1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

SACÔM EWING Ở TRẺ EM (Kỳ 1) ppsx

5 334 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 187,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả mô tả ca bệnh UT của xương dài, triệu chứng lâm sàng và hình ảnh X quang tương tự như sacôm xương nhưng hình ảnh mô bệnh học không biệt hoá, đặc biệt khác với sacôm xương về tính

Trang 1

SACÔM EWING Ở TRẺ EM

(Kỳ 1)

TS Nguyễn Đại Bình

1 ĐẠI CƯƠNG

1.1 Vài nét về lịch sử

Sacôm Ewing là một nhóm UT đặc biệt của mô nâng đỡ, lần đầu tiên được

Jame Ewing mô tả vào năm 1921 Tác giả mô tả ca bệnh UT của xương dài, triệu

chứng lâm sàng và hình ảnh X quang tương tự như sacôm xương nhưng hình ảnh

mô bệnh học không biệt hoá, đặc biệt khác với sacôm xương về tính nhạy cảm đối

với tia xạ Thay vì sacôm xương hầu như không hề đáp ứng với tia xạ thì sacôm

Ewing lại nhạy cảm với tia và có thể điều trị khỏi bằng tia xạ Jame Ewing cho

rằng loại UT này có nguồn gốc nội biểu mô

Gần đây, nhờ tiến bộ của hoá mô miễn dịch, các nhà mô bệnh học nhận

thấy sacôm Ewing có nguồn gốc thần kinh, cùng nguồn gốc với UT này còn có

sacôm Ewing của phần mềm (còn gọi là sacôm Ewing ngoài xương) và u ngoại bì

thần kinh nguyên thuỷ mà trước đây người ta gọi là UT biểu mô thần kinh (neuro

epithelioma) Cả 3 loại UT này đều giống nhau về nhuộm hoá mô miễn dịch

Trang 2

Điểm khác nhau là sacôm Ewing của xương và của phần mềm thuộc loại tế bào

không biệt hoá còn u ngoại bì thần kinh nguyên thuỷ tương đối biệt hoá Do xuất

phát từ chung nguồn gốc, mặc dù biểu hiện ở phần cứng (xương) hoặc phần mềm,

mặc dù mức độ biệt hoá tế bào khác nhau nhưng 3 loại UT trên có đặc tính bệnh

lý, biểu hiện lâm sàng, điều trị và tiên lượng cơ bản giống nhau Bởi vậy, người ta

gọi 3 UT này là UT họ Ewing, trên lâm sàng gọi là nhóm sacôm Ewing

1.2 Dịch tễ học

Tỷ lệ mắc của nhóm sacôm Ewing tương đối thấp Tại Mỹ, tỷ lệ mắc là

2,1/1.000.000 trẻ em Nhóm UT này ít xuất hiện ở trẻ em < 10 tuổi Thường gặp

nhất là ở trẻ em > 10 tuổi và trong phạm vi 10 – 20 tuổi tương tự sacôm xương

Trẻ trai mắc nhiều hơn trẻ gái

Đặc biệt, ở người lớn nhóm sacôm Ewing không thấy xuất hiện ở độ

tuổi > 30 tuổi

1.3 Nguyên nhân

Nguyên nhân sinh bệnh chủ yếu là do rối loạn nhiễm sắc thể Thường gặp

nhất là các chuyển đoạn nhiễm sắc thể không ngẫu nhiên, được phát hiện trong

những năm gần đây nhờ tiến bộ của các kỹ thuật di truyền học

2 BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN

Trang 3

2.1 Vị trí u nguyên phát

Bệnh thường gặp ở trẻ > 10 tuổi Khối u nguyên phát ở xương hay gặp hơn

ở phần mềm Phân tích tổng hợp qua 18 nghiên cứu trong vòng 10 năm qua tại

Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, tổng có 1105 trường hợp sacôm Ewing Vị trí u nguyên

phát tại chi chiếm 53% Các vị trí còn lại chiếm 47% Tại chi, khối u ở đầu xa

chiếm 52% trong khi u ở đầu gần chiếm 48% Tại các vị trí khác còn lại, u ở

xương chậu chiếm 45%, thành ngực 34%, cột sống và vùng quanh cột sống chiếm

12%, đầu và cổ chiếm 9% Tương đối khó phân biệt được khối u xuất phát đầu

tiên ở xương hay xuất phát từ phần mềm rồi xâm lấn xương

2.2 Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng phụ thuộc nhiều vào vị trí nguyên phát của khối u

