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Nó có tác dụng vừa lý giải sự bất thường của hình ảnh chiếc xe độc đáo “không có kính” vừa tô đậm sự ác liệt của chiến trường “bom giật, bom rung ” Đây là hình ảnh vừa lạ vừa chân thực Lạ là vì trong thơ, người ta thường chọn những sự vật hoàn thiện, hoàn
mỹ để miêu tả nhằm tạo thiện cảm với người cảm nhận nó Với những chiếc xe cũng vậy!Phải sang trọng, bóng loáng chứ sao lại trần trụi, méo mó, biến dạng thế này !
Không có kính rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước
Nhưng đấy là sự thật Không phải một chiếc như thế mà tác giả nhìn thấy cả một tiểu đội
xe như thế! Bởi vì thời điểm mà bài thơ ra đời có thể nói là ác liệt nhất trong thập niên 60của thế kỷ XX
Đường Trường Sơn - nơi vận chuyển vũ khí lương thực vào chi viện Miền Nam - những năm tháng này là “túi bom, chảo lửa” Và trên nền hiện thực tàn khốc ấy đã xuất hiện hình ảnh đẹp đẽ, phi thường của người chiến sĩ lái xe Làm chủ những phương tiện ấy, người chiến sĩ không hề nản chí hay run sợ mà trái lại, lại bình tĩnh đến lạ thường:
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Vẻ đẹp kiêu hùng được toát ra từ tư thế ngồi “ung dung” đến cái nhìn “nhìn thẳng” Các
từ láy “ung dung” cùng với nhịp thơ nhanh, đều, dứt khoát 2/2/2 diễn tả vẻ đẹp khoan thai, thản nhiên, tự tin của người chiến sĩ Điệp từ “nhìn” gợi lên sự nối tiếp liên tục của những hình ảnh chiến trường như một đoạn phim đang quay chậm:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái
Các thủ pháp nhân hóa, so sánh, ẩn dụ đã góp phần làm cho hình ảnh thơ thêm sinh động.Tưởng rằng làm chủ những chiếc xe không kính, người chiến sĩ chỉ thấy những khó khăn
Trang 28chồng chất khó khăn Nhưng không! Nó đã làm tăng những cảm giác mới mẻ mà chỉ có người chiến sĩ khi ngồi trên những chiếc xe như thế mới cảm nhận được một cách rõ ràng, mãnh liệt Hình ảnh “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường chạy thẳng vào tim” tạo
ấn tượng độc đáo Chiếc xe như đang trôi bồng bềnh trong thiên nhiên hoang dã của núi rừng Trường Sơn hùng vĩ Chất thơ cùng với vẻ đẹp lãng mạn toát lên từ đó Nhưng có thể nói đẹp nhất là thái độ, tinh thần dũng cảm bất chấp gian khổ để chiến đấu và chiến thắng:
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Vẻ đẹp được toát lên từ lời thơ giản dị, giàu “chất lính”, hình ảnh thơ mộc mạc Điệp ngữ
“ừ thì”, “chưa cần” vang lên như một lời thách thức, chủ động chấp nhận gian khổ Một giọng thơ tự tin, ngang tàng Một tiếng cười “ha ha” hồn nhiên Tất cả đã toát lên vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe
Đời sống chiến trường gian khổ là thế Sự sống và cái chết ở đây chỉ là gang tấc Thế nhưng tình yêu thương đồng chí, đồng đội vẫn tỏa sáng lạ thường
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Có thể nói rằng, khai thác chất liệu nghệ thuật của đời sống chiến tranh, Phạm Tiến Duật
đã rất thành công trong việc khắc họa người chiến sĩ lái xe Trường Sơn bằng những hình ảnh, chi tiết vừa chân thực, gân guốc, mộc mạc vừa lãng mạn nên thơ
“Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim”.
