Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sự sụp đổ của triết họcduy vật biện chứng, mà đó chỉ là sụp đổ của những khái quát của một giaiđoạn nhận thức khoa học, tức sự sụp đổ của một giới h
Trang 1TRIẾT HỌC (Phần II)
TIỂU BAN TRIẾT HỌC
1
Trang 2Chương 5 CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG –
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
I THẾ GIỚI QUAN VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY
VẬT
1 Thế giới quan và các hình thức cơ bản của nó
a) Thế giới quan
Định nghĩa: Thế giới quan là toàn bộ các quan niệm, quan điểm của
con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của conngười trong thế giới ấy
Kết cấu: Thế giới quan bao gồm các quan niệm, quan điểm của con
người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của conngười trong thế giới ấy Lúc mới hình thành, chúng còn hỗn độn; nhưng donhận thức càng ngày càng sâu sắc, càng phản ánh tính thống nhất của thếgiới mà chúng càng thể hiện như một hệ thống ràng buộc, quy định lẫn nhau.Các quan niệm, quan điểm của thế giới quan bao giờ cũng hòa quyện trongmình tri thức với niềm tin, lý trí với tình cảm, sự thật với những điều hoangđường… và trãi rộng trên khắp các lĩnh vực (kinh tế, chính trị, đạo đức, nghệthuật,…), trên khắp các cấp độ họat động nhận thức (cảm tính lý tính, kinhnghiệm – lý luận, đời thường và khoa học,…) của con người1
- Trong thế giới quan, nhờ niềm tin mà tri thức của con người trở nên
sâu sắc, bền vững; nhờ tình cảm mà lý trí của con người có chiều sâu và sứcmạnh chỉ đạo, hướng dẫn trực tiếp hành vi của con người trong cuộc sống…
- Sự hòa quyện của tri thức với niềm tin, lý trí với tình cảm,… làm cho
thế giới quan con người trở thành một khối tinh thần thống nhất, khá ổnđịnh, giúp con người vượt qua những phức tạp, vượt lên những bất ổn củađời sống xã hội, những hụt hẫng hoài nghi trong cuộc sống đời thường Sựhòa quyện đó tạo thành cơ sở cho mọi niềm tin, hiểu biết, khát vọng và hànhđộng của con người
1 R.Đềcáctơ ví thế giới quan như một cây đại thụ mà gốc rễ của nó là siêu hình học; thân của
nó là vật lý học; còn cành, nhánh của nó là các ngành khoa học còn lại như toán học, sinh học, đạo đức học, chính trị học, v.v
2
Trang 3 Chức năng: Thế giới quan vừa là lăng kính để qua đó, con người nhìn nhận, suy tư, chiêm nghiệm về thế giới; vừa là cẩm nang hướng dẫn cuộc
sống cho con người Thế giới quan có nhiều chức năng (giáo dục, thẫm mỹ,đạo đức,…) nhưng chức năng chính của nó là định hướng họat động nhậnthức và thực tiễn cho con người trong thế giới mà họ đang sống
Phân loại
- Dựa trên chủ thể, thế giới quan được chia thành thế giới quan cá nhân
và thế giới quan cộng đồng (giai cấp,…)
- Dựa trên nội dung, thế giới quan được chia thành thế giới quan thần
thoại, thế giới quan tôn giáo, thế giới quan triết học và thế giới quan khoahọc
b) Các hình thức cơ bản của thế giới quan
Thế giới quan thần thoại
- Thế giới quan thần thoại là thế giới quan chứa đầy những hình tượng
cảm tính hoang đường hoà quyện vào lý trí ngây thơ của con người nguyênthuỷ mông mụi về thế giới muôn loài xung quanh Dù phản ánh xuyên tạchiện thực nhưng nó lại xuất phát từ hiện thực cuộc sống của các cộng đồngngười nguyên thủy mông mụi cố giải thích cuộc sống xung quanh, cố truytìm cội nguồn của cộng đồng mình trong những tưởng tượng viễn vông
- Đặc điểm chung của mọi thế giới quan thần thoại là cố giải thích “các
lực lượng của tự nhiên trong tưởng tượng và nhờ trí tưởng tượng”1; mọi thếgiới quan thần thoại “đều truy tìm nguồn gốc thị tộc – những thị tộc đã cótrước thần thoại, và thần thoại là do chính bản thân thị tộc sáng tạo ra vớinhững vị thần và bán thần; cũng chỉ đều là cái thực tế đã qua phản ánh hoangtưởng vào những câu chuyện của con người nguyên thuỷ”2
- Thế giới quan thần thoại thể hiện qua các truyền thuyết, các huyền
thoại hoang đường (câu chuyện thần thoại)
Thế giới quan tôn giáo
- Thế giới quan tôn giáo là thế giới quan dựa trên niềm tin mãnh liệt vào
sức mạnh của các lực lượng siêu nhiên, thần thánh (những lực lượng tinhthần, vô hình chi phối giới tự nhiên và đời sống trần tục của con người) đểgiải thích mọi hiện tượng xảy ra trong thế giới tự nhiên, trần tục; và quy địnhhành vi, thái độ của con người đối với các lực lượng siêu nhiên, thần thánh
đó
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.890.
2 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.154-156.
3
Trang 4- Thế giới quan tôn giáo thể hiện trong các giáo lý (giáo lý là hạt nhân lý
luận của thế giới quan tôn giáo) và các nghi thức, tín ngưỡng (những hìnhthức sùng bái lực lượng siêu nhiên, thần thánh của con người ngoan đạo)
- Với niềm tin cao hơn lý trí, tín điều quan trọng hơn sự thật, thế giới
quan tôn giáo vừa phản ánh sự nghèo nàn của hiện thực vừa phản khángchống lại sự nghèo nàn ấy; nó hướng con người đến thế giới hoàn thiện,hoàn mỹ sau khi chết Nó là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đông đảoquần chúng nhân dân có cuộc sống vật chất nghèo nàn và đời sống tinh thầntăm tối
+ “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong
đầu óc của con người – những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sốnghằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đãmang hình thức những lực lượng siêu trần thế”1
+ “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc
lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp ở thế giới bên kia, cũnggiống như sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiênnhiên đã đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép mầu, v.v.”2
Thế giới quan triết học
- Thế giới quan triết học là một hệ thống quan điểm, quan niệm của con
người về thế giới, về bản thân, cuộc sống và vị trí của con người trong thếgiới ấy Thế giới quan triết học xuất hiện khi nhận thức của con người đạtđược trình độ cao (khi tư duy lý luận trừu tượng, khái quát ra đời) và xã hội
có nhu cầu chỉ đạo cuộc sống bằng tư tưởng
- Thế giới quan triết học được thể hiện qua một hệ thống các phạm trù
(hệ thống lý luận triết học) Triết học đồng nhất với thế giới quan triết học;chúng là hạt nhân lý luận của thế giới quan con người Thế giới quan triếthọc bao gồm thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm
+ Thế giới quan duy vật cho rằng, bản chất của thế giới là vật chất; đời
sống vật chất quyết định đời sống tinh thần; con người quyết định số phậncủa mình trong cuộc sống hiện thực… Thế giới quan duy vật có các hìnhthức lịch sử là: thế giới quan duy vật chất phác, thế giới quan duy vật siêuhình, thế giới quan duy vật biện chứng
+ Thế giới quan duy tâm cho rằng, bản chất của thế giới là cái tinh thần;
các yếu tố tinh thần quyết định đời sống vật chất; các lực lượng tinh thần chiphối cuộc sống con người trong hiện thực Thế giới quan duy tâm có các
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.437.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, T.20, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr.169-170.
4
Trang 5hình thức lịch sử là: thế giới quan duy tâm thô sơ, thế giới quan duy tâm tôn giáo, thế giới quan duy tâm văn minh (triết học).
Khi phân biệt thế giới quan triết học với thế giới quan khác, C.Mác
viết: “… các vị hướng về tình cảm, triết học hướng về lý trí; các vị nguyềnrủa, than vãn, triết học dạy bảo; các vị hứa hẹn thiên đường và toàn bộ thếgiới, triết học không hứa hẹn gì cả ngoài chân lý; các vị đòi hỏi tin tưởng tínngưỡng của các vị, triết học không đòi hỏi tin tưởng vào các kết luận của nó,
nó đòi hỏi kiểm nghiệm những điều hoài nghi; các vị dọa dẫm, triết học an
ủi Và, thật thế, triết học biết cuộc sống khá đầy đủ để hiểu rằng những kếtluận của nó không bao giờ bao dung sự khao khát hưởng lạc và lòng vị kỷ –của cả thiên giới lẫn thế giới trần tục”1
Thế giới quan khoa học
- Thế giới quan khoa học là một hệ thống tri thức được tổng kết từ các
kết quả của mọi quá trình nghiên cứu (như nghiên cứu thực nghiệm, nghiêncứu lý thuyết) và dự báo của các ngành khoa học Thế giới quan khoa họcluôn được bổ sung và hoàn thiện theo sự tăng trưởng tri thức của con người,theo sự phát triển của các ngành khoa học, đặc biệt là các ngành khoa học tựnhiên
- So với các hình thức thế giới quan khác thì thế giới quan khoa học xuất
hiện khá muộn, khi các ngành khoa học (tự nhiên và xã hội,…) vươn lên, tựtách mình ra khỏi triết học, tự khẳng định sự tồn tại tương đối độc lập củamình; đồng thời trong xã hội xuất hiện nhu cầu cần có tri thức cụ thể để chỉđạo, hướng dẫn các lĩnh vực đời sống cụ thể
- Thế giới quan khoa học có vai trò to lớn trong việc chỉ đạo hoạt động
nhận thức khoa học (nghiên cứu – khám phá thế giới) và hoạt động thực tiễncách mạng (cải tạo thế giới) của con người Cũng như thế giới quan nóichung, thế giới quan khoa học lúc ban đầu cũng không tránh khỏi tính rời rạt(khi khoa học còn mang nặng tính kinh nghiệm hay chịu ảnh hưởng sâu đậmbởi phương pháp siêu hình), dần dần sau đó nó mang tính hệ thống cao (khikhoa học chuyển sang giai đoạn nghiên cứu lý thuyết và chịu ảnh hưởng trựctiếp bởi những ý tưởng triết học) Khi dựa trên những quan điểm duy vật(đặc biệt là quan điểm duy vật biện chứng) để tổng kết, khái quát tất cả cácthành tựu kinh nghiệm và thành tựu lý thuyết của mình, thế giới quan khoahọc sẽ góp phần xây dựng một mô hình tư tưởng về thế giới như một chỉnhthể thống nhất, tức làm xuất hiện bức tranh khoa học về thế giới2
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.159.
2 Bức tranh khoa học về thế giới là một mô hình tư tưởng về thế giới; trong đó, cấu trúc, tính
chất và quy luật vận động, phát triển của thế giới được thể hiện như một chỉnh thể thống nhất.
5
Trang 6- Thế giới quan khoa học không chỉ được hình thành và phát triển dựa
trên cơ sở bức tranh khoa học về thế giới mà còn dựa trên các nền tảng tưtưởng của triết học duy vật, đặc biệt là triết học duy vật biện chứng Triếthọc duy vật biện chứng là hạt nhân của thế giới quan khoa học, là cơ sở đểtổng kết tri thức các ngành khoa học xây dựng nên bức tranh khoa học về thếgiới Sau một quá trình phát triển mạnh mẽ, bức tranh khoa học về thế giớilại rơi vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng và sau đó là sụp đổ để đưa đến
sự hình thành một bức tranh khoa học mới về thế giới, có tính bao quát vàtinh xác hơn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sự sụp đổ của triết họcduy vật biện chứng, mà đó chỉ là sụp đổ của những khái quát của một giaiđoạn nhận thức khoa học, tức sự sụp đổ của một giới hạn nhất định trongtiến trình nhận thức vô tận của con người mà các ngành khoa học phải điqua, để thông qua đó mà khoa học phản ánh thế giới ngày càng tinh xácthêm, những khái niệm khoa học ngày càng bao quát và sâu sắc thêm Tức
sự phát triển của nó tuân theo các quy luật của phép biện chứng
2 Các hình thức lịch sử của thế giới quan duy vật
a) Thế giới quan duy vật chất phác
Thực chất: Thế giới quan duy vật chất phác là một hệ thống các quan
điểm, quan niệm ngây thơ về thế giới và con người Các quan điểm, quanniệm của thế giới quan này đều xuất phát từ luận điểm cơ bản cho rằng, cănnguyên của vạn vật là một (hay vài) dạng vật chất cụ thể cảm tính nào đó mà
sự biến đổi theo lẽ tự nhiên của nó làm cho vạn vật trong thế giới (bao gồm
cả con người và đời sống tinh thần của họ) được sinh thành hay bị hủy diệt.Thế giới quan duy vật chất phác xuất hiện vào thời cổ đại, khi mà hoạt độngthực tiễn của con người còn quá thấp, khi mà nhận thức của con người cònquá ngây thơ, đơn giản, chủ yếu dựa trên những kinh nghiệm đời thường.Thế giới quan duy vật chất phác được thể hiện trong tư tưởng của trườngphái triết học duy vật như: trường phái âm dương - ngũ hành; trường pháiMilê; trường phái Lôkayata; trường phái nguyên tử; … Nó thường là thế giớiquan của một bộ phận giai cấp chủ nô hay tầng lớp quý tộc tiến bộ thống trịtrong xã hội
Thành tựu và hạn chế
- Thế giới quan duy vật chất phác không dựa vào cái siêu nhiên hay lòng
tin, đức tin tôn giáo mà dựa vào cái tự nhiên, dựa vào lý trí hay lẽ phải đờithường của chính con người để lý giải thế giới và đời sống của họ Thế giới
Bức tranh khoa học về thế giới được xây dựng nhờ vào quá trình tích hợp tri thức của các ngành khoa học tự nhiên, các ngành khoa học xã hội và nhân văn, các ngành khoa học về con người…, dựa trên các cơ sở lý luận của triết học duy vật mà ngày nay là triết học duy vật biện chứng.
6
Trang 7quan duy vật chất phác đã đặt ra những vấn đề mà triết học và khoa học đờisau phải giải đáp; do vậy, nó đã thúc đẩy hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn của con người phát triển, nó góp phần củng cố sức mạnh tinh thầncho các lực lượng chính trị tiến bộ trong xã hội…
- Thế giới quan duy vật chất phác thường đồng nhất vật chất với vật thể
cụ thể; do đó, nó thường mang tính trực quan, tính phỏng đoán, thiếu chứng
cứ khoa học Thế giới quan duy vật chất phác không triệt để, vì nó không lýgiải được bản tính của các hiện tượng tinh thần cũng như mối quan hệ giữacái tinh thần và cái vật chất; nó mới chỉ giải thích thế giới chứ chưa thật sựgóp phần cải tạo thế giới
b) Thế giới quan duy vật siêu hình
Thực chất: Thế giới quan duy vật siêu hình là một hệ thống các quan
điểm, quan niệm khá chặt chẽ về thế giới và con người Các quan điểm, quanniệm của thế giới quan này đều xuất phát từ luận điểm cơ bản cho rằng, cơ
sở của vạn vật là các phần tử vật chất gián đoạn hay một môi trường vật chấtliên tục nào đó; mà sự vận động, biến đổi của nó theo các quy luật cơ học (tựnhiên) làm cho vạn vật trong thế giới (bao gồm cả con người và đời sốngtinh thần của họ) được sinh thành hay bị hủy diệt Thế giới quan duy vật siêuhình biểu hiện rõ nét nhất vào thế kỷ XVII - XVIII ở Tây Au, khi quan điểm
cơ học và phương pháp phân tích mang lại rất nhiều kết quả đáng khích lệ
Nó là kết quả của việc đề cao quan điểm cơ học và phương pháp phân tích…khi mà khoa học tự nhiên (trừ cơ học) còn quá thô sơ, chủ yếu dựa trênnhững quan sát, kinh nghiệm trực tiếp Thế giới quan duy vật siêu hình đượcthể hiện trong tư tưởng của trường phái triết học duy vật như: trường pháiduy vật kinh nghiệm Anh, chủ nghĩa duy vật chiến đấu Pháp, … Sự hìnhthành và phát triển của thế giới quan duy vật siêu hình gắn liền với quá trìnhxây dựng và củng cố phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó chính là thếgiới quan của giai cấp tư sản tiến bộ đang vươn lên thống trị mọi mặt đờisống xã hội phương Tây
Thành tựu và hạn chế
- Thế giới quan duy vật siêu hình có ảnh hưởng đến tiến bộ của các
ngành khoa học tự nhiên Nó không chỉ giúp đào sâu, mở rộng nhiều hiểubiết về từng lĩnh vực của giới tự nhiên mà còn góp phần đấu tranh chống lạithế giới quan duy tâm – tôn giáo vốn thống trị trên cả ngàn năm ở phươngTây Nó là sức mạnh tinh thần giúp củng cố và thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ và vững chắc của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đưa giai cấp tưsản lên vũ đài chính trị nắm lấy vai trò lãnh đạo xã hội
7
Trang 8- Thế giới quan duy vật siêu hình đồng nhất vật chất với một dạng thể cụ
thể của nó; tuyệt đối hóa vận động cơ học; coi vạn vật, kể cả con người, nhưnhững cỗ máy; nó không thấy được nguồn gốc vận động của thế giới Dovậy, thế giới quan duy vật siêu hình mang tính máy móc, không hiểu đúngbản chất của con người, không lý giải được bản tính của các hiện tượng tinhthần cũng như mối quan hệ giữa cái tinh thần và cái vật chất, tức nó khôngtriệt để Đặc biệt, thế giới quan duy vật siêu hình đã mang lại phong cách tưduy siêu hình, biến các hiểu biết tương đối của con người (những nguyên lýcủa khoa học,…) thành những chân lý tuyệt đối bất biến, do đó nó đã ngăncản sự ra đời của các ngành khoa học lý thuyết vào cuối thế kỷ XIX – đầuthế kỷ XX, đưa khoa học tự nhiên rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêmtrọng Về điều này, V.I.Lênin đã viết như sau: “Thực chất của cuộc khủnghoảng của vật lý học hiện đại là ở sự đảo lộn của những quy luật cũ vànhững nguyên lý cơ bản, ở sự gạt bỏ thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức,tức là ở sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩabất khả tri”1 “Vật lý học mới sở dĩ đi chệch sang phía chủ nghĩa duy tâm,chủ yếu là vì các nhà vật lý học không hiểu được phép biện chứng”2 “Vật lýhọc hiện đại đang nằm trên giường đẻ Nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biệnchứng Một cuộc sinh đẻ đau đớn”3
c) Thế giới quan duy vật biện chứng
Thực chất (xem Mục II): Thế giới quan duy vật biện chứng do C.Mác
và Ph.Angghen xây dựng vào giữa thế kỷ XIX, V.I.Lênin bảo vệ và pháttriển vào đầu thế kỷ XX Quá trình hình thành và phát triển của thế giới quanduy vật biện chứng gắn liền với thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sảnchống lại giai cấp tư sản, gắn liền với các thành tựu mới của các ngành khoahọc lúc bấy giờ (mà trước hết là các ngành khoa học tự nhiên như vật lý học,sinh học) và thành tựu lý luận triết học của nhân loại (mà trước hết là cácthành tựu trong triết học của Phoiơbắc và triết học của Hêghen) Thế giớiquan duy vật biện chứng là thế giới quan của giai cấp vô sản bị áp bức, bóclột đang đấu tranh vì sự tiến bộ và bình đẳng của con người Thế giới quanduy vật biện chứng được thể hiện trong triết học Mác – Lênin và quan điểmcủa các lãnh tụ chân chính của giai cấp vô sản
Thành tựu: Thế giới quan duy vật biện chứng mang lại cho các ngành
khoa học hiện đại cơ sở thế giới quan và cơ sở phương pháp luận phổ biến
để thúc đẩy nghiên cứu, khám phá thế giới, xây dựng bức tranh khoa học về
1 V.I.Lênin: Toàn tập, T.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.318.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, T.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.322.
3 V.I.Lênin: Toàn tập, T.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.388.
8
Trang 9thế giới, và qua đó tiến hành cải tạo cách mạng thế giới Thế giới quan duyvật biện chứng chống lại thế giới quan duy tâm – tôn giáo; nó là sức mạnhtinh thần giúp giai cấp vô sản và quần chúng lao động trong cuộc đấu tranhgiải phóng loài người ra khỏi áp bức, bóc lột, bất công hướng đến xây dựngmột xã hội công bằng, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc cho mọi người – chủnghĩa cộng sản
II NỘI DUNG VÀ BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN
CHỨNG VỚI TÍNH CÁCH LÀ HẠT NHÂN CỦA THẾ GIỚI QUANKHOA HỌC
1 Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân
lý luận của thế giới quan khoa học
Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lýluận của thế giới quan khoa học bao gồm hai nhóm quan niệm Đó là nhómquan niệm duy vật về thế giới nói chung và nhóm quan niệm duy vật về xãhội nói riêng
a) Quan điểm duy vật về thế giới
Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Thế giới (mọi sự
vật, hiện tượng, quá trình) có tồn tại hay không? Nếu thế giới thật sự tồn tạithì nó có thống nhất hay không? Nếu thế giới thống nhất thì cái gì là cơ sởcủa sự thống nhất đó? … Các nhà triết học duy tâm cho rằng cơ sở thốngnhất thế giới là một bản chất tinh thần nào đó, ví dụ như linh hồn vũ trụ, lýtính thế giới, thượng đế, hay ý niệm tuyệt đối,… Còn các nhà triết học duyvật thì cho rằng thế giới thống nhất, nhưng sự thống nhất đó không nằmtrong sự tồn tại của thế giới, vì sự tồn tại của thế giới chỉ là tiền đề của sựthống nhất thế giới Tính thống nhất thật sự của thế giới nằm trong tính vậtchất của nó Về điều này Angghen đã viết: “Tính thống nhất của thế giớikhông phải ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của tính thống nhấtcủa nó, vì trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thếgiới phải tồn tại đã” … “Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tính vậtchất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài balời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài vàkhó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”1
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới: Toàn bộ “lâu đài”
tư tưởng của triết học duy vật được xây dựng dựa trên các luận điểm nềntảng – nội dung nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới Các luận
điểm đó là:
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.67.
9
Trang 10- Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận.
- Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các sự vật, quá trình vật chất cụ thể,
có một mức độ tổ chức nhất định; đang biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau; lànguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự chi phối bởi các quy luậtkhách quan của thế giới vật chất
- Ý thức, tư duy (tinh thần) con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật
chất có tổ chức cao - bộ óc con người và vật chất xã hội Thế giới vật chấtthống nhất và duy nhất
Phạm trù vật chất – phạm trù cơ bản, xuất phát của triết học duy vật
biện chứng
- “Vật chất với tính cách là vật chất, là một sự sáng tạo thuần túy của tư
duy và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏ qua sự khác nhau về chất củanhững sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tư cách là những vật tồn tại hữuhình, vào khái niệm vật chất”1 Vì vậy: “Vật chất là một phạm trù triết họcdùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác,được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệthuộc vào cảm giác”2 “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vậnđộng và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian
và thời gian”3
+ “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương
thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồmtất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi
vị trí đơn giản cho đến tư duy”4
+ Không gian, thời gian cũng là thuộc tính cố hữu của vật chất, là hình
thức / phương thức tồn tại của vật chất vật động Không gian phản ánh tínhđồng tồn tại và tách biệt (trật tự - cấu trúc), độ dài; thời gian phản ánh tínhtrình tự (trước - sau), độ lâu của các các tiến trình vật chất xảy ra trong thếgiới
+ Phản ánh cũng là thuộc tính cố hữu của vật chất Vật chất cụ thể trongthế giới không ngừng vận động và phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đếnphức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện kéo theo năng lực phản ánh pháttriển đưa đến sự xuất hiện của ý thức (tư duy, tinh thần) con người Ý thức là
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.721.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, T.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.151.
3 V.I.Lênin: Toàn tập, T.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.209-210.
4 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.519.
10
Trang 11chức năng tinh thần của bộ óc con người, là hình thức phản ánh cao cấp củavật chất cấp cao – bộ óc con người và vật chất xã hội
Phạm trù ý thức, quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan; nó mang bản tính
bản tính phản ánh - sáng tạo - xã hội và có cấu trúc rất phức tạp: “Ý thứckhông bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tạicủa con người là quá trình sống hiện thực của con người”1 “Ngay từ đầu, ýthức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còntồn tại”2 Ý thức tồn tại trước hết trong bộ óc con người, và sau đó, thôngqua thực tiễn lao động, nó được vật chất hóa và có được sự tồn tại mới trongcác vật phẩm do con người sáng tạo ra (vật chất xã hội – vật chất mang /chứa ý thức) Ý thức bao gồm nhiều yếu tố như: tri thức, tình cảm, niềm tin,
lý trí, ý chí…, trong đó, tri thức (yếu tố cốt lõi) và tình cảm có vai trò rấtquan trọng Tri thức là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới,
nó phản ánh những hiểu biết của chủ thể về khách thể Tình cảm là nhữngrung động tâm lý khá ổn định phản ánh thái độ của chủ thể - cá nhân conngười - trước khách thể - hiện thực Tri thức và tình cảm thống nhất, chuyểnhóa lẫn nhau (tình cảm không dựa trên tri thức là tình cảm mù quáng, tri thứckhông chứa tình cảm là tri thức suông); sự thống nhất của chúng tạo ra độnglực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động của con người, góp phần làm chocon người trở thành chủ thể sáng tạo ra lịch sử
- “Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt
đối trong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạntrong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì cósau? Ngoài giới hạn đó, thì không nghi ngờ gì nữa rằng sự đối lập đó làtương đối”3
- Thông quan hoạt động thực tiễn, mà trước hết là thực tiễn lao động, ý
thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất, nhờ đó, nó có được sứcmạnh của cái tinh thần Dựa trên sức mạnh này, ý thức tác động đến thế giới,góp phần làm cho thế giới biến đổi Ý thức con người không chỉ phản ánhthế giới mà còn góp phần sáng tạo nên thế giới nữa Do vậy mà C.Mác đãviết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê pháncủa vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất;
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.38.
2 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.43.
3 V.I.Lênin: Toàn tập, T.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.173.
11
Trang 12nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhậpvào quần chúng”1.
“Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học,Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗnhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người”2
b) Quan điểm duy vật về xã hội
Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên: Xã hội là kết quả phát
triển lâu dài của tự nhiên, thông qua và nhờ vào hoạt động lao động – hoạtđộng có ý thức của con người Xã hội có quy luật vận động, phát triển riêng,bao gồm cả các quy luật tự nhiên lẫn các quy luật xã hội Dù sự vận động,phát triển của xã hội do quy luật khách quan chi phối, song sự vận động,phát triển đó phải thông qua hoạt động thực tiễn có ý thức của con ngườiđang theo đuổi những mục đích nhằm đạt những lợi ích để thỏa mãn nhữngnhu cầu nhất định cho riêng mình
- Tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất đa dạng vô cùng, vô tận, luôn
phát triển: từ giới tự nhiên vô cơ đến giới tự nhiên hữu cơ; từ giới tự nhiênhữu cơ đến giới tự nhiên có mang sự sống; từ sự sống đơn bào đến sự sống
đa bào; từ vi sinh vật đến sinh vật; từ thực vật đến động vật; từ động vật bậcthấp đến động vật bậc cao Rồi sau đó là con người và xã hội loài người
- Xã hội là kết quả của quá trình chuyển biến từ đời sống bày đàn, hành
động theo bản năng của loài vật (tự nhiên) thành đời sống cộng đồng, hànhđộng có mục đích của con người; là sản phẩm của sự tác động qua lại giữacác con người, là biểu hiện của tổng số các mối quan hệ giữa các cá nhân (xãhội)
- Hệ thống tự nhiên – xã hội là một chỉnh thể bao gồm những yếu tố tự
nhiên và những yếu tố xã hội luôn tác động qua lại, quy định sự tồn tại vàphát triển của nhau Trong đó, tự nhiên vừa là nguồn gốc vừa là điều kiện,môi trường tồn tại và phát triển của xã hội Dù tự nhiên tác động âm thầm, tựphát đến xã hội; nhưng xã hội tác động đến tự nhiên bao giờ cũng thông quahoạt động thực tiễn có ý thức của con người mà trước hết là thông qua thựctiễn lao động sản xuất vật chất Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn laođộng sản xuất vật chất có ý thức, con người từng ngày, từng giờ cải tạo, biếnđổi tự nhiên để phục vụ cuộc sống cho chính mình
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.580.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, T.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.53.
12
Trang 13 Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Những giai đoạn sản xuất
xã hội khác nhau sản sinh ra những kiểu đời sống xã hội khác nhau Yếu tốcốt lỏi của nền sản xuất vật chất của xã hội là phương thức sản xuất Phươngthức sản xuất quyết định mọi quá trình sinh hoạt của đời sống xã hội Tồn tại
xã hội quyết định ý thức xã hội Về thực chất, lịch sử tồn tại và phát triển xãhội loài người gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của nền sản xuất racủa cải vật chất, gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của các phươngthức sản xuất ra của cải vật chất
- Nền sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động
do mình làm ra, tác động cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên, nhằmtạo ra những vật phẩm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người.Nền sản xuất vật chất được thông qua quá trình lao động của con người, diễn
ra trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau là khác nhau, gắn liền với nhữngphương thức sản xuất vật chất (cách thức con người ở một giai đoạn lịch sửnhất định thực hiện quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãnnhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội) khác nhau Phương thức sản xuất là
sự thống nhất của lực lượng sản xuất (quan hệ giữa con người với tự nhiên
trong sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa con người với con người
trong sản xuất) Sự thay đổi của lực lượng sản xuất đến một lúc nào đó sẽlàm thay đổi quan hệ sản xuất, tức thay đổi phương thức sản xuất
- Sự thay đổi của quan hệ sản xuất sẽ làm thay đổi mọi quan hệ, mọi
mặt của đời sống xã hội từ kinh tế - cơ sở hạ tầng [tòan bộ các quan hệ sảnxuất hợp lại thành kết cấu kinh tế của xã hội ở một giai đọan nhất định] đếnchính trị - kiến trúc thượng tầng [toàn bộ các quan điểm về chính trị, phápquyền, tôn giáo, ; các thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái,giáo hội, … được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định], từ lĩnh vựcvật chất - tồn tại xã hội [toàn bộ đời sống vật chất của xã hội ở một giai đoạnlịch sử nhất định (phương thức sản xuất, điều kiện tự nhiên, điều kiện dânsố…)] đến lĩnh vực tinh thần - y thức xã hội [toàn bộ đời sống tinh thần của
xã hội phản ánh tồn tại xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định (quanđiểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống của các cộng đồng ngườitrong lịch sử)] Trong xã hội, “không phải ý thức của con người quyết định
sự tồn tại của họ, mà trái lại sự tồn tại của họ quyết định ý thức của họ”1
“Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởngthống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trịtrong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”2
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.607.
2 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.66.
13
Trang 14 Sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên
- Đó là lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến
cao, vừa thống nhất vừa đa dạng, mà thực chất là lịch sử phát triển của lựclượng sản xuất: Lực lượng sản xuất phát triển đến một lúc nào đó sẽ kéo theoquan hệ sản xuất thay đổi, tức làm thay đổi phương thức sản xuất; Phương
thức sản xuất thay đổi làm cho cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã
hội thay đổi theo, tức là làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội
- Đó là lịch sử tạo nên từ các hoạt động cụ thể của những con người có
lợi ích và mục đích khác nhau nhưng không phụ thuộc vào lợi ích và mụcđích của họ mà tuân theo các quy luật khách quan của lịch sử Chính conngười chứ không phải các lực lượng siêu nhiên đã và đang sáng tạo nên lịch
sử Tuy nhiên, không phải mọi con người đều là chủ thể chân chính sáng tạo
ra lịch sử nhân loại
Quần chúng nhân dân là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử
- Quần chúng nhân dân là một cộng đồng người trong lịch sử mà dựa
trên địa vị và lợi ích của mình họ có thể tham gia giải quyết các vấn đề trọng
đại của lịch sử và thúc đẩy lịch sử tiến lên Quần chúng nhân dân trước hết là
những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và tạo ra các giá trị tinhthần; là những bộ phận dân cư chống lại sự áp bức, bóc lột; là những giai -tầng xã hội góp phần thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
- Lịch sử được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân; bởi vì họ là lực lượng
trực tiếp sản xuất ra mọi của cải vật chất, sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần, làlực lượng quyết định thành bại của mọi cuộc biến đổi cách mạng xảy ratrong xã hội
- Trong điều kiện lịch sử khác nhau, vai trò chủ thể của quần chúng
nhân dân biểu hiện khác nhau Cùng với quá trình giải phóng quần chúng nhân dân ra khỏi các lực lượng đen tối của tự nhiên và xã hội, vai trò sáng tạo ra lịch sử của quần chúng nhân dân càng ngày càng to lớn.
- Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ thật sự được phát huy cao độ
khi họ được hướng dẫn bởi các tổ chức chính trị – xã hội, dưới sự lãnh đạocủa các lãnh tụ - cá nhân có nhân cách vĩ đại, biết tập hợp, giác ngộ, tổ chức
quần chúng nhân dân để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể do lịch sử đặt ra1
1 Lãnh tụ là cá nhân có tri thức khoa học uyên bác, biết nắm bắt được xu thế vận động của giai cấp, dân tộc, thời đại; có năng lực tập hợp, thống nhất ý chí, hành động của quần chúng nhân
dân để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể do lịch đặt ra; luôn gắn bó mật thiết với quần chúng
nhân dân, và luôn biết hy sinh quên mình vì lợi ích cao cả của quần chúng nhân dân.
14
Trang 152 Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân của thế giới quan khoa học
a) Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn
Nếu chủ nghĩa duy tâm nhận thấy tính năng động sáng tạo của ý thứcnhưng nó đã tuyệt đối hóa, thần thánh hóa ý thức thành cái siêu nhiên, thầnthánh, đưa ý thức thoát ra khỏi thế giới tự nhiên và đời sống xã hội của conngười (vật chất), để sau đó quay về chi phối thế giới tự nhiên và đời sống xãhội của con người (vật chất); thì chủ nghĩa duy vật cũ lại thiếu quan điểmthực tiễn, đầy tính trực quan và tính máy móc, nên không nhìn thấy đượctính năng động sáng tạo của ý thức, không nhận thấy được vai trò quan trongcủa ý thức trong đời sống của con người
Khi khắc phục các nhược điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứngkhẳng định vật chất có trước và quyết định ý thức; trong hoạt động thực tiễn,
ý thức con người xâm nhập vào lực lượng vật chất, thông qua những lựclượng vật chất, nó tác động tích cực làm biến đổi hiện thực vật chất (kháchquan) theo nhu cầu (chủ quan) của con người Như vậy, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng không chỉ đối lập với chủ nghĩa duy tâm (cả duy tâm khách quanlẫn duy tâm chủ quan, duy ý chí) mà còn đối lập với chủ nghĩa duy vật tầmthường
b) Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã thống nhất thế giới quan duy vật với phép biện chứng
Chủ nghĩa duy vật cũ (thế kỷ XVII - XVIII), kể cả chủ nghĩa duy vậtcủa Phoiơbắc mang nặng tính siêu hình, vì vậy những lý giải về thế giới của
nó thường phiến diện, rời rạt, máy móc; còn phép biện chứng chủ yếu được
nghiên cứu trong các hệ thống triết học duy tâm, đặc biệt là hệ thống triết
học duy tâm của Hêghen nên nó thường tư biện, thần bí
Dựa trên thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản và các thành tựukhoa học lúc bấy giờ, C.Mác đã cải tạo triệt để chủ nghĩa duy vật cũ để giảithóat chủ nghĩa duy vật ra khỏi tính siêu hình; đồng thời C.Mác cũng cải tạotriệt để phép biện chứng duy tâm để giải thóat phép biện chứng ra khỏi tínhthần bí, tư biện; từ đó, C.Mác xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứnghay phép biện chứng duy vật C.Mác đã thống nhất thế giới quan duy vật vớiphép biện chứng
c) Chủ nghĩa duy vật biện chứng là chủ nghĩa duy vật triệt để; nó không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn duy vật trong lĩnh vực
15
Trang 16xã hội; chủ nghĩa duy vật lịch sử là cống hiến vĩ đại của C.Mác cho kho tàng tư tưởng của loài người
Chủ nghĩa duy vật cũ không triệt để; nó chỉ duy vật trong tự nhiên,
còn trong lĩnh vực xã hội, nó hoàn toàn duy tâm Phoiơbắc – nhà duy vật vĩđại nhất trước C.Mác, bậc tiền bối của C.Mác cũng không phải là ngoại lệ
Chủ nghĩa duy vật lịch sử ra đời từ kết quả C.Mác và Angghen vận
dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu lĩnh vực xã hội và tổngkết lịch sử, kế thừa có phê phán tòan bộ tư tưởng xã hội của loài người trên
cơ sở khái quát thực tiễn mới của giai cấp vô sản
- “Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật, Mác đã
đưa học thuyết đó tới chỗ hòan bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thứcgiới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội lòai người Chủ nghĩa duy vật lịch sửcủa Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận khoahọc hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫnngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị”1
- “Tất cả những cái mà tư tưởng lòai người đã sáng tạo ra, Mác đã
nghiền ngẫm lại, đã phê phán, và thông qua phong trào công nhân mà kiểmtra lại”
Khi đánh giá về tính chất duy vật triệt để trong triết học Mác,V.I.Lênin viết: “Triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật hoàn bị, nócung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân những công cụ nhậnthức vĩ đại”2 Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhân lọai tiến bộ có được mộtcông cụ vĩ đại trong nhận thức và cải tạo thế giới
d) Chủ nghĩa duy vật biện chứng mang tính thực tiễn - cách mạng, nó hướng dẫn con người trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản.
Sức mạnh vật chất của giai cấp kết hợp nhuần nhuyễn với sức mạnh tinhthần của triết học tạo nên sức mạnh tổng hợp của thời đại Chỉ có sức mạnhtổng hợp này mới làm thay đổi trật tự của thế giới
- "Giống như triết học tìm thấy vũ khí vật chất của mình trong giai cấp
vô sản, giai cấp vô sản tìm thấy vũ khí của mình trong triết học"3
- Lợi ích của giai cấp vô sản phù hợp với lợi ích của nhân loại tiến bộ.
Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản giải phóng mình ra khỏi sự áp bức, bóc
1 V.I.Lênin: Toàn tập, T.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.53.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, T.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.54.
3 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.589.
16
Trang 17lột cũng là cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ và nó chỉ thắng lợi khi pháttriển từ tự phát lên tự giác.
- Được luận chứng bằng những cơ sở lý luận khoa học, phản ánh các
quy luật phát triển khách quan của lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng trởthành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản – một hệ tư tưởng chứa đựng trongmình sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà góp
phần cải tạo thế giới Khi xâm nhập vào phong trào đấu tranh của giai cấp
vô sản và nhân loại tiến bộ, phép biện chứng duy vật có được sức mạnh vậtchất Bằng sức mạnh vật chất này nó có thể đánh đổ các lực lượng vật chấtbảo thủ và phản động, vươn lên xây dựng một xã hội mới của con người vàdành cho con người – chủ nghĩa cộng sản
- “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác
nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”1 Để cải tạo thế giới hiệu quả giai cấp
vô sản phải biết kết hợp sức mạnh vật chất chính trị của mình với sức mạnhtinh thần của triết học duy vật biện chứng để tạo nên sức mạnh tổng hợp vôđịch Vì vậy, C.Mác đã viết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thểthay thế được sự phê phán bằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh
đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vậtchất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”2
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định sự tất thắng của cái mới
- Mọi cái hiện tồn đều chứa đựng trong mình sự tự phủ định; sớm muộn
gì nó cũng nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới tiến bộ hơn Trong thế giớiluôn xảy ra những cuộc đấu tranh giữa cái mới với cái cũ Đây là cuộc đấutranh lâu dài, khó khăn, phức tạp; cái mới có thể thất bại tạm thời, nhưngcuối cùng cái mới sẽ thắng lợi
- Chủ nghĩa cộng sản là một cái mới; nó nhất định sẽ thay thế chủ nghĩa
tư bản – cái cũ Và cuộc đấu tranh để khẳng định tính tất thắng của chủ nghĩacộng sản trước chủ nghĩa tư bản là một quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp,thậm chí không thể tránh khỏi những thất bại tạm thời Chủ nghĩa xã hội, saubảy mươi năm xây dựng ở Liên Xô (cũ) và Đông Au, dù mang lại không ítthành quả nổi bật nhưng đã thất bại Đó là sự thất bại của một mô hình (cũ).Thất bại này trở thành điều kiện, tiền đề cho sự ra đời một mô hình mới vềchủ nghĩa xã hội Công cuộc Cải cách (Mở cửa) ở Trung Quốc, Đổi mới ởViệt Nam là một thí dụ sinh động Với bản chất bóc lột không hề thay đổi và
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.12.
2 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.580.
17
Trang 18những hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục được do nó gây ra, chủnghĩa tư bản dù vẫn tiếp tục tồn tại nhưng nó không thể là tương lai của nhânloại Tương lai loài người thuộc về chủ nghĩa cộng sản
- Là một hệ thống các quy luật phổ biến, chủ nghĩa duy vật biện chứng
trở thành công cụ tinh thần để xoá bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái mới tiến
bộ
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho
hành động Cùng với quá trình đào sâu và mở rộng của hoạt động thực tiễn
và hoạt động nhận thức của nhân loại, chủ nghĩa duy vật biện chứng không
ngừng khái quát các thành tựu khoa học và những kinh nghiệm thực tiễn củanhân loại để bổ sung, hiệu chỉnh nhằm hoàn thiện chính mình
III NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN
CHỨNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG NÓ VÀO SỰ NGHIỆP CÁCHMẠNG HIỆN NAY Ở NƯỚC TA
1 Nguồn gốc của chủ nghĩa chủ quan
a) Vai trò và tác dụng của y thức
Trong hoạt động thực tiễn, các nhân tố ý thức (tri thức, tình cảm, ýchí, niềm tin, lý trí,…) xâm nhập được vào các lực lượng vật chất; và khithông qua các lực lượng vật chất, các nhân tố ý thức thể hiện vai trò và tácdụng to lớn của mình
Vai trò của các nhân tố ý thức thể hiện qua việc vạch ra các chươngtrình, mục tiêu, kế hoạch; tìm kiếm những biện pháp, phương tiện, công cụ(mà trước hết là những biện pháp, phương tiện, công cụ vật chất), xây dựngcác phương thức tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu, kế hoạchđược đề ra; kịp thời điều chỉnh, uốn nắn hoạt động của con người theo lợi ích
và mục đích được đã được xác định
Sức tác dụng của ý thức phụ thuộc vào mức độ xâm nhập của các nhân
tố ý thức vào lực lượng vật chất Nếu các nhân tố ý thức không xâm nhậpđược vào lực lượng vật chất thì chúng không có tác dụng gì cả Còn ngượclại, nếu chúng xâm nhập càng sâu rộng vào các lực lượng vật chất thì sức tácdụng của chúng đến hiện thực vật chất càng lớn
Khuynh hướng tác dụng của ý thức phụ thuộc vào tính chất phản ánhcủa các nhân tố ý thức đối với hiện thức vật chất Các các nhân tố ý thứcxâm nhập được vào các lực lượng vật chất phản ánh càng đúng quy luậtkhách quan của hiện thực thì chúng sẽ thúc đẩy hiện thực đó phát triểnnhanh Còn ngược lại, nếu các nhân tố ý thức thức xâm nhập vào hiện thực
18
Trang 19phản ánh không đúng quy luật khách quan của hiện thực hay chỉ dựa trêntình cảm, lợi ích… chủ quan của lực lượng xã hội bảo thủ, lạc hậu thì chúng
sẽ kìm hãm hiện thực đó phát triển; cho dù sự kìm hãm đó chỉ mang tính tạmthời, nhưng đôi khi chúng gây ra tác hại rất lớn, trong một quãng thời gianrất ngắn
b) Chủ nghĩa chủ quan - một hình thức biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm
Sáng tạo và phản ánh là hai mặt thống nhất trong bản chất của ý thức,nếu tách sáng tạo ra khỏi phản ánh, cường điệu nó thì sẽ rơi vào chủ nghĩa
Trong đời sống xã hội, cái vật chất và cái tinh thần, cái khách quan vàcái chủ quan thống nhất và chuyển hóa lẫn nhau, ranh giới phân biệt chúng
là tương đối; nếu xác định không đúng hay lẫn lộn chúng với nhau, thì dễdẫn đến lấy cái chủ quan thay cho cái khách quan, rồi tuyệt đối hóa nhân tốchủ quan nên cuối cùng rơi vào chủ nghĩa chủ quan
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp mới, phức tạp, khó khăn,lâu dài, đòi hỏi phát huy cao độ các nhân tố chủ quan (nhiệt tình cách mạng,
ý chí ); Khi vai trò của nhân tố chủ quan càng lớn thì nguy cơ mắc bệnh chủquan, duy ý chí cũng càng lớn; khi đó, người ta sẽ lấy nhiệt tình cách mạngthay cho tri thức khoa học, lấy ý chí chủ quan thay cho quy luật khách quannên từ bỏ dần quan điểm khách quan tự rơi dần vào chủ nghĩa chủ quan
Ở Việt Nam, bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giảnđơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng đã xuất hiện trướcĐổi mới có nguyên nhân của nó và nó đã gây ra những tác hại lớn trên nhiềulĩnh vực hoạt động của nước nhà
- Nguyên nhân: Do yếu kém về năng lực tư duy, lạc hậu về lý luận, ít
kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước; Do mắc nhiều sai lầm ấutrĩ “tả” khuynh, nóng vội, những sai lầm này xảy ra trong một điều kiện lịch
sử rất đặc biệt của dân tộc ta – một dân tộc biết phát huy tối đa sức mạnhtinh thần, khao khát thoát ra khỏi cuộc sống lầm than, nô lệ ; Do không xuấtphát từ hiện thực cuộc sống, do bất chấp quy luật khách quan, do coi thườngtri thức khoa học cùng tầng lớp trí thức,…
19
Trang 20- Tác hại: Tạo ra những chính sách sai lầm, gây ra những hậu quả về
nhiều mặt (kinh tế, chính trị, xã hội…) rất nghiêm trọng và kéo dài, làm xóimòn lòng tin của nhân dân ta đối với Đảng và sự nghiệp của Đảng
Chủ nghĩa chủ quan chỉ có thể khắc phục triệt để bằng cách quán triệt
và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc khách quan
2 Nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng
a) Cơ sở lý luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nguyên tắc khách quan lần đầu tiên được bàn đến trong triết học duyvật kinh nghiệm của Ph.Bêcơn Tuy nhiên, trong nền triết học này, nguyêntắc khách quan không thể hiện được tầm quan trọng của các nhân tố chủquan của ý thức trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của conngười Khắc phục hạn chế này của nguyên tắc khách quan trong triết học tưsản thời cận đại; đồng thời chỉ ra sai lầm của việc tuyệt đối hóa nhân tố chủquan của các trào lưu triết học duy tâm, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa
trên nội dung lý luận của nguyên lý thống nhất thế giới trong tính vật chất
(xem: Mục II,1,a của Chương này) xây dựng các yêu cầu của nguyên tắc
khách quan
Vật chất là cái có trước so với tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn, và ởmột giai đoạn phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy Do tưduy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượngchúng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta vềđối tượng, mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của
chính nó; không được “bắt” đối tượng tuân theo tư duy, mà phải “bắt” tư duy
tuân theo đối tượng; không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan haymột “lôgích” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong
tư duy các hình tượng, tư tưởng – cái lôgích phát triển của chính đối tượng
đó Khi bàn về yêu cầu này, Ph.Ăngghen đã viết: “… các nguyên lý khôngphải là điểm xuất phát của sự nghiên cứu mà là kết quả cuối cùng của nó;những nguyên lý ấy không phải được ứng dụng vào giới tự nhiên và vào lịch
sử loài người, mà được trừu tượng hóa từ giới tự nhiên và vào lịch sử loàingười; không phải giới tự nhiên và loài người phải phù hợp với các nguyên
lý, mà trái lại các nguyên lý chỉ đúng trong chừng mực chúng phù hợp vớigiới tự nhiên và lịch sử”1 Việc tuân thủ nguyên tắc khách quan trong xem
1 C.Mác, Ph.Angghen, Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 1994, tr.54.
20
Trang 21xét đã được V.I.Lênin chỉ rõ: “…tính khách quan của sự xem xét (khôngphải thí dụ, không phải dài dòng, mà bản thân sự vật tự nó)”2.
Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng đượcgói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức,phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật “Nghệthuật” chinh phục như thế không thể không mang đến cho sự vật, hiện tượngmột cái gì đó xa lạ với chính nó Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thếkhó khăn Làm thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sựvật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Vấn đề càng trở nên nangiải hơn khi con người chuyển đối tượng nhận thức của mình từ lĩnh vực vĩ
mô sang siêu vĩ mô - vũ trụ hay vi mô - thế giới của các hạt cơ bản, nghĩa là
từ lĩnh vực cho phép sử dụng trực tiếp giác quan sang lĩnh vực sử dụng giántiếp giác quan hoặc sử dụng trí tưởng tượng là chủ yếu; từ lĩnh vực tự nhiênsang lĩnh vực đời sống xã hội, – nơi luôn xảy ra va chạm giữa những cá nhânhay lực lượng xã hội có mục đích, lợi ích khác nhau hay đối lập nhau Trongnhững trường hợp này, nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm
yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc về tính
đảng
Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày toàn bộ bản chấtcủa mình ra thành các hiện tượng điển hình Con người không phải chỉ nhậnthức những cái gì đã được bộc lộ ra trước chủ thể Do đó, để phản ánh kháchthể như một chỉnh thể, chủ thể tư duy không thể không bổ sung những yếu tốchủ quan như đề xuất các giả thuyết, đưa ra các dự đoán khoa học Thiếunhững điều này tư duy sẽ không mang tính biện chứng, sẽ không thể hiệnbản tính sáng tạo thông qua trí tưởng tượng của chính mình Quá trình pháttriển của nhận thức là quá trình khách quan hóa cái chủ quan và loại bỏ cáitùy tiện bám vào kết quả nhận thức Tiêu chuẩn cao nhất về tính khách quancũng như cách nhận biết cái khách quan trong cái chủ quan là thực tiễn xãhội Con người không cảm nhận trực tiếp thế giới vi mô, nhưng con ngườikhẳng định được tính khách quan của tri thức về thế giới đó qua những nhàmáy điện nguyên tử, các hệ thống máy tính, các thiết bị viễn thông, các máy
móc thông dụng thường ngày Yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo
của chủ thể đòi hỏi chủ thể tư duy phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng
để tìm ra bản chất của nó Những biến đổi, cải tạo đó là chủ quan nhưngkhông phải tùy tiện, mà là những biến đổi và cải tạo đối tượng phù hợp quyluật của hiện thực thuộc lĩnh vực nghiên cứu
2 V.I.Lênin, Toàn tập, T.29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1987, tr.239.
21
Trang 22 Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trongnhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội Đối tượng nghiên cứu baogồm cả cái vật chất lẫn cái tinh thần, chứa đầy những cái chủ quan, nhữngcái lý tưởng, và luôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiênlẫn những lực lượng tự giác (ý chí, lợi ích, mục đích, nhân cách, cá tính khácnhau) của con người Ở đây, đối tượng – khách thể tư duy quyện chặt vàochủ thể tư duy bằng hệ thống những mối liên hệ xã hội chằng chịt Do đó cầnphải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội,
tức là phải kết hợp nó với yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ
thể và nguyên tắc tính đảng Điều này có nghĩa là nguyên tắc khách quan
trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu phải xuất phát từ chính đối tượng,
từ những quy luật vận động và phát triển của nó, không được thêm bớt chủquan tùy tiện, mà nó còn đòi hỏi phải biết phân biệt những quan hệ vật chấtvới những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủquan, thừa nhận các quan hệ vật chất khách quan của tồn tại xã hội là nhữngnhân tố quyết định Còn những hiện tượng tinh thần, tư tưởng (ý thức xã hội)được quy định bởi đời sống vật chất của con người và các quan hệ kinh tếcủa họ (tồn tại xã hội) nhưng chúng có ảnh hưởng ngược lại tồn tại xã hội.Phải coi “xã hội là một cơ thể sống đang phát triển không ngừng (chứ khôngphải là một cái gì được kết thành một cách máy móc, và do đó cho phép cóthể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như thế nào cũng được), một cơ thể màmuốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cách khách quan những quan
hệ sản xuất cấu thành một hình thái kinh tế xã hội nhất định và cần phảinghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó”1
Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức
độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giảiquyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng
xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội, v.v Những đánh giá có giá trịhơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cáchgiải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giaicấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó Vì vậy, tínhkhách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắctính đảng Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu củanguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa kháchquan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp
b) Các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng
1 V.I.Lênin, Toàn tập, T1, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, tr.198.
22
Trang 23 Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:
- Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có,không được tuỳ tiện đưa ra những nhận định, đánh giá chủ quan
- Biết phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể, dám đưa ra các giảthuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểmchứng các giả thuyết đó bằng thực nghiệm
Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:
- Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chiphối nó
- Dựa trên các quy luật khách quan đó vạch ra các chương trình, mụctiêu, kế hoạch; tìm kiếm các biện pháp, công cụ, phương thức để tổ chứcthực hiện các chương trình, mục tiêu, kế hoạch đó; kịp thời điều chỉnh, uốnnắn hoạt động của con người theo lợi ích và mục đích được đặt ra
3 Sự vận dụng nguyên tắc khách quan vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta
a) Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Cụ thể:
Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để hoạchđịnh các đường lối, chiến lược, sách lược xây dựng và phát triển đất nước
Biết tìm kiếm, khai thác, sử dụng những lực lượng vật chất (từ sứcmạnh cá nhân đến sức mạnh cộng đồng, từ sức mạnh kinh tế đến sức mạnhquân sự, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh ngoài nước,…) để hiệnthực hóa các đường lối, chiến lược, sách lược xây dựng và phát triển đấtnước
Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đoàn kết toàn dântộc là động lực chủ yếu phát triển đất nước Biết kết hợp hài hòa các dạng lợiích khác nhau (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị; lợi ích vật chất, lợi ích tinhthần; lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội…) thành động lực mạnh
mẽ thúc đẩy công cuộc Đổi mới
Rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lầm, thất bại trước Đổimới, Đảng ta kết luận: “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát
từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”1
b) Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của các yếu tố chủ quan (tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí, ), tức phát huy vai
1 Đảng CSVN: Cương lĩnh xạy dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.5.
23
Trang 24trò nhân tố con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cải tạo đất nước Cụ thể:
Coi sự thống nhất giữa tình cảm (nhiệt tình cách mạng, lòng yêu nước,
ý chí quật cường,…) và tri thức (kinh nghiệm dựng nước và giữ nước, hiểubiết khoa học – kỹ thuật / công nghệ hiện đại,…) là động lực tinh thần thúcđẩy công cuộc Đổi mới Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ chỉbiết làm theo kiểu cũ, mà không biết tìm kiếm cái mới và dũng cảm làm theocái mới Cần bồi dưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng; cần khơi dậy lòngyêu nước, ý chí quật cường, tài trí người Việt Nam, v.v Phải phổ biến trithức khoa học – công nghệ hiện đại cho đông đảo cán bộ, đảng viên và nhândân; phải biết nâng cao dân trí, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài
Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng, đặc biệt làgiáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đông đảongười Việt Nam chúng ta Phải nâng cao và đổi mới tư duy lý luận, mà trướchết là tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam
Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí,lối suy nghĩ, hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan
ảo tưởng mà bất chấp quy luật khách quan, coi thường tinh hình thực tế
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Anh/Chị hãy phân tích những thành tựu và hạn chếcủa các hình thức thế giới quan duy vật trước C.Mác
2 Anh/Chị hãy phân tích nội dung và bản chất của chủnghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lý luận của thế giới quankhoa học
3 Anh/Chị hãy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêucầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang vận dụng nó như thế nàovào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta?
4 Đảng ta khẳng định: “Mọi đường lối, chủ trươngcủa Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan” Anh/Chịhãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó
5 Bằng lý luận và thực tiễn, Anh/Chị hãy chứng minhrằng: Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới mà còn góp phần sángtạo ra thế giới
24
Trang 256 Anh/Chị hãy phân tích hoàn cảnh xuất hiện, nộidung và ý nghĩa triết học câu nói của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cốnhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ
có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thànhlực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
7 Bằng lý luận và thực tiễn, Anh/Chị hãy chứng minhrằng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tưtưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thốngtrị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội”
25
Trang 26Chương 6 PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT – PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC & THỰC TIỄN
I KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG & NỘI DUNG CƠ
BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Khái quát lịch sử phép biện chứng
a) Phép siêu hình và phép biện chứng
Vấn đề về bản tính của thế giới
- Thực chất: Vấn đề về bản tính của thế giới là vấn đề nói về mối quan
hệ giữa sự liên hệ và tách biệt, giữa sự vận động và đứng im Vấn đề này đòitrả lời câu hỏi sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới cô lập, tách biệt,đứng im, bất động hay có liên hệ, ràng buộc lẫn nhau, không ngừng vậnđộng, thay đổi?
- Cách giải quyết: Vấn đề về bản tính của thế giới có hai cách giải quyết
đối lập nhau: Cách giải quyết siêu hình cho rằng, mọi sự vật, hiện tượngtrong thế giới cô lập, tách biệt, đứng im, bất động Cách giải quyết biệnchứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới liên hệ, ràng buộc lẫnnhau, không ngừng vận động, thay đổi
Phép siêu hình
- Thực chất: Phép siêu hình là một phương pháp triết học đòi hỏi phải
xem xét sự vật, hiện tượng trong sự cô lập, tách biệt, đứng im, bất động; cònnếu có sự liên hệ, vận động, thay đổi thì đó chỉ là sự liên hệ bên ngoài, sựvận động, thay đổi đơn thuần về lượng,… Phép siêu hình còn là một lý luậntriết học bàn về những cái bản chất cô lập, bất biến của vạn vật trong thếgiới, tức Siêu hình học
- Nguồn gốc, nguyên nhân tồn tại: Phép siêu hình xuất hiện là do việc
xem xét một cách phiến diện, tuyệt đối hóa một mặt hay một vài đặc tính nào
đó của sự vật; là do việc xem xét tách rời, tuyệt đối hóa tính ổn định của sựvật (bản chất) Phép siêu hình được hình thành còn do chúng ta tuyệt đốihóa, thần thánh hóa tri thức triết học
Phép biện chứng
26
Trang 27- Thực chất: Phép biện chứng là một phương pháp triết học đòi hỏi phải
xem xét sự vật, hiện tượng trong sự liên hệ, ràng buộc lẫn nhau, luôn vậnđộng, phát triển Phép biện chứng còn là một lý luận triết học bàn về mốiliên hệ và sự vận động, phát triển của vạn vật xảy ra trong thế giới
- Hình thức: Phép biện chứng có ba hình thức cơ bản là: phép biện
chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật
Cuộc đấu tranh giữa phép siêu hình và phép biện chứng là một động
lực thúc đẩy sự phát triển lịch sử triết học Cuộc đấu tranh này làm cho phépsiêu hình ngày càng tinh vi, còn phép biện chứng ngày càng sâu sắc Đócũng là cuộc đấu tranh để hoàn thiện năng lực nhận thức, nâng cao năng lực
tư duy lý luận và năng lực cải tạo thế giới của con người
b) Khái quát các hình thức lịch sử của phép biện chứng
Phép biện chứng chất phác
- Phép biện chứng chất phác xuất hiện trong nền triết học cổ đại; nó
được hiểu như:
+ Cách nhìn nhận thế giới theo quan niệm nhân duyên, vô ngã, vô
thường (Phật Thích Ca)
+ Đấu tranh - chuyển hóa của các mặt đối lập (Thuyết Am dương); Sự vận động của vạn vật theo quy luật tương sinh, quy luật tương khắc (Thuyết
Ngũ hành)
+ Thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập; Sự vận động
của vạn vật theo quy luật quân bình và quy luật phản phục (Lão Tử)
+ Nghệ thuật đàm thoại, nghệ thuật tranh luận sáng tạo, dắt dẫn linh hồn
nhận thức đến với chân lý – thế giới ý niệm (Xôcrát - Platông).
+ Cách xem xét sự vật trong mối liên hệ, trong sự vận động, phát triển
để nhận thức được cái lôgốt của sự vật hay bản tính của thế giới “Không ai
hai lần tắm trong cùng một dòng sông” (Hêraclít)
- Phép biện chứng chất phác mang tính tự phát và mộc mạc
+ Tính tự phát: Phép biện chứng chất phác mới chỉ là sự cảm nhận trực
tiếp thế giới như một hệ thống chỉnh thể (mọi cái liên hệ, tác động lẫn nhau,luôn nằm trong quá trình sinh thành, biến hóa và diệt vong) mà chưa là hệthống tri thức lý luận chặt chẽ, nhất quán về sự liên hệ, ràng buộc, về quátrình vận động, phát triển xảy ra trong thế giới
+ Tính mộc mạc: Phép biện chứng chất phác mới chỉ là những suy luận,
phỏng đoán của trực giác hay dựa trên kinh nghiệm đời thường mà chưa
27
Trang 28được chứng minh bằng tri thức khoa học, nhưng về căn bản những luận điểm
mà nó đưa ra là đúng
+ Khi nhận định về phép biện chứng chất phác trong nền triết học cổ HiLạp, Ph.Angghen viết: “Những nhà triết học Hi Lạp đều là những nhà biệnchứng tự phát bẩm sinh, và Arixtốt, bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triếthọc ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biệnchứng”1 “Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chấtthuần phác tự nhiên chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu”, và
“nếu về chi tiết, chủ nghĩa siêu hình là đúng hơn so với những người Hi Lạp,thì về toàn thể những người Hi Lạp lại đúng hơn so với chủ nghĩa siêuhình”2
Phép biện chứng duy tâm
- Phép biện chứng duy tâm thể hiện trong triết học của Căntơ, triết học
của Phíchtơ, triết học của Sêlinh, đặc biệt là trong triết học của Hêghen, tức trong nền triết học cổ điển Đức.
+ Trong triết học của Căntơ chứa đựng tư tưởng biện chứng về sự thống
nhất (thâm nhập) của các mặt đối lập tạo thành động lực của sự vận động,phát triển
+ Trong triết học của Phíchtơ chứa đựng tư tưởng biện chứng về mâu
thuẫn là nguồn gốc của sự vận động, phát triển; và là bản tính của tư duy(tinh thần, nhận thức)
+ Trong triết học của Sêlinh chứa đựng tư tưởng biện chứng về mối liên
hệ phổ biến; về sự đồng nhất, thống nhất, đấu tranh của các mặt đối lập (cáclực lượng tinh thần đối lập) trong giới tự nhiên
+ Trong triết học của Hêghen chứa đựng tư tưởng biện chứng về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển của cái tinh thần Phép biện chứng
Hêghen là hệ thống lý luận về quá trình tự vận động, phát triển của ý niệm tuyệt đối [Ý niệm tuyệt đối tự vận động trong chính nó (tư duy thuần túy),
rồi nó tự tha hoá để biến nó thành cái khác nó (giới tự nhiên), sau đó, nó tựkhắc phục sự tha hóa đó để quay về với nó trong tinh thần tuyệt đối (xã
hội)] Phép biện chứng Hêghen bao gồm: Một là, lý luận về tồn tại (cái bên
ngoài, trực tiếp của ý niệm tuyệt đối, có thể nhận biết bằng cảm tính) thể
hiện qua các phạm trù: chất, lượng, độ; Hai là, lý luận về bản chất (cái bên
trong, gián tiếp, đầy sự đối lập, mâu thuẫn của ý niệm tuyệt đối, chỉ nhậnbiết bằng lý tính) thể hiện qua các phạm trù: hiện tượng – bản chất, ngẫu
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.34.
2 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.491.
28
Trang 29nhiên – tất nhiên, nội dung – hình thức, ; Ba là, lý luận về khái niệm (sự
thống nhất giữa tồn tại và bản chất) thể hiện qua các phạm trù: cái đơn nhất –cái đặc thù – cái phổ biến, cái trừu tượng – cái cụ thể,…
- Phép biện chứng duy tâm là phép biện chứng tư duy, là phép biện
chứng của khái niệm; nó mang tính tư biện, thần bí.
+ Phép biện chứng duy tâm là một hệ thống các nguyên lý, quy luật,phạm trù chuyển hóa lẫn nhau phản ánh mối liên hệ và sự vận động, pháttriển diễn ra trong thế giới tinh thần Nó vừa là một hệ thống lý luận kháhoàn chỉnh về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển vừa là một phươngpháp tư duy triết học phổ biến Phép biện chứng duy tâm đã hoàn thành cuộccách mạng về phương pháp, nhưng cuộc cách mạng đó xảy ra ở tận trên trời,chứ không phải xảy ra dưới trần gian, trong cuộc sống hiện thực, do đó nó
“không tránh khỏi tính chất gò ép, giả tạo, hư cấu, tóm lại là bị xuyên tạc”1
+ Theo V.I.Lênin, những kết luận của phép biện chứng duy tâm trong
nền triết học cổ điển Đức là những phỏng đoán tài tình về “biện chứng của
sự vật trong biện chứng của khái niệm”2
+ “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tayHêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trìnhbày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung củaphép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn đầu xuống đất Chỉ cầndựng nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏthần bí của nó”3
Phép biện chứng duy vật
- C.Mác và Ph.Angghen cải tạo “hạt nhân hợp lý” của phép biện
chứng duy tâm Hêghen theo tinh thần triết học duy vật của Phoiơbắc, xây dựng phép biện chứng duy vật.
+ “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”4; “Phép biệnchứng … là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và
sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”5
+ “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thứchoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.41.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, T.29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2005, tr.209.
3 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.494.
4 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.455.
5 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.201.
29
Trang 30của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn pháttriển không ngừng”1
+ Phép biện chứng duy vật bao gồm phép biện chứng khách quan vàphép biện chứng chủ quan “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trongtoàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biệnchứng, thì chỉ là sự phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, của sựvận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấutranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hóa cuối cùng của chúng từ mặtđối lập này thành mặt đối lập kia”2
+ Phép biện chứng duy vật vừa là thế giới quan duy vật biện chứng vừa
là phương pháp luận biện chứng duy vật, vừa là lôgích biện chứng vừa lànhận thức luận biện chứng duy vật Về điều này, V.I.Lênin nhận xét như sau:
“Mác không để lại cho chúng ta “lôgíc học” (với chữ L viết hoa), nhưng đã
để lại cho chúng ta lôgích của “Tư bản”, và cần phải tận dụng đầy đủ nhất lôgích đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu Trong “Tư
bản”, Mác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức (không cần
ba từ: đó là cùng một cái duy nhất) của chủ nghĩa duy vật vào một khoa họcduy nhất”3
- Là đỉnh cao của tư duy nhân lọai, phép biện chứng duy vật mang tính
tự giác, tính khoa học và tính cách mạng triệt để Nó được thể hiện trong
một hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù chuyển hóa lẫn nhau phảnánh mối liên hệ và sự vận động, phát triển xảy ra trong thế giới (tự nhiên, xãhội và tư duy con người)
2 Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
a) Nguyên lý là gì?
Nguyên lý là những luận điểm xuất phát (tư tưởng chủ đạo) của một
học thuyết (lý luận) mà tính chân lý của nó là hiển nhiên, tức không thể haykhông cần phải chứng minh nhưng không mâu thuẫn với thực tiễn và nhậnthức về lĩnh vực mà học thuyết đó phản ánh
Nguyên lý được khái quát từ kết quả hoạt động thực tiễn – nhận thứclâu dài của con người Nó vừa là cơ sở lý luận của học thuyết, vừa là công cụtinh thần để nhận thức (lý giải – tiên đoán) và cải tạo thế giới
1 V.I.Lênin: Toàn tập, T.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 2005, tr.53.
2 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.694.
3 V.I.Lênin: Toàn tập, T.29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.359-360.
30
Trang 31 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý thể hiện qua các nguyên tắc
tương ứng Nguyên tắc là những yêu cầu nền tảng đòi hỏi chủ thể phải tuân
b) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến
- Mối liên hệ là sự tác động (ràng buộc, thâm nhập…) lẫn nhau giữa các
sự vật, hiện tượng mà trong đó, sự thay đổi của cái này sẽ tất yếu kéo theo sựthay đổi của cái kia Đối lập với mối liên hệ là sự tách biệt Sự tách biệtcũng là sự tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng nhưng sự thay đổi củacái này sẽ không tất yếu kéo theo sự thay đổi của cái kia Do vậy mà mọi sựvật, hiện tượng trong thế giới vừa tách biệt vừa liên hệ: Thế giới là một hệthống thống nhất mọi yếu tố, bộ phận của nó
- Mối liên hệ mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng
- Mối liên hệ có thể được chia ra thành: Mối liên hệ bên trong và mốiliên hệ bên ngòai; Mối liên hệ trong tự nhiên, mối liên hệ trong xã hội vàmối liên hệ trong tư duy; Mối liên hệ riêng, mối liên hệ chung và mối liên hệphổ biến
- Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập
tồn tại trong mọi sự vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực
- Mối liên hệ phổ biến mang tính khách quan và phổ biến Nó chi phối
tổng quát sự vận động, phát triển của mọi sự vật, quá trình xảy ra trong thếgiới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng
- Mối liên hệ phổ biến được nhận thức trong các (cặp) phạm trù biệnchứng như mối liên hệ giữa: mặt đối lập - mặt đối lập; chất - lượng; cái cũ –cái mới; cái riêng – cái chung; nguyên nhân – kết quả; nội dung – hình thức;bản chất – hiện tượng; tất nhiên – ngẫu nhiên; khả năng – hiện thực
Nội dung nguyên lý
- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mốiliên hệ ràng buộc lẫn nhau
- Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có nhữngmối liên hệ phổ biến Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến;
31
Trang 32chúng chi phối một cách tổng quát quá trình vận động, phát triển của mọi sựvật, hiện tượng xảy ra trong thế giới.
c) Nguyên lý về sự phát triển
Sự vận động và sự phát triển
- Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất;
vận động được hiểu như sự thay đổi nói chung “Vận động hiểu theo nghĩachung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là mộtthuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quátrình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”1
- Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện, do việc giải quyết mâuthuẫn trong bản thân sự vật gây ra, được thực hiện thông qua bước nhảy vềchất, và diễn ra theo xu hướng theo phủ định của phủ định Ở khía cạnh
khác, phát triển được xem là một khuynh hướng vận động tổng hợp của một
hệ thống sự vật, trong đó, sự vận động có thay đổi những quy định về chất(thay đổi kết cấu - tổ chức) của hệ thống sự vật theo xu hướng tiến bộ giữ vaitrò chủ đạo; còn sự vận động có thay đổi những quy định về chất của sự vậttheo xu hướng thoái bộ và sự vận động chỉ có thay đổi những quy định vềlượng của sự vật theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xuhướng chủ đạo trên Theo cách hiểu này, trong quá trình phát triển của các
hệ thống vật chất xảy ra trong thế giới, không chỉ là sự thay đổi tiến bộ màcòn chứa trong mình những sự thay đổi thoái bộ tạm thời, không chỉ là sựthay mà còn chứa trong mình những sự ổn định tương đối nữa
+ “Hai quan điểm cơ bản… về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triểncoi như là giảm đi và tăng lên, như lập lại; và phát triển coi như sự thốngnhất của các mặt đối lập Quan điểm thứ nhất thì chết cứng, nghèo nàn, khôkhan Quan điểm thứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ hai mới cho tachìa khóa của “sự tự vận động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; chỉ có
nó mới cho ta chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của “sự gián đoạn củatính tiệm tiến”, của “sự chuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái
cũ và sự nảy sinh ra cái mới”2
+ Phát triển như sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập, giữa chất và lượng,giữa cái cũ và cái mới, giữa cái riêng và cái chung, giữa nguyên nhân và kếtquả, giữa nội dung và hình thức, giữa bản chất và hiện tượng, giữa tất nhiên
và ngẫu nhiên, giữa khả năng và hiện thực
1 C.Mác và Ph.Angghen: Toàn tập, T.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.519.
2 V.I.Lênin: Toàn tập, T.29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.379.
32
Trang 33+ Phát triển là qúa trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách
quan, phổ biến và đa dạng: Phát triển trong giới tự nhiên vô sinh; phát triển
trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát triển trong tư duy,tinh thần
Nội dung nguyên lý
- Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động vàphát triển
- Phát triển mang tính khách quan - phổ biến, là khuynh hướng vậnđộng tổng hợp tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kémhoàn thiện đến hoàn thiện của một hệ thống vật chất, do việc giải quyết mâuthuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định củaphủ định
3 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
a) Quy luật là gì?
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, chung,
lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng và chi phối sự vận động, phát triển củachúng
Quy luật là sự phản ánh những mối liên hệ khách quan, bản chất… củahiện thực khách quan (giới tự nhiên, xã hội) và hiện thực chủ quan (tư duycon người) Quy luật là đối tượng nghiên cứu của mọi ngành khoa học, là cốtlõi lý thuyết khoa học Quy luật và bản chất là những khái niệm cùng trìnhđộ
Quy luật là công cụ tinh thần để nhận thức (lý giải – tiên đóan) và cảitạo thế giới Dựa trên nội dung quy luật, phương pháp luận xây dựng các quytắc, phương pháp để chỉ đạo hoạt động của chủ thể trong quá trình nhận thức
và thực tiễn Muốn hoạt động thành công phải hiểu đúng quy luật và làmtheo quy luật, tức làm theo các các quy tắc, phương pháp,… do phươngpháp luận đưa ra
Quy luật bao gồm quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật tư duy(dựa theo lĩnh vực tác động); hay quy luật riêng, quy luật chung và quy luậtphổ biến (dựa theo mức độ phổ quát) Có ba quy luật phổ biến cơ bản củaphép biện chứng duy vật; đó là: quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập; quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thayđổi về chất, và ngược lại; và quy luật phủ định của phủ định
b) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Mặt đối lập; thống nhất, đấu tranh, chuyển hóa của các mặt đối lập
33
Trang 34- Mặt đối lập: Sự vật là một tập hợp các yếu tố (thuộc tính) tương tác
với nhau và với môi trường Kết quả của sự tương tác này là các yếu tố tạonên bản thân sự vật có một sự biến đổi nhất định, trong đó có vài yếu tố(biến đổi) trái ngược nhau Những yếu tố trái ngược nhau (bên cạnh nhữngyếu tố khác hay giống nhau) tạo nên cơ sở của các mặt đối lập trong sự vật.Mặt đối lập tồn tại khách quan và phổ biến
- Thống nhất của các mặt đối lập là các mặt đối lập không tách rời
nhau, tức mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm điều kiện, tiền đề cho sựtồn tại của mình; là các mặt đối lập đồng nhất nhau, tức trong chúng chứanhững yếu tố giống nhau cho phép chúng đồng tồn tại trong sự vật; là cácmặt đối lập tác động ngang nhau, tức sự thay đổi trong mặt đối lập này tấtyếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong mặt đối lập kia, và ngược lại
- Đấu tranh của các mặt đối lập: Dù tồn tại trong sự thống nhất, song
các mặt đối lập luôn đấu tranh với nhau, tức chúng luôn tác động qua lại theo
xu hướng bài trừ, phủ định hay loại bỏ lẫn nhau Hình thức và mức độ đấutranh của các mặt đối lập rất đa dạng, trong đó thủ tiêu lẫn nhau là một hìnhthức đấu tranh đặc biệt của các mặt đối lập
- Chuyển hóa của các mặt đối lập (giải quyết mâu thuẫn biện chứng):
Sự thống nhất mang tính tương đối gắn liền với sự ổn định của sự vật; Sựđấu tranh mang tính tuyệt đối gắn liền với sự vận động, thay đổi của bảnthân sự vật Mâu thuẫn biện chứng phát triển tương ứng với quá trình thốngnhất các mặt đối lập chuyển từ mức độ trừu tượng sang cụ thể; còn sự đấutranh các mặt đối lập chuyển từ mức bình lặng sang quyết liệt Điều này làmxuất hiện các khả năng chuyển hóa của các mặt đối lập Khi điều kiện kháchquan hội đủ, một trong các khả năng đó sẽ biến thành hiện thực, các mặt đốilập tự thực hiện quá trình chuyển hóa Mâu thuẫn biện chứng sẽ được giảiquyết khi các mặt đối lập tự phủ định chính mình để biến thành cái khác Cóhai phương thức chuyển hóa: một là, mặt đối lập này chuyển hóa thành mặtđối lập kia ở một trình độ mới; và hai là, cả hai mặt đối lập cùng chuyển hóathành những cái thứ ba nào đó mà quy luật khách quan và điều kiện, tìnhhình cho phép
- Mâu thuẫn biện chứng, tức sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, tồn tại khách quan, phổ biến và rất đa dạng (mâu thuẫn bên trong - mâu
thuẫn bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản - mâu thuẫn không cơ bản; mâu thuẫnchủ yếu - mâu thuẫn thứ yếu; mâu thuẫn trong tự nhiên - mâu thuẫn trong xãhội - mâu thuẫn trong tư duy) Sự tác động của mâu thuẫn biện chứng lênbản thân sự vật là nguồn gốc, động lực của mọi sự tự vận động, phát triểnxảy ra trong thế giới
34
Trang 35 Nội dung quy luật
- Các mâu thuẫn biện chứng khác nhau tác động không giống nhau đếnquá trình vận động và phát triển của sự vật;
- Mỗi mâu thuẫn biện chứng đều trải qua các giai đoạn: từ sinh thành(sự xuất hiện của các mặt đối lập), sang hiện hữu (sự thống nhất và đấu tranhcủa các mặt đối lập), rồi giải quyết (sự chuyển hóa của các mặt đối lập);
- Mâu thuẫn biện chứng được giải quyết, cái cũ mất đi, cái mới ra đờivới những mâu thuẫn biện chứng mới hay thay đổi vai trò, tác động của cácmâu thuẫn biện chứng cũ;
- Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của mọi sự vận động và pháttriển Do đó, vận động và phát triển trong thế giới vật chất mang tính tự thân
c) Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất, và ngược lại
Chất, lượng, độ, điểm nút, bước nhảy
- Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật,
đặc trưng cho sự vật là nó, giúp phân biệt nó với các sự vật khác
- Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự
vật, biểu thị về mặt quy mô, tốc độ của sự vận động, phát triển của sự vậtcũng như của các thuộc tính (chất) của nó
- Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ giới hạn mà trong đó sự thay đổi
về lượng chưa làm cho chất thay đổi căn bản, chất cũ chưa mất đi và chấtmới vẫn chưa xuất hiện
- Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ mốc (giới hạn) mà sự thay
đổi về lượng vượt qua nó sẽ làm chất thay đổi căn bản
- Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất do
những thay đổi về lượng trước đó gây ra Bước nhảy là giai đoạn cơ bảntrong tiến trình phát triển của bản thân sự vật, nó tồn tại khách quan, phổbiến, đa dạng Bước nhảy có thể chia thành: Bước nhảy toàn bộ - bước nhảycục bộ; Bước nhảy đột biến - bước nhảy dần dần; Bước nhảy trong tự nhiên -bước nhảy trong xã hội - bước nhảy trong tư duy
Nội dung quy luật
- Mọi sự vật đều được đặc trưng bằng sự thống nhất giữa chất vàlượng
35
Trang 36- Sự vật bắt đầu vận động, phát triển bằng sự thay đổi về lượng (mộtcách liên tục hay tiệm tiến); nếu lượng chỉ thay đổi trong độ, chưa vượt quáđiểm nút thì chất không thay đổi căn bản; khi lượng thay đổi vượt qua độ,quá điểm nút thì chất sẽ thay đổi căn bản, bước nhảy nhất định sẽ xảy ra.
- Bước nhảy làm cho chất thay đổi (một cách gián đoạn hay đột biến);Chất (sự vật) cũ mất đi, chất (sự vật) mới ra đời; Chất mới gây ra sự thay đổi
về lượng (làm thay đổi quy mô tồn tại, tốc độ, nhịp điệu vận động, phát triểncủa sự vật)
- Sự thay đổi về lượng gây ra sự thay đổi về chất, và sự thay đổi về chấtgây ra sự thay đổi về lượng là phương thức vận động, phát triển của mọi sựvật trong thế giới Phát triển vừa mang tính liên tục vừa mang tính gián đoạn
d) Quy luật phủ định của phủ định
Phủ định biện chứng, phủ định của phủ định
- Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ một mắt khâu
của quá trình tự phát triển của sự vật đưa đến sự ra đời của cái mới tiến bộhơn so với cái cũ lỗi thời bị phủ định Phủ định biện chứng cũng là sự khẳngđịnh – khẳng định các yếu tố tích cực (chứa trong cái cũ) có lợi cho sự tồntại tiếp theo của sự vật (cái mới) Phủ định biện chứng gắn liền với giải quyếtmâu thuẫn và bước nhảy về chất xảy ra bên trong sự vật; nó mang tính kháchquan - nội tại, tính kế thừa – tiến lên
- Phủ định của phủ định là phạm trù triết học dùng để chỉ sự xác lập lại
cái cũ, tức khẳng định lại cái đã bị phủ định, ở một trình độ cao hơn trongquá trình tự phát triển của bản thân sự vật Trong sự phủ định của phủ định,cái cũ bị phủ định trong lần phủ định thứ nhất đưa đến sự ra đời của cái mới;cái mới này chứa sự phủ định mình trong lần phủ định sau đó Lần phủ địnhnào làm xuất hiện cái mới, nhưng trong cái mới này có lặp lại (yếu tố) cái cũ
đã bị phủ định trong lần phủ định thứ nhất, sự vật quay trở về cái ban đầu(cái cũ) nhưng ở một trình độ cao hơn thì lần phủ định đó được gọi là phủ
định của phủ định Phủ định của phủ định mang tính chu kỳ hở
- Qua nhiều lần phủ định biện chứng (có cả phủ định của phủ định) sựvật loại dần cái tiêu cực, tích lũy dần cái tích cực, làm cho cái mới ra đờiquay về với cái cũ, cái khẳng định quay trở lại với cái bị phủ định ở mộttrình độ cao hơn Phát triển, vì vậy mà diễn ra theo khuynh hướng xoắn ốctiến lên
Nội dung quy luật
36
Trang 37- Mọi sự vật đều liên hệ lẫn nhau và luôn vận động, phát triển; pháttriển là một chuỗi các lần phủ định biện chứng có gắn liền với việc giảiquyết mâu thuẫn và thực hiện bước nhảy về chất xảy ra bên trong sự vật
- Là vòng khâu liên hệ giữa cái mới với cái cũ, cái mới (cái được khẳngđịnh) ra đời trên cơ sở loại bỏ những yếu tố tiêu cực, đồng thời lưu giữ, cảitạo những yếu tố tích cực của cái cũ (cái bị phủ định); Phủ định biện chứngmang tính khách quan - nội tại, tính kế thừa – tiến lên
- Qua một số lần phủ định biện chứng xuất hiện phủ định của phủ định,xác lập lại cái cũ (khẳng định lại cái đã bị phủ định) ở một trình độ cao hơn;Phủ định của phủ định mang tính chu kỳ hở
- Phủ định của phủ định vạch ra khuynh hướng phát triển xoắn ốc tiếnlên của mọi sự vật trong thế giới
4 Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật
a) Phạm trù là gì?
Phạm trù là hình thức tư duy phản ánh một cách trừu tượng và khái
quát nhất một mặt, một thuộc tính cơ bản nhất của một lĩnh vực hay toàn bộhiện thực nói chung
Phạm trù được hình thành từ trong quá trình hoạt động nhận thức củacon người Chúng là những “bậc thang”, những “nút mạng” của quá trìnhnhận thức, mà trước hết là của nhận thức triết học và nhận thức khoa học….Chúng không chỉ là công cụ tinh thần để nhận thức (tức để lý giải, để tiênđóan) mà còn là công cụ tinh thần để chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải tạo thếgiới Cùng với sự vận động và phát triển của hoạt động thực tiễn và hoạtđộng nhận thức của con người, phạm trù cũng luôn vận động và phát triển.Chúng vừa là kết quả, vừa là điểm tựa cho hoạt động thực tiễn và hoạt độngnhận thức của nhân loại
Có hai nhóm phạm trù:
- Nhóm phạm trù khoa học mang tính khu biệt, vì chúng phản ánh mộtcách trừu tượng và khái quát nhất một mặt, một thuộc tính cơ bản nhất củamột lĩnh vực hiện thực nhất định mà một ngành khoa học nào đó nghiên cứu,
và chúng chủ yếu chỉ được dùng cho ngành khoa học đó
- Nhóm phạm trù triết học mang tính đặc biệt, vì chúng phản ánh mộtcách trừu tượng và khái quát nhất một mặt, một thuộc tính cơ bản nhất củatoàn bộ hiện thực nói chung; chúng thường xuất hiện từng cặp và được dùng
trong mọi ngành khoa học Phép biện chứng có sáu cặp phạm trù Đó là: cái
37
Trang 38riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nộidung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực.
b) Cái riêng và cái chung
Khái niệm
- Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một trong những sự vật
riêng lẻ, xác định mà trong chúng có chứa những thuộc tính, yếu tố chung
- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ một mặt (thuộc tính, yếu
tố) không chỉ có ở trong cái riêng (sự vật) này mà còn được lập lại trongnhững cái riêng (sự vật) khác nữa
+ Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ một mặt (thuộc tính,
yếu tố) chỉ có ở trong một cái riêng nào đó nhất định mà không có trongnhững cái riêng khác
+ Cái phổ biến là phạm trù triết học dùng để chỉ một mặt (thuộc tính,
yếu tố) không chỉ có ở trong cái riêng này mà còn có trong mọi cái riêngkhác
Mối quan hệ biện chứng
- Cái chung chỉ tồn tại trong những cái riêng, và thông qua những cáiriêng mà cái chung biểu hiện sự tồn tại của chính mình
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ dẫn đến cái chung, và thôngqua cái chung mà những cái riêng có liên hệ, chuyển hóa lẫn nhau
- Cái chung chỉ là một bộ phận của cái riêng, do đó, cái riêng không gianhập hết vào trong cái chung, bên trong cái riêng còn có chứa cái đơn nhất
- Trong những điều kiện xác định, cái đơn nhất và cái chung (cái đặcthù hay cái phổ biến) có thể chuyển hóa lẫn nhau:
+ Cái mới thường xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất, qua quá trình pháttriển mở rộng, cái mới sẽ chiến thắng cái cũ và trở thành cái chung / cái phổbiến
+ Cái cũ ban đầu thường tồn tại dưới dạng cái phổ biến / cái chung, sau
đó nó ngày càng suy yếu, thu hẹp dần thành cái đơn nhất và cuối cùng mấtđi
c) Nguyên nhân và kết quả
Khái niệm
38
Trang 39- Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tương tác giữa các
sự vật hay giữa các yếu tố, bộ phận của chúng mà có gây ra những biến đổinhất định kèm theo (tức kết quả)
- Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi nhất định do
sự tương tác giữa các sự vật hay giữa các yếu tố, bộ phận của chúng (tức donguyên nhân) gây ra
+ Mối liên hệ nhân quả mang tính khách quan, phổ biến, tất yếu: Mọi sự
thay đổi xảy ra trong thế giới đều có nguyên nhân, do mối liên hệ nhân quả chi phối Nguyên lý nhân quả là cơ sở của quyết định luận: Những nguyên nhân nhất định tác động trong những hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra những kết quả nhất định
Mối quan hệ biện chứng
- Nguyên nhân nào kết quả nấy
+ Nhiều nguyên nhân khác nhau cùng tác động để sinh ra nhiều kết quảkhác nhau Trường hợp một nguyên nhân duy nhất tác động để sinh ra mộtkết quả duy nhất chỉ là sự trừu tượng hóa trong nhận thức của con người.+ Các nguyên nhân khác nhau (nguyên nhân cơ bản - nguyên nhânkhông cơ bản, nguyên nhân chủ yếu - nguyên nhân thứ yếu, nguyên nhânbên trong - nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân khách quan - nguyên nhânchủ quan,…) có vai trò khác nhau trong việc sản sinh ra kết quả
+ Những nguyên nhân tác động cùng hướng sẽ tăng cường tác dụng củanhau; những nguyên nhân tác động khác hướng sẽ làm suy yếu hay triệt tiêutác dụng của nhau
- Sự tác động của kết quả lên nguyên nhân của nó: Kết quả (là một quá
trình) có thể ảnh hưởng ngược lại nguyên nhân (cũng là một quá trình) sinh
ra nó
- Nguyên nhân và kết quả thay đổi vị trí cho nhau: Kết quả do nguyên
nhân trước sinh ra, sẽ trở thành nguyên nhân mới sản sinh ra kết quả mới…;quá trình cứ như thế tiếp diễn tạo nên chuỗi nhân quả vô tận Chuỗi nhân quảđơn tuyến chỉ là sự trừu tượng hóa trong nhận thức của con người Trong thế
giới tồn tại các chuỗi nhân quả đa tuyến đan xen tạo nên màng lưới nhân
quả; thông qua màng lưới nhân quả, vạn vật ảnh hưởng, tác động lẫn nhau và
làm cho nhau thay đổi, phát triển
d) Tất nhiên và ngẫu nhiên
Khái niệm
39
Trang 40- Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái (sự vật, hiện tượng, quá
trình) phải xảy ra như thế chứ không thể thế khác được Tất nhiên do nhữngnguyên nhân cơ bản, bên trong; do những quy luật động lực học (quy luật
phản ánh cái tất nhiên dưới dạng “thuần tuý”) chi phối; do đó, tất nhiên hay
quy luật động lực học bao giờ cũng thể hiện tính nhân quả thẳng, tức tínhnhân quả đơn trị
- Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái (sự vật, hiện tượng,
quá trình) có thể xảy ra như thế này nhưng cũng có thể xảy ra như thế khác.Ngẫu nhiên do những nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của hoàncảnh; do những quy luật thống kê - xác suất (quy luật phản ánh cái xác suất,
tức phản ánh sự thống nhất tất nhiên với ngẫu nhiên) quy định; do đó, ngẫu
nhiên hay quy luật thống kê - xác suất biểu thị tính nhân quả phân nhánh, tứctính nhân quả đa trị
Mối quan hệ biện chứng
- Tính thống nhất giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
+ Quá trình vận động và phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng bị chi
phối chủ yếu bởi cái tất nhiên, nhưng cái ngẫu nhiên có ảnh hưởng làm cho
quá trình vận động và phát triển ấy diễn ra nhanh hơn hay chậm hơn
+ Cái tất nhiên bao giờ cũng “vạch đường” cho mình đi xuyên qua vô số
cái ngẫu nhiên; cái ngẫu nhiên chỉ là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên
Bản thân cái tất nhiên chỉ có thể được tạo nên từ những cái ngẫu nhiên Còn
tất cả những gì trong hiện thực được coi là ngẫu nhiên đều ẩn giấu trong
mình cái tất nhiên nào đó
- Sự chuyển hóa giữa giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
+ Trong những điều kiện nhất định, cái ngẫu nhiên có thể chuyển hóa
thành cái tất nhiên; và ngược lại, cái tất nhiên có thể chuyển hóa thành cáingẫu nhiên
+ Ranh giới giữa cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên là tương đối; ranh giới
này phụ thuộc vào điều kiện tồn tại cụ thể của bản thân sự vật
e) Nội dung và hình thức
Khái niệm
- Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ tất cả các mặt, các yếu tố,
các quá trình tồn tại theo một hình thức nhất định tạo nên sự vật
- Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ một hệ thống các mối liên
hệ tương đối bền vững ổn định, tạo nên cấu trúc nội tại của nội dung, và là
40