1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CAU HOI THAM KHAO LUAT BIEN

31 231 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi Tham Khảo Luật Biển
Trường học Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Biển
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 205,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ước quốc tế về Luật Biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 sau đây gọi tắt là Công ước 1982, có hiệu lực năm 1994 và Việt Nam là thành viên của Công ước này Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đ

Trang 1

Câu hỏi tham khảo tham khảo Luật biển Quốc tế

Câu hỏi 1: Luật Biển quốc tế là gì? theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam có những vùng biển nào?

Trả lời:

a Luật Biển quốc tế là gl?

Luật Biển quốc tế được hiểu một cách đơn giản nhất, là tổng hợp các qui phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên thế giới liên quan đếnbiển

Công ước quốc tế về Luật Biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 (sau đây gọi tắt là Công ước 1982), có hiệu lực năm 1994 và Việt Nam là thành viên của Công ước này (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã chính thức phê chuẩn ngày

23/6/1994), là một văn kiện quốc tế tổng hợp, toàn điện, bao quát những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương thế giới, quy định những quyền và nghĩa vụ về nhiều mặt của mọi loại quốc gia (có biển, không có biển, không phân biệt chế độ kinh tế, chính trị, xã hội cũng như trình độ phát triển) đối với các vùng biển thuộc phạm vi quốc tế, cũng như những vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia

b Các vùng biển theo Công ước l982

Theo Công ước 1982, Việt Nam có quyền ở 5 vùng biển với phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau Đó là: Nội thủy, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp, Vùng đặc quyền về kinh tế và Thềm lục địa Tháng 5/1977, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Tháng 11/1982, Chính phủ ra Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Hai văn bản qui phạm pháp luật nói trên, mặc dù ban hành trước khi Công ước 1982 ra đời, nhưng đã phù hợp với Công ước, thể hiện được chủ trương, chính sách của Nhà nước ta sớm nắm bắt tinh thần và xu hướng trong tiến trình xây dựng Công ước từ trước đó

Câu hỏi 2: Đường cơ sở Việt Nam được xác định như thế nào?

Trả lời:

Là đường cơ bản quốc gia ven biển có thể đơn phương xác định đùng làm căn cứ

để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác

Có hai loại đường cơ sở:

+ Đường cơ sở thông thường: Sử dụng ngấn nước triều thấp nhất ven bờ biển hoặc đảo

+ Đường cơ sở thẳng: Nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục địa hoặc đảo Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển Việt Nam có chuỗi đảo dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng

Năm 1982 Chính phủ ta ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam, gồm 10 đoạn nối 11 điểm (trừ phần trong Vịnh Bắc bộ và vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia do ta còn đàm phán phân định biển với TrungQuốc lúc đó và chưa tiến hành đàm phán phân định biển với Campuchia)

Việt Namcũng không vạch đường cơ sở cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,

Trang 2

vì hai quần đảo này không được hưởng quy chế quốc gia quần đảo theo điều 46 của Công ước này.

Câu hỏi 3: Thế nào là vùng nước nội thủy? Việt Nam có quyền gì trong vùng nước nội thủy của mình?

tổ chức và đáp ứng các qui tắc riêng biệt

Vùng nước nội thuỷ bao gồm: Các vùng nước cảng biển, vũng tàu, cửa sông, vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở đùng để tính chiều rộng lãnh hải

Câu hỏi 4: Lãnh hải là gì? Quy chế pháp lý của nó như thế nào?

Trả lời:

Lãnh hải là vùng biển rộng 12 hải lý (1 hải lý = 1,852 km) tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lý tương tự như lãnh thổ đất liền Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của nước ven biển

Lãnh hải của nước CHXHCN Việt Namrộng 12 hải lý theo tuyên bố năm 1982 củaChính phủ Việt Nam

Câu hỏi 5: Thế nào là vùng tiếp giáp lãnh hải? Chế dộ pháp lý vùng nước này như thế nào?

Trả lời:

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, rộng 12 hải lý tính từ danh giới ngoài của lãnh hải, hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnhhải của Việt Nam Trong vùng tiếp giáp, nước ven biển có quyền qui định biện pháp ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm đối với luật lệ về nhập cư, thuế khóa, y tế, thậm chí cả an ninh, xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình

Câu hỏi 6: Vùng đặc quyền kinh tế là gì? Chế độ pháp lý của nó như thế nào? Trả lời:

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (188 hải

lý tính từ ranh giới ngoài lãnh hải, 176 hải lý tính từ ranh giới ngoài của vùng tiếp giáp)

Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định riêng biệt, được hình thành từ nhu cầu quản lý tài nguyên, bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia ven biển

Trong vùng biển này, nước ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối vớimọi loại tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế nhằm khai thác, sử dụng

Trang 3

các tài nguyên thiên nhiên đó, có quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học bảo vệ môi trường biển, xây dựng và lắp đặt những công trình và thiết bị nhân tạo Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt dây cáp và ống đẫn ngầm.

Vùng đặc quyền kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam

và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ

sở, đùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam theo tuyên bố của Chính phủ Việt Nam năm 1977

Câu hỏi 7: Thế nào là thềm lục địa, chế dộ pháp lý của nó như thế nào?

Trả lời:

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất đước đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo đài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gianày cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc tới giới hạn 200 hải lý tính từ đường cơ

sở lãnh hải, khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn

Tuy nhiên bề rộng tối đa của thềm lục địa tính theo bờ ngoài của rìa lục địa không được vượt quá giới hạn 350 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải hoặc không quá

100 hải ý bên ngoài đường đẳng sâu 2.500 m

Thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam, bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam, mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý theo tuyên bố của Chính phủ Việt Nam năm 1977

Câu hỏi 8: Khác nhau cơ bản giữa khái niệm thềm lục dịa và vùng đặc quyền kinh tế là gì?

Trả lời:

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển trên phần kéo đài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia.Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định riêng biệt áp dụng cho cột nước phía trên đáy biển

Câu hỏi 9: Thế nào là một Vịnh theo Công ước 1982?

Trả lời:

Vịnh là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền, chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn là một sự uốn cong của bờ biển, diện tích của Vịnh ít nhất cũng bằng điện tích một nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng

kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm, đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý

Như vậyVịnh có thể là của riêngmột quốc gia hoặc vịnh do bờ biển của nhiều quốcgia bao bọc như:

Vịnh Bắc Bộ là Vịnh nằm giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa; Vịnh Thái Lan (còn gọi là Vịnh Xiêm) là một biển nửa kín, giới hạn bởi bờ biển của 4 nước: Thái Lan (1.560 km2), Việt Nam (230 km2), Malaixia (150 km2)

Trang 4

và campuchia (460 km2).

Công ước năm 1982 không quy định về Vịnh lịch sử hay vùngnước lịch sử,tuy nhiên theo tập quán và thựctiễnquốc tế, một vịnh được coi là lịch sử khi có sự:+ Thực hiện chủ quyền một cách thực sự của quốc gia ven biển

+ Thực hiện việc sử dụng vùng biển này một cách liên tục, hòa bình và lâu dài; không vấp phải sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào

Câu hỏi 10: DOC là gì?

Trả lời:

DOC là tên viết tắt tiếng Anh của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông, được ký kết ngày 4 tháng 11 năm 2002 tại Phnôm Pênh giữa các nước ASEAN và Trung Quốc Mục đích của văn bản này là nhằm thúc đẩy một môi trường hòa bình, ổn định và hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực Biển Đông

và tạo điều kiện cho việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực này một cách hòa bình và lâu dài

Nội đung chính của Tuyên bố gồm, một số điểm quan trọng sau: i) Các bên tham gia cam kết sẽ hướng tới thông qua một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông; ii) Cácbên tham gia cam kết sẽ giải quyết các vấn đề tranh chấp về lãnh thổ một cách hòa bình, hữu nghị trên cơ sở hợp tác và hiểu biết dẫn nhau; iii) Các bên cam kết tự kiềm chế, không có các hành vi có thể làm phức tạp hay leo thang tranh chấp; iv) Trong thời gian chờ đợi tìm được một giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác

Câu hỏi 11: Thế nào là chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển theo Công ước về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982? Trả lời:

Chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện trong phạm vi vùng biển của quốc gia đó Các quốc gia ven biến có chủ quyền đối với vùng nước nội thuỷ và lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên dưới các vùng nước đó

Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằm thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đích kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió

Quyền tài phánlà thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển được quy định, cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó

Ngoài các quyền đã liệt kê ở trên, trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển còn có một số thẩm quyền riêng biệt nhằm ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm đối với các quy định về hải quan, thuế khoá, nhập cư hay y tế trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình, cũng như thẩm quyền đối với các hiện vật lịch sử và khảo cổ dưới đáy biển của khu vực này

Trang 5

Câu hỏi 12: Chủ quyền quốc gia trên biển giảm dần từ đất liền ra hướng biển như thế nào?

Trả lời:

Việt Namcó chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối với Nội thủy (như trên đất liền), hoàn toàn và đầy đủ đối với Lãnh hải (trừ quyền tự do hàng hải không gây hại của tàu thuyền các nước) Tại vùng tiếp giáp, Việt Nam chỉ có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật liên quan đến hải quan, thuế khóa, nhập cư và vệ sinh dịch tễ Tại vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam có quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia với một số hoạt động nhất định, trong đó có đặc quyền thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các công trình nhân tạo, cũng như những hoạt động khác vì mục đích kinh tế, nguồn lợi của biển Trên Thềm lục địa Việt Namcó quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và độc quyền khai thác tài nguyên sinh vật thuộc đáy biển, khoáng sản thuộc lòng đất dưới đáy biển./

Câu hỏi 13: Quốc gia quần đảo là gì? Có những quốc gia quần đảo nào ở khu vực Biển Đông và ảnh hưởng đến lợi ích biển của Việt Nam như thế nào? Trả lời:

Quốc gia quần đảo được định nghĩa tại Điều 46 của Công ước 1982 là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều đảo, trong đó các đảo có liên quanchặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị Trong khu vực Biển Đông có hai quốc gia quần đảo là Philippine và Indonesia, được cấu thành bởi hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, cả Philippine và Indonesia nhờ đó

có quyền sử dụng một không gian biển rộng lớn hơn nhiều so với các nước ven bờ lục dịa, gồm cả vùng nước bên trong các nhóm đảo bao bọc và các vùng biển và thềm lục địa trả rộng ra xung quanh các quốc gia này

Câu hỏi 14: Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam gồm những nội dung và lĩnh vực gì?

Trả lời:

Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam có thể được phân loại theo các lĩnh vực sau:

- Pháp luật về bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển (Ví dụ: Tuyên bố ngày

12/5/1977 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục dịa Việt Nam; Luật Biên giới quốc gia – 2003 )

- Pháp luật về khai thác tài nguyên thiên nhiên trên biển (Luật Thủy sản, Luật Dầu khí .)

- Pháp luật về nghiên cứu khoa học biển (Nghị định 242 HĐBT/ ngày 5/8/1991 )

- Pháp luật về du lịch biển, đảo Việt Nam(Luật Du lịch )

- Pháp luật về giao thông, vận tải biển (Bộ Luật Hàng hải )

- Pháp luật về đảm bảo trật tự, an toàn trên biển (Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển )

- Pháp luật về bảo vệ môi trường biển (Luật Bảo vệ môi trường – 2005 )

Trang 6

Câu hỏi 15: Cách thức giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển được thực hiện như thế nào?

Trả lời:

Trong lịch sử, hầu hết các tranh chấp đều được giải quyết bằng con đường vũ lực Một số nước lớn trước đây thường xuyên lấn lướt các nước nhỏ, đe dọa sử dụng vũlực và sử dụng quân sự để gây chiến tranh giải quyết tranh chấp Ngày nay, nguyêntắc giải quyết hòa bình các tranh chấp đã trở thành nguyên tắc cơ bản, được ghi nhận tại Hiến chương của Liên Hợp Quốc và các văn bản pháp lý khác nhau

Theo qui định của Công ước 1982, các tranh chấp được giải quyết trước hết theo nguyên tắc thỏa thuận Các nước tranh chấp tiến hành đàm phán với nhau song phương hoặc đa phương để giải quyết các bất đồng Khi không thể đàm phán

hoặc đàm phán không có kết quả, các bên có thể đệ đơn ra các cơ quan tài phán quốc tế theo một trình tự cụ thể Việc giải quyết tranh chấp được qui định cụ thể tạiphần 15 của Công ước 1982

Thực tiễn quốc tế cho thấy, các quốc gia tranh chấp có thể sử đụng biện pháp hợp tác cùng phát triển ở khu vực tranh chấp trong khi chờ đợi tìm ra giải pháp cho tranh chấp mà không gây ảnh hưởng tới quan điểm của các bên, giải pháp tạm thời này hoàn toàn phù hợp với Công ước 1982 và đang là một xu thế ở một số khu vựctrên thế giới

Câu hỏi 16: Việt Nam tiếp giáp với những biển và đại dương nào?