Biểu hiện sưng và đau là triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất Ngoài ra còn có

một số trường hợp sốt dai dẵng Khối u xuất hiện ở tứ chi tương đối dễ phát hiện

vì ở nông có thể sờ thấy được khối sưng Khối u ở xương chậu, cột sống thường

khó phát hiện vì u ở sâu Tại các vị trí này, khối u xuất hiện âm thầm nhưng khi

chèn ép sẽ gây đau nhiều và ảnh hưởng vận động Trẻ lớn có thể tự phát hiện khối

u Khối u ở trẻ nhỏ thường do bố mẹ phát hiện Khi khối u phát triển mạnh, kích

thước lớn tạo nên sự biến dạng tại chỗ, làm lệch đối xứng của chi, của cơ thể, hạn

chế vận động, thậm chí gây gãy xương bệnh lý Khối u ở cột sống xâm lấn, chèn

ép vào trung tâm gây hội chứng ép tuỷ, đòi hỏi cấp cứu Một số trường hợp biểu

Trang 4

hiện đầu tiên là triệu chứng di căn xa như tiêu xương sọ, xương sườn và xương dẹt

khác

2.3 Lan tràn của UT

Khoảng 80% nhóm sacôm Ewing có vi di căn vào thời điểm chẩn đoán

bệnh Bởi vậy, mặc dù được điều trị tốt về tại chỗ, phần lớn nhóm sacôm Ewing

lại thất bại vì di căn xa Điều đó giải thích tại sao phải có điều trị hoá chất khống

chế di căn ngay từ thời kỳ vi thể Di căn chủ yếu theo đường máu, một số trường

hợp có di căn theo đường kế cận Vị trí di căn nhiều nhất là phổi (38%), kế đến là

xương (31%), tuỷ xương (11%) Cột sống là vị trí xương hay bị di căn nhất Di căn

hạch chiếm khoảng 7%, ít khi thấy di căn gan Ngoài ra người ta còn thấy di căn

mạc treo ổ bụng, di căn thành ống tiêu hoá Hiếm khi có di căn hệ thần kinh trung

ương, nếu có chỉ khoảng < 5%

2.4 Chẩn đoán phân biệt

Sacôm Ewing biểu hiện ở xương, có sưng đau cần chẩn đoán phân biệt với

bệnh lý viêm xương, u lành, sacôm xương Viêm xương tuỷ cấp và mạn tính

thường bệnh nhân có sốt dai dẵng, xét nghiệm bạch cầu cao, X-quang có hình ảnh

vừa tiêu xương, vừa tạo xương, đôi khi có hình ảnh xương chết Chẩn đoán phân

biệt với các u lành có hình ảnh tiêu xương như đối với u tế bào hạt ái toan, u tế

bào khổng lồ Sacôm Ewing cần được phân biệt với sacôm xương, u lympho ác

biểu hiện ở xương, u mô bào xơ ác tính của xương Di căn xương của UT nguyên

Trang 5

bào thần kinh cũng dễ nhầm với sacôm Ewing UT này biểu hiện âm thầm, chỉ đơn

giản là một khối không có triệu chứng lâm sàng ở vùng bụng và vùng ngực, phát

hiện được khi có di căn xương Sacôm Ewing ngoài xương còn cần được chẩn

đoán phân biệt với một số u lành và sacôm mô mềm

Ngày đăng: 10/07/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN