1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Cay Cong nghiep doc

80 451 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cây Công Nghiệp Độc
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản Năm 2024
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 890 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu sinh trưởng dinh dưỡng quá lớn, nhất là vào thời kỳ chín của hạt, sinh trưởng dinhdưỡng vẫn ở tốc độ tăng trưởng lớn, sản phẩm quang hợp và nguồn đạm hấp thu không đượcvận chuyển về

Trang 1

Vài nét khái quát về môn học cây công nghiệp

1 Khái niệm

Cây công nghiệp là những cây trồng nông nghiệp mà sản phẩm của nó thông qua quátrình chế biến mới phát huy giá trị sử dụng của nó Cũng có thể nói cây công nghiệp là loại câytrồng cho sản phẩm chủ yếu cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp

2 Phân loại

- Dựa vào giá trị sử dụng chia cây công nghiệp thành các nhóm cây sau:

+ Nhóm cây lấy dầu và làm thực phẩm: Cây lạc, đậu tương, vừng…

+ Nhóm cây lấy đường: Cây mía,…

+ Nhóm cây lấy sợi: Cây bông, cây cói, cây đay…

+ Nhóm cây có chất kích thích: Cây chè, cà phê, thuốc lá…

+ Nhóm cây lấy nhựa: Cây cao su, cây sơn,…

- Dựa vào thời gian sinh trưởng chia cây công nghiệp thành 2 nhóm:

+ Nhóm cây công nghiệp ngắn ngày: Lạc, đậu tương, mía, bông, đay,…

+ Nhóm cây công nghiệp dài ngày: Cà phê, chè, cao su,…

3 Vị trí, ý nghĩa, mục tiêu môn học

- Cây công nghiệp là một trong những môn học chuyên ngành quan trọng không thểthiếu đối với ngành Nông học và các ngành học khác có liên quan, được học sau các môn học

cơ bản và cơ sở như toán học, lý học, hóa học, sinh học, sinh lý thực vật, canh tác học, đất vàphân bón, sinh thái học, giống cây trồng…

- Đây là môn học cung cấp kiến thức cơ bản về lý thuyết và thực hành cây công nghiệp

Là môn học có ý nghĩa đối với khoa học Nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất câytrồng

- Mục tiêu của môn học này là giúp cho sinh viên ngành Nông học và các ngành có liênquan nắm được các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loại cây trồng, các biện pháp

kỹ thuật trồng trọt để đạt năng suất, chất lượng cao

4 Nhiệm vụ của sản xuất cây công nghiệp

- Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước:

+ Một số sản phẩm được sử dụng làm thực phẩm: Lạc, vừng, đậu tương ,

+ Một số sử dụng làm thức uống: Chè, cà phê, sữa đậu tương…

+ Một số dùng làm thức hút: Thuốc lá

+ Một số giải quyết vấn đề ăn mặc: Bông, đay…

- Cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến:

+ Mía cây cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đường

+ Chè cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến chè

CÂY LẠC

Trang 2

* Lạc là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao:

Bộ phận sử dụng chủ yếu là hạt Trong hạt có chứa: 45-50% Lipid, 26-34% protein thô

và nhiều loại vitamin cũng như các hợp chất hidrocacbon thơm khác

Do tỉ lệ axit béo không no cao nên dầu lạc rất dễ bị oxi hóa.Vì thế hạt lạc rất dễ mất sứcnảy mầm trong quá trình bảo quản

+ Protein: Protein của lạc chứa đầy đủ các axit amin không thay thế: triptopan, phenin,

alamin, metionin, valin, lơxin, izlơxin, lizin

* Cây lạc là cây có giá trị trong chăn nuôi:

+ Thân lá non: Làm thức ăn tươi cho gia súc Ngoài ra dùng thân lá lạc ủ làm thức ăn cholợn đã giảm chi phí so với rau xanh

+ Quả lạc non: Tận dụng cho trâu bò làm tăng tỉ lệ sữa

+ Khô dầu lạc: Là phụ phẩm quan trọng nhất của cây lạc chứa50% protein, sử dụng làmthức ăn cho gia súc rất tốt Tuy nhiên về mặt chất lượng thua kém khô dầu đậu tương Khô dầulạc hiện nay đứng thứ 3 trong các loại khô dầu dùng trong chăn nuôi sau khô dầu đậu tương vàkhô dầu bông Khi sử dụng làm thức ăn phải trộn thêm bột ngô, bột đậu tương để làm tăng thêmkhẩu phần ăn

+ Cám lạc: Được nghiền nát từ vỏ quả lạc dùng làm thức ăn cho chăn nuôi

* Là cây có tác dụng cải tạo đất:

Trang 3

Lạc là cây trồng lý tưởng trong các hệ thống luân canh.

+ Do bộ rễ có khả năng sống cộng sinh với một loại vi khuẩn cố định đạm của khí quyển tạothành đạm cho cây trồng

+ Thân lá lạc là nguồn phân hữu cơ để cải tạo thành phần cơ giới của đất có thể cho 5-10 tấnlá/ha Sau một vụ trồng lạc có thể để lại cho đất từ 40-70 Kg N/ha Cho nên lạc là một trongnhững loại cây trồng rất lý tưởng trong công tác cải tạo bồi dưỡng đất Có vị trí quan trọngtrong chế độ luân canh với nhiều loại cây trồng khác

+ Đối với đất đồi lạc là cây che phủ chống xói mòn

* Lạc còn là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị

Đối với nước ta lạc cũng là cây đem lại nguồn ngoại tệ quan trọng Hiện nay chúng ta đã

có một số nhà máy chế biến dầu lạc tinh luyện với công nghệ và thiết bị hiện đại, có khả năngchế biến được nhiều loại dầu có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu

1.2 Tình hình sản xuất

1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới

Cây lạc là cây có lịch sử trồng trọt cách đây 3000 năm, nguồn gốc xa xưa là Nam Mỹ.Nhưng mãi đến thế kỷ 18 cây lạc mới được phát triển Bằng nhiều con đường đã đưa cây lạc đikhắp thế giới

Hiện nay, lạc đứng thứ hai trong số các cây lấy dầu thực vật (về diện tích và sản lượng)sau đậu tương Diện tích lạc năm 2001 trên toàn thế giới là 21,35 triệu ha với năng suất14,3tạ/ha tập trung chủ yếu ở châu á, Phi và châu Mỹ

Nước có sản lượng lạc lớn nhất trên thế giới là Trung Quốc:14 triệu tấn/năm; đứng thứ 2

là ấn Độ: 6 triệu tấn/năm; đứng thứ 3 là Mỹ: 1,9 triệu tấn/năm; đứng thứ 4 là Indonesia; đứngthứ 5 là Nigieria: > 1 triệu tấn/năm

Năng suất lạc không đồng đều giữa các nước: một số nước có diện tích trồng lạc lớnnhưng năng suất thấp:

Ví dụ: ấn Độ: năng suất chỉ đạt 8 tạ/ha (do khô hạn, đất xấu)

Trung Quốc: Là nước có năng suất lạc rất cao: 31 tạ/ha Thành công của Trung Quốc do:giống mới, che phủ nilông, bón phân, tưới nước Có được kết quả này là do Trung Quốc cóchính sách cải cách nông nghiệp do đó việc đầu tư thâm canh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

là rất quan trọng

Mỹ: Năng suất rất cao 34 tạ/ha

Ixraen: Năng suất đạt 68 tạ/ha

1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam

Ở Việt Nam lạc có lịch sử trồng trọt cách đây hàng nghìn năm Lạc vào Việt Nam từ khinào và theo hướng nào chưa được khẳng định chắc chắn Đa số cho rằng lạc đựợc đưa từ TrungQuốc xuống căn cứ vào tên gọi “Lạc hoa sinh”

Sản xuất lạc trứơc năm 1945 tập trung ở một số tỉnh miền núi phía Bắc với diện tích,năng suất thấp chủ yếu mang tính tự cung tự cấp Sau năm 1975 sản xuất lạc của ta mới cóbứơc phát triển đáng kể, diện tích và năng suất có xu hướng tăng dần Đặc biệt từ những năm

1990 trở lại đây diện tích và năng suất lạc tăng lên khá nhanh Năm 2001 diện tích lạc của cảnước là 25 vạn ha với năng suất là 15 tạ/ha

Phân bố sản xuất lạc ở Việt Nam như sau:

+ Vùng Trung Du Bắc Bộ: Là vùng trồng lạc lớn thứ 2 của miền Bắc Cây lạc có lịch sửtrồng trọt ở đây từ rất lâu đời, diện tích có thể chiếm 10-15% tổng diện tích cả nước Do đất

Trang 4

xấu, tầng canh tác mỏng thành phần cát mịn khá cao nên năng suất lạc thấp hơn so với năngsuất trung bình của cả nước.

+ Vùng khu 4 cũ: Là vùng trồng lạc lớn nhất miền Bắc nước ta chiếm 15-20% tổng diện tích

cả nước Đây là vùng sản xuất lạc tập trung, năng suất thường cao hơn năng suất trung bình cảnứơc

+ Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: Là vùng trồng lạc lớn nhất của đất nước tập trung ởcác tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai, Đắc Lắc chiếm 30-40% tổng diện tích cả nước Lạc chủyếu được trồng trên đất đỏ bazan, đất phù sa không được bồi tụ, lạc trồng trong mùa mưa đất tốtnên năng suất lạc cao đạt 1,2-1,5 tấn/ha

+ Vùng Đồng Bằng Bắc Bộ: Hà Nội, Hải Dương: Diện tích không nhiều

+ Vùng Duyên Hải miền Trung: Quảng Nam, Đà Nẵng diện tích ít

Những tiến bộ về sản xuất lạc ở nước ta trong thời gian qua:

+ Có nhiều giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đã nâng năng suất lạc lên:

Các giống nhập nội từ Trung Quốc và các giống lai tạo ra như: L02, L14, L15, V79, 75/23 lànhững giống tốt

+ Che phủ nilông cho lạc

+ Gần đây có vụ lạc thu đông: do chúng ta chuyển dịch cơ cấu cây trồng nên đã tạo ra nhũnggiống chịu hạn, chịu rét tốt hơn

+ Có biện pháp kỹ thuật hợp lý: mật độ, bón phân có những thay đổi mới

Triển vọng phát triển cây lạc ở nứơc ta:

+ Cây lạc với giá trị dinh dưỡng cao nên là thực phẩm quan trọng của nhân dân ta Đây lànguồn prôtêin và lipit quan trọng đối với người dân Lạc dễ trồng phù hợp với khí hậu nhiệt đới

sẽ là một nguồn thực phẩm giàu protein chủ yếu của nứơc ta

+ Đất đai nông nghiệp bị rửa trôi và phong hóa nhanh vì thế là cây trồng cải tạo đất trong

hệ thống canh tác đa canh ở nước ta

Vì thế để nâng cao hiệu quả kinh tế cần tạo vùng sản xuất tập trung để nâng cao tỉ lệ lạcthương phẩm và phấn đấu năng suất cao Ngoài việc hợp tác quốc tế chúng ta cần lai, chọn tạonhững giống mới có năng suất, phẩm chất cao phù hợp với các vùng trồng lạc Ngoài ra cần tổchức hệ thống biện pháp kỹ thuật hợp lý, phải có sự hỗ trợ giúp đỡ của nhiều ngành, nhiều cấpmới mong tạo ra những bước tiến trong thâm canh sản xuất lạc để sản xuất lạc mang lại hiệuquả kinh tế cao

Chương 2 Cơ sở sinh vật học của cây lạc

2.1 Phân loại

Cây lạc thuộc họ đậu - Fabacae Trong họ này gồm nhiều chi khác nhau, lạc thuộc chiarachis Chi arachis có tia quả, quả phát triển dưới đất, hoa hầu hết ra ở đoạn gốc của thân vàcành Chi arachis gồm nhiều thứ khác nhau, lạc trồng thuộc thứ hypogaea

Phân loại dưới loài của lạc trồng khá phức tạp, có nhiều cách phân loại lạc trồng

* Dựa vào dáng cây:

Theo cách này chia cây lạc thành: lạc đứng, lạc bò, lạc nghiêng ngả, lạc bụi, lạc nửa bò.Cách phân loại này dễ bị thay đổi bởi điều kiện ngoại cảnh, không có cơ sở khoa học chắc chắn

* Dựa vào số hạt trong quả để phân loại:

Theo cách này lạc được chia làm 2 loại hình:

+ Loại hình peru: một quả lạc có từ 3 đến 4 hạt

+ Lọại hình Braxin: phổ biến hơn, trong một quả thường có từ 1 đến 2 hạt

Trang 5

* Dựa vào đặc tính thực vật, thời gian sinh trưởng, kích thước quả và hạt Cách phân loại này

do các tác giả Trung Quốc đặt ra và được thừa nhận

* Dựa vào đặc điểm phân cành và đặc tính nở hoa chia cây lạc thành 2 nhóm:

Nhóm phân cành liên tục Nhóm phân cành xen kẽ

Ít có cành cấp cao, chủ yếu là phân cành

cấp 1, cấp 2, ít có cành cấp 3, cấp 4

Phân cành cấp cao, có thể phân tới cáccành cấp 3, cấp 4

Thân chính có hoa và quả Thân chính không bao giờ có hoa và quả

Sự ra hoa: trên cặp cành đầu tiên hoa ra

liên tục, các cành trên không theo quy

luật này thường có từ 6 - 8 đốt mang hoa

Sự ra hoa: trên cặp cành ngang đầu tiênhoa ra xen kẽ, cụ thể: 2 đốt đầu ra cànhsinh dưỡng, đốt 3, 4 ra hoa, 2 đốt tiếp racành

Sự kết quả: tập trung ở gần gốc Sự kết quả: rất rải rác, không tập trung ở

phần gốcTGST ngắn ≤120 ngày (ở vùng nhiệt

đới)

TGST dài >120 ngày

Hạt không có thời gian ngủ nghỉ Hạt có thời gian ngủ nghỉ do đó cần có

thời gian bảo quản (3 - 4 tháng)Bệnh đốm lá: rất mẫn cảm với bệnh Bệnh đốm lá: rất ít mẫn cảm với bệnh

2.2 Đặc điểm thực vật học

2.2.1 Rễ lạc

Là rễ cọc, gồm một rễ chính ăn sâu và các rễ bên phân nhánh nhiều cấp Rễ cái (rễ cọc)được phát sinh từ phôi của hạt có thể ăn sâu từ 1,2-1,3m Các rễ bên phân nhánh nhiều cấp tạothành mạng lưới rễ dày đặc, phân bố chủ yếu ở độ sâu từ 0-40cm, các rễ bên có thể ăn sâu rộng

từ 0-40cm

Trên rễ lạc có nhiều nốt sần So với một số cây họ đậu khác thì nốt sần trên cây lạc hìnhthành muộn hơn Nốt sần bắt đầu xuất hiện khi cây lạc có 3-4 lá thật Những nốt sần này tăngnhanh về số lượng và kích thước từ khi cây lạc có 6-7 lá thật cho đến khi hoa nở Nốt sần nàyđược hình thành do vi khuẩn có khả năng cố định đạm Rhizobium Vigna sống cộng sinh trêncây lạc Chính nhờ vi khuẩn này mà rễ lạc có khả năng cố định đạm không khí thành NH3 chocây dưới tác dụng của men nitrrogenaza và ATP

đó Các tế bào ở gần gốc rễ bị vi khuẩn xâm nhập đã phân chia nhanh để khu trú vi khuẩn tạimột khu vực, nơi đó rễ bị phìng to tạo thành nốt sần

Nốt sần hữu hiệu có màu hồng, đó là màu của nitrogenaza – hợp chất cơ kim có tác dụngkhử N2 (leghemoglobin)

Đặc điểm của vi khuẩn: háo khí, pH từ 5,5-6,5, chuyên tính khá cao

Để tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển cần:

+ Chọn đất, làm đất tơi xốp

+ Đất chua, bón vôi để nâng pH đất

Trang 6

+ Vùng chưa trồng lạc bao giờ bón thêm phân vi khuẩn (xử lý nitragin).

+ Bố trí thời vụ hợp lý để cung cấp tốt các điều kiện ánh sáng nhiệt độ

2.2.2 Thân

Thân thảo, chủ yếu có màu xanh đôi khi có màu tím đỏ

Thân được chia làm nhiều đốt 25-30 đốt, trên thân có nhiều lông trắng Thân có 2 dạng:dạng đứng và dạng bò

Hoa lưỡng tính, tự thụ phấn, có màu vàng, mọc thành chùm, nở vào buổi sáng

Cấu tạo: 5 cánh, 5 đài, 10 nhị đực trong đó 2 nhị đực bị thoái hóa, trong 8 nhị đực có 4nhị đực dài và 4 nhị đực ngắn có bao phấn tròn phần cuối của nhị đực kết dính lại tạo thành ốngđài, 1 nhị cái

Trang 7

Là thời kì đầu tiên trong chu kì phát triển của lạc được tính từ khi gieo đến khi mọc được50%, kéo dài 5-7 ngày trong điều kiện bình thường Trong điều kiện bất thuận kéo dài 15-20ngày (rét , khô hạn).

Biểu hiện bên ngoài của quá trình nảy mầm: trục phôi hạ diệp dài ra nhanh, đưa rễ mầm

lộ khỏi hạt và phát triển thành rễ chính đầu tiên cắm sâu vào đất, đồng thời phôi hạ diệp dài ra,đưa lá mầm lộ khỏi mặt đất Trục phôi thượng diệp cũng lớn nhanh khiến 2 lá mầm tách ra và láthật thứ nhất xuất hiện

Trong quá trình nảy mầm, trong hạt có quá trình biến đổi sinh lý, sinh hoá sâu sắc dướitác động của điều kiện môi trường:

Lipit → Glyxerin → Triozophotphat → Glucozo

Lipit → Axit béo → Axetilacofecmen A

Protein dự trữ → a amin: để tổng hơp lại thành protein cấu tạo ở cây con

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt

+ Điều kiện ngoại cảnh:

Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt 25 - 300C, dưới 120C ngừng gieo hạt

+ Kỹ thuật: Làm đất, độ sâu gieo hạt

2.3.2 Thời kỳ cây con

Được tính từ khi mọc đến khi bắt đầu ra hoa kéo dài 30-40 ngày tuỳ theo giống và mùa

vụ (vụ xuân 40 ngày, vụ thu 30 ngày)

Thời kỳ này kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ bình quân ngày vì cây lạc mẫncảm với nhiệt độ

Đặc điểm của thời kỳ này:

+ Cây sinh trưởng chậm đặc biệt là trước thời kỳ 3 lá vì chưa có nốt sần Khả năng tích luỹchất khô khoảng 10% tổng lượng chất khô

+ Sự phân hoá đốt và mầm hoa xảy ra ở thời kỳ này, do vậy yếu tố ánh sáng rất quan trọng Cần chú ý mối quan hệ giữa sinh trưởng thân chính, cành và mầm hoa Nếu thân chính sinhtrưởng quá mạnh sẽ ức chế sự phân hoá cành và mầm hoa Vì vậy cần phải bón cân đối N, P, K.+ Rễ phát triển mạnh, sâu, rộng, vào thời kỳ 3 lá nốt sần bắt đầu được hình thành sau đó tăngnhanh về mặt số lượng

+Thời kì cây con cây lạc dễ bị nhiều loại sâu bệnh phá hại

Trang 8

Ở thời kỳ này cần có những biện pháp kỹ thuật:

+ Bón thúc N sớm vào thời kỳ 3 lá, tạo điều kiện bộ rễ phát triển trước

+ Xới xáo sớm lúc cây đạt 3 lá và thường xuyên

+ Phòng trừ sâu bệnh kịp thời

2.3.3 Thời kỳ ra hoa, đâm tia:

Do đặc điểm thời gian phân hoá mầm hoa kéo dài nên thời gian ra hoa lạc cũng kéo dài.Thời gian này kéo dài 25-40 ngày tuỳ theo giống và điều kiện môi trường

Hoa lạc là hoa lưỡng tính, mọc chùm ở nách lá, là loại hoa tự thụ phấn hầu như hoàntoàn Hiện tượng thụ phấn khác hoa chỉ chiếm 0,1-0,2%

Nụ hoa thường hình thành vào buổi chiều hôm trước, đạt kích thước cực đại vào ban đêm

và nở hoa vào buổi sáng hôm sau, héo ngay vào buổi chiều Hoa lạc thường nở vào lúc 6-8hsáng Trời âm u, hoa nở muộn hơn Quá trình thụ phấn trước khi nở khoảng 4-6h (xảy ra vàolúc 1-3h sáng) Quá trình thụ tinh diễn ra khoảng 10h sau khi thụ phấn

Toàn bộ thời gian ra hoa của lạc có thể chia thành 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn dầu (chớm hoa): kéo dài 1-3 ngày Mỗi ngày ra rung bình 1-2 hoa/cây/ngày.+ Giai đoạn hoa rộ: kéo dài 10-15 ngày, là thời kỳ ra hoa liên tục của lạc, có thể đạt 5-7hoa/cây/ngày

Hoa nở ở giai đoạn đầu và giai đoạn hoa rộ là những hoa hữu hiệu Do vậy trong kỹ thuậttrồng trọt phải tạo điều kiện cho hoa ra tập trung , thời kì hoa rộ chỉ kéo dài trong thời gian ngắnnhưng số hoa nhiều

+ Giai đoạn hết hoa: Sau giai đoạn hoa rộ số hoa giảm hẳn, lác đác 1-2 hoa/cây Đây lànhững hoa cuối thời kì sinh trưởng

Lạc thường ra hoa vào tháng 4, có nắng thuận lợi cho việc ra hoa, tạo quả

Thời kỳ ra hoa cây lạc rất mẫn cảm với yếu tố ngoại cảnh bất thuận: hạn, rét, sâu bệnh.Thời kỳ khủng hoảng nước của lạc là thời kỳ ra hoa → không được để hạn trong thời kỳnày

Thời kỳ này cần chú ý mối quan hệ giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinhthực

Thời kỳ ra hoa cây lạc có đặc điểm sinh trưởng thân lá rất mạnh, tích luỹ được 40% trọnglượng chất khô, thuận lợi cho lạc ra nhiều hoa và nhiều quả

Trong một số trường hợp, sinh trưởng thân lá quá mạnh làm lạc bị lốp:

+ Do bón quá nhiều N, không cân đối với P, K

+ Trong đất giầu N những nghèo P, Ca, sự phân bố các chất dinh dưỡng không hợp lýchỉ tập trung ở thân lá mà không chuyển về quả, hạt được

Sự hình thành tia: Sau khi thụ tinh, lớp tế bào ở đầu cuống hoa phân chia mạnh, tạo thànhtia quả Tia quả phát triển nhanh, đưa các tế bào noãn được thụ tinh nằm ở đầu tia, đâm xuốngđất

Sau khi hoa nở 4 ngày thì xuất hiện tia, tia phát triển nhanh theo hướng địa dương

Điều kiện để cho quả lạc phát triển:

Trang 9

+ Sau thời kỳ hoa rộ tiến hành xới và vun cao để tạo bóng tối và ẩm độ cho quả lạc pháttriển

+ Khắc phục lạc bị lốp bằng cách bón vôi bột: 300-500 kg/ha tung vào sáng sớm trên mặtlá

Chia quá trình phát triển của quả thành 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Sự hình thành vỏ quả, trong 20 ngày đầu khi tia đâm xuống đất là giaiđoạn phát triển của vỏ quả Giai đoạn này, các tế bào nhu mô của vỏ quả giữa chiếm hầu hếtkhoang quả, hạt lớn rất chậm

+ Giai đoạn 2: Tích luỹ vật chất vào trong quả và hạt, làm hạt mẩy lên

Vào thời kỳ chín cùng với sự biến đổi hình thái bên ngoài, bên trong quả có sự biến đổisinh lý, sinh hoá như sau:

+ Hàm lượng nước, đạm, glucoza giảm dần trong quá trình chín của quả

+ Hàm lượng lipit, protein tăng dần và được tích luỹ, đạt tối đa khi thu hoạch (Các chất

dự trữ này được tổng hợp ở hạt từ các nguyên liệu là các gluxit có mạch cacbon ngắn C5, C6).Các đường này được vận chuyển từ các cơ quan dinh dưỡng tới và một phần đáng kể là sảnphẩm quang hợp được hình thành ở lá trong giai đoạn này

Các biện pháp kỹ thuật cần chú ý ở thời kỳ quả chín:

+ Tiếp tục phòng trừ sâu bệnh

+ Duy trì độ ẩm thích hợp (70-80%) Nếu để độ ẩm cao hạt lạc có thể nảy mầm ngoàiđồng ruộng hoặc bị nấm bệnh làm thối quả Nếu để khô hạn, qủa không phát triển được, bầu lạc

bị teo

Chú ý: Mối quan hệ giữa sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực:

Khi lạc bắt đầu ra hoa là thời điểm cây chuyển từ thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng sangthời kỳ sinh trưởng sinh thực Tuy nhiên tới thời điểm này cây mới chỉ tích luỹ được 20-25%trọng lượng chất khô Như vậy 75-80% trọng lượng chất khô ở cơ quan dinh dưỡng được tíchluỹ trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực (nở hoa - hình thành hạt)

Thời kỳ ra hoa - làm quả diễn ra 2 hoạt động sinh lý mạnh:

- Cây vừa hình thành vừa phát triển cơ quan sinh thực

- Các bộ phận dinh dưỡng tăng nhanh về khối lượng

Cả hai quá trình này đều đòi hỏi nhiều dinh dưỡng Quan hệ sinh trưởng sinh thực vàsinh trưởng dinh dưỡng vừa tương hỗ vừa cạnh tranh:

Cơ quan sinh trưởng dinh dưỡng nếu sinh trưởng mạnh, đạt trọng lượng khô cao, diệntích lá lớn tạo tiền đề cho số quả nhiều, quả chắc Nhưng vào thời kỳ chín, các bộ phận dinhdưỡng phải giảm trọng lượng để tích luỹ chất khô vào hạt

Nếu sinh trưởng dinh dưỡng quá lớn, nhất là vào thời kỳ chín của hạt, sinh trưởng dinhdưỡng vẫn ở tốc độ tăng trưởng lớn, sản phẩm quang hợp và nguồn đạm hấp thu không đượcvận chuyển về quả hạt mà vẫn tập trung ở đầu cành, đầu thân làm cây bị lốp đổ, giảm năng suất

Trang 10

Trong kỹ thuật trồng trọt cần chú ý mối quan hệ giữa sinh trưởng sinh thực và sinhtrưởng dinh dưỡng, trên cơ sở tạo cho sinh trưởng dinh dưỡng tốt ở giai đoạn đầu, là cơ sở tạonăng suất lạc.

2.4 Yêu cầu sinh thái của cây lạc

2.4.1 Nhiệt độ

Là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu liên quan đến thời gian sinh trưởng của lạc Lạc là câytrồng có nguồn gốc nhiệt đới, là cây ưa ẩm Lạc yêu cầu nhiệt độ tương đối cao để sinh trưởngphát triển

Nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống của lạc là 25-340C với tổng tích ôn2600-40000C tùy theo giống và mùa vụ

Nhiệt độ là một trong hai yếu tố quyết định đến thời gian mọc mầm của cây lạc và là yếu

tố quyết định trực tiếp đến thời gian sinh trưởng dinh dưỡng cây lạc

Nhiệt độ ảnh hưởng toàn bộ quá trình sinh trưởng phát triển của lạc:

+ Nhiệt độ thấp: Làm lạc mọc mầm chậm, tỉ lệ mọc giảm, nhiệt dưới 120C làm mầm cóthể bị chết Cây con sinh trưởng còi cọc, cản trở sự phân hóa mầm hoa, cây phân cành ít do đónăng suất giảm Nhiệt độ thấp chỉ cần xuống 15-180C làm ảnh hưởng xấu đến quá trình thụphấn, thụ tinh Vào thời kỳ chín nhiệt độ thấp dưới 200C làm cản trở quá trình vận chuyển vậtchất vào hạt, hạt không chín được mặc dù bộ lá vẫn xanh nhưng hạt không phát triển được hàmlượng nước trong hạt cao, vỏ quả không cứng, gân nổi không rõ Diệp lục không hình thànhđược, lá bạc trắng

+ Nhiệt độ cao có thể làm yếu cây con vì cường độ hô hấp của hạt quá lớn làm tiêu haonhiều dinh dưỡng của hạt

+ Cây lạc là cây rất mẫn cảm với nhiệt độ: nhiệt độ trung bình ngày càng cao cây ra hoasớm, nhiệt độ thấp cây ra hoa muộn

Nhiệt độ thích hợp cho từng thời kì như sau:

+ Thời kỳ mọc mầm, nhiệt độ thích hợp: 25-300 C

+ Thời kỳ cây con, nhiệt độ thích hợp: 25-300 C

+ Thời kỳ ra hoa nhiệt độ thích hợp: 24-330 C

+ Thời kỳ kết quả yêu cầu nhiệt độ cao nhất Thời kỳ này chiếm 1/3 chu kỳ sinh trưởngnhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn đời sống cây lạc

+ Thời kỳ chín nhiệt độ thích hợp 25-280C

2.4.2 Ánh sáng

Lạc là cây ngày ngắn nhưng phản ứng với quang chu kỳ rất yếu Trong nhiều trường hợpthể hiện phản ứng như là cây trung tính Thời gian chiếu sáng trong 1 ngày không ảnh hưởngđến sự ra hoa của lạc, có thể gieo nhiều vụ

Thời gian sinh trưởng của lạc hầu như chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ không khí mà khôngphụ thuộc vào quang chu kỳ

Là cây C3, hiệu quả sử dụng quang năng không bằng cây C4 (mía ) tuy nhiên lạc là cây

ưa sáng Thời kỳ nở hoa, những ngày có nắng, hoa nở tập trung, quá trình thụ phấn thụ tinhthuận lợi

Trong quá trình trồng trọt cần chú ý như thế nào?

+ Phải đảm bảo ánh sáng đầy đủ cho lạc phát triển

+ Không được trồng xen trong trường hợp cây trồng chính khép tán

+ Không nên trồng với mật độ quá dày làm cho lóng lạc vươn cao, phân hoá hoa ít

2.4.3 Yêu cầu về nước

Trang 11

Nước là yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lạc Tình trạng nước trongđất có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển của cây lạc Suốt chu kỳ sống cây yêu cầulượng nước từ 450-700mm Lượng mưa này tập trung nhiều hơn vào thời kỳ ra hoa, làm quảcủa cây lạc Thời kỳ này chiếm lượng nước bằng 2/3 tổng lượng nước cây cần Thời kỳ khủnghoảng nước là thời kỳ ra hoa, nếu để hạn năng suất giảm lớn Thời kỳ cây lạc có khả năng chịuhạn tốt nhất là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, tuy nhiên hạn kéo dài trong thời kỳ này cũng cóảnh hưởng tới sinh trưởng của cây.

Độ ẩm đất thích hợp cho cây lạc qua từng thời kỳ như sau:

+ Thời kỳ mọc: 70-80%

+ Thời kỳ cây con: 60-70%

+ Thời kỳ ra hoa, làm quả: Độ ẩm đất thích hợp 70-80%

+ Rễ phát triển mạnh cả chiều sâu và chiều ngang

+ Đủ O2 cho vi khuẩn hoạt động

+ Thuận lợi tối đa cho quá trình đâm tia, quả phát triển tối đa

+ Thu hoạch dễ dàng

Độ pH thích hợp cho đất trồng lạc 5,5-7

Đất thịt nhẹ, đất cát pha có tỉ lệ cát thô cao, đất cát ven biển Nghệ An không bị chua, tỉ

lệ cát thô cao thích hợp cho việc trồng lạc

Đất bạc màu (Hà Bắc) cát mịn cao, tầng canh tác mỏng, chua, nghèo dinh dưỡng, trồnglạc để cải tạo đất

Đất sét, đất thịt mất kết cấu không thích hợp cho trồng lạc

để cải tạo đất Sau 1 vụ trồng lạc đã để lại cho đất từ 40-70 kg đạm/ha

Vì vậy lạc là cây trồng trước hoặc cây trồng sau rất tốt trong các công thức luân canh.Tuỳ thuộc điều kiện đất đai, địa hình, khí hậu và tập quán canh tác của địa phương để bốtrí chế độ luân canh thích hợp:

+ Vùng cao, không chủ động nước Lạc xuân - Lúa mùa sớm - Cây vụ đông

+ Đất bãi: Lạc xuân - Ngập nước - Cây vụ đông

+ Đất chuyên màu: Mạ mùa - Lạc thu - Cây khoai lang

+ Vùng đất cát ven biển Nghệ An: Lạc xuân - Vừng - Rau

Trang 12

Hoặc Lạc xuân - Lúa mùa - Khoai tây hoặc rau các loại

3.1.2 Trồng xen

Việc trồng xen lạc với cây trồng khác cũng đã được nhân dân ta áp dụng từ lâu đời ở cácđịa phương khác nhau, như việc trồng xen lạc vào ruộng ngô, mía, sắn, các loại cây ăn quả vàcây công nghiệp như cam, chè Cách làm này không chỉ tận dụng đất hạn chế cỏ dại, chốngxói mòn, đỡ công chăm sóc, chống hạn cho cây trồng mà còn đem lại hiệu quả kinh tế trênnhiều mặt Theo kết quả nghiên cứu của Đại học Huế, nếu trồng lạc thuần thì năng suất lạc đạt20,1 tạ/ha Trong trường hợp xen lạc vào ngô thì năng suất lạc là 18 tạ/ha, năng suất ngô đạt 25tạ/ha

Lạc là cây ưa sáng, có bộ tán lá thấp, có bộ rẽ ăn sâu Khi trồng xen cần chú ý:

+ Nếu coi lạc là cây trồng chính, mỗi m2 lạc có thể trồng xen 1-2 cây ngô

+ Nếu coi lạc là cây trồng phụ: trồng xen với cây trồng hàng rộng vào thời kì chưa khéptán Có thể trồng xen với mía, sắn hoặc cà phê, chè ở thời kỳ kiến thiết cơ bản

3.2 Giống lạc và chuẩn bị hạt gieo

3.2.1 Giống lạc

Một giống lạc tốt là giống thích hợp với điều kiện địa phương và cho năng suất cao ởViệt Nam thường trồng một số giống lạc sau:

* Giống Sen Nghệ An:

Là giống địa phương có nguồn gốc ở Nghệ An, trồng hầu hết ở các tỉnh phía Bắc

ưu điểm:

+ Thời gian sinh trưởng 120 ngày

+ Sinh trưởng, phát triển trong điều kiện không cần thâm canh cao

+ Có thể cho năng suất từ 13-15 tạ/ha

+ Quả rất đẹp, hạt có màu sắc đẹp, màu trắng hồng, đều hạt tròn căng

+ Chất lượng dầu cao ăn béo

+ Xuất khẩu phù hợp, được ưa chuộng

+ Tỷ lệ nhân cao: 73-75%

Nhược điểm: Khối lượng 100 hạt đạt 48g (tiêu chuẩn lạc xuất khẩu trên 50g)

* Giống LO2: Có nguồn gốc từ Trung Quốc

Ưu điểm:

+ Là giống cho năng suất cao thuộc loại hình thâm canh

+ Quả to, hạt to khối lượng 100 hạt trên 50g

+ Chất lượng dầu cao

+ Năng suất cao đạt 20-30 tạ/ha

+ Có khả năng chống bệnh tốt đặc biệt là bệnh héo xanh

+ Năng suất đạt loại khá, đạt 15-20 tạ/ha

+ Màu sắc hạt trắng hồng, thích hợp xuất khẩu

Trang 13

* Giống Sen lai 75/23:

Là giống do bộ môn cây công nghiệp tạo ra từ tổ hợp sen lai Nghệ An và Trạm XuyênTrung Quốc

+ Là giống tốt, có khả năng chịu nước trời

+ Năng suất cao hơn lạc Sen

3.2.2 Chuẩn bị hạt gieo

Để nâng cao sức nảy mầm cho hạt ở ngoài đồng ruộng cần có những biện pháp sau:+ Phơi lại quả giống: Mục đích là để giảm ẩm độ trong hạt, tăng khả năng hút nước, kíchthích sự nảy mầm của hạt Biện pháp này đơn giản chủ động trên đồng

+ Ngâm ủ hạt giống:

Trong điều kiện nhiệt độ thấp 13-150C nếu gieo trực tiếp trên đồng ruộng thời gian mọcmầm của hạt lâu Vì vậy cần tiến hành ngâm ủ để rút ngắn thời gian mọc, nâng cao tỉ lệ mọcmầm cho hạt

Ngâm vào nước ấm từ 2-3h để hạt hút trương, sau đó vớt ra để ráo rồi đem ủ nơi thoángmát gần bếp hoặc trong đống rơm rạ Sau 24-48h hạt nhú phôi trắng Chọn những hạt nhú phôiđem gieo

Biện pháp này rất hiệu quả vì tỉ lệ mọc thực tế trên đồng ruộng cao do đã loại bỏ đượchạt không nảy mầm, rút ngắn thời gian trên đồng ruộng, tránh hại do rét

Chú ý: Không nên ngâm ủ trong các trường hợp sau

Rét đậm làm mầm bị chết

Đất khô không tưới được nước làm cho mầm bị héo

+ Gieo trồng một vụ lạc thu để làm giống cho tỉ lệ mọc mầm rất cao trên 98%

+ Tạo điều kiện môi trường thuận lợi khi gieo hạt: đất tơi xốp, đủ ẩm, độ sâu của lớp đấtgieo hạt thích hợp

3.3 Thời vụ

3.3.1 Cơ sở chung để xác định thời vụ

- Yêu cầu sinh thái của cây lạc: nhiệt độ tương đối cao, ưa sáng, ẩm độ đầy đủ vào thời kì

ra hoa làm quả

- Đặc điểm của giống lạc (chủ yếu dựa vào thời gian sinh trưởng)

Ví dụ: Cùng vụ xuân nếu là giống chín sớm thì gieo vào cuối tháng 2, giống chín muộn thìgieo vào đầu tháng 2

- Cơ cấu cây trồng của vùng trồng lạc

3.3.2 Thời vụ gieo trồng

a Vụ lạc xuân

Là vụ lạc chính của miền Bắc có từ lâu đời, cho sản phẩm chủ yếu

Gieo vào tháng 2 thu hoạch vào tháng 5, 6

Đặc điểm khí hậu của vụ lạc này:

+ Cây lạc sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng tăng dần từ đầu đến cuối

vụ, phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây lạc

+ Vào tháng 4 có nắng đầy đủ, bắt đầu có mưa thuận lợi cho việc ra hoa làm quả

+ Vào thời gian thu hoạch có nắng to thuận lợi cho thu hoạch và bảo quản

+ Tuy nhiên ở thời vụ này thường rét và khô hạn khi gieo hạt, làm hạt mọc chậm, tỉ lệmọc giảm Có khả năng bị hạn vào thời kỳ ra hoa nhất là vụ sớm

+ Thời kỳ cây con tiếp tục bị rét, mây mù nhiều, thiếu ánh sáng làm cây con sinh trưởngchậm

Trang 14

Biện pháp khắc phục

+ Tránh ngày rét ẩm không gieo

+ Ngâm ủ hạt giống

+ Bón lót đầy đủ phân lân

+ Tưới nước bổ sung đặc biệt là vào thời kì ra hoa

+ Vào thời kì quả chín cần phải tiêu nứơc

+ Đối với đất ngoài bãi gieo sớm hơn, thu hoạch khẩn trương để tránh rủi ro

b Vụ lạc thu

Là vụ lạc chủ yếu trồng để bán giống

Gieo vào tháng 7 chủ yếu tháng 8, thu hoạch vào tháng 11,12

Vụ lạc thu còn gọi là biện pháp giữ giống ngoài đồng ruộng vì rút ngắn thời gian bảoquản giống, tỉ lệ mọc mầm cao, sức sống hạt giống khỏe, hạt có thể nảy mầm trong điều kiệnkhí hậu thời tiết bất thuận của vụ lạc xuân

Đặc điểm khí hậu của vụ lạc thu:

+ Cây lạc sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng giảm dần từ đầu vụ đếncuối vụ

+ Khi gieo hạt thường gặp mưa lớn

+ Thời kì sinh trưởng đầu gặp điều kiện nhiệt độ cao (30-350C) rút ngắn thời gian sinhtrưởng dinh dưỡng, lượng chất khô tích lũy ít, số hoa số qủa ít so với vụ xuân

+ Thời kì ra hoa làm quả thường bị khô hạn làm giảm trọng lượng của quả và hạt

+ Bệnh đốm lá phát triển nặng hơn vụ xuân

Những điều kiện trên làm năng suất lạc thu chỉ bằng 1/2 hoặc 2/3 vụ lạc xuân, nên khóvận động bà con trồng

Biện pháp khắc phục:

+ Trồng dày với mật độ 35-40 cây/m2

+ Tưới nước bổ sung vào thời kì ra hoa làm quả

+ Phòng trừ bệnh đốm lá bằng dung dịch boocđô ngay khi bước vào thời kì ra hoa

+ Khi gieo thường gặp mưa cần làm luống cao, mặt luống hẹp, dùng trấu hoặc đất bộthoặc dùng ni lông phủ sau khi gieo hạt, chọn đất nhẹ dễ thoát nước

+ Khi thu hoạch về nếu thiếu nắng có thể sấy khô quả

3.4 Làm đất

Yêu cầu chung:

+ Đất tơi xốp, nhỏ để: Giúp hạt nảy mầm được dễ dàng Nốt sần hình thành sớm vànhiều Tia đâm xuống dễ dàng giúp quá trình hình thành quả thuận lợi Thu hoạch thuận lợi

+ Đủ ẩm đảm bảo cho hạt hút ẩm Trong trường hợp đất khô phải tưới nước bổ sung.+ Làm đất phẳng, độ ẩm đồng ruộng đồng đều (tránh gây úng cục bộ) tạo điều kiện tưới

và tiêu nước dễ dàng

+ Sạch cỏ dại

Sau khi làm đất xong cần lên luống nhằm tạo điều kiện tưới, tiêu nước thuận lợi, chămsóc tốt, tạo điều kiện để bộ rễ phát triển tốt trên tầng đất mặt

Kích thước của luống như sau: Rộng 1,2-1,3m; cao 0,2m; rãnh rộng 35-40cm

Đối với đất ngoài bãi dẽ thoát nước làm theo băng rộng 3-5m

3.5 Mật độ, khoảng cách gieo trồng

Trang 15

Bố trí mật độ, khoảng cách hợp lý nhằm sử dụng một cách hợp lý nhất đất đai, dinhdưỡng và ánh sáng tức là giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa cá thể và quần thể để đạt năngsuất cao nhất trên một đơn vị diện tích.

Cơ sở để xác định mật độ:

+ Dựa vào đặc điểm của giống lạc đem gieo: giống sinh trưởng khỏe, phân cành nhiều,tán rộng do đó trồng thưa Hiện nay có giống LO2 với dáng cây đứng, tán gọn, do đó có thểtrồng dày

+ Dựa vào thời vụ gieo trồng

+ Dựa vào đặc điểm đất đai:

+ Mức độ thâm canh: đủ phân, tưới tiêu chủ động, phòng trừ sâu bệnh tốt, do đó có thểgieo thưa Trong trường hợp thiếu phân, không chủ động trong các khâu khác cần gieo dày

Năng suất lạc/đơn vị diện tích = Số cây/đơn vị diện tích x Khối lượng quả/1 cây

Yếu tố động dễ tác động nhất vào hệ thống cân bằng này là mật độ Tác động vào mật độ

là yếu tố kỹ thuật quan trọng để đạt năng suất cao

Mật độ cụ thể:

+ Vụ xuân: 28-34 cây/m2<=> Khoảng cách 35-40cm x 8-10cm (gieo 1 hạt)

Trường hợp gieo cụm 2 hạt: Khoảng cách 35-40 x 16-20cm

+ Vụ thu: 35-40 cây/m2 <=> Khoảng cách 30-35 x 7-8cm (gieo 1 hạt)

30-35 x 14-16cm (gieo cụm 2 hạt)

Tiêu chuẩn hạt giống khi gieo:

+ Phải có tỉ lệ nảy mầm trên 80% (bằng cách, lấy một ít hạt, ngâm trong cốc nước, rồi đổnước đi, để giấy ẩm lên trên cốc, sau 24h kiểm tra)

+ Hạt giống không có mầm mống sâu bệnh

+ Hạt không được lẫn giống (kiểm tra màu sắc hạt, vỏ quả)

+ Hạt đồng đều về kích thước (để bảo đảm đều về mặt quần thể)

+ Hạt phải khô, vê tay, tróc vỏ lụa, độ ẩm =< 8 %

Lưu ý: Riêng vụ lạc thu không nhất thiết phải làm như vậy

3.6 Bón phân

3.6.1 Bón phân đạm

Vai trò của phân đạm

Đạm là yếu tố dinh dưỡng quyết định đến sinh trưởng của cây lạc, thiếu đạm cây có biểuhiện lá vàng, sinh trưởng kém, thân lạc còi cọc, phân cành ít, ít hoa, ít quả, trọng lượng quảgiảm, năng suất thấp thậm chí không cho thu hoạch vì:

+ Đạm là thành phần của axit amin cấu tạo nên protein và các hợp chất có đạm khác ở bộphận non của cây

+ Đạm là thành phần của diệp lục

+ Đạm là thành phần của protein giữ trữ trong hạt

+ Đạm có mặt trong các enzim quan trọng trong các hoạt động sống của cây

Các nguồn dinh dưỡng đạm của cây lạc:

+ Đạm sinh học: Do vi sinh vật cộng sinh cung cấp, nguồn đạm này có thể cung cấp 2/3tổng lượng đạm mà cây cần Tuy nhiên nguồn đạm này cung cấp nhiều vào thời kì ra hoa, làmquả, trước thời kỳ 3 lá chưa có

+ Nguồn đạm có sẵn ở trong đất, tùy thuộc vào loại đất trồng

+ Do bón vào (dạng phân hữu cơ hoặc phân khoáng)

Trang 16

Thời kỳ cây hấp thụ đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa, làm quả kết hạt Thời kỳ này chỉchiếm 20-25% thời gian sinh trưởng nhưng hấp thu từ 40-50% tổng lượng đạm.

Kỹ thuật bón phân đạm có hiệu quả

+ Lần 1: bón sớm khi lạc mới có 2-3 lá kép

+ Lần 2: bón khi lạc ra hoa

3.6.2 Lân

Vai trò của lân

+ Kích thích cho bộ rễ phát triển, do đó tạo được nhiều nốt sần

+ Kích thích phân nhánh, phân cành nhiều, tăng tính chống chịu rét

+ Là nguyên tố cung cấp và trao đổi năng lượng dưới dạng ATP rất cần thiết cho quátrình tổng hợp protein, lipit, quá trình cố định đạm, chuyển hóa các sản phẩm gluxit

Nhu cầu lân của lạc: khả năng hấp thụ lân của lạc kém, do đó lượng lân bón cho lạctương đối cao Lạc hấp thu lân nhiều nhất vào thời kỳ ra hoa và thời kỳ hình thành quả, chiếm45% tổng lượng lân mà cây cần Thời kỳ sinh trưởng đầu lạc cũng cần nhiều lân Do phân lân

có hiệu quả chậm, do đó nên bón sớm chủ yếu là bón lót

3.6.3 Kali

Tồn tại trong cây dưới dạng muối vô cơ hòa tan và muối axit hữu cơ trong tế bào

Vai trò của kali:

+ Không trực tiếp tham gia vào thành phần cấu tạo của cây, nhưng tham gia vào hoạtđộng của các enzim, đóng vai trò là chất điều chỉnh và xúc tác cho các phản ứng hóa học trongcây

+ Vai trò quan trọng nhất của kali là xúc tiến quang hợp, đặc biệt cần thiết cho quá trìnhtổng hợp dầu, protein, ngoài ra tham gia vào quá trình trao đổi nước trong cây

+ Kali làm tăng việc hình thành mô cơ giới, làm cứng cây, hạn chế xâm nhập của sâubệnh, tăng tính chống rét, khô hạn

Trong cây kali tập trung chủ yếu ở bộ phận non, lá

Nhu cầu kali của lạc chủ yếu vào thời kỳ đầu

Kỹ thuật bón kali cho lạc: bón sớm trước thời kỳ ra hoa (60% nhu cầu kali được hấp thuvào thời kỳ ra hoa, làm quả)

3.6.4 Canxi

Vai trò của canxi:

+ Điều chỉnh pH đất để tạo ra môi trường thích hợp cho rễ và vi khuẩn hoạt động

+ Là nguyên tố dinh dưỡng cho cây: Tham gia vào thành phần pectatcanxi là chất gắn kếtcác tế bào với nhau, có vai trò quan trọng trong quá trình phân chia tế bào Nếu thiếu thì vỏ quảkhông hình thành được, vỏ quả bị giòn Bản thân tia và quả lạc có khả năng đồng hóa Ca, do đóbón vôi bột gần tia và quả rất tốt Chống lốp, làm tăng lượng đạm hấp thu do rễ và nguồn đạm

cố định Đặc biệt Ca xúc tiến sự chuyển đạm từ thân lá về hạt để tạo protein dự trữ

+ Ngăn ngừa sự tích lũy nhôm và các cation gây độc khác

Kỹ thuật bón:

+ Nếu có vôi bột sớm, thì bón lót cùng với phân chuồng

+ Bón thúc vào thời kỳ lạc ra hoa hoa rộ, (rạch hàng bón) hoặc thúc sớm khi cây đạt 2

Trang 17

+ Kéo dài thời gian ra hoa của lạc, do đó bón đạm sunfat tốt hơn urê.

+ Lần 2: 50% đạm + 50% vôi bột khi lạc ra hoa

Ngoài ra hiện nay trong sản xuất bón thêm phân vi lượng: Mo, Cu, Zn và một số nguyên

tố khác trên nền N, P, K Ví dụ: Mo, Bo có tác dụng tốt cho quá trình cố định đạm của cây, tăng

tỷ lệ thụ phấn, thụ tinh, tỷ lệ kết hạt Cu làm cho màu sắc của quả, hạt tăng lên

Hiệu quả của phân vi lượng có thể tăng năng suất từ 5-10 %

Cách sử dụng phân vi lượng: phun từ 1-2 lần vào thời kỳ lạc bắt đầu ra hoa

- Xử lý phân vi khuẩn: Đối với những vùng nghèo vi khuẩn - phân nitragin

+ Trộn đều hạt giống trước khi gieo, trách tiếp xúc với ánh sáng mặt trời (nếu không vikhuẩn sẽ bị chết) đồng thời khi gieo xong phải lấp đất ngay

+ Các gói phân để trong bóng tối Khi sử dụng loại phân này cần phải giảm một nửalượng đạm

Lần 1: Vào thời kỳ cây có 2 - 3 lá thật

Yêu cầu xới nhẹ, làm đất tơi xốp, diệt cỏ dại, cung cấp O2 cho vi khuẩn hoạt động (chỉxới xáo, không vun)

Lần 2: Trước khi lạc ra hoa, xới xáo mạnh tay hơn lần 1 (4 - 5cm) sau lần 1 từ 15 - 20ngày

Mục đích: Cung cấp O2, trừ cỏ (lần này không được vun)

Lần 3: Sau khi lạc ra hoa rộ Tiến hành xới sâu, vun cao, tạo lớp đất tơi xốp, tạo điều kiệnbóng tối và ẩm độ cho quả lạc phát triển Xới vun có thể chạm cặp cành cấp 1 Xới sâu khoảng5cm

3.7.3 Tưới nước, tiêu nước

Tưới nước: Là khâu quan trọng dựa vào mùa vụ và nhu cầu nước của cây ở từng thời kì.Thời kỳ ra hoa làm quả là thời kỳ khủng khoảng nước

Tiêu nước: Miền Bắc dễ úng vào dịp lụt tiểu mãn và cuối vụ lúc quả chín Vì vậy cầnchống úng để tránh hỏng củ lạc Chân ruộng cao việc làm này dễ thực hiện Còn đối với chânruộng thấp cần áp dụng làm mương hai cấp

Trang 18

3.7.4 Phòng trừ các loại sâu bệnh

Lạc là cây trồng mà trong suốt quá trình sinh trưởng bị nhiều loại sâu bệnh hại khác nhauphá hại Sâu bệnh phá hại ngay từ lúc cây mới mọc đến khi thu hoạch Sâu bệnh hại đã làmgiảm năng suất lạc có khi đến 20 - 30%

Nhóm sâu phá hại hạt giống: giế, mối, kiến chúng ăn hạt khi gieo, chui vào quả ăn hạtvào thời kì quả chín

Biện pháp phòng trừ:

+ Bằng biện pháp canh tác: Luân canh, ngâm nước ở ruộng

+Bằng thuốc hoá học: phun Basuzin

Nhóm sâu ăn lá: Sâu xanh, khoang, con ban miêu Phá hại nặng từ lúc ra hoa trở đi, nếuxuất hiện với mật độ nhiều ăn trụi lá làm giảm năng suất

Phòng trừ bằng: Bằng biện pháp canh tác: vệ sinh đồng ruộng, luân canh

Nhóm sâu chích hút: Rệp, bọ trĩ, rầy xanh vừa hại lá vừa là môi giới truyền bệnh

Phòng trừ: Biện pháp canh tác, luân canh, vệ sinh đồng ruộng, ngâm nước, nhổ bỏ cây bịbệnh

+ Bệnh đốm lá lạc: Có 2 loại, đốm đen và đốm nâu

Bệnh đốm đen: Vết bệnh có dạng gần tròn Bệnh phát triển mạnh vào thời kì ra hoa rộđến khi quả chín, làm lá rụng nhiều

Bệnh đốm nâu hại lá và thân Vết bệnh màu nâu, xung quanh vết bệnh có quầng vàng rõ,bệnh nặng làm lá rụng hàng loạt

- Thời gian sinh trưởng

- Quan sát cây trên đồng ruộng: lá và rụng khoảng 2/3 Nhổ để kiểm tra nếu trên 75%quả chắc là có thể thu hoạch Biểu hiện quả chắc: vỏ quả màu nâu đen xen lẫn bạc trắng

Trang 19

CÂY MÍA

(Saccharum officinarum L)

Chương 1 Giới thiệu chung về cây mía

1.1 Giá trị của cây mía

Mía là cây công nghiệp dùng để chế biến đường Đường là một nhu cầu sống không thểthiếu được trong đời sống xã hội

Hiện nay mía là nguyên liệu duy nhất để chế biến ra đường của nước ta, mía được coi làmột trong những cây trồng quan trọng trong cơ cấu cây thực phẩm ở nước ta 1 kg đường cungcấp năng lượng tương đương 0.5 kg mỡ, 50-60 kg rau quả

Đường có giá trị dinh dưỡng rất cao, nó cung cấp trên 10% nhu cầu năng lượng của cộngđồng Trên thế giới năng lượng do đường cung cấp bằng 7% năng lượng của các loại ngũ cốccung cấp

Trong cơ thể người đường mía được chuyển hóa thành glucoza và fructoza, các loạiđường này oxy hóa sẽ sinh ra năng lượng Đường là loại thức ăn lành tính, dễ tiêu, dùng chongười ốm rất tốt

Tục ngữ có câu “Đẹp vàng son, ngon mật mỡ”

Từ chiếc bánh gai, bánh mật giản đơn đến các loại bánh kẹo cao cấp, các loại nước uống,nước giải khát đều không thể thiếu đường

Đường có thị trường tiêu thụ ổn định

+ Hiện nay ở nước ta, lượng đường tiêu thụ khoảng 10-12 kg/người, một khẩu phần vàoloại thấp trên thế giới Khi mức sống của người dân dần tăng thì nhu cầu về đường cũng tăngdần Do đó đường của nước sản xuất ra chủ yếu cung cấp cho thị trường trong nước nên không

bị chao đảo như một số mặt hàng khác xuất khẩu là chính

+ Đường là mặt hàng chế biến bằng công nghiệp hiện đại nên chất lượng rất ổn định, dễđạt tiêu chuẩn quốc tế Vì thế nếu sản xuất nhiều có thể xuất khẩu tới bất cứ nước nào trên Thếgiới

Mía là cây xóa đói giảm nghèo cho nông dân vùng trung du miền núi, là cây có hiệu quảkinh tế cao:

+ Mía là cây rất dễ tính về đất đai, là cây hàng năm nhưng có bộ rễ ăn sâu, có khả năngchịu hạn khá, có thể trồng trên đất đồi ở vùng trung du miền núi Đặc biệt mía có khả năng lưugốc đến năm sau nên đỡ tốn giống và công trồng cho vụ sau

+ Mía “Cây cao sản” , có chỉ số diện tích lá rất lớn, gấp 6-7 lần diện tích đất, thời gianhoạt động của bộ lá dài, là cây C4 có hiệu quả quang hợp cao nên có thể tạo được nhiều chấthữu cơ/đơn vị diện tích Nếu chăm sóc tốt mía có thể mang lại 200-300 tấn sinh khối/ha/năm

Là cây trồng có khả năng cải tạo bồi dưỡng đất

Hướng phát triển hiện nay và tương lai của cây mía là vùng trung du miền núi Đây lànhững vùng đất có độ dốc, dễ bị rửa trôi dinh dưỡng, xói mòn làm giảm độ phì của đất Do đó ởvùng này cần có sự lựa chọn loại cây trồng phù hợp để vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao đồngthời vừa có tác dụng bảo vệ môi trường lâu dài

Mía là cây ngắn ngày nhưng lại có những ưu thế riêng trong việc cải tạo bồi dưỡng đất:+ Có bộ rễ chùm, bộ rễ phát triển mạnh từ mặt đất đến tầng 60cm Trên 1m2 đất có 1000-

3000 rễ

Trang 20

Do đó trong mùa mưa nó giữ chặt đất, sau vụ thu hoạch để lại từ 8-15 tấn rễ làm tăngchất hữu cơ, lượng mùn trong đất.

+ Mía là loại cây trồng theo rãnh có độ sâu 25-30cm, rãnh được thiết kế với hướng dốc,với khoảng cách các rãnh trên dưới 1m nên nó có tác dụng chống xói mòn rất tốt

+ Mía được trồng vào cuối mùa năm trước đến mùa mưa năm sau đã giao tán tạo thànhtấm thảm dày đặc, do diện tích lá gấp 5-6 lần diện tích đất nên làm nước mưa không thể rơi trựctiếp xuống đất được

Là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp:

Cứ 100 tấn nguyên liệu cho:

+ 3 tấn rỉ mật qua lên men, chưng cất có thể sản xuất ra rượu các loại, cồn tinh khiết,axeton, butanon, axit lactic, axit nitơric, men thức ăn gia súc

+ 1,5 tấn bùn lọc có N, P, K có thể sử dụng để sản xuất phân bón, sản xuất sáp

Ngoài ra ngọn mía và lá mía còn được sử dụng làm chất đốt hoặc tranh lợp nhà

Mía nếu biết khai thác triệt để có thể mang lại hiệu quả kinh tế gấp 2-3 lần giá trị củađường Trong tương lai mía là cây năng lượng: 1 tấn mía tốt có thể sản xuất 35-50 lít cồn 96o

được sử dụng thay xăng để chạy máy đốt trong; 1 ha mía có thể tạo được 180-200 tấn mía từ đó

có thể sản xuất ra 7000-8000 lít cồn Mía còn là cây lấy sợi trong tương lai

Trên thế giới vào thời kỳ trung cổ, đường là mặt hàng xa xỉ phẩm ở Tây âu Sau đó mía

và củ cải đường được tăng lên và tăng mạnh, khi đó đường trở thành một thực phẩm cơ bản.Vào khoảng cuối thế kỷ 19 sản xuất đường từ củ cải lớn hơn đường từ mía nhưng tốc độ sảnxuất đường mía tăng nhanh trước chiến tranh thế giới thứ hai, đường mía chiếm 63.5% vàđường củ cải chiếm 36.5% tổng sản lượng đường

Hiện nay sản lượng đường mía chiếm khoảng 2/3 tổng sản lượng đường trên thế giới Các nước có sản lượng đường lớn trên thế giới là ấn Độ 16.7 triệu tấn; Braxin 16.6 triệutấn; Cu Ba, Trung Quốc 8.5 triệu tấn; Mỹ 7.5 triệu tấn

Thị trường xuất khẩu đường mía chủ yếu do các nước trồng mía chi phối, chiếm 29%sản lượng của các nước này như Braxin, ấn Độ, CuBa, Trung Quốc, Mêhicô, Thái Lan, HoaKỳ

Trang 21

Mức tiêu thụ đường của các nước trên thế giới thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu (xứlạnh cần nhiều calo hơn xứ nóng), tập quán ăn uống (người Anh uống nước chè đường, mỗinăm tiêu thụ 55kg/người), giá đường và mức mua của người dân.

Mức tiêu thụ năm 1900 là 5 kg/người/năm và tăng dần đến năm 1980 là khoảng 30kg/người/năm, dự kiến trong tương lai không vượt quá mức 50 kg/người/năm vì đây là mức tối

đa sinh lý

Các vùng trồng mía chính trên thế giới:

+ Vùng mía Châu á: ấn Độ, Parkistan là vùng trồng mía rất lớn của Châu á nhưng do khíhậu khô hạn, thiếu nước làm hạn chế năng suất tuy trình độ cơ giới hóa rất cao ở ấn Độ có cơquan nghiên cứu chuyên chọn tạo giống mía có tên là CO: CO310, CO200 Trung Quốc, ĐàiLoan là vùng mía lớn của châu á, có điều kiện sinh thái phù hợp với cây mía, năng suất cao cóthể đạt từ 200-300 tấn/ha nhưng diện tích ít Các giống mía của vùng này: ROC10, ROC1, quếđường F134, F156

Indonesia là vùng đất của núi lửa, đất đai rất tốt và có một cơ quan nghiên cứu tạo giốngmía POJ, trạm lai tạo mía miền đông Java được đóng ở Tuy Hòa

+ Vùng mía châu Phi: Vùng này có đặc điểm khí hậu khô, nóng nên năng suất mía khôngcao Cộng hòa Nam Phi, Ai Cập, Mozambich có tạo giống NCO310 thuận lợi cho việc cơ giớihóa cao

+ Vùng mía châu úc: Có tập quán trồng mía đốt, trước khi thu hoạch đốt sạch lá để vệsinh đồng ruộng và tránh mất đường

+ Vùng châu Mĩ: CuBa , các giống My 5514, Braxin, Achentina, Colombia

+ Vùng mía châu Âu: Do thời tiết lạnh nên không trồng được mía mà trồng củ cải đường

Về mặt giá cả, theo các chuyên gia trên thế giới, giá thành sản xuất đường tạm chia làm

1.2.2 Tình hình sản xuất ở Việt Nam

Lịch sử trồng mía ở nước ta chưa có tài liệu cụ thể, tuy nhiên theo tài liệu nghiên cứulịch sử nông nghiệp Việt Nam thì người Việt Cổ đã biết trồng mía từ thời Hùng Vương, cáchđây 4000 năm từ thời Bắc Thuộc

Trong thời Pháp thuộc ở nước ta bắt đầu có công nghiệp chế biến đường với hai nhà máyđường Tuy Hòa (Trung Bộ) và Hiệp Hòa (Nam Bộ)

Sau giải phóng đất nước sản xuất mía đường trong nước được khuyến khích phát triển,nhất là vùng Duyên hải Miền Trung và Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng Sông Cửu Long Nhànước đã cho thành lập hai hiệp hội mía đường TW, thống nhất việc quản lý các nhà máy đường

đã có (Nghệ An, Hà Nam, Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Hiệp Hòa ) và những nhà máy đường mớithành lập như Lam Sơn, La Ngà (Đồng Nai), Bình Dương Cho đến năm 1991, cả nước có

141000 ha mía năng suất 42 tấn/ha

Năm 1995 cả nước trồng được 216300 ha mía, sản xuất được 9500000 tấn mía

Trang 22

Đến nay nước ta phấn đấu sản xuất được 1 triệu tấn đường/năm Cơ sở để chúng ta đạtđược chỉ tiêu trên:

+ Điều kiện sinh thái phù hợp với cây mía

+ Năng suất mía còn thấp nên có thể áp dụng các biện pháp để tăng năng suất lên được+ Nguồn lao động dồi dào nhất là các tỉnh miền núi vì đây là cây có vai trò trong việcxóa đói giảm nghèo

Các vùng trồng mía lớn ở nước ta hiện nay:

+ Vùng các tỉnh miền núi phía Bắc: Hòa Bình, Tuyên Quang, Phú Thọ

+ Vùng khu 4: Thanh Hóa, Nghệ An Đây là vùng đất rộng, có kinh nghiệm tập quántrồng mía năng suất cao

+ Vùng mía đồng bằng phù sa ven sông: Có xu hướng giảm diện tích vì không cạnhtranh được với những cây ngắn ngày khác

+ Vùng duyên hải Miền Trung: Chủ yếu trồng trên đất đồi có điều kiện mở rộng diệntích

+ Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên: Vùng trồng mía có diện tích lớn nhất, được trồngtrên đất đỏ bazan, nâu đỏ, nâu xám, diện tích có thể mở rộng được

+ Vùng đồng bằng Sông Cửu Long: Có diện tích lớn nhưng đất thấp, việc vận chuyểnmía cây gặp nhiều khó khăn, người dân phải làm liếp để trồng mía

Tương ứng với các vùng trồng mía, chúng ta có các nhà máy đường: Lam Sơn, Việt Trì,Sông Lam, Quảng Ngãi, Tháp Tràm, Bình Dương, Hiệp Hòa, Tây Ninh

Chương 2 Cơ sở sinh vật học

2.1 Phân loại

Theo phân loại thực vật cây lúa thuộc nghành thực vật có hạt (Spermatophyta), lớp một

lá mầm (Monocotyledneae), họ hòa thảo (Gramineae), chi Saccharum

Tên khoa học của mía là: Saccharum officinarum L

Trong chi Saccharum có 5 loài:

- Loài mía nhiệt đới: Saccharum offficinarum L

Loài này có nguồn gốc ở các đảo phía Nam Thái Bình Dương

Đặc điểm:

+ Mía to cây, đường kính 3-5cm, tỷ lệ đường cao, năng suất cao, hiện đang được sử dụngphổ biến

+ Có khả năng tái sinh mạnh, thích ứng với khí hậu nhiệt đới

+ Chống chịu với sâu bệnh kém, chống hạn, chống rét kém, cảm ứng với bệnh vàng lá,bệnh đỏ ruột, thối rễ, chảy gôm

- Loài mía Trung Quốc (Saccharum sinensis L)

Có nguồn gốc ở Trung Quốc, Miến Điện, ấn Độ, Bắc Việt Nam

Đặc điểm:

+ Cây to trung bình, đường kính khoảng 2-3cm

+ Đẻ nhánh khỏe, tính thích ứng cao, chín sớm, nhiều xơ

+ Hàm lượng đường trung bình

+ Chống bệnh thối rễ, chảy gôm, mẫn cảm bệnh đỏ ruột, bệnh than

- Loài mía Ấn Độ: Saccharum barberi tesw

Đặc điểm:

+ Thân nhỏ có màu xanh hoặc vàng nhạt

Trang 23

+ Tỷ lệ xơ cao, tỷ lệ đường trung bình, chín sớm, đẻ khỏe, chịu hạn tốt sức đề khángvới sâu bệnh khỏe, thích hợp với vùng á nhiệt đới.

- Loài mía dại: Saccharum spontaneum L

Đặc điểm:

+ Cây nhỏ giống cây lau, cây sậy

+ Khả năng đẻ nhánh khỏe, một cây mẹ có khả năng đẻ 64 mầm nhưng tỷ lệ đường vànăng suất thấp

+ Khả năng chống chịu tốt, sử dụng làm vật liệu lai với mía trồng

- Loài mía dại: Saccharum robustum L

Thuộc loại rễ chùm, gồm 2 loại rễ cây và rễ hom hay còn gọi là rễ sơ cấp và rễ thứ cấp

- Rễ sơ cấp (rễ hom, rễ sơ sinh, rễ tạm thời) là rễ được mọc ra từ các đốt của hom giống.Loại rễ này đường kính bé, phân nhánh nhiều, ít ăn sâu, tuổi thọ ngắn có vai trò hút nước, hútchất dinh dưỡng cho cây ở thời kỳ đầu, tồn tại khoảng 1-2 tháng sau trồng

Phải luôn có ý thức bảo vệ, bảo quản và xử lý hom giống, hạn chế rễ sơ sinh ra sớm, dàitrước khi trồng, nếu không rễ sơ sinh bị ảnh hưởng, mầm và sự phát triển của mầm cũng ảnhhưởng

- Rễ thứ cấp (rễ thứ sinh)

Là rễ được mọc từ gốc của mầm mới sinh ra từ hom giống (rễ được mọc từ những đốtdưới cùng của thân non) Thường cây con có từ 3-5 lá thật thì rễ thứ cấp bắt đầu xuất hiện Rễthứ cấp được chia thành 3 nhóm nhỏ Rễ thứ cấp có nhiệm vụ cungcấp nước, dưỡng chất và chống đỡ cho cây

+ Rễ mặt (rễ hấp thu), rễ này bé, chia nhánh nhiều, độ bền kém, phân bố ở tầng đất mặt0-20cm, chiếm 60-70% tổng lượng rễ

Rễ này có vai trò hút nước và dinh dưỡng chủ yếu cho cây Rễ mặt phát triển càng sớmtạo điều kiện cho mía đẻ nhánh sớm, tập trung

+ Rễ giữ (rễ thừng, rễ chống đổ), loại rễ này to và cong queo, có độ bền cao, mọc chếch

so với thân chính một góc 45-600 thường ở dưới rễ mặt Rễ này có chức năng giữ cho câykhông bị đổ, khả năng hút nước và dinh dưỡng cho cây kém so với rễ mặt

+ Rễ ăn sâu, gồm những bó có 15-20 rễ, phân bố chủ yếu ở lớp đất sâu để hút nước vàdinh dưỡng tầng đất sâu, có thể ăn sâu 4-5 m nếu đất xốp và không có nước ngầm, thường phátsinh trong điều kiện hạn Do đó rễ này rất có ý nghĩa trong việc tìm nước, chống hạn cho cây vàchống đổ

Bộ rễ mía không ngừng biến đổi, sự biến đổi này có thể do một số nguyên nhân sau:+ Do vun cao, một số đốt bị lấp và làm phát sinh rễ mới

+ Do quá trình đẻ nhánh, nhánh mới ra đời, rễ phát sinh (thời điểm đẻ nhánh rộ, bộ rễphát triển mạnh)

+ Do một số rễ già, có thể rụng bớt do mất khả năng hút dinh dưỡng, nước buộc các rễmới phát sinh

So với những cây hòa thảo ngắn ngày khác, cây mía có bộ rễ phát triển rất mạnh

Trang 24

+ Một khóm có từ 500-2000 rễ

+ Tổng chiều dài có thể tới 100-500m

+ Khoảng 50-60% tổng lượng rễ kể trên phân bố ở tầng đất canh tác, số còn lại phân bốđến độ sâu 60cm

Do đặc điểm của bộ rễ phát triển mạnh nên xử lý đúng kỹ thuật sẽ giúp cây có khả năngchống hạn, chống xói mòn cao

Tùy thuộc từng loại đất, thời kỳ sinh trưởng, điều kiện thời tiết mà có biện pháp kỹ thuậtthích hợp để giúp rễ phát triển tốt Chỉ có điều khiển bộ rễ và thông qua bộ rễ mới có thể pháthuy cao độ hiệu quả của phân bón, nước tưới, các khoản đầu tư và biện pháp khác

Biện pháp kỹ thuật: Thời kỳ mía còn nhỏ, chưa có lóng thì xới xáo, cày ải nhiều lần đểlàm đứt một phần rễ ngang gần mặt đất với trình tự lần cày hoặc lần xới sau cách xa gốc một ít(có tác dụng tăng diện tích hấp thu của bộ rễ, vừa thúc đẩy nhóm rễ ăn sâu phát triển mạnh đểchống hạn, chống đổ)

Khi mía đã lớn (> 4-5 lóng), mía đã giao tán, không được làm đứt rễ ngang nữa để đảmbảo sự cân đối cần thiết giữa bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất

2.2.2 Thân

Là đối tượng thu hoạch, là nguyên liệu chế biến đường, là bộ phận làm giống cho vụsau

Số lượng thân hữu hiệu là trọng lượng thân là hai yếu tố quyết định năng suất

Thân mía vừa biểu hiện đặc trưng của giống vừa phản ánh tình trạng sinh trưởng và tácđộng của các biện pháp kỹ thuật canh tác

Gồm nhiều lóng và đốt hợp thành, màu sắc thân và sự sắp xếp của các lóng trên thâncũng là chỉ tiêu để phân biệt giống

Đặc điểm của một cây mía sinh trưởng bình thường: Các lóng dưới cùng bé và ngắn, từ

đó trở lên các lóng to và dài dần Đến độ cao 15-30cm, lóng đạt độ to tiêu chuẩn (giống),khoảng 1/3 cây lóng đạt độ dài tối đa Đến gần ngọn, vào mùa mía chín các lóng lại bé và ngắndần

Đoạn thân 20cm dưới cùng thường là đoạn nằm dưới đất nếu có vun vồng; đoạn nàythường có 6-9 lóng đối với cây mẹ và 5-7 lóng đối với cây con Các lóng dưới cùng càng ngắnthì số lóng dưới mặt đất càng nhiều nên càng có nhiều đai rễ và điểm rễ nằm dưới mặt đất tạođiều kiện cho bộ rễ phát triển mạnh, nhiều có lợi cho việc hấp thụ dinh dưỡng, tăng khả năngchống hạn, đổ Hơn nữa số lóng nhiều ở dưới mặt đất, số mầm cũng sẽ nhiều sẽ tăng số cây táisinh, có lợi cho vụ gốc năm sau

Trang 25

Khi quan sát thân mía (thu hoạch) sẽ biết được các biện pháp kỹ thuật ứng dụng tốt hayxấu, điều kiện môi trường thuận lợi hay không thuận lợi để từ đó có kế hoạch điều chỉnh, bổsung.

Đoạn từ mặt đất đến gần ngọn (4/5 chiều cao cây) thường có độ to và chiều dài các lóngkhông chênh lệch nhau nhiều:

+ Nếu ở đoạn này có chỗ bị thắt lại, lóng ngắn, bé thì lúc đó mía sinh trưởng không bìnhthường, bị hạn, bị rét hoặc bị úng, hoặc thiếu phân

+ Nếu ở cây dưới nhỏ trên to tức đã chăm bón không hợp lý, giai đoạn đầu thiếu phân,không khí (khu vực rễ) hoặc thiếu nước và giai đoạn cuối lại dư thừa các yếu tố ấy Tình trạngnày sẽ làm cho cây dễ bị đổ khi gặp gió to dẫn đến năng suất thấp

+ Nếu mía tóp ngọn sớm (từ 1/2 cây trở lên), lóng bắt đầu bé và ngắn dần, chứng tỏ mía

bị thiếu phân, thiếu nước nghiêm trọng ở giai đoạn cuối nên năng suất thấp ảnh hưởng đến vụgốc năm sau

2.2.3 Lóng mía

Là bộ phận nằm giữa 2 đốt thường có độ dài trung bình từ 10-18cm Lóng cùng với đốt

là đơn vị cấu thành thân mía

Các giống khác nhau thì lóng sẽ có màu sắc, hình dạng, kích thước khác nhau Do đóđây là chỉ tiêu để phân biệt giống

Hình dáng lóng cũng có sự biến động theo điều kiện chăm sóc nhưng không nhiều

Ví dụ: Lóng có hình trống nhưng nếu chăm sóc kém, độ phình giữa lóng giảm nên có xuhướng gần giống lóng hình trụ

Màu sắc lóng cũng thay đổi nhiều theo tuổi, chế độ ánh sáng và phân bón

Ví dụ: Giống có màu tím nhạt, ở nơi có nhiều ánh sáng sẽ có màu thẫm, nơi thiếu hoặcthừa đạm sẽ có màu tím xanh

Phần dưới lóng mía, phía trên đỉnh mầm có thể có 1 vết lõm gọi là rãnh mầm Rãnh cóthể nông, sâu, dài, ngắn tùy thuộc giống trên lóng có thể có vết nứt, đây là các chỉ tiêu để phânbiệt gióng

Trên vỏ thường có lớp sáp bao bọc, sáp phân bố rõ rệt ở phần trên lóng

2.2.4 Đốt mía

Còn gọi là “mấu” hay “mắt” là bộ phận nối liền giữa các lóng với nhau trên thân

Gồm 4 bộ phận hợp thành: đai sinh trưởng, rễ, mầm và sẹo lá (vết lá)

+ Đai sinh trưởng có thể rộng hay hẹp, thẳng hay cong lên ở đỉnh mầm

+ Đai rễ có nhiều điểm rễ, các điểm rễ sắp xếp thành hàng hoặc lộn xộn, chúng phụthuộc vào giống

Trên biểu bì của lóng, đốt, thân cây có chứa nhiều chlorogin và xantofin Hai chất nàyhợp thành màu sắc cây mía

Ví dụ: Xantofin nhiều đốt mía có màu đỏ, chlorofin nhiều có màu xanh, cả 2 chất nàyđều nhiều thì vỏ có màu tím, ít thì vỏ có màu vàng

2.2.5 Mầm mía

Nằm trên đai rễ, thường mỗi đốt chỉ có một mầm, cá biệt có sự biến dị, thành 2 haynhiều mầm

Mầm là phôi cây ở thế hệ sau, từ đây sẽ mọc ra cây mía mới sau khi trồng

Mầm gồm một thân nhỏ và điểm sinh trưởng xung quanh bao bọc bởi nhiều lá mầmhình vảy Chân mầm nằm dưới sẹo lá hoặc xa hơn một tí, đỉnh mầm có thể hơi lồi lên, phẳng

Trang 26

Mặt ngoài của mầm, hai mép lá hình vảy xếp chéo lại với nhau chừa một lỗ nhỏ gọi là lỗmầm (điểm mầm) Tùy thuộc giống mà lỗ mầm có thể nằm giữa mầm, ở đỉnh mầm hoặc gầnđỉnh mầm.

Ở đỉnh mầm, xung quanh điểm mầm, chân mầm thường có những túm lông nhỏ, sốlượng, màu sắc khác nhau phụ thuộc giống

Mầm có nhiều hình dạng khác nhau, hình trứng, tam giác, hình tròn, mỏ chim, hình chữnhật, củ ấu, hình bầu dục

2.2.6 Lá mía

Mọc thành 2 hàng so le, đối nhau hoặc theo đường vòng trên thân mía tùy giống, mỗi đốt

có 1 lá

Lá mía đính vào thân ở phía dưới đai rễ, khi rụng tạo thành sẹo lá

Lá mía gồm: Phiến lá, bẹ lá và cổ lá Cổ lá là nơi tiếp giáp giữa bẹ lá và phiến lá ở đó cóđai dày, lưỡi lá (lá thìa) và tai lá (thìa lìa)

Lá mía thường có kích cỡ khác nhau từ khi mọc đến khi chín sinh học + Khicây con mới mọc, các lá dưới cùng chỉ có bẹ lá chứ chưa có phiến lá

+ Khi mầm cao từ 10-20cm, có lá hoàn chỉnh

+ Thường đến lá thật thứ 12-15 lá mới đạt đến độ to và chiều dài tiêu chuẩn của giống.+ Bước vào giai đoạn tích lũy đường hoặc chuẩn bị ra hoa, lá bắt đầu bé và ngắn dần.Phiến lá có dạng hình lưỡi kiếm, ở giữa có một gân lá màu trắng chạy suốt từ bẹ đến tậnvót lá

Mặt ngoài của bẹ lá có sáp bao bọc và thường có lông

Ngoài các đặc trưng của giống, bộ lá phản ánh khá nhạy về điều kiện ngoại cảnh và hệthống kỹ thuật đang áp dụng

+ Lá to dài, màu xanh sáng đạt mức tối đa của giống là biểu hiện của điều kiện sinhtrưởng tốt

+ Khoảng cách giữa các vai lá càng dài càng tốt, số lá xanh tồn tại càng nhiều càng tốt,chứng tỏ mía đang gặp điều kiện tối ưu

+ Lá uốn cong quá nhiều so với đặc trưng của giống tức biểu hiện thiếu N, thiếu P, K.+ Lá bị dựng đứng, chóp lá cuộn lại chứng tỏ lá đang bị hạn

2.2.7 Hoa và quả

Hoa mía được bao bọc bởi chiếc lá cuối cùng của bộ lá Khi hoa thoát ra ngoài nó códạng hình bông cờ

Cấu tạo của hoa mía gồm một trục chính và các nhánh cấp 1, cấp 2 Trên những gié con

có nhiều hoa mía nhỏ Mỗi hoa được bao bọc bởi 2 mảnh vỏ, được tạo thành 2 lớp, màng trong

Trong công tác cải tạo giống mía, lai hữu tính là một phương pháp được áp dụng rộng rãi

và thu được kết quả ngày càng cao

2.3 Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây mía

Trang 27

Chu kỳ sinh trưởng của cây mía từ trồng bằng hom đến thu hoạch (mía tơ) hoặc từ đểgốc đến thu hoạch (mía gốc) có thể kéo dài từ 1-2 năm Nhưng chu kỳ khai thác của một mộngmía có thể từ 1-3 năm tùy điều kiện của từng nước Dù mía tơ hay mía gốc chu kỳ sinh trưởngcủa cây mía có thể chia làm 5 thời kỳ

để hút nước, các chất dinh dưỡng cung cấp cho mầm

Hom mía từ trạng thái ngủ nghỉ sang trạng thái hoạt động phải trải qua các quá trình biếnđổi về sinh lý, sinh hóa

+ Trong hom hoạt động hô hấp xảy ra rất mạnh

Glucoza và axit amin là các chất cần thiết cung cấp cho quá trình nảy mầm của hom Thời kỳ nảy mầm dài hay ngắn, tỷ lệ cao hay thấp, mầm khỏe hay yếu phụ thuộc rấtnhiều yếu tố :

+ Điều kiện môi trường

Nhiệt độ là yếu tố chi phối mạnh nhất tới sự nảy mầm, nhiệt độ tối thích cho quá trìnhnày là từ 25-30oC (nảy mầm sau 10-15 ngày) Nhiệt độ dưới 15oC mía sẽ không nảy mầm, nhiệt

độ 40oC thì mía cũng không nảy mầm, từ 160C mía bắt đầu có thể ra rễ và nảy mầm Trong giớihạn từ 16-30oC thì nhiệt độ càng cao tốc độ nảy mầm càng nhanh, tỉ lệ mọc mầm cao

Độ ẩm đất: cũng là yếu tố rất quan trọng quyết định sự nảymầm

Độ ẩm quá thấp hom không thể ra rễ, nảy mầm được, khô hạn kéo dài hom mía sẽ bịchết Nếu độ ẩm trong đất quá cao, từ độ ẩm bão hòa đến thừa nước (làm cho trong đất khôngcòn không khí) mía cũng không thể nảy mầm được Nếu tình trạng này kéo dài quá 5 ngày sẽlàm hom chết và thời kỳ này không thực hiện được

Lưu ý: Khi cần nhân giống lấy cây mía bánh tẻ chặt cả cây lấy từng đoạn đem trồng

Vị trí của mầm trên mía: Tốt nhất là mầm không non quá cũng không già quá, mầm củahom bánh tẻ là mầm có sắc tố trên cùng tương ứng với lá dương 7 hoặc dương 8 (tùy giống)đến mầm có sắc tố dưới cùng (chưa hóa gỗ) Đoạn này thường dài khoảng 1-1,2m tính từ trênxuống Đoạn này tương ứng với thân cây mía 6-7 tháng tuổi

27

+ §­êng saccaro men glucoza

+ Protein men axit amin

Trang 28

Cách chặt hom mía dài hay ngắn: Hom giống có từ 2-3 mầm cho tỉ lệ nảy mầm cao hơn

và tập trung hơn hom dài nhiều mắt nhưng sức chịu hạn lại yếu hơn hom nhiều mắt, không nênchặt hom chỉ có một mầm

+ Khâu kỹ thuật:

Đặt hom và lấp đất, hướng mầm về 2 bên để mầm mọc tốt Tùy thuộc mùa vụ để lấp đấtcho phù hợp giúp mầm mọc nhanh Vụ xuân phủ đất vừa phải, vụ thu phủ nhẹ, vụ đông phủdày

2.3.2 Thời kỳ cây con

Là thời kỳ chuyển tiếp từ thời kỳ mọc mầm sang thời kỳ đẻ nhánh được tính từ khi cây

có lá thật thứ nhất đến khi có khoảng 75% số cây trong ruộng có đủ 5 lá thật

Thời kỳ này rễ cây bắt đầu được hình thành để hút nước và dinh dưỡng cho cây

Cây con sinh trưởng chậm, thoát hơi nước ít, độ ẩm thích hợp cho quá trình sinh trưởng

là 60%

Cây con dễ bị nhiều loại sâu bệnh hại, cỏ dại lấn át

Trong thời kỳ này cần tác động các biện pháp kỹ thuật:

+ Tỉa bỏ dần những cây bị bệnh, những cây không có khả năng sinh trưởng, phát triển+ Tạo điều kiện để lá thật sinh trưởng tốt, tăng khả năng quang hợp đồng thời thúc đẩy rễcây phát triển nhanh

+ Khô hạn hoặc úng nước đều làm ảnh hưởng tới sự phát triển của bộ rễ ở thời kỳ này.Cây mía sợ cỏ dại tranh chấp nước và ánh sáng, do vậy cần xới xáo nhẹ trừ cỏ dại, tưới nước bổsung trong điều kiện khô hạn kéo dài

2.3.3 Thời kỳ đẻ nhánh (đâm chồi hay nhảy bụi)

Là thời kỳ quan trọng quyết định số lượng cây thu hoạch Thường bắt đầu khi trên cây

có từ 6-10 lá thật Thời kỳ này cây sinh trưởng phát triển tốt hay xấu ảnh hưởng rất lớn đếnnăng suất mía cây

Khả năng đẻ nhánh của cây mía rất lớn có thể cho từ 10-16 vạn cây/ha nhưng thực tế thuhoạch thường chỉ được 5-7 vạn cây/ha Một số cây bị chết đi do sâu bệnh hoặc do tỉa bớt

Thời gian đẻ nhánh của cây mía thường kéo dài từ 3-4 tháng tùy thuộc giống mía, thời

vụ trồng, kỹ thuật chăm sóc

Quy luật đẻ nhánh của cây mía:

Từ cây mẹ đẻ ra cây con, từ cây con đẻ ra mầm cháu, từ mầm cháu lại có thể đẻ ra nhiềumầm chắt theo quy luật từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, đốt dưới trước, đốt trên sau Saumột số mầm có hiện tượng trồi gốc lên trên nên dễ bị đổ do gió bão

Quá trình đẻ nhánh của cây mía phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Giống: Các giống khác nhau có khả năng đẻ nhánh khác nhau

Ví dụ: Giống mía gie đẻ nhánh khỏe hơn giống mía to cây, F134 đẻ nhánh khỏe hơngiống mía CO của ấn Độ

+ Điều kiện môi trường:

Nhiệt độ: Dưới 20oC mía hầu như không đẻ nhánh, từ 21oC mía bắt đầu đẻ nhánh Nhiệt

độ thích hợp cho sự đẻ nhánh là 25-30oC Trong khoảng nhiệt độ thích hợp thì nhiệt độ càngcao cây đẻ nhánh càng nhanh và mạnh

Độ ẩm đất: Độ ẩm đất thích hợp là 60-70% Đất quá khô hạn mía sẽ không đẻ nhánh,quá thừa nước cũng không đẻ nhánh

Trang 29

Ánh sáng: Là nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự đẻ nhánh, thiếu ánh sáng mía không đẻnhánh Cường độ ánh sáng càng cao mía đẻ nhánh càng nhiều và cho tỉ lệ nhánh hữu hiệu cao.(Muốn không đẻ nhánh, tiến hành vun cao)

+ Các chất dinh dưỡng N, P, K: Hàm lượng N, P, K trong đất đầy đủ và cân đối mía sẽ

đẻ nhánh nhiều và tỉ lệ nhánh thành cây cao Nếu thiếu các chất dinh dưỡng hoặc mất cân đốigiữa NPK mía đẻ nhánh kém Trong thời kỳ này cây cần nhiều nhất là K, thứ đến là P và saucùng là N Việc bón thúc sớm tạo điều kiện cho mía đẻ nhánh sớm và tập trung

+ Lớp đất dày hay mỏng kể từ mặt hom trở lên: Trong thời kỳ đẻ nhánh lớp đất từ mặthom trở lên càng mỏng mía đẻ nhánh càng sớm và sức đẻ nhánh (tỉ lệ đẻ nhánh) càng cao.Ngược lại sẽ kìm hãm sự đẻ nhánh, mía đẻ chậm và ít

2.3.4 Thời kỳ vươn cao

Nhìn chung, khi 2/3 số cây trong ruộng có được 1 - 2 lóng trưởng thành đầu tiên thì coinhư đã kết thúc thời kỳ đẻ nhánh và bước sang thời kỳ vươn lóng, mặc dù một số cây vẫn tiếptục đẻ nhánh (tùy giống)

Đây là thời kỳ quyết định năng suất mía cây

Năng suất mía/đơn vị diện tích= số cây/đơn vị diện tích* khối lượng của một cây Thời kỳ này, trên cơ sở bộ lá và bộ rễ đã phát triển hoàn chỉnh, các quá trình sinh lý củacây đạt tới đỉnh cao, hiệu lực sử dụng đất đai, phân bón, năng lượng ánh sáng mặt trời tăng lên.Trong thời kỳ này cây sinh trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng chiều cao đạt từ 10-50cm/tháng Thời gian vươn cao của cây phụ thuộc vào:

+ Thời vụ trồng mía:

Vụ đông, trồng từ tháng 11, vươn cao từ tháng 5 đến tháng 11

Vụ xuân, trồng từ tháng 6, vươn cao từ tháng 6 đến tháng 11

Vụ thu, vươn cao từ tháng 4 đến tháng 11

+ Ánh sáng: Cường độ ánh sáng càng cao, thời gian chiếu sáng càng dài thì tốc độ vươncao càng mạnh, trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn cây sẽ ra hoa

+ Nhiệt độ: ở thời kỳ này cây yêu cầu nhiệt độ cao hơn so với các thời kỳ khác, cây chỉbắt đầu vươn cao khi nhiệt độ lớn hơn 20oC, nhiệt độ tối thích cho thời kỳ này là từ 25-35oC

+ Các chất dinh dưỡng: Trong thời kỳ vươn lóng cây yêu cầu cung cấp đầy đủ các chấtdinh dưỡng N, P, K Trong thời kỳ này cây tiêu thụ nhiều chất dinh dưỡng nhất so với các thời

kỳ trước và sau đó Nếu thiếu dinh dưỡng mía sẽ vươn cao chậm, đường kính thân bé lại dẫnđến năng suất thấp Bón N kết thúc sớm thuận lợi cho quá trình vươn cao

+ Sâu bệnh hại: Nếu gặp sâu đục thân sẽ làm lóng bé và ngắn lại

+ Ẩm độ đất: thích hợp là 70-80% (thời kỳ này cây cần nhiều nước nhất, chiếm 50%tổng lượng nước cây cần)

+ Sản phẩm quang hợp của lá nào thì thường nuôi chủ yếu lóng đó, nếu lá bị dập náthoặc bị gãy sớm sẽ làm lóng bị chùn lại Do đó khi bóc bẹ chỉ nên bóc những lá già

+ Tuổi mía: Mía vươn cao mạnh nhất vào lúc 5-6 tháng tuổi, sau đó tốc độ vươn caogiảm dần cho đến lúc sắp thu hoạch

2.3.5 Thời kỳ chín

Trang 30

a Chín công nghiệp

Cuối thời kỳ vươn lóng, mía sẽ bước sang thời kỳ chín công nghiệp Vào thời kỳ này tốc

độ vươn cao giảm dần, hàm lượng đường trong thân đạt tối đa, đây là thời kỳ quyết định chấtlượng cây mía

Các đặc trưng biểu hiện khi cây mía chín:

+ Thân cây mía trơn bóng, ít phấn sáp hơn so vơi trước, một số giống xuất hiện vết nứtsinh trưởng, mặt cắt ngang của lóng lồi lõm (chứng tỏ các tế bào nhu mô đã chứa đầy đường)

+ Lá chuyển từ màu xanh thẫm sang màu xanh vàng (màu lá gừng), các vai lá xích lạigần nhau, ngọn dẹt, lá mọc chụm lại theo hình dẻ quạt

+ Hàm lượng đường saccharoza đạt mức tối đa của giống đó

+ Độ Brix (là nồng độ % chất khô hòa tan được ở trong nước mía mà trong đó có 85% làđường saccaroza) Khi mía chín hàm lượng đường lớn hơn 18%

Khi mía chín độ Brix (gốc)/Brix (ngọn) ở các lóng trưởng thành gần bằng nhau (0,9-1)Brix (gốc)/Brix (ngọn) =1 → chín hoàn toàn

Brix (gốc)/Brix (ngọn) >1 → quá chín (do thu hoạch muộn, do có quá trình đẻ nhánh,một phần đường saccaroza chuyển thành glucoza cung cấp cho quá trình đẻ nhánh)

Quá trình này bị chi phối bởi những yếu tố sau:

+ Giống mía chín sớm, đạt tỉ lệ đường sớm như giống ROC1, giống chín muộn F134+ Thời vụ trồng vụ mía thu: trồng tháng 8, 9 có thể thu hoạch vào tháng 10 năm sau, vụmía xuân trồng tháng 2, 3 thu hoạch tháng 2, tháng 3 năm sau

+ Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ này là 14-25oC, thấp hơn thời kỳ vươn lóng.Đặc biệt, biên độ giữa ngày và đêm càng cao càng có lợi cho thời kỳ này Nhiệt độ quá cao sẽkhông có lợi cho thời kỳ này

+ Nước: Độ ẩm thích hợp cho mía chín 50-60% Mưa nhiều hoặc tưới nước trong thời kỳnày đều bất lợi cho sự tích lũy đường của thời kỳ chín công nghiệp, làm cho lượng đường trongmía giảm sút do mía tiếp tục sinh trưởng

+ Bón phân: Đạm qúa thừa trong đất vào thời kỳ này rất bất lợi cho mía chín vì nó xúctiến cho mía tiếp tục tăng trưởng và hạn chế sự tích lũy đường, làm giảm chất lượng mía

+ Đất đai: Đất cát mía sẽ chín sớm hơn cây mía sống trên đất thịt vì trong đất cát hàmlượng dinh dưỡng thấp, cây cằn hơn nên sẽ chín sớm hơn

b Chín sinh lý (chín sinh vật học)

Là thời kỳ cây mía ra hoa, kết quả có thể gặp một số bông cờ cuối tháng 6

Chín sinh lý làm giảm lượng đường saccaroza, một phần đường saccaroza chuyển hóathành glucoza cung cấp cho quá trình ra hoa, tạo quả Mía ra hoa là một điều bất lợi đối vớingười sản xuất mía đường

Chín sinh lý chỉ có ý nghĩa đối với công tác lai tạo giống

Mía là cây rất mẫn cảm với ánh sáng nhưng không thuộc về cây dài ngày hay ngắn ngày.Nếu đêm bị chiếu sáng thì mía sẽ không ra hoa Đêm dài 11h 30 phút thuận lợi nhất cho việc rahoa, như vậy ngày phải dài 12h 30 phút (liên tục 24 ngày trở lên)

Mía phải trải qua một thời kỳ vươn lóng mới có thể chuyển sang thời kỳ thành thục, rahoa kết quả Tối thiểu phải có 3-5 lóng trưởng thành mới có thể chuyển sang giai đoạn ra hoa Ngoài ánh sáng, các nhân tố khác có tác dụng chi phối đáng kể tới sự ra hoa của mía:+Nhiệt độ: Nhiệt độ ban đêm trên 210C được coi là cần thiết cho sự hình thành mầm hoa,nhiệt độ ban đêm dưới 18,50C trong 10 ngày ức chế sự hình thành mầm hoa Nhiệt độ ban ngàythấp nhất không xuống dưới 150C và cao nhất không quá 300C thì mía trổ hoa mạnh

Trang 31

+ Giống mía: Giống hoàn toàn không trổ cờ: ROC9, R579, VN84 - 422

Giống trổ cờ ít: VN844137, VĐ79 - 177

Giống trổ cờ nhiều: ROC18, ROC1, ROC16

+ Tuổi mía và chu kỳ để gốc: Mía lưu gốc càng nhiều năm ra hoa càng nhiều

+ Ẩm độ: Nếu quá khô hạn trong thời kỳ hình thành mầm hoa sẽ không hình thành đượchoa

2.4 Yêu cầu sinh thái của cây mía

Nhiệt độ ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây:

+ Thời kỳ mọc mầm: Nhiệt độ tối thích cho thời kỳ này từ 26-300C, từ 160C trở lên míabắt đầu có thể ra rễ và nảy mầm, nhiệt độ < 120C thì không trồng

+ Thời kỳ cây con: Nhiệt độ thấp làm cho cây con sinh trưởng chậm

+ Thời kỳ đẻ nhánh: Nhiệt độ thấp làm giảm tỉ lệ đẻ nhánh, dưới 200C mía hầu nhưkhông đẻ nhánh, đến 210C mía bắt đầu đẻ nhánh, từ 26-330C mía đẻ nhánh nhanh và nhiều

+ Thời kỳ vươn cao: Đây là thời kỳ mía đòi hỏi nhiệt độ cao nhất và cũng là thời kỳ quantrọng nhất đối với năng suất cuối cùng Nhiệt độ thích hợp nhất cho thời kỳ này là 25-340C,nhiệt độ thấp mía sẽ vươn cao chậm, cây chùn lại, lóng ngắn, nhỏ Nhiệt độ 36-380C làm cây hôhấp mạnh, tích lũy đường ít

+ Thời kỳ chín: Cây cần nhiệt độ thấp hơn, biên độ giữa ngày và đêm càng cao càng tốt,nhiệt độ thích hợp cho thời kỳ chín công nghiệp là 15-250C Nhiệt độ 210C được coi là cần thiếtcho sự hình thành mầm hoa Nhiệt độ < 18,50C kéo dài quá 10 ngày mía sẽ ngừng hoàn toàn sựhình thành mầm hoa

Do đó nên căn cứ vào nhiệt độ để bố trí thời vụ sao cho thời kỳ nảy mầm rơi vào cuốimùa rét, thời kỳ chín rơi vào các tháng nhiệt độ thấp và biên độ nhiệt độ ngày và đêm cao, đặcbiệt thời kỳ vươn lóng nằm gọn vào các tháng có nhiệt độ cao

2.4.2 Ánh sáng

Mía thuộc loại cây C4, hiệu quả sử dụng quang năng lớn hơn cây C3

Đối với cây mía cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng toàn diện đến

sự tăng trưởng của các bộ phận và các thời kỳ sinh trưởng của nó

Là cây cần cường độ ánh sáng cao để quang hợp: Điểm bão hòa quang hợp là 10000 lux.Trong điều kiện chiếu sáng đầy đủ mía sẽ đẻ sớm, đẻ nhiều, tỉ lệ nhánh hữu hiệu cao Ngượclại, thiếu ánh sáng mía sẽ đẻ ít, tỉ lệ nhánh chết nhiều thậm chí không đẻ nhánh được

Trong thực tế nếu trồng riêng lẻ, do thừa thãi ánh sáng nó có thể đẻ 20-30 nhánh còn khitrồng quá dày, thiếu ánh sáng mỗi cây mẹ chỉ đẻ một vài nhánh hoặc không đẻ

Sang thời kỳ vươn cao, nếu được chiếu sáng đầy đủ mỗi tháng mía có thể vươn cao 80cm (tất nhiên là các yếu tố khác cũng phải đầy đủ) Trong thời kỳ này ở ruộng mía cây cao sẽche ánh sáng của các cây thấp làm cho các cây thấp bị đào thải

Ở nơi đầy đủ ánh sáng, sinh khối cá thể gấp 3-4 lần nơi thiếu ánh sáng Các bộ phận khísinh và địa sinh (bộ rễ) bị ảnh hưởng rõ rệt, thiếu ánh sáng bộ rễ phát triển yếu, khả năng hấpthu và lợi dụng các chất dinh dưỡng bị giảm sút Do đó trong sản xuất cần bố trí thời vụ thíchhợp để mía có thể vươn cao từ tháng 4 -10, tháng 11

Trang 32

Mía cần ánh sáng ngày dài để sinh trưởng phát triển, trong điều kiện ánh sáng ngày ngắnmột số giống có thể ra hoa Ví dụ ROC 1 trồng ở Tây Nguyên ra hoa nhiều.

Cây mía 5-6 tháng tuổi có khả năng quang hợp mạnh nhất

2.4.3 Nước

Mía là cây cần nhiều nước nhưng lại rất sợ bị úng Trong thân mía nước chiếm tỉ lệ 70%,

do đó nước có tác dụng rất lớn trong tất cả các quá trình sinh trưởng của cây mía, là nhân tốquan trọng của cây mía Để tạo ra 1kg đường cây mía cần tiêu tốn 600 lít nước cho quá trìnhđồng hóa, trao đổi nước trong cây và phát tán nước qua mặt lá

Để đạt năng suất cao mía cần một lượng mưa hữu hiệu là 1500mm cho cả chu kỳ sinhtrưởng Lượng mưa hữu hiệu đó tương ứng với lượng mưa thực tế là 2000-2500mm Hầu hếtcác vùng sinh thái của nước ta đều đáp ứng được, tuy nhiên lượng mưa này cần tập trung vàothời kỳ vươn cao

Đối với cây mía, thiếu hoặc thừa nước đều có hại và có triệu chứng gần giống nhau:ngừng sinh trưởng, vàng lá, mất đường Nếu hạn nặng sẽ héo lá rồi tiến đến khô lá, bắt đầu từchóp lá rồi lan dần xuống các đoạn dưới Nếu úng nặng sẽ làm thối rễ, hỏng gốc và chết cây khimía chưa có lóng Sau khi có lóng mía sẽ sinh ra rễ khí sinh hoặc thủy sinh để tồn tại nhưng saukhi hết nước mía sẽ rất khó phục hồi sinh trưởng

Nhu cầu độ ẩm đất của cây mía khác nhau, tùy thuộc vào từng thời kỳ:

+ Thời kỳ mọc mầm: Cần khoảng 65-75% độ ẩm tối đa trong đất

+ Thời kỳ đẻ nhánh: mía tiêu hao nhiều nước hơn nhưng ít nghiêm ngặt hơn thời kỳ nảymầm, cây cần khoảng 55-70% độ ẩm tồi đa trong đất

+ Thời kỳ vươn cao: Cây đòi hỏi lượng nước cao nhất, độ ẩm trong đất thích hợp là 80%

70-+ Thời kỳ chín: Yêu cầu về nước giảm hẳn, độ ẩm đất thích hợp là 50-60% độ ẩm tối đatrong đất Thừa nước sẽ làm mía chín chậm, hàm lượng đường thấp, nhiều tạp chất

Do đó miền Bắc nước ta tháng 11, 12 nhiệt độ và độ ẩm thấp thích hợp cho việc tích lũyđường, mía ngọt

Mía là cây có khả năng chịu hạn khá, do bộ rễ có điều kiện ăn sâu, có khả năng hút nước,hút dinh dưỡng trong điều kiện hạn nên có thể trồng trên đất đồi

Cây mía không thể trồng trên đất có mực nước ngầm cao vì sẽ làm cho bộ rễ thâm đen,chết cục bộ Mía sợ úng nhưng nếu bị ngập úng 5-7 ngày thì vẫn không chết, thậm chí phù satràn vào mía sẽ rất tốt, đó chỉ là nước tràn qua Mực nước ngầm thấp cây vẫn sinh trưởng pháttriển tốt

2.4.4 Đất đai

Đất thích hợp với cây mía là loại đất có khả năng giữ nước tốt, có khả năng thấm nướctốt Đất có kết cấu tốt, tơi xốp Đất chứa quá nhiều nước sẽ làm giảm tỉ lệ không khí gây thiếuôxi cho rễ cây Đất quá ít nước sẽ gây ra khô hạn

Đất đạt các yêu cầu trên là đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình, trong đất còn chứanhiều chất hữu cơ, có nhiều mùn Tầng canh tác của đất phải dày 80cm, mực nước ngầm sâudưới 1m để có khả năng cung cấp nước trong mùa khô Cày sâu và áp dụng hệ thống canh tácchống hạn

Độ PH của đất thích hợp là 6-7

Liên hệ:

+ Vùng đất đồi thường khô hạn, trong biện pháp canh tác phải cày sâu, nếu cày nông cây

sẽ cằn cỗi

Trang 33

+ Đất phù sa ven sông tốt, cây mía sinh trưởng phát triển tốt song hiệu quả kinh tế do míamang lại không cạnh tranh được với các cây trồng khác.

+ Vùng đất nâu đỏ, nâu xám ở Đông Nam Bộ đáp ứng được nhu cầu của cây

Cơ sở của việc luân canh cây mía với các cây trồng khác:

+ Mía là cây có năng suất sinh vật học cao, hàng trăm tấn/ha Hàng năm, tuy mía có trảlại cho đất một khối lượng hữu cơ đáng kể song nó cũng lấy đi của đất một khối lượng dinhdưỡng lớn Do đó cần luân canh để sử dụng đất lâu dài

+ Mía thường bị một số loại sâu dưới đất phá hoại như ấu trùng, bọ hung, mối, tuyếntrùng và các bệnh như thối đen, thối đỏ Chúng đục phá gốc, hại thân làm cho thời gian lưugốc bị rút ngắn một cách đáng lo ngại Luân canh có thể khắc phục được các nhược điểm trên Bằng biện pháp luân canh các vùng chuyên canh mía Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Hà, HàTây đã làm tăng năng suất mía từ 10-20%, tỉ lệ sâu bệnh giảm nhất là bọ hung hại gốc Việcluân canh mía, lạc của nhân dân Nam Đàn, Nghệ An ngoài tác dụng làm tăng năng suất còn làmgiảm bệnh “chết ẻo” ở lạc một cách đáng kể

Chu kỳ luân canh mía phụ thuộc vào điều kiện đất đai, khả năng phân bón, trình độ thâmcanh, tập quán canh tác của vùng

+ Vùng đất tốt, có tầng canh tác dày, thành phần cơ giới nhẹ, chu kỳ luân canh 9 năm

Năm 1: Mía tơ Năm 6: Mía gốcNăm 2: Mía gốc Năm 7: Mía gốcNăm 3: Mía gốc Năm 8: Mía gốcNăm 4: Mía gốc Năm 9: Luân canhNăm 5: Mía tơ

+ Vùng đất trung bình: chu kỳ luân canh 7 năm

Năm 1: Mía tơ Năm 4: Mía tơ Năm 2: Mía gốc Năm 5: Mía gốcNăm 3: Mía gốc Năm 6: Mía gốc Năm 7: Luân canh+ Đất xấu: có thể chu kỳ là 5 năm

Năm 1: Mía tơ Năm 4: Mía gốc Năm 2: Mía gốc Năm 5: Luân canh Năm 3: Mía tơ

Năm luân canh nên trồng cây cải tạo đất, đặc biệt là cây họ đậu, không nên trồng các loạicây cùng họ, cùng loại sâu bệnh với mía Tốt nhất là trồng cây phân xanh, cày vùi làm phân hữu

cơ cho vụ mía tiếp theo

Một số công thức thường dùng cho năm luân canh:

+ Lạc xuân - Lạc thu - Mía thu đông

+ Lạc xuân - Cây phân xanh - Mía

+ Đậu tương xuân - đậu tương hè - Khoai tây - Mía

Trang 34

3.1.2 Trồng xen, trồng gối

a Trồng xen

Lý do trồng xen:

Mía là cây có khoảng cách hàng rộng 1,3-1,4m, có bộ tán lá cao Thời gian đầu (khoảng

120 ngày) cây chưa khép tán, còn khoảng trống giữa các hàng

Do đó trồng xen một số cây khác để tranh thủ không gian, thời gian, tận dụng đất đai,ánh sáng, hạn chế cỏ dại, che phủ đất, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích

Khâu kỹ thuật:

+ Để việc trồng xen có hiệu quả, không ảnh hưởng đến mía, ta chọn các cây họ đậu(ngắn ngày) như đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu đen trồng xen vào vụ xuân hoặc vụ thu, nhưngchủ yếu là vụ xuân Các giống này có thời gian sinh trưởng ngắn để thu hoạch trước khi míabước vào thời kỳ vươn cao

+ Các cây trồng xen phải trồng gọn vào giữa 2 hàng mía và phải cách hàng mía từ 40cm để có thể xới gốc, bón phân xuống chân cho mía đúng yêu cầu kỹ thuật

30-+ Phải thu hoạch xong cây xen trước khi mía chớm có lóng để hạn chế hiện tượng gốc béngọn to

+ Sau khi thu hoạch xong cây xen phải vun xới, chăm sóc kịp thời cho mía trước khibước vào mùa mưa

Thường gối mía vào khoai lang đông hoặc khoai tây, rau vụ đông Trồng mía vớikhoảng cách bình thường gối với khoai tây hoặc rau vụ đông là công thức tốt nhất vì rau vàkhoai tây là cây thâm canh thường xuyên tưới nước, bón phân, xới cỏ Cây mía hưởng độ ẩm

và lượng phân tồn dư của cây trồng trước nó, hạn chế được gió mùa đông bắc nên thời kỳ mầmsinh trưởng rất tốt

3.2 Giống mía và chuẩn bị hom trồng

3.2.1 Giống mía

Giống mía giữ một vai trò trọng yếu, là biện pháp hàng đầu trong kỹ thuật thâm canhtăng năng suất và phẩm chất mía Xác định được những giống mía tốt thích hợp với từng vùng,từng loại đất, từng thời vụ, từng giai đoạn phát triển sản xuất có ý nghĩa khoa học và kinh tếlớn lao Ngoài mục tiêu năng suất cao, chất lượng tốt, giống là biện pháp duy nhất để chống lạimột số loại sâu bệnh nguy hiểm như bệnh than, bệnh Fiji, bệnh hoa lá

Các giống mía được chia làm 2 nhóm:

+ Nhóm mía ăn: Gồm tất cả các giống mía địa phương Ví dụ: Mía thuốc, mía xương gà,mía bầu, mía sơn diệu

Đặc điểm: Bã mềm, tỉ lệ đường không cao, vị ngọt mát Chín không tập trung Trồng vớimục đích ăn tươi, không có ý nghĩa đối với công nghiệp ép đường

+ Nhóm mía ép: Là những giống mía trồng làm nguyên liệu ép cho nhà máy đường Đặcđiểm: Chín tập trung, thu hoạch 1 lần Tỷ lệ đường cao, năng suất cao Có tỉ lệ xơ, bã thích hợptrên 10% Nếu tỉ lệ xơ dưới 10% khi ép thường bị nát bã, gây kẹt trục

Trang 35

Khi xây dựng một bộ giống mía tối ưu cho một vùng nào đó trước hết phải có đủ cơ cấucủa 3 nhóm mía chính: Nhóm chín sớm, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn để rải vụ trồngtrọt và kéo dài thời vụ chế biến nhằm tận dụng tối đa sức lao động và các thiết bị hiện có trongvùng.Trong cả nhóm cần phải có vài ba giống để bổ sung ưu điểm cho nhau và khắc phụcnhược điểm cho nhau Trong thực tiễn khó có một giống mía tốt nào có thể đáp ứng được mọiyêu cầu đặt ra của sản xuất Do đó phải lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm tiêu chuẩn hàng đầu

để xem xét, lựa chọn Trong đó năng suất mía cây và hàm lượng đường được quan tâm trướchết

Ngoài ra cần phải biết được yếu tố nào là yếu tố hạn chế của từng vùng Những khó khănkhách quan nào mà khó khắc phục bằng biện pháp kỹ thuật thì phải dùng biện pháp giống Một số giống mía:

+ ROC1 (Tân Đài đường 1)

Là giống được tạo ra từ tổ hợp lai F146 và CP58-48 có nguồn gốc ở Đài Loan, TrungQuốc Đây là giống chín sớm đưa vào cơ cấu cây trồng để thu nhập vào đầu vụ ép

14,7-Thích hợp với các chân đất tốt, đủ ẩm, trình độ thâm canh cao

+ ROC10 (Tân Đài đường10)

Là giống lai do Đài Loan lai tạo, là giống chín trung bình

Thân có màu xanh mốc hoặc màu vàng mốc, lóng hình trụ, không có rãnh mầm

Sinh trưởng khỏe, tiềm năng năng suất cao 80-100 tấn/ha

Có khả năng chịu được đất chua, trồng phổ biến ở nước ta

+ My55 - 14

Là giống có nguồn gốc ở Cu Ba, đại diện cho nhóm chín muộn Giống này được nhậpnội vào Việt Nam năm 1974 và đưa ra sản xuất năm 1986 Hiện nay được trồng rất nhiều ởThanh Hóa

Thuộc nhóm to cây, mọc thẳng Thân lúc còn non có màu tím nhạt, lúc già hoặc nơi dãinắng có màu tím thẫm Lóng hình trụ hoặc hình chóp cụt

Mầm hình lưỡi mác, to và lồi, chân mầm sát vết lá, đỉnh mầm vượt quá đai sinh trưởng,cánh mầm rõ, không có rãnh mầm

Phiến lá to, mọc hơi tỏa, có 2 tai lá Nảy mầm khỏe, đẻ nhánh sớm, gọn và tập trung, táisinh trung bình

Chịu hạn khá, phù hợp với đất đồi, năng suất cao tuy nhiên thời gian giữ đường ngắn,nhiễm rệp nặng, dễ gãy đọt khi có gió bão

Do có một số nhược điểm trên, giống này cũng cần thay thế bằng giống có chất lượngđường cao, chỉ cần giữ lại ở chân đất xấu hoặc cao hạn

Trang 36

Nếu thời vụ trồng trùng với thời gian thu hoạch mía cây thì sẽ lấy hom mía ở ruộng sảnxuất để trồng, lấy hom ngọn 1, trong trường hợp thiếu mới lấy đến hom số 2

Nếu thời vụ trồng không trùng với thời gian thu hoạch cần phải có khu ruộng nhân giốngriêng từ 6-8 tháng tuổi, trước khi thu hoạch hom 1 tháng người ta bón thúc N, P lần cuối cùng

để tăng chất lượng hom giống Chặt cả cây rồi đoạn thành hom có 2 - 3 mầm đem trồng

Ruộng gốc để lại tiếp tục chăm sóc giống cho vụ sau

Trong trường hợp bình thường, hom giống chặt xong đưa trồng ngay, càng nhanh càngtốt, không phải xử lý gì cả Chỉ cần bóc bẹ để các đai rễ tiếp xúc trực tiếp với đất, để rễ ranhanh, có lợi cho việc nảy mầm

Trong trường hợp cá biệt, mía giống thu hoạch xong chưa trồng được ngay, phải bảoquản một số ngày thì trước khi trồng nên ngâm hoặc tưới nước 24h để tươi trở lại, có lợi choviệc nảy mầm

Lưu ý: Trong thực tiễn sản xuất, đầu vụ ép, từ giữa tháng 11-1 thường xảy ra hiện tượngthừa ngọn, do chưa có đất để trồng hoặc do thời tiết khô hanh chưa trồng được

Đến cuối vụ ép, từ giữa tháng 2 đến cuối tháng, lúc này có đất phá gốc trồng lại, thời tiếtsau lập xuân có mưa phùn, độ ẩm tốt, mọi người đua nhau trồng mía thì lại thiếu ngọn giống

Do đó cần có biện pháp bảo quản hom giống

Những nguyên tắc chính trong bảo quản:

+ Chống mưa (ướt) để mía không ra rễ

+ Chống nắng, chống gió để mía không bị khô héo

+ Chống nấm để ngọn lâu hỏng

+ Chống nóng (do hô hấp và lên men) để ngọn khỏi chết

Cách bảo quản:

+ Đào một hố sâu 20-30cm, rộng 1,2m, dài tùy thuộc lượng giống

+ Cuốc xốp đáy hố khoảng 5-10cm, tưới đất cho nhão sền sệt, rắc lên một lớp tro hoặcvôi bột

+ Dựng đứng bó ngọn vào hố, ấn mạnh bó ngọn cho các vết chặt ngập vào đất nhãokhoảng 5-10cm

+ Sau khi xếp ngọn đầy hố, dùng rơm rác hoặc lá mía tủ kín đống ngọn giống để nướcmưa không lọt vào được, hom giống sẽ không ra rễ Xung quanh hố có thể đắp thêm đất lên 2/3chiều cao của bó hom, để giảm lượng nước bốc từ hom mía ra ngoài môi trường, giữ cho homtươi lâu

Trong quá trình bảo quản, thỉnh thoảng kiểm tra nhiệt độ và độ ẩm của đống hom, nếunhiệt độ cao quá phải tạo một số lỗ thông hơi ở đỉnh đống hom để làm giảm nhiệt độ, độ ẩmxuống mức bình thường Trước khi trồng gỡ hết lá ở phần đỉnh đống, tưới phun nước vào đốngmỗi ngày 2 lần, sau 3 - 4 lần tưới, hom hút đủ nước thì đem trồng

3.3 Kỹ thuật rải vụ mía (Thời vụ trồng)

3.3.1 Cơ sở chung

Dựa vào yêu cầu sinh thái của cây mía, nhiệt độ cao, ánh sáng ngày dài, ẩm độ đầy đủvào thời kỳ vươn cao Cây cần nhiệt độ thấp, ẩm độ thấp vào thời kỳ chín

Cơ cấu cây trồng của vùng trồng mía

Đặc điểm của giống, chủ yếu là thời gian sinh trưởng

+ Giống chín sớm: đầu vụ

+ Giống chín muộn: cuối vụ

3.3.2 Các thời vụ trồng mía

Trang 37

a Vụ mía đông

Trồng từ tháng 11 đến tháng 1 để thu hoạch vào tháng 11 đến tháng 1 năm sau

Đặc điểm của thời vụ này:

+ Khi trồng: Thường gặp khô và rét, ảnh hưởng đến mọc mầm, mọc chậm, tỉ lệ mọcmầm không cao

+ Thời gian vươn cao từ tháng 5-11, khối lượng của cây tương đối lớn, năng suất mía câykhá cao vì thời kỳ vườn cao trùng hợp với các tháng có mưa đầy đủ, nhiệt độ cao, trời sáng,quang hợp tốt

+ Thời kỳ chín thuận lợi vì gặp điều kiện trời rét và khô, mía chín nhanh, hàm lượngđường cao

+ Mía trồng ở thời vụ này rất sẵn hom giống vì thời gian trồng trùng với thời gian thuhoạch

Biện pháp khắc phục:

+ Dùng hom hơi dài 3-4 mắt để tăng khả năng vượt hạn

+ Làm đất thật nhỏ, thật mịn, sau khi đặt hom phải lấp đất dày từ 3-4cm và phải nén đấtsau khi lấp, để các lớp đất và hom tiếp xúc tốt với nhau, tăng khả năng hút ẩm từ dưới lên đểhom khỏi bị chết khô

b Vụ mía xuân

Đây là thời vụ trồng mía phổ biến nhất của khu vực phía Bắc Thường trồng ở Miền Bắc

từ tháng 2 đến tháng 3 và thu hoạch vào tháng 2 - tháng 3 năm sau hoặc có thể thu hoạch sớmhơn Trong thời vụ này diễn biến thời tiết phức tạp nên có thể chia thành 3 nhóm

Đầu vụ:

+ Thường trồng từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 2 dương lịch Đây là những tháng thườnggặp khô và rét nhất trong năm, cá biệt một số năm có xen vào một thời gian ngắn nắng ấm và cómưa nhưng rất hiếm Lúc này nói chung là bất thuận cho việc trồng mía, gây khó khăn cho việcnảy mầm

+ Tuy nhiên đây là giữa vụ chế biến, hom giống nhiều nên buộc phải trồng để khỏi hỏngngọn và tranh thủ trồng trước khi vào vụ cấy lúa xuân, là lúc lao động rất căng thẳng

+ Thường tính từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 2 dương lịch

+ Khi trồng nhiệt độ, độ ẩm tăng dần, có mưa xuân nên mía mọc mầm khá thuận lợi, dễđảm bảo mật độ

+ Khi mía có 4-5 lá, nhiệt độ > 210C thích hợp cho việc đẻ nhánh

+ Thời gian vươn cao: Nếu chăm sóc tốt mía sẽ có lóng vào tháng 5 phù hợp với cáctháng có đủ mưa và nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh có thể cho năng suất cao

Cuối vụ:

Tính từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 3 hoặc có thể sang đầu tháng 4

+ Đây là thời vụ dễ trồng, mía nảy mầm nhanh, lượng mưa đã tăng, rất dễ đảm bảo mậtđộ

Trang 38

+ Tuy nhiên trồng lúc này thời gian sinh trưởng bị rút ngắn, thời kỳ vươn lóng khôngđược hưởng trọn vẹn những tháng có nhiệt độ cao, lượng mưa đầy đủ nên năng suất sẽ khôngcao bằng mía trồng sớm.

c.Vụ mía thu

Trồng từ tháng 7- tháng 9 năm nay để có thể thu hoạch từ cuối tháng 10 – tháng 11 nămsau Thời gian sinh trưởng của mía thu rất dài 15-16 tháng, năng suất mía rất cao, gấp 1,5 lần sovới mía vụ đông và vụ xuân Vụ mía thu cung cấp mía cây đầu vụ ép Đặc điểm:

+ Khi trồng, nhiệt độ, độ ẩm cao, mía mọc mầm nhanh, tỉ lệ mọc mầm cao nhưng rất khólàm đất và dễ bị úng nước do lượng mưa quá nhiều

+ Vào thời kỳ đẻ nhánh, từ tháng 11 – tháng 1 (qua đông) mía sinh trưởng chậm thậm chítạm ngừng sinh trưởng Sang tháng 2, tháng 3 mía sinh trưởng mạnh dần

+ Thời kỳ vươn cao từ tháng 4 – tháng 11, trong thời gian dài nên khối lượng 1 cây míalớn

+ Thời gian trồng không trùng với thời gian thu hoạch, nên thiếu hom nên cần phải dùng

1 ruộng nhân giống riêng

+ Do vươn cao sớm nên rất dễ bị đổ

+ Thời gian sinh trưởng dài, chiếm đất lâu

Thời vụ này cần chú ý các vấn đề sau:

+ Chọn đất có điều kiện thoát nước tốt

+ Xây dựng hệ thống tiêu nước hoàn chỉnh trước khi trồng, đáy mương tiêu phải sâu hơnđáy rãnh trồng càng nhiều càng tốt để thoát được cả nước ngầm

+ Phải làm đất gọn cho từng ruộng, từng khu trong thời gian ngắn nhất, cày đến đâu rạchhàng ngay đến đấy Không để một trận mưa nào xen kẽ giữa các lần làm đất (vì đất cày bừa rồigặp mưa sẽ rất lâu khô, trở ngại thời vụ

+ Trồng nông và lấp đất mỏng để tránh tình trạng thiếu không khí hom sẽ chết

+ Sau khi rạch hàng, hom đã chuẩn bị xong, nếu gặp mưa liên tục có thể trồng trên đấtướt, có thể đặt hom ngay lúc trời đang mưa nhưng không được dẫm chân xuống đáy rãnh, khinào đất ráo sẽ tiến hành lấp sau và lấp rất mỏng chỉ cần kín hom là được

3.4 Mật độ, khoảng cách trồng

3.4.1 Cơ sở chung

- Dựa vào giống

- Thời vụ: Vụ thu trồng thưa, vụ xuân trồng dày

- Đất đai: Đất tốt trồng thưa lợi dụng năng suất cá thể, đất xấu trồng dày lợi dụng năngsuất quần thể

3.4.2 Mật độ trồng

- Mía là cây có khả năng tự điều chỉnh mật độ rất mạnh, nếu thiếu cây nó sẽ đẻ nhánh rấtmạnh để bù vào (khi có đủ các điều kiện khác) Nếu thừa cây nó sẽ tự đào thải toàn bộ các câythừa để cuối cùng chỉ giữ lại một số cây nhất định

+ Các giống to cây: Mật độ hữu hiệu lúc thu hoạch 6-8 cây/m2 (60000-80000 cây/ha)+ Các giống cây bé: Mật độ hữu hiệu lúc thu hoạch khoảng 8-10 cây/m2 (80000-100000cây/ha)

- Những số liệu chỉ dẫn có tính chất tham khảo mang tính phổ biến trong điều kiệnthường

+ Khi kết thúc nảy mầm: tối ưu 4-6 mầm/m2

+ Khi kết thúc đẻ nhánh: tối ưu 10-13 mầm/m2

Trang 39

+ Đầu thời kỳ vươn lóng: 9-10 cây/m2 đối với giống to cây và 10-13 cây/m2 đối vớigiống cây bé Sau đó do sâu hại và sự đào thải tự nhiên sẽ còn lại số cây hữu hiệu lúc thu hoạchnhư đã nói ở trên.

Do đó lượng hom giống: 2-3 vạn hom/ha

Vụ thu: 2 vạn hom, lợi dụng khả năng đẻ nhánh, sinh trưởng của cây

sự biến động lớn như vậy?

+ Trước hết vì khoảng cách không phải là yếu tố quyết định năng suất cuối cùng, khôngphải là yếu tố quyết định số cây hữu hiệu

+ Lý do chủ yếu ở đây là mỗi khoảng cách đều có những ưu và khuyết điểm nhất định,tùy thuộc vào điều kiện từng vùng, từng lúc cụ thể mà vận dụng cho phù hợp

- Khoảng cách hàng hẹp (0,4-0,6m)

Ưu điểm:

+ Chóng giao tán, hạn chế cỏ dại, giảm công làm cỏ

+ Trồng dày nên mía ít đẻ nhánh, mía đủ cây sớm rút ngắn thời gian đẻ nhánh, sớmchuyển sang thời kỳ vươn lóng, tạo điều kiện cho mía cao cây hơn trồng thưa

+ ít xảy ra hiện tượng thiếu cây

+ Chống xói mòn tốt, cản được gió, đặc biệt vùng có gió lào

+ Có thể rạch hàng sâu và vun bằng máy đề phòng chống đổ

+ Có thể lưu gốc nhiều năm hơn trồng dày

+ Phù hợp với vùng đất tốt, có trình độ thâm canh cao, có trình độ cơ giới hóa cao

+ Nhược điểm:

+ Lâu giao tán, phải diệt trừ cỏ dại nhiều lần

+ Mía đẻ nhánh kéo dài hơn trồng dày, thời gian vươn lóng rút ngắn đi một ít

+ Chỉ cần 1 hom bị hỏng dễ gây ra khoảng trống trên đồng ruộng

- Cách đặt hom:

+ Đặt 1 hom, các đầu hom cách nhau 10cm (giống to cây)

Đặt 1 hom, các đầu hom nối đầu nhau (cây trung bình)

+ Có thể đặt thành 2 hàng nhưng các hom phải so le nhau

Khi đặt hom làm sao để cho hom tiếp xúc với lớp đất bột dưới đáy rãnh, không được đặthom lên lớp đất cục lổm nhổm để khi hạn hom không bị khô chết, nảy mầm tốt Nên hướng

Trang 40

mầm về 2 bên để trong quá trình mọc mầm không bị cong mầm Trường hợp đất khô đặt chếch

để tận dụng độ ẩm Sau khi đặt hom xong phải lấp bằng đất bột mịn, không được lấp các cục to

đè lên hom mía Độ dày của lớp đất phủ lên hom tùy thuộc từng điều kiện cụ thể:

+ Trong điều kiện bình thường đất không ướt hoặc không khô quá thì nên lấp khoảng 3cm

2-+ Nếu đất thừa ẩm trong thời gian hay mưa thì chỉ lấp vừa kín hom, chỉ dày khoảng 1cm.+ Nếu đất khô và thời tiết khô hanh kéo dài thì phải lấp dày từ 4-5cm Sau khi lấp xongphải dậm, nén chặt đất bằng cách đi lại nhiều lần trên lớp đất vừa lấp

+ Nếu phải trồng trên đất ướt hoặc trong mùa mưa chỉ cần lấy tay nén cho hom dính chặtvào đất (ngập 1/3 hom) và không cần lấp Khi đất khô ráo hoặc mía nảy mầm xong mới tiếnhành lấp cũng được

3.5 Bón phân cho mía

+ Bón sớm: Phải kết thúc việc bón N trước 5 tháng tuổi vì nếu bón muộn, cây chín muộnlàm giảm hàm lượng đường

+ Nếu bón N quá nhiều mà không cân đối với P và K sẽ gây khó khăn trong quá trìnhchế biến, khó lắng trong protein

Lượng N bón hiện nay: 200-250kg/ha, N, P, K theo tỉ lệ 2:1:2; 2:1:1,5 (nguyên chất)+ Bón ngầm và bón sâu để hạn chế lượng N bị mất do ánh nắng hoặc nước mưa rửa trôi.Tuyệt đối không được bón trên mặt đất sau khi mưa Nếu bón thúc, phải cày sau đó bón phânvào rãnh cày rồi lấp đất lại hoặc chọc hốc rồi bón vào hốc và lấp đất hoặc bón kết hợp với vun

3.5.2 Phân lân và cách bón

- Vai trò của lân (P):

+ Giúp cho việc tạo thành protein có mặt trong nhân tế bào và gần như kiểm soát phầnlớn các hoạt động của tế bào Lân là một trong những chất cơ bản giúp cho sự phân chia tế bào

và giúp cho các bộ phận của cây phát triển

+ Có ảnh hưởng rất lớn tới sự đẻ nhánh và sự phát triển của bộ rễ Nó kích thích bộ rễphát triển sâu rộng, đặc biệt là lớp rễ mặt; kích thích việc đẻ nhánh sớm và tập trung Đủ P sẽphát huy được tác dụng của N và K, do đó sẽ cho năng suất cao, phẩm chất tốt

+ Bón P đầy đủ sẽ tăng khả năng chịu rét, chịu hạn và sâu bệnh, xúc tiến quá trình tổnghợp đường

+ Thiếu P cây mía giảm tốc độ tăng trưởng, giảm chiều dài và đường kính của thân, giảmtốc độ hình thành lá và lóng mía Cây mía sẽ đẻ nhánh chậm thậm chí không đẻ nhánh, bộ rễ

Ngày đăng: 12/07/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w