Trả lời:

Khác với hầu hết các quốc gia trong khu vực, Việt Namtiếp giáp duy nhất với BiểnĐông Hơn 3260 km chiều dài lục địa phía Đông Việt Namtiếp giáp với biển Biển Đông, một trong sáu biển lớn nhất thế giới có diện tích vào khoảng

3.447.000km2 Đây là một biển nửa kín thông với Thái Bình Dương và ấn Độ Dương qua các eo biển Trên Biển Đông có những tuyến đường giao thông hàng hải và hàng không quan trọng vào bậc nhất thế giới nối ấn Độ Dương và Thái BìnhDương, nối châu Âu, Trung Cận Đông với khu vực Đông Bắc và Đông Nam của Châu Á

Trên biển, Việt Namtiếp giáp với hai vịnh lớn:

Vịnh Bắc Bộ:nằm ở phía Tây Biển Đông, được bờ biển của Việt Nam và Trung Quốc bao bọc Diện tích của vịnh vào khoảng 126.250km2, chiều ngang, nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km Đây là một vịnh nông, nơi sâu nhất chỉ độ 100m

Vịnh Thái Lan:nằm ở Tây Nambiển Đông, được bờ biển của các nước Việt

Nam,Malaysia, Campuchia, Thái Lan bao bọc Diện tích của vịnh là khoảng

Trang 7

Trả lời:

Với trên 3.260 km bờ biển trả dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Với tỷ lệ

khoảng 100 km2 diện tích đất liền/1km bờ biển, Việt Namthuộc các quốc gia ven biển có tỷ lệ đất/biển khá cao (trung bình của thế giới là 600 km2 diện tích lục địa/1km bờ biển) Hiện nay, nước ta có tổngcộng 29 tỉnh, thành phố ven biển, chiếm 42% diện tích và 31% số dân cả nước, trong đó 15,5 triệu người sống ở khu vực đới bờ và 16 vạn người ở các đảo và quần đảo Ven bờ Việt Nam có trên 3.000 hònđảo lớn, nhỏ tập trung ở vùng biển Đông Bắc, 40 hòn đảo ở vùng biển Bắc Trung

Bộ và số còn lại ở các vùng biển Nam Trung Bộ, Tây Nam Trên Biển Đông, Việt Namcó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đây là vùng lãnh thổ thiêng liêng của đất nước, có vị trí địa chính trị hết sức chiến lược cả về an ninh, quốc phòng vàphát triển kinh tế

Câu hỏi 18: Có bao nhiêu thỏa thuận và hiệp định mà Việt Nam đã đàm phán,

ký kết được với các nước láng giềng về phân định và hợp tác trên biển?

Trả lời:

Đến nay, Việt Namđã ký kết 5 Hiệp định và Thỏa thuận với các nước láng giềng

có bờ biển liền kề hoặc kế cận Đó là các nước Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Campuchia

- Thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Việt Nam – Malaysia

Giữa Việt Nam và Malaysia tồn tại một vùng chồng lấn thềm lục địa rộng khoảng 2.800 km2, đây là một khu vực có điện tích không lớn nhưng có tiềm năng về dầu khí Ngày 05/6/1992, tại Kuala Lampur, hai bên đã ký Bản thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Thỏa thuận này có nội dung chính là xác định khu vực chồng lấn giữa thềm lục địa hai nước và xây đựng cơ chế hợp tác khai thác thăm dò dầu khí trong khu vực này

- Hiệp định về phân định ranh giới trên biển Việt Nam - Thái Lan

Việt Namvà Thái Lan trước đây còn có bất đồng trong việc phân định biên giới biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan Bất đồng này đã được giải quyết ngày 9 tháng 8 năm 1997 bằng Hiệp định về biên giới biển Việt Nam - Thái Lan được ký kết ngày 9 tháng 8 năm 1997 Hiệp định này đã xác định đường biên giới biển đồng thời phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước

- Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam- Campuchia

Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có vùng biển kế cận nhau Trong lịch sử, hai bên có vấn đề tranh chấp chủ quyền một số đảo ven bờ và chưa tiến hành đàm phán phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Ngày 07/7/1982, hai bên đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của mỗi bên, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý; các hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán cũ

- Hiệp đinh phân đinh Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam- Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có chung đường biên giới Giữa hai nước tồn tại một số vấn đề biên giới cả trên đất liền lẫn trên biển đang trong quá trình giải quyết Tiếp theo việc hai nước ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền

Trang 8

năm 1999, trong năm 2000 hai nước cũng đã hoàn tất quá trình đàm phán kéo dài

27 năm từ năm 1974 và ký kết Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ Nội dung chính của Hiệp định này là nhằm xác định dường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ

- Hiệp định phân định thềm lục địa giữa hai nước Việt Nam - Indonesia

Trước khi tiến hành đàm phán phân định, giữa hai nước tồn tại một vùng chồng lấnkhoảng 98.000 km2 Qua nhiều vòng đàm phán, vùng chồng lấn này đã dần được thu hẹp lại Kết quả cuối cùng là việc ký kết Hiệp định ngày 26 tháng 6 năm 2003

đã thiết lập thành công đường ranh giới thềm lục địa Việt Nam - Indonesia

Câu hỏi 19: Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam có vị trí, vai trò gì đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?

Trả lời:

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm giữa Biển Đông Trên các bản đồ cổ của các nhà hàng hải phương Tây, hai quần đảo thường được xác định như một quần đảo đuy nhất có hình lá cờ đuôi nheo, nằm đọc theo

bờ biển Việt Nam từ miền Trung tới miền Nam Gầy đây, với sự phát triển của ngành hàng hải và đo đạc bản đồ biển, người ta đã nhận rõ hai quần đảo riêng biệt mang tên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hay Paracels và Spraly theo các bản

đồ nước ngoài)

1 Quần đảo Hoàng Sa:

Quần đảo Hoàng Sa là một huyện thuộc thành phố Đà Nẵng Quần đảo này nằm trong khoảng vĩ độ 15o45' đến 17o15’ Bắc, kinh độ 111o đến 113o Đông, trên đường vào Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn hơn 120 hải lý, cách hòn đảo ở gần đảo Hải Nam (Trung Quốc) nhất 140 hải lý Quần đảo do trên 30 hòn đảo, đá, cồn san

hô, bãi cát nằm rải rác trên một vùng biển rộng tử Tây sang Đông khoảng 100 hải

lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý hợp thành Hoàng Sa chiếm một diện tíchbiển khoảng 15.000 km2

Quần đảo Hoàng Sa được chia thành hai nhóm: nhóm phía Đông (thường gọi là nhóm Amphitrite theo tiếng Pháp) gồm 12 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn, rộng trên dưới 1,5 km2; nhóm phía Tây (hay còn gọi là nhóm Lưỡi Liềm) có các đảo như Hoàng Sa, Hữu Nhật và một sốcồn, vành đai san hô

2 Quần đảo Trường Sa:

Huyện đảo Trường Sa, thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm ở phía Đông - Nam của Việt Nam trong khoảng vĩ độ từ 6o50' đến 12o Bắc và kinh độ từ 111o30' đến 117o201 Đông với hơn một trăm đảo, đá cồn và bãi san hô nằm rải trên một vùng biển rộng

từ Tây sang Đông khoảng 350 hải lý và từ Bắc xuống Nam khoảng trên 360 hải lý Quần đảo này chiếm khoảng 160 nghìn ki-lô-mét vuông biển Hòn đảo gần đất liềnnhất là đảo Trường Sa (nay là thị trấn Trường Sa) cách Vịnh Cam Ranh 250 hải lý,cách hòn đảo ở gần đảo Hải Nam nhất 600 hải lý và cách Đài Loan 900 hải lý Đảolớn nhất của quần đảo Trường Sa là đảo Ba Bình rộng khoảng 0,6 km2

3 Tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường sa

Hai quần đảo có vị trí hết sức quan trọng đối với đất nước ta Trước hết, hai quần

Trang 9

đảo này nằm giữa Biển Đông, nơi có những tuyến đường hàng hải quan trọng nhất của thế giới đi qua Ngoài ra, do vị trí nằm trải dài theo hướng bờ biển Việt Nam, Hoàng Sa và Trường Sa là những vị trí tiền tiêu bảo vệ sườn Đông của đất nước, cũng như các vùng biển và bờ biển của Việt Nam Về mặt kinh tế hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản phóng phú và đa dạng, đặt biệt là nguồn tài nguyên đầu khí.

Câu hỏi 20: Nhà nước nào đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước tiên?

Trả lời:

Theo nhiều tài liệu trong và ngoài nước (các bản đồ cổ, tài liệu về lịch sử, địa lý thời xưa, v.v ) thì Việt Namlà nước đầu tiên đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyềnvới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Thời xưa hai quần đảo này thường được gọi chung dưới cái tên Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Trường Sa, Đại Trường Sa

Trong bản đồ Biển Đông (Sinensis Oceanus) của anh em nhà Van Lang ren người

Hà Lan in năm 1595 cũng như bản đồ ''Inđiae Orientalis'' của nhà hàng hải Mecato

in năm 1633, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được thể hiện như một dải liền nhau, có hình lá cờ đuôi nheo nằm dọc theo hướng bờ biển miền Trung Việt Nam Theo nhiều bản đồ Việt Nam thời xưa như Giáp Ngọ niên Bình Nam đồ vẽ năm

1774, Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ vào khoảng năm 1838, hai quần đảo này đềuđược thể hiện là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam

Các sách địa lý cổ của Việt Nam như Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ

Bá biên soạn trong khoảng năm 1630 - 1635, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viếtnăm 1776 hay Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý do nhà Nguyễn biên soạn đều có những ghi chép rất rõ ràng về Trường Sa và Hoàng Sa hay Bãi Cát Vàng thời xưa Bên cạnh đó nhiều sách về địa lý, hàng hải, v.v do các giáo sĩ hay những nhà thám hiểm phương Tây biên soạn thời xưa đều có nhắc đến hai quần đảo như một phần lãnh thổ của Vương quốc An Nam Đó là những cuốn Hồi ký về nước Cochinchine của Chaigneau viết năm 1820, Ghi chép về Cochinchina do linh mục Taberđ biên soạn, hay Thế giới và Mô tả, mô tả các dân tộc: Nhật, Đông Dương, Xây-lan xuất bản năm 1850 của tác giả Jancigny,v.v

Câu hỏi 21: Với tư cách là người làm chủ, Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tiến hành khảo sát và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào?

Trả lời:

Những cuộc khảo sát và khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cha ông ta đã được các tài liệu cổ ghi chép lại rất chi tiết

Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, bộ sử về nhà Nguyễn trong những năm

1821 - 1848, các vua triều Nguyễn là Gia Long và Minh Mệnh đã cử thủy quân đến hai quần đảo để tiến hành khảo sát, đo đạc vẽ bản đồ Kết quả của những chuyến đi này cũng được các sách xưa ghi lai đầy đủ Điều đáng ngạc nhiên là những đo đạc, tính toán của cha ông ta ngày xưa, khi mà khoa học - kỹ thuật chưa phát triển như bây giờ đều trùng khớp với nhưng số liệu bây giờ Thời đó, Bãi Cát

Trang 10

Vàng được mô tả là có khoảng trên 130 hòn đảo, ngày nay chúng ta đã xác định được quần đảo Hoàng Sa có khoảng trên 30 hòn đảo và quần đảo Trường Sa gồm khoảng 100 hòn.

Các sách xưa cũng ghi lai cách tổ chức, hoạt động của các đội Hoàng Sa được lập

ra đước thời nhà Nguyễn với mục đích chuyên đi khai thác hai quần đảo Ví dụ như theo Phủ biên tạp lục, họ nhà Nguyễn đã đặt đội Hoàng Sa, mỗi năm ra các đảo thuộc hai quần đảo để lấy hóa vật của các tàu bị đắm như gươm, bạc vụn tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, .và kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột ốc hoa đem về nộp Hay Đại Namthực lục tiền biên chép: ''Hồi đầu đựng nước, đặt độiHoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào hàng năm đến tháng ba đi thuyền ra đảo, độ ba ngày ba đêm thì đến, thu lươm hóa vật đến tháng tám thì trở

