Bài giảng Kinh tế ngoại thương 1
Trang 1CHƯƠNG I :
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN
NGOẠI THƯƠNG
I/ CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1 Khái niệm về môn học:
Có nhiều khái niệm khác nhau về ngoại thương (International Trades),
nhưng khái niệm nói lên chức năng chính thì "Ngoại thương là việc mua, bán hàng
hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia" Vai trò của Ngoại thương là cầu nối giũa
cung và cầu của hàng hóa -dịch vụ trong và ngoài nước
Dưới khía cạnh kinh tế học , ngoại thương được xem như là một quá trình
sản xuất gián tiếp để sản xuất hàng hóa dịch vụ trong một quốc gia
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời (con đường tơ lụa )
Trong thời phong kiến, do hoạt động kinh tế tự nhiên còn nhiều chi phối , nên
ngoại thương chỉ phát triển với qui mô nhỏ, chủ yếu cho tiêu dùng cá nhân các vua
chúa
Ngoại thương chỉ phát triển mạnh trong thời kỳ phát triển tư bản, và trỏ
thành động lực phát triển quan trọng của phương thức sản xuất tư bản
Trong hoạt động ngoại thương có xuất khẩu và nhập khẩu
Ngày nay, trong nền kinh tế toàn cầu, sản xuất được quốc tế hóa, các quốc
gia muốn tồn tại và phát triển đều phải tham gia vào quá trình phân công lao động
quốc tế Ngoại thương không đơn thuần là mua bán quốc tế nữa mà cùng với các
hoạt động kinh tế đối ngoại khác tham gia vào quá trình phân công lao động quốc
tế
2 Chức năng của Ngoại thương:
a Tạo vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước
b Chuyển hóa giá trị sử dụng, làm thay đổi cơ cấu của tổng sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân
c Góp phần nâng cao hiệu quả nền kinh tế bằng việc tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho sản xuất, kinh doanh
II/ CÁC HỌC THUYẾT VỀ NGOẠI THƯƠNG
Nhắc lại các lý thuyết cơ bản đã học:
1 Thuyết trọng thương: (Mercantilism) phát triển ở Châu Âu từ cuối thế
kỷ 15 và thúc vào thế kỷ 18, giai đoạn này phương thức sản xuất phong kiến tan rã
và chủ nghĩa tư bản hình thành, học thuyết trọng thương do nhiều nhà nghiên cứu
Trang 2Anh , Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cùng phát triễn Đây là thời kỳ mà vàng là phương tiện giao dịch chính trên thế giới, học thuyết này như tên gọi xem trọng viêc giao dịch mua bán với nước ngoài với các tư tưởng chính :
* Sự giàu có của một nước được phản ánh qua lượng quí kim ( vàng , bạc,
châu báu ) mà nước đó nắm giữ
* Phát triển buôn bán với nước ngoài để gia tăng tiền tệ Đề cao vấn đề xuất siêu
* Chấp nhận lợi nhuận bằng trao đổi không ngang giá : trong trao đổi phải
có một bên thắng và một bên thua " dân tộc này làm giàu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc kia "
Đề cao vai trò của nhà nước thông qua việc bảo hộ bằng thuế quan, hạn ngạch, duy trì xuất siêu
Cho rằng lao động là vấn đề chính của sản xuất, cần phải hạ thấp lương
công nhân để giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh
Khuyết điểm của học thuyết này : do sự độc quyền ngoại thương và những giới hạn nghiêm ngặt đối với nhập khẩu đã làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu của một quốc gia trong hoạt động mậu dịch quốc tế Hơn nữa, từ đầu thế kỷ 18 trình độ kỹ thuật sản xuất và hệ thống thị trường đã phát triển nhanh chóng mà thuyết trọng thương không giải thích được
2 Học thuyết lợi thế tuyệt đối (Theory of Absolute Advantage) của Adam Smith: Người Anh (1723-1790) với tác phẩm " Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của các quốc gia " được xem như là cha đẻ của kinh tế học:
Theo Adam Smith sự giàu có của mỗi quốc gia được phản ánh qua năng lực sản xuất chứ không phải do số quí kim nắm giữ
Vd Chi phí lao động (giờ) cho sản xuất một đơn vị sản phẩm :
Do lao động là chi phí duy nhất của sản xuất, QG"A" có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất quần áo và QG"B" có lợi thế trong sản xuất lương thực "A" nên tập trung về Quần áo và "B" nên tập trung về lương thực, sau đó trao đổi với nhau
* Mỗi quốc gia nên sản xuất những ngành mà họ có lợi thế tuyệt đối về chi phí lao động thấp, tài nguyên, đất đai, khí hậïu
* Các quốc gia nên xuất khẩu các hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu các hàng hóa mà họ không có lợi thế tuyệt đối để cả hai nước đều có lợi ích
Nhưng lý thuyết của Adam Smith đã không lý giải được tại sao mậu dịch
Trang 3quốc tế vẫn có thể xãy ra giữa hai nước mà cả hai đều không có lợi thế tuyết đối về sản phẩm nào cả
3 Thuyết lợi thế so sánh (Theory of Comparative Advantage) của David Ricardo : Người Anh (1772-1823) với tác phẩm nổi tiếng :"Những nguyên lý kinh tế, chính trị và thuế"
* Mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Phát triển ngoại thương pho phép mởû rộâng khả năng tiêu dùng, chỉ nên chuyên môn hóa vào một số sản phẩm nhất định, sau đó lấy sản phẩm trao đổi để nhập các hàng hóa khác
Vd Chi phí lao động (giờ) cho sản xuất một đơn vị sản phẩm :
Trong trường hợp này cho thấy "A" có lợi thế tuyệt đối trong "sản xuất" quần áo và cả lương thực , Tại QG"A" giá quần áo = 1/2 giá lương thực do đó nêú nhập khẩu với tỷ lệ > 0.5 đv lương thực đổi lấy 1 đv quần áo thì vẫn có lợi Tại QG
"B" giá một đơn vị quần áo bằng một đơn vị lương thực, nên nếu nhập khẩu một đơn vị quần áo đổi < 1 đv lương thực thì cũng có lợi trong thương mại
* Thương mại quốc tế không yêu cầu sự khác nhau về lợi thế tuyệt đối, vẫn có thể xảy ra khi có lợi thế so sánh Lợi thế so sánh tồn tại bất cứ nơi nào
mà tương quan về lao động cho mỗi sản phẩm khác nhau giữa hai hàng hóa
* Các quốc gia có thể chuyên môn hóa và xuất khẩu sản phẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối so với nước khác nhưng lại có lợi thế tuyệt đối lớn hơn giữa hai sản phẩm trong nước
Lý thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo được xem như là lý luận cơ bản của thương mại quốc tế Tuy vậy các nhà kinh tế thời bây giờ vẩn chưa giải thích rõ được lợi thế so sánh của mỗi quốc gia là gì , khi chỉ dựa vào chi phí lao động để tính giá trị sản phẩm và các tính toán trên cơ sở hàng đổi hàng chứ không theo căn bản giá cả quốc tế và cơ cấu tiêu dùng của mỗi quốc gia
4 Thuyết tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất của Heckscher và Ohlin Trong tác phẩm :"Thương mại liên khu vực và quốc tế" vào năm 1933, hai nhà
kinh tế học Thụy Điển là Eli Hecksher và Bertil Ohlin đã dựa vào qui luật tỷ lệ cân đối của các yếu tố sản xuất để cố gắng giải thích về nguồn gốc phát sinh ra lợi thế so sánh : trong một nền kinh tế mở cửa,mỗi nước đều hướng đến chuyên môn
Trang 4hóa các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất
Thừa nhận rằng mỗi sản phẩm có một sự liên kết khác nhau các yếu tố về vốn,lao động, tài nguyên, đất đai cũng như có những sự khác nhau về chuyên môn hóa Cơ sở cho sự trao đổi buôn bán quốc tế theo H-O là lợi thế
tương đối Hệ số biểu thị cho sự so sánh tương đối này là hệ số lợi thế so sánh được viết tắt là RCA (Rate of Comperetive Advantage)
Vd : tA : giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm A của nước X
Tx : Tổng kim ngạch xuất khẩu của nước X trong năm
Tx : Tổng kim ngạch xuất khẩu của nước X trong năm
WA : Giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm A của thế giới
W : Giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới trong năm
Nếu RCA của một sản phẩmn nhỏ hơn 1, tức là sản phẩm đó không có lợi thế so sánh; không nên xuất khẩu mà nên nhập khẩu Những sản phẩm có lợi thế
so sánh rất cao là những sản phẩm có hệ số RCA > 4.25, những sản phẩm có lợi thế so sánh cao có RCA từ 2.5 đến 4.25
Một số lợi thế so sánh của các nước trong khu vực :
Máy văn phòng 6.17 Sản phẩm du lịch, túi
sách 4.77
Thiết bị thông tin và
máy ghi âm 4.27 Giày dép 4.40
Quần áo 3.17
Sản phẩm khoáng sản phi kim loại 2.93
Hàng da 2.89
Đồ điện 2.25 Thiết bị thông tin và
máy ghi âm 2.09
Hóa chất hữu cơ 1.05 Đồ gia dụng 2.05
=RCA
Trang 5Philippines Malaysia
Quần áo 6.11 Thiết bị thông tin và
máy ghi âm 6.22
Đồ gỗ 4.20 Đồ điện 4.46
Đồ điện 3.25 Đồ gỗ 3.77
Đồ gia dụng 3.17 Quần áo 2.53
Sản phẩm du lịch,
túi sách 2.68
Thiết bị thông tin và
máy ghi âm 1.48 Hàng da 1.09
Giày dép 1.46 Các loại hóa chất 1.03
Máy ảnh, sản phẩm
quang học,đồng hồ 1.28
Nguồn OECD 1990
Tuy nhiên, học thuyết H-O vẫn có những hạn chế nhất định, nó không giải thích được các hiện tượng trong thương mại như có sự khác biệt về nhu cầu, sở thích hàng hóa giữa các khu vực, có sự cạnh tranh không hoàn hảo ( có sự tham dự của nhà nước ), chi phí vận tải, bảo hiểm
5 Thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế : (International Product Life Cycle Theory / IPLC) do Raymond Vernon đưa ra từ giữa thập niên 60, liên quan đến những giai đoạn sản xuất của sản phẩm với những bí quyết sản xuất mới
Sản phẩm được sản xuất đầu tiên tạo công ty mẹ, sau đó là tại các công ty
con và cuối cùng là ở tại nơi nào trên thế giới có chi phí thấp nhất Đây là lý do vì sao một sản phẩm bắt đầu như một sự xuất khẩu của quốc gia thường kết cuộc trở thành một sự nhập khẩu
Học thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế tập trung vào việc mở rộng thị trường và đổi mới kỹ thuật, những khái niệm đó không được nhấn mạnh trong lợi thế so sánh
Hai nguyên lý quan trong của học thuyết IPLC: (1) Kỹ thuật là một yếu tố chính để sáng tạo và phát triển sản phẩm mới (2) Qui mô và cấu trúc thị trường là quan trọng trong việc quyết định mô hình thương mại
Về những giai đoạn của sản phẩm : có 3 giai đoạn:
- Sản phẩm mới (new product) : là sản phẩm cải tiến và độc đáo trong một
số thuộc tính Ban đầu được tiêu thụ ở nước nhà, giá không đàn hồi, lợi nhuận cao Khi sản xuất gia tăng và vượt quá sự tiêu thụ ở nước nhà việc xuất khẩu sẽ bắt đầu
- Sản phẩm trưởng thành (Mature phrase ): khi bước vào giai đoạn
trưởng thành trong chu kỳ sống, tỷ lệ mức bán tăng nhanh do xuất khẩu, cùng lúc
Trang 6đó những đối thủ cạnh tranh ở những quốc gia khác sẽ thực hiện sản phẩm thay thế để đổi chổ sản phẩm đầu tiên Công ty phát triển sản phẩm đầu tiên phải thay đổi chiến thuật từ sản xuất qua bảo vệ thị trường, đồng thời cũng chú ý cung cấp cho những thị trường kém phát triển hơn
- Sản phẩm vào giai đoạn tiêu chuẩn hóa (the standalized product stage), kỹ thuật trở nên phổ biến và có thể tiếp xúc, sản xuất có hướng chuyển
dịch sang những nước kém phát triển và nước ngoài
6 Những vấn đề quan trọng khác :
Có những vấn đề không nằm trong sự cân nhắc của các yếu tố trên, nhưng ảnh hưởng đến thương mại thế giới :
- Những qui định của chính phủ giới hạn thương mại với các nước khác vì lý
do chính trị
- Giá trị tiền tệ lưu hành : Đồng tiền lên giá hoặc giảm giá so với một đồng tiền khác sẽ làm biến đổi lợi nhuận, làm giới hạn hoặc có lợi thế hơn trong giao dịch mua bán với nước ngoài
- Thị hiếu tiêu thụ : thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần về giá cả Một số người sẽ trả giá cao hơn cho những sản phẩm có danh tiếng, chất lượng tin tưởng và vì nhiều lý do vật chất , tâm lý khác Thị hiếu cá nhân ảnh hưởng nhiều đến quyết định chọn mua sản phẩm của người tiêu dùng
III/ LỢI ÍCH CỦA NGOẠI THƯƠNG ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1.Trên phương diện vĩ mô:
Ngoại thương làm tăng lượng hàng hóa tiêu dùng trong nước, tạo điều kiện đễ người tiêu dùng có thể sử dụng nhiều hơn lượng hàng hóa mà quốc gia sản xuất được Ngoài ra ngoại thương còn tác động đến nền kinh tế thông qua các tác động tích cực sau:
- Quốc gia đa dạng được sản phẩm, phân tán rủi ro
- Đạt được hiệu quả kinh tế nhờ sản xuất qui mô hơn trước
- Thúc đẩy cạnh tranh, hạn chế sức ỳ của sản xuất nội địa
- Hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh, phân phối Loại bỏ công ty yếu
- Đa dạng sản phẩm quốc tế, lợi ích cho người tiêu dùng
2 Trên phương diện vi mô:
Với các công ty, xí nghiệp, ngoại thương là yếu tố cần thiết để cân bằng nguyên liệu, vật tư , sản phẩm làm ra Doanh nghiệp có nhiều cách lựa chon để sản xuất kinh doanh hiệu quả nhất, ngoài ra ngoại thương còn tác động đến các vấn đề sau:
- Sử dụng tối đa năng lực sản xuất kinh doanh
- Giảm chi phí, tăng lợi nhuận khi sản xuất nhiều sản phẩm
- Phân tán rủi ro, giảm thiểu bất lợi nhờ có nhiều thị trường
- Có cơ hội giao lưu, học tập, cơ hội nhập khẩu tốt hơn,
Trang 7III/ MỐI QUAN HỆ CỦA NGOẠI THƯƠNG VÀ CÁC LĨNH VỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ
1.Ngoại thương và sản xuất:
Ngoại thương ra đời là kết quả của sản xuất phát triển, đồng thời ngoại thương cũng là tiền đề cho sự phát triển của sản xuất
Thông qua xuất nhập khẩu, các sản phẩm như nguyên liệu, sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm tiêu dùng của công nghiệp nhẹ được xuất đi và nhập về máy móc, thiết bị, nguyên liệu mới phục vụ cho quá trình phát triển tiếp theo của nền kinh tế
Sự phát triển về thương mại sẽ làm cho đất đai, lao động của các quốc gia được sử dụng triệt để hơn, các sản phẩm mang tính đặc thù của môi trường điều kiện địa phương (như càphê, cao su, dầu )được sản xuất nhiều phục vụ cho xuất khẩu, còn nếu không nó chỉ là dạng tiềm năng
Phát triển xuất nhập khẩu cũng góp phần tăng ngân sách quốc gia (thuế), do đó chính phủ có thêm ngân quĩ tài trợ cho các ngành khác,
2.Ngoại thương với tiêu dùng :
Tiêu dùng là mục đích của sản xuất , tiêu dùng là một yếu tố nhằm tái tạo lại sức lao động cho xã hội Tiêu dùng vừa chịu sự tác động của sản xuất, vừa là yếu tố ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất quốc gia
Ngoại thương tác động đến tiêu dùng trên bÂn yếu tố sau :
a Ngoại thương nhập khẩu những tư liệu sản xuất cần thiết để phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng trong nước
b Ngoại thương trực tiếp nhập khẩu những hàng hóa tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ
c Thu nhập càng cao, tiêu dùng phát triển , ngoại thương lại cần phải đáp ứng thêm nhu cầu
3.Ngoại thương với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài :
Thu hút vốn đầu tư, hay đầu tư ra nước ngoài, bên cạnh việc chuyển vốn hoạt động từ quốc gia này sang các quốc gia khác còn mang tính chất quan trọng với sự hình thành tổng lượng vốn kinh doanh cần thiết cho các doanh nghiệp
Thu hút vốn đàu tư nước ngoài có thể hạn chế hay thúc đẩy ngoại thương, nếu không định hướng trước, không nằm vào qui mô phát triễn hàng xuất khẩu thì khả năng nhập khẩu sẽ bị thu hẹp,
Việt Nam cũng đã ban hành luật đầu tư cho phép các doanh nghiệp Viêt Nam đàu tư ra nước ngoài, trong quá trình hội nhập Việt Nam rồi cũng sẽ có các công ty đa quốc., các cơ sở tại nước ngoài hình thành sẽ hỗ trơ cho công ty trong nước trong việc chon lựa và phân phối hàng xuất khẩu
Trang 8CHƯƠNG II :
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
I/ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 -1954
Thời kỳ này có chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp , mục đích chính là chống lại sự bao vây về kinh tế của Pháp ờ những vùng tự do và thúc đẩy hoạt động giao lưu kinh tế giữa bên trong vùng tự do và vùng tạm chiếm
Cuối năm 1950, nhờ giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn, tiếp cận với Trung Quốc, mở cửa cho việc lập quan hệ thương mại với các nước phía Bắc
Năm 1952 Chính phủ VNDCCH ký hiệp định thương mại với Trung Quốc, năm 1953 ký hiệp định về mậu dịch tiển ngạch biên giới, trong đó qui định việc trao đổi hàng hóa của người dân các tỉnh biên giới Việt- Trung
Thời kỳ này Việt Nam bán cho Trung quốc nông lâm thổ sản như chè, sơn gỗ, hoa quả, quế, sa nhân, trâu bò và Việt Nam nhập lại máy móc, dụng cụ, sắt thép, vãi sợi, hóa chất, hàng tiêu dùng, dược phẩm …
Ngoài việc thương mại, giai đoạn này Trung quốc còn là nước viện trợ một số vật tư hàng hóa cho Việt Nam
II/ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM THỜI KỲ 1955 -1975
1.Chính sách quản lý ngoại thương của Việt nam trong giai đoạn
1955-1975
Đây là thời kỳ vừa cải tạo và xây dựng kinh tế phát triển văn hóatheo CNXH ở miền Bắc, vừa phải tiến hành chiến tranh bảo vệ đất nước nên có nhiều gam go thử thách , sự phát triển Ngoại thương có thể chia làm hai giai đoạn :
* Giai đoạn 1 : Mở rộng hợp tác mua bán quốc tế phục vụ cho việc khôi phục kinh tế miền Bắc và chuẩn bị cho chiến tranh chi viện tại miền Nam
Từ năm 1945 , VNDCCH đã ký với các nước Liên Xô, Trung Quốc và các nước XÃ HỘI CHỦ NGHĨA khác các hiệp định về viện trợ hàng hóa và kỹ thuật nhằm giúp Việt Nam khắc phục hậu quả của chiến tranh và mở đầu sự hợp tác toàn diện với các nước anh em
Đến năm 1964 miền Bắc đã có quan hệ thương mại với 40 nước Xuất khẩu gia đoạn này mới chỉ đạt khoản 80 triệu Rúp, thường xuất khẩu chỉ đạt 50 nhập khẩu, phần còn lại nhờ cấp tín dụng từ các nước XÃ HỘI CHỦ NGHĨA anh em
* Giai đoạn 2 : Duy trì hoạt động ngoại thương trong thời chiến
Kinh tế miền Bắc chuyển từ hoà bình sang chiến tranh Nhiệm vụ chính của Noại thương trong thời gian này là tranh thủ tối đa sự viện trợ của các nước X HCN, tập trung vào việc nhận viện trợ để đua hàng hóa về trong nươc
Trang 9Các nước có quan hệ buôn bán giảm chhỉ còn 27 nước vào năm 1974 , Nhập khẩu tăng nhanh nhưng xuất khẩu giảm đáng kể nhập siêu lớn
Viện trợ không hoàn lại của chiếm phần lớn trong cơ cấu hàng nhập, viện trợ từ 1 triệu Rup-Dollar mỗi năm (1964) tăng lên 419 triệu Rup-Dolar vào năm 1975 Sau chiến tranh 1975, Liên xô và các nước XHCN đã xoá cho Việt Nam khoản nợ từ 1955-1975 (gần 5.5 tỷ Rup-Dollar)
III/ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM THỜI KỲ SAU 1975
1.Chính sách quản lý ngoại thương của Việt nam trong giai đoạn
Mọi hoạt động xuất nhập khẩu được chỉ huy thống nhất, và trực tiếp kiểm soát bằng hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh kinh tế Do không phân biệt rõ giữa quản lý nhà nước và quản lý kinh tế ngoại thương nên không phát huy được những hiệu quả các nguồn lực kinh tế
2 Chính sách quản lý ngoại thương của việt nam trong giai đoạn sau 1980
Việt nam phát triển theo mô hình kinh tế mở có sự điều tiết của nhà nước, chính sách NT đang áp dụng là chính sách hướng về xuất khẩu
Cơ chế quản lý NT thay đổi từ năm 1980 đến nay với các cột mốc sau :
* Nghị định 64/HĐBT ngày 10/6/1989 về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
* Nghị định 114/HĐBT ngày 07/4/1992 về chế độ và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu theo hướng tự do hóa, mở rộng quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
* Cơ chế quản lý Xuất Nhập Khẩu hiện nay, được điều tiết bởi luật Thương Mại , được Quốc Hội thông qua 10/5/1997.và Nghị Định 57/NĐ-CP ban hành 31/7/1998 : "Qui định chi tiết thi hành luật Thương Mại về xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài"
* Nghị định 44/2001/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ dung một số điều của nghị định 57 (1998)
Trang 10* Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 10/4/2001 về quản lý xuát khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001-2005
Ngoài ra, hoạt động XNK còn chịu điều tiết bởi các luật như Luật về Thuế XNK, Luật về Thuế TVA, Thuế Thu Nhập DN, Luật đầu tư FDI và các luật khác
Những điểm chính yếu của các luật này là :
# Cơ chế về quyền hoạt động kinh doanh XNK của doanh nghiệp : "
thương nhân được hoạt động thương mại với nước ngoài nếu có đủ các điều kiện do chính phủ qui định sau khi đã đăng ký với cơ quan nhà nước quyền có thẩm quyền (luật TM)
# Thương nhân được quyền xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh (NĐ57)
* Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 qui định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động mua
bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài ( xem phần phụ lục)
2.1 Những mặt hàng cấm XK,NK:
Cấm XK (6 mặt hàng )
-Vũ khí , đạn dược, thiết bị quân sự,
- Đồ cổ
- Các loại ma túy
- Hóa chất độc
- Gỗ tròn, gỗ xẻ,gỗ bóc, các sản phẩm gỗ sản xuất từ nhóm IA và bán tinh chế sản xuất từ nhóm IIA theo NĐ 18/HDBT/1992
- Các loại động vật hoang dã quí hiếm
Cấm NK (9 mặt hàng )
Vũ khí , đạn dược, thiết bị quân sự,
- Các loại ma túy
- Hóa chất độc
- Các loại văn hóa phẩm đồi trụy
- Pháo các loại, đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục nhân cách, trật tự an toàn xã hội
- Thuốc lá điếu( trừ hành lý cá nhân theo định lượng)
- Hàng tiêu dùng đã qua sử dụng.( trừ hành lý ,hàng hóa cá nhân các tổ chức ngoại giao và tổ chức quốc tế )
- Ô tô, phương tiện tự hành tay lái nghịch
Trang 11- Phụ tùng đã qua sử dụng của các loại ô tô,xe hai bánh, khung gầm xe ô tô
2.2 Các hàng hóa Xuất Nhập Khẩu có điều kiện
Từ tháng 7/1998, theo NĐ 57/1998/NĐ-CP , chính phủ Việät Nam bỏ giấy
phép qui định quyền kinh doanh Xuất nhập khẩu mà theo đó : thương nhân được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Hoạt động XUẤT NHẬP KHẨU ngày càng được thông thoáng hơn, Năm
1999 có 13 mặt hàng cần có giấy phép của Bộ Thương Mại , vào năm 2000 chỉ còn
9 nhóm hàng cần có giấy phép của bộ (Theo Quyết định số 242/1999/QĐ-TTg)
Hàng Xuất khẩu, Nhập khẩu cần có giấy phép của Bộ Thương Mại:
- 1 Gạch lát ceramic và grannit kích thước nhỏ hơn 400x400mm
- 2 Xi măng Pooclandtheo tiêu chuẩn B xây dựng công bố
- 3 Kinh xây dựng có độ dầy từ 1.5 đến 12mm
- 4 Giấy in báo (4801), giấy viết không tráng (4802)
- 5 Một số chủng loại thép xây dựng
- 6 Dầu thực vật tinh chế dạng lỏng
- 7 Đường tinh luyện, đường thô nguyên liệu
- 8 Xe gắn máy hai bánh, linh kiện lắp ráp đồng bộ SKD,CKD
- 9 Xe ô tô du lịch 16 chổ trở xuống
Hàng hóa được điều chỉnh bởi hạn ngạch:
- Gạo và phân bón
- Hàng hóa do các tổ chức kinh tế nước ngoài ấn định hạn ngạch với Viật Nam (dệt may )
Ngày 4/4/2001 chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định 46/ TTg về cơ chế điều hàng Xuất nhập khẩu dài hạn 2001-2005.Trong đó lần đầu
2001/QĐ-tiên Việt Nam có một cơ chế điều hành Xuất nhập khẩu dài hạn và việc quản lý xuất nhập khẩu chủ yếu bằng thuế chứ không phải bằng giấy phép hay các biện pháp phi thuế quan mang tính hành chính như trứớc đây
Với gạo và phân bón đã bỏ hạn ngạch và đầu mối xuất khẩu, nhưng chính phủ vẩn có quyền xem xét những quyết định cần thiết can thiệp để bảo đảm an toàn lương thực và bình ổn thị trường
Quyết định 46 xoá bỏ giấy phép nhập khẩu một số hàng hóa ( thực chất là một hình thức cấm nhập trước đây) làm một số ngành quen dựa vào hình thức bảo hộ phi thuế quan này phải nổ lực hơn :
* Tháng 5/2001 bỏ giấy phép nhập gạch ceramic và clinker
Trang 12* Tháng 12/2001 bỏ giấy phép nhập kính xây dựng, thép xây dựng , ống thép , dầu thực vật
* Tháng 12/2002 bỏ giấy phép nhập ciment, xe máy
Như vậy các ngành chỉ được bảo hộ bằng thuế hiện rất cao như giấy in báo , giấy viết :40-50% , thep xây dựng 40%, kính xây dựng 40% tuy nhiên, mức bảo hộ này chỉ kéo dài đến 2003, sau 2003 theo lộ trình giảm thuế để gia nhập khu mậu dịch tự do AFTA, thuế suất sẽ giảm dần đễ còn 5% vào năm 2006
Cũng theo QĐ 46, nhà nước chỉ sử dụng một số công cụ quản lý Xuất nhập khẩu gồm :hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối , thuế chống bán phá giá thuế chống trợ cấp, thuế chống chuyển giá
2.3 Thuế quan
Chỉ áp dụng chủ yếu trên hàng nhập khẩu, mức bảo hộ mậu dịch ngày càng giảm theo tinh thần và yêu cầu của CEPT mà Việt Nam cam đoan khi hội nhập vào AFTA
2.4 Thủ tục hành chánh
Thủ tục quản lý đã đơn giản hóa rất nhiều để tạo điều kiện cho hội nhập kinh tế khu vực, cũng trong tinh thần thông thoáng cũa Luật Doanh Nghiệp, ngành Hải Quan đã cải tiến mọi thủ tục rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa cho bằng các nước ASEAN trong thời gian tới
IV/ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001-2010
Theo tài liệu minh họa (Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001-2010 và quan điểm phát triển) và (Mục tiêu cụ thể của chiến lược XUẤT NHẬP KHẨU thời kỳ 2001-2010)
Lưu ý thường có ba mô hình phát triển ngoại thương ở các nước phát triển sau chiên tranh thế giới II:
a Chiến luợc xuất khẩn sản phẩm thô
b Chiến lược thay thế hàng nhập khẩu (cl hướng nội)
c Chiến lược hướng về xuất khẩu (cl hướng ngooại)