Cây "cứt lợn" còn có tên gọi hoắc hương kế, bạch hoa thảo, bạch hoa hương thảo, cỏ hôi, tiêu viêm thảo.. Ðược dùng toàn cây làm thuốc.. Thường được dùng chữa các bệnh viêm nhiễm đường hô
Trang 1Cây hoa "cứt lợn"
Trang 2Cây "cứt lợn" còn có tên gọi hoắc hương kế, bạch hoa thảo, bạch hoa hương thảo, cỏ hôi, tiêu viêm thảo Tên khoa học là ageratum conyzoides L., thuộc họ cúc asteraceae Là cây thảo sống hàng năm, cao 30-50cm, thân thẳng, phân nhánh; lá mọc đối, có lông trắng; hoa màu tím hoặc trắng Thường mọc hoang ở nhiều nơi Ðược dùng toàn cây làm thuốc
Theo đông y, cây cứt lợn có vị cay, hơi đắng, tính mát Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng, cầm máu, trừ sỏi Thường được dùng chữa các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, viêm họng, viêm dạ dày, đau bụng, băng lậu, sỏi thận, sỏi bàng quang Ðược dùng chữa một số bệnh ung thư cổ
tử cung, ung thư dạ dày Dùng ngoài để chữa eczema, chốc đầu, viêm xoang mũi, dị ứng cấp, rong huyết sau đẻ Nhân dân ta thường dùng cây này nấu nước gội đầu cùng với bồ kết
Sau đây là một số bài thuốc thường dùng để chữa bệnh:
6g, cam thảo đất 16g Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần
cam thảo đất 16g Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần
Trang 3 Chữa sỏi tiết niệu: cỏ cứt lợn 20g, kim tiền thảo 16g, râu ngô
12g, mã đề 20g, cam thảo đất 16g Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần
30-50g, vò nát, vắt lấy nước uống liên tục trong 3-4 ngày
nước tẩm vào bông, nhét vào lỗ mũi Có thể chế thành thuốc sắc sẵn để dùng
rửa tổn thương, ngày 1-2 lần
ngựa 12g, cam thảo đất 16g Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần
nhọ nồi 30g, kim nữu khấu 30g, dạ hương ngưu 30g, các vị giã nát, thêm nước cây ma phong 15ml, uống sau bữa ăn 1-2 lần (Theo tài liệu của Trung Quốc)
Chú ý: tránh nhầm với cây ngũ sắc cũng được gọi là cây cứt lợn