Malaysia:Malaysia là nước thể hiện yêu sách của mình muộn hơn cả Năm 1982, Malaysiabắt đầu cho quân đội ra chiếm đảo Hoa Lau và đến nay họ đang chiếm đóng 5 đảo đá

Bên cạnh đó, Vương quốc Brunei năm 1984 cũng thiết lập một vùng đánh cá bao gồm cả một bãi đá (Louisa Reef) nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa

Câu 25: Theo Luật quốc tế hiện đại, anh/chị cho biết văn bản nào của quốc tế

và Việt Nam điều chỉnh về ký kết điều ước quốc tế? cho biết sự khác biệt giữa trình tự thủ tục ký kết điều ước quốc tế song phương và đa phương? Nếu điều ước quốc tế quy định không cho rút khỏi, thì thành viên chính thức của văn kiện có đựơc quyền rút khỏi hay không? tại sao? (1điểm)

- Công ước Vienna 1969 về Luật điều ước quốc tế; Luật Ký kết, thực hiện và gia nhập Điều ước quốc tế của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006;

- Sự khác biệt giữa trình tự thủ tục ký kết điều ước quốc tế song phương và đaphương chủ yếu là thủ tục bảo lưu và gia nhập;

Trang 11

- Thành viên chính thức của văn kiện có đựơc quyền rút khỏi với điều kiện xảy ra như sau:

+ Khi một bên nào đó chỉ hưởng quyền, nhưng không thực hiện nghĩa vụ củamình; hoặc

+ Khi một hay nhiều bên vi phạm nghiêm trọng những điều khoản trong điều ước;hoặc

+ Do sự thay đổi của hoàn cảnh, có biến cố bất thường dẫn đến việc không thểthực hiện được điều ước

Câu 26: Anh/chị cho biết cách xác định nội thuỷ và lãnh hải của quốc gia ven biển? Trong điều kiện bình thường, tàu biển có được quyền “qua lại không gây hại” trên phần nội thuỷ và lãnh hải của quốc gia ven biển không? (1điểm)

- Nội thủy là vùng nước phía bên trong đường cơ sở, phía ngoài giáp với lãnh hải

và phía trong giáp bờ biển, do quốc gia tự tuyên bố trên cở sở thông lệ quốc tế.Luật biển quốc tế và pháp luật của các quốc gia đều xác định tính chất chủ quyềnhoàn toàn và tuyệt đối cho vùng nước nội thủy, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển,cũng như không phận phía trên vùng nước nội thủy Trong mọi trường hợp tàubiển muốn qua lại phải được phép của quốc gia ven biển mới có thể được quyềnqua lại ở vùng này

- Lãnh hải là vùng biển rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở, việc xácđịnh bề rộng thực tế và ranh giới ngoài của lảnh hải phụ thuộc vào việc vạchđường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Lãnh hải thuộc chủ quyền hoàn toàn

và đầy đủ của quốc gia ven biển, chủ quyền cũng bao trùm vùng trời phía trên,phần đáy và vùng đất dưới đáy của phần lãnh hải Luật quốc tế quy định trong điềukiện bình thường tàu biển được quyền qua lại không gây hại ở vùng này mà khôngcần xin phép quốc gia ven biển (Công ước Luật biển 1982)

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM

Quyền bào chữa và quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp là một trong nhữngquyền cơ bản của công dân trong nhà nước pháp quyền; công dân có thể tự bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác bào chữa, bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án Xuất phát từ nhu cầu đó, pháp luật Luật sư và nghề luật sư đã hình thành và phát triển cách đây hàng trăm năm ở nhiều nước trên thế giới

Ở Việt Nam, pháp luật luật sư và nghề luật sư đã tồn tại từ trước Cách mạng Thángtám với sắc lệnh ngày 25/5/1930 của thực dân Pháp về việc tổ chức Hội đồng luật

sư ở Hà Nội và Sài Gòn

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, bộ máy tư pháp được tổ chức lại Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu chính quyền mới

Trang 12

đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10.10.1945 về tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh số 46/SL ngày 10.10.1945 duy trì tổ chức luật sư cũ trong đó có sự vận dụng linh hoạtcