Sản xuất và ứng dụng phèn chua Trong Đông y gọi phèn chua là Bạch phàn là chất có màu trắng, vị chua chát được hình thành do quá trình nướng mà ra phàn có nghĩa là nướng.. Tùy theo điều
Trang 1Sản xuất và ứng dụng phèn chua
Trong Đông y gọi phèn chua
là Bạch phàn là chất có màu trắng, vị chua chát được hình thành do quá trình nướng mà ra (phàn có nghĩa là nướng) Trong kỹ thuật, Phèn chua thuộc loại phèn nhôm
có thành phần chính là nhôm sunfat
Công thức chung của phèn nhôm sunfat là
Al2(SO4)3.nH2O, thường gặp dạng Al2(SO4)3.18H2O chứa 15% Al2O3 Tùy theo điều kiện sản xuất, có thể thu được nhiều loại tinh thể nhôm sunfat hydrat hóa khác nhau trong đó giá trị của n có thể là 18,24,…Nếu chỉ có nhôm sunfat thì là phèn đơn và khi cho thêm Kali sunfat hoặc Amon Sunfat thì gọi là phèn kép
Khi cho thêm kali sunfat vào quá trình phản ứng, ta thu được nhôm kali sunfat có công thức phân tử là
Al2(SO4)3.K2SO4.24H2O hay AlK(SO4)2 12H2O Trường hợp dùng amôn sunfat, thu được phèn kép nhôm amôn (ammonia alum) có công thức phân tử là
Al2(SO4)3.(NH4)2SO4.24H2O hay Al(NH4)(SO4)2.12H2O
Ở Việt Nam, tiêu chuẩn chất lượng của phèn chua được công bố bởi đơn vị sản xuất, chỉ tiêu chất lượng chủ yếu
là hàm lượng Al2O3 , thường quy định chung là Al2O3 > 10,3%
Trên thị trường, sản phẩm phèn chua của nhà máy hóa chất Tân Bình có các chỉ tiêu chất lượng như sau:
Trang 2tiêu tiêu
Nhôm Sunfat kỹ
thuật loại 17%
Al2O3(phèn đơn)
Công thức:
Al2(SO4)3 14H2O
Sản xuất từ nguyên
liệu Hydroxyt Nhôm
và Axit Sunfuric kỹ
thuật
Công dụng: Sản
phẩm dùng trong
ngành sản xuất giấy,
lọc nước, …
Ngoại quan
Al2O3 Cặn không tan
Fe2O3
H2SO4tự
do
As2O3
Dạng tấm, mảnh có kích thước không xác định Có màu trắng hay vàng đục Min 17
% Max 0,1
% Max 0,02 % Max 0,1
% Max 0,0001% Nhôm Kali (hoặc
Amon) Sunfat kỹ
thuật (phèn kép)
Công thức hóa học :
-Phèn Kali Sunfat :
Al2(SO4)3.K2SO4
24H2O
Ngoại quan
Al2O3
Dạng cục, miếng
có kích thước không xác
Trang 3-Phèn Amôn Sunfat :
Al2(SO4)3.(NH4)2SO4
24H2O
+ Phèn Kali Sunfat:
Sản xuất từ nguyên
liệu Hydroxyt Nhôm,
Axit Sunfuric, và
Kali Sunfat
+ Phèn Amôn Sunfat:
Sản xuất từ nguyên
liệu Hydroxyt Nhôm,
Axit Sunfuric và
Amôn Sunfat
Công dụng: Sản
phẩm dùng trong
công nghệ xử lý
nước, chế biến hải
sản
Cặn không tan
Fe2O3pH dung dịch 5%
định
Min 10,3 % Max 0,1
% Max 0,2
%
3 – 4
Phèn đơn nhôm sunfat được sản xuất từ axit sunfuric và một vật liệu chứa nhôm như đất sét, cao lanh, quặng bôxit, nhôm hydroxit Một vài cơ sở nhỏ sản xuất phèn chua từ axit sunfuric và nhôm phế liệu Khi sử dụng nhôm hydroxit, sản phẩm thu được có chất lượng tốt nhất: hàm lượng nhôm oxit Al2O3 có thể đạt tới 17% đồng thời hàm lượng sắt oxit Fe2O3 có thể dưới 0,04% Khi dùng nguyên liệu chứa nhôm khác, chất lượng sản phẩm thường thấp hơn và tiêu hao nguyên vật liệu
thường cao hơn Ở miền Bắc nước ta, sản xuất phèn đơn thường đi từ cao lanh; còn ở miền Nam, lại sử dụng nguyên liệu nhôm hydroxit và chất lượng các loại phèn nhôm sản xuất trong nước tương đương với chất lượng các sản phẩm cùng chủng loại của nước ngoài Để sản
Trang 4xuất phèn kép, người ta cho thêm Kali sunfat hoặc Amon sunfat vào quá trình phản ứng
Phèn chua có nhiều tác dụng trong đông y chủ yếu là sát trùng, trừ nấm, trị nhọt,
Trong kỹ thuật, phèn chua dùng làm chất đông tụ trong quá trình xử lý nước
Đông tụ là quá trình thô hóa các hạt phân tán và chất nhũ tương dưới ảnh hưởng của chất bổ sung – Đó là chất đông tụ Chất đông tụ (thường là phèn nhôm) sẽ thực hiện phản ứng thuỷ phân với nước tạo thành các bông hydroxit kim loại có khả năng hút các hạt lơ lửng trong nước rơi theo lực trọng trường, lắng nhanh xuống đáy Quá trình tạo bông đông tụ diễn ra do phản ứng thuỷ phân của muối nhôm được tóm tắt như sau:
Al 3+ + 3HOH = Al(OH)3 ↓ + 3H+
Theo phản ứng trên, hydroxit nhôm keo tụ lôi kéo các chất lơ lửng kết tủa và trong nước ion H+ hình thành làm cho nước có vị chua
Muối nhôm hoạt động có hiệu quả khi pH từ 5 đến 7,5 Trong xử lý nước thải, sử dụng hỗn hợp muối nhôm và muối sắt với tỷ lệ từ 1:1 đến 1:2 thì kết quả đông tụ tốt hơn là sử dụng riêng lẻ
Hiện nay, người ta đã quan tâm đến những chất keo tụ mới nhiều hơn vì bản thân nhôm sunfat bộc lộ một số nhược điểm:
- Làm giảm độ pH của nước sau xử lý, bắt buộc phải dùng vôi để hiệu chỉnh lại độ pH dẫn đến chi phí sản xuất tăng
- Khi cho quá liều lượng cần thiết thì hiện tượng keo tụ
bị phá hủy làm cho nước đục trở lại Như vậy, khi độ đục, độ màu nước nguồn cao, nhôm sunfat kém tác dụng
- Phải dùng thêm một số phụ gia trợ keo tụ, trợ lắng…
Trang 5- Hàm lượng nhôm tồn dư trong nước sau xử lý cao hơn
so với khi dùng chất keo tụ khác và có thể cao hơn mức quy định tiêu chuẩn cho phép
Chât keo tụ mới đang được nhắm đến là những chất muối nhôm kiềm tính như: PAC (Poly Aluminum Clorua), PACS (Poly Aluminum Clorua Silicat), PASS (Poly
Aluminum Sunfat Sillcat)
Related posts:
1 Nhôm – Những điều bạn chưa biết
Comment (1) | Leave a comment
1 Ứng dụng của phèn chua:
Trong dân gian, phèn chua chủ yếu dùng để làm trong nước và chế biến thực phẩm nhằm tạo độ dai và trắng
Để làm hết mùi hôi của lòng heo, nghiền một ít phèn chua thành bột, chà lên lòng, sau đó rửa sạch; thêm phèn vào nước muối, sau đó lau rửa cửa kính sẽ rất sạch; nếu giày bạn bị ẩm, có mùi hôi, hãy nghiền phèn chua thành bột, sau đó đun lên cho nóng chảy, mỗi lần xỏ giày, bạn hãy xoa một ít bột vào lòng bàn chân
Trang 6Trong đông y, phèn chua là vị thuốc cố sáp, thu liễm, sát trùng; thường được dùng để chữa ho, cổ họng sưng đau, đờm nhiều, viêm dạ dày và ruột cấp tính, khí hư bạch đới, kiết lỵ… Phèn chua thường được dùng sống hoặc phi chín (phèn phi); cách phi phèn nếu số lượng ít thì làm như sau: đập nhỏ phèn, đốt chảo gang cho nóng, rồi đổ phèn dàn trải trên đáy chảo, cho phèn sôi đến khi không thấy sôi nữa thì rút lửa để nguội, cạo bỏ lớp đen vàng bám xung quanh chỉ lấy phần trắng, đem giã vụn để
dùng Uống trong phèn chua 1-4g/ngày, phèn phi 0,3-1g/ngày; dùng ngoài không kể liều lượng Một số ứng dụng chữa bệnh:
- Chữa hôi nách: tắm xong lấy bột phèn phi hoà với nước chanh nguyên chất bôi vào nách; hoặc lấy một ít phèn chua tán thành bột mịn, dùng khăn lụa bọc lại, chườm luôn vào nách
- Chữa viêm dạ dày ruột cấp tính (không phải loét), lỵ mạn tính: mỗi ngày uống 0,5-1g phèn phi, chia nhiều lần
- Chữa khí hư bạch đới, viêm âm đạo: phèn chua 4g, trầu không 3 lá; trầu xé nhỏ nấu với 0,5 lít nước cho sôi kỹ,
để gần nguội thì cho phèn đã đập nhỏ vào khuấy tan, lấy nước rửa cửa mình vào buổi tối Nước này có thể rửa vào nơi nước ăn chân
- Chữa tay chân hay ra mồ hôi: phèn phi, gạo tẻ sống; hai thứ lượng bằng nhau, cùng xay thành bột mịn, hằng ngày xoa lên tay chân
- Để chữa ngứa hậu môn do giun kim: có thể lấy phèn chua gọt thành thỏi tròn, đường kính bằng hạt đậu phộng, mỗi buổi tối nhét một thỏi vào hậu môn, mỗi đợt 7 ngày