“Trái tim” ở đây chính là trái tim chứa chan tình yêu Tổ quốc đã giúp người chiến sĩ lái
xe làm nên những kỳ tích phi thường Vẻ đẹp hào hùng của họ tỏa sáng cả bài thơ; đủ làmsống lại trong lòng chúng ta một thời oanh liệt của anh bộ đội cụ Hồ Chất anh hùng ca dào dạt tạo nên vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Cùng với chủ đề ngợi ca vẻ đẹp người chiến sĩ, nhưng khác với nhà thơ Phạm Tiến Duật trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhà văn Lê Minh Khuê trong “Những ngôi sao
xa xôi” đã đi tìm và khai thác vẻ đẹp ấy qua hình ảnh của những cô gái thanh niên xung phong
Truyện viết về cuộc sống và chiến đấu vô cùng gian khổ của những nữ thanh niên xung phong - những cô gái “Ba sẵn sàng” trên tuyến đường Trường Sơn chống Mỹ cứu nước
Trang 29vĩ đại của dân tộc Mặc dù cốt truyện đơn giản, nhưng tác giả đã rất thành công trong việckhắc họa vẻ đẹp người nữ chiến sĩ qua miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo và tinh tế
Nổi bật trong truyện là ba gương mặt đẹp của tổ trinh sát mặt đường Họ có những nét tính cách chung của người nữ thanh niên xung phong Trường Sơn thời chống Mỹ nhưng
ở mỗi nhân vật lại lấp lánh vẻ đẹp riêng Hoàn cảnh sống và chiến đấu nơi tuyến lửa đã gắn bó họ thành một khối đoàn kết, yêu thương, gan dạ và dũng cảm
Họ đóng quân trong một cái hang giữa trọng điểm “túi bom, chảo lửa” trên tuyến đường Trường Sơn Công việc hàng ngày của họ là đếm bom, rồi lao ra trọng điểm sau những trận bom để đo khối lượng đất đá cần phải san lấp, đánh dấu vị trí bom rơi và phá những quả bom chưa nổ Một khối lượng công việc vừa đồ sộ vừa nguy hiểm Cái chết rình rập
họ từng phút, từng giờ “Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang âm ỉ xa dần, thần kinh căng như chảo, tim đập bất chấp cả nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết rằng chung quanh còn nhiều quả bom chưa nổ Có thể nổ bâygiờ ” Họ làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, dù chỉ có ba người (lại là ba phụ nữ);
họ phân công nhau phá bằng hết những quả bom chưa nổ mà không cần đến sự trợ giúp của đơn vị “như mọi lần chúng tôi sẽ giải quyết hết”
Trong chiến đấu họ gan dạ, dũng cảm, quyết đoán là thế, nhưng trong cuộc sống họ là những cô gái trẻ trung, yêu đời, dễ rung cảm, lắm ước mơ Là phụ nữ, họ rất thích cái đẹp
và thích làm đẹp cho cuộc sống
Nếu như nhân vật Nho “mát mẻ như một que kem trắng”, thích ăn kẹo như một đứa trẻ, giàu mơ ước (Nho ước mơ trở thành công nhân nhà máy điện và trở thành cầu thủ bóng chuyền của nhà máy) thì nhân vật chị Thao lại dạn dày, từng trải trong cuộc sống; thích thêu thùa; thích làm đẹp “tỉa đôi lông mày của mình, tỉa nhỏ như cái tăm” nhưng trong công việc thì “ai cũng gờm chị: cương quyết, táo bạo” (dũng cảm, táo bạo nhưng lại sợ nhìn thấy máu chảy)
Còn Phương Định, nhân vật chính của truyện là con người hồn nhiên, nhạy cảm, lãng mạn và mơ mộng Là con gái Thủ đô, cô thường sống với kỷ niệm quê hương Nơi ấy có một thời học sinh trong trắng, hồn nhiên, vô tư Nơi ấy có mẹ, có căn gác nhỏ của cô Những kỷ niệm yêu dấu ấy là liều thuốc tinh thần quý giá động viên cô, tiếp thêm sức mạnh để cô sống đẹp và chiến đấu anh dũng nơi tuyến lửa
Ở chiến trường, Phương Định luôn dành cho đồng đội tình yêu thương thắm thiết Cô yêuquý đồng đội trong “tổ trinh sát mặt đường” của cô và cảm phục các anh bộ đội “những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ” Trong mắt cô, đó là những “người đẹp nhất, thông minh nhất” Phương Định rất nhạy cảm Cô biết mình có “cái nhìn sao mà xa xăm”như lời các anh lái xe nhận xét nhưng cô lại không biểu lộ tình cảm và thích kín đáo giữa đám đông Cô thích nhạc và mê ca hát Thậm chí tự đặt lời theo một điệu nhạc nào đó và hát để thấy mình rất buồn cười v.v Thế nhưng với Phương Định, sự nhạy cảm về tâm hồn có lẽ được biểu hiện tinh tế nhất ở chỗ, chỉ một cơn mưa đá bất ngờ vụt qua trên cao điểm, cũng đủ đánh thức trong cô những ký ức về quê hương, gia đình, khơi dậy trong cô khát khao sum họp đến cháy bỏng
Trang 30Một cô gái Hà Nội chính gốc, lãng mạn và mơ mộng như thế, nhưng trong chiến đấu lại dũng cảm, gan dạ đến tuyệt vời Một mình phá bom trên đồi “quang cảnh vắng lặng đến
dễ sợ” nhưng tinh thần cô không hề nao núng Đáng lẽ cô phải “đi khom” nhưng sợ mấy anh chiến sĩ “có cái ống nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt” nhìn thấy, nên cô “cứ đàng hoàng mà bước tới”
Khi ở bên quả bom, tử thần có thể cướp đi mạng sống của cô bất cứ lúc nào, nhưng cô vẫn bình tĩnh thao tác một cách chính xác và chạy đua với thời gian để vượt qua cái chết
“Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom Một tiếng động đến gai người, cứa vào da thịt tôi Tôi rùng mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng Một dấu hiệu chẳng lành” Những cảm giác tinh tế ấy không chỉ là sự nhạy cảm mà còn là kinh nghiệm của sau bao nhiêu lần phá bom ở tuyến lửa và chỉ những người nữ thanh niên xung phong dạn dày như Phương Định, Nho, chị Thao mới cóđược !
Với tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”, ngòi bút của Lê Minh Khuê đã miêu tả sinh động, chân thực tâm lý nhân vật; làm hiện lên một thế giới nội tâm rất phong phú nhưng không phức tạp, rất đời thường, giản dị nhưng vô cùng trong sáng và cao thượng của những nữ thanh niên xung phong
Vẻ đẹp của những “cô gái mở đường” Trường Sơn cùng với vẻ đẹp của người chiến sĩ lái
xe trong các tác phẩm văn học chống Mỹ nói chung và trong các tác phẩm của Phạm TiếnDuật và Lê Minh Khuê nói riêng đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về ý chí, tâm hồn và nhân cách của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.(ST)
Phân tích cảnh ra khơi của” Đoàn thuyền đánh cá” được miêu tả trong bốn câu đầu trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
”Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào năm 1958,nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia - Cẩn Phả - Quảng Ninh Bài thơ đã dụng được một không khí khẩn trương, hăng say của những người lao động đánh cá trong một đêm trên biển, với tư thế làm chủ thiên nhiên, biển cả Bốn câu thơ đầu diển tả cảnh ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá”, mở đầu cho một đêm đánh cá trên biển
Hai câu thơ đầu diển tả thời điểm ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá” Thời gian
ở đây là lúc ngày tàn, được miêu tả bằng những chi tiết, hình ảnh cụ thể, giàu giá trị gợi cảm: ”Mặt trời xuống biển như hòn lửa-sóng đã cài then đêm sập cửa”
Ơ câu thơ này, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh Màu đỏ của “mặt trời”
Trang 31được so sánh với “hòn lửa” Viết về cảnh biển đêm, ngày tàn, nhưng cảnh vẫn không hoang vắng nhờ hình ảnh rực sáng này Trong cản quan của Huy Cận, vũ trụ là một ngôi nhà khổng lồ Khi ngày đã tàn, “Mặt trời xuống biển”, màn đêm buông xuống “Đêm sập cửa” thì sóng biển như “then cài” đóng lại cánh cửa khổng lồ ấy Những hình ảnh ẩn dụ này chứng tỏ nhà thơ có trí tưởng tượng phong phú.
Đối với thiên nhiên thì một ngày đã khép lại, nhưng với đoàn thuyền đánh cá thì đây lại là thời điểm bắt đầu cho công việc đánh cá trên biển trong đêm
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Từ “lại” nói lên rằng hằng ngày vào cái thời điểm ấy, khi trời yên biển lặng, đoàn thuyền ra khơi đã thành một cảnh quen thuộc
Hình ảnh thơ “Câu hát căng buồn cùng gió khơi” là một hình ảnh được xây dựngnhờ một trí tưởng tượng phong phú Huy Cận đã miêu tả, đã cụ thể hoá tiếng hátcủa những người lao động Những người lao động đánh cá ra khơi cùng với tiếng hát khoẻ khoắn đến mức tạo nên một sức mạnh (cùng với gió khơi) làm căng những cánh buồm Họ ra khơi với một niềm phấn khởi, niềm tin vào thành quả lao động
Bốn câu thơ mở đầu miêu tả cảnh ra khơi của “Đoàn thuyền đánh cá” Cảnh ngày tàn mà vẫn ấm áp, vẫn tràn đầy niềm vui, niềm lạc quan của người lao động Không khí chung của bốn câu thơ mở đầu này chi phối không khí chung của cả bài thơ
Phân tích bài thơ ” Đoàn thuyền đánh cá”của Huy Cận:
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào năm 1958,nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia - Cẩn Phả - Quảng Ninh Thông qua một đêm đánh cá của một đoàn thyền trên biển, nhà thơ ca ngợi không khí lao động mới, tràn đầy niềm lạc quan, làm chủ thiên nhiên, biển cả bao la
Bài thơ đã dựng được không khí lao động khẩn trương, hăng say, nhộn nhịp củamiền Bắc những năm đầu bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bài thơ mở đầu bằng cảnh “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” và kết thúc bằng hình ảnh “Mặt trời đội biển như màu nước-mắt cá huy hoàng muôn dặm khơi” Như vậy là cảnh lao động của đoàn thuyền đánh cá diển ra trong một đêm ròng Thế nhưng, bài thơ là một bức tranh với những đường nét khoẻ khoắn, màu sắc tươi sáng lạ thường Đánh cá trên biển mênh mông thực chất là một công việc lao động nặng nhọc, đầy nguy hiểm Vậy mà cả bài thơ là một khúc ca sảng khoái, tràn đầy niềm vui, phối hợp nhạc điệu với những động tác khoẻ mạnh, dồn dập Bài thơ lặp lại nhiều lần chữ “hát”, và tiếng hát đã thực sự trở thành âmthanh chủ đạo của bài thơ
Cùng với tiếng hát được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc, trong bài thơ này, tác giả còn tập trung miêu tả hình ảnh những con cá, những đàn cá gợi lên một bức tranh sinh động về cảnh biển giàu, đẹp Hình ảnh đàn cá liên tiếp suất hiện,
Trang 32lấp lánh ánh sáng màu sắc như một bức sơn mài:
“Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày đệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Cá nục cá chim cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em vẩy trắng vàng choé
Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông”
Giữa khung cảnh biển đêm mênh mông, hình ảnh con người lao động xuất hiện với tư thế làm chủ biển khơi, làm chủ công việc của mình Hình ảnh họ xuất hiệnthật gân guốc, khoẻ khoắn: “Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng - Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng” Bằng cảm hứng lãng mạn, Huy Cận đã dựng lên hình ảnh những người con lao động mới với tầm vóc ngang tầm vũ tru và hoà hợp với khung cảnh trời nước bao la:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.”
Trên cái không gian bát ngát, con thuyền có buồn là trăng, được lái bằng gió lướtsóng đi phơi phới, gợi lên niềm vui niềm tự hoà chân chính của con người mới, làm chủ thiên nhiên, hăng say lao động làm giàu cho Tổ quốc Huy Cận đã nhìn cảnh đánh cá trên biển khơi bằng con mắt lạc quan phơi phới của mình
Sau một đêm đánh cá trên biển, bình minh lên, đoàn thuyền đánh cá lại trở về bến bãi Vẫn là câu hát nhưng đây là câu hát tràn ngập niềm vui của con người sau một đêm lao động khẩn trương và đạt sản lượng mong muốn Thiên nhiên như chia sẻ niềm vui đó: ”Câu hát căng buốm cùng gió khơi” và cảnh trở nên vô cung sinh động Trên mặt biển mênh mông, đoàn thuyền lao vùn vụt: ”Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” Đoàn thuyền như chạy đua cùng với thời gian với niềm vui háo hức để trở về với bến bờ đang nhộn nhịp đón chờ
Bài thơ là khúc ca sảng khoái của người lao động đánh cá, thể hiện niềm phấn khởi trước những thành quả lao động của mình Hình ảnh con người hiện lên trong bài thơ là hình ảnh conngười mới làm chủ thiên nhiên, nhiệt tình lao động sản xuất để làm giàu cho tổ quốc, gắn với biển cả quê hươn
Truyện “ Làng” của nhà văn Kim Lân
Đề bài: Truyện “ Làng” của Kim Lân đã thể hiện một cách sinh động , tinh tế , diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai khi nghe làng Dầu theo giặc Hãy làm rõ nhận xét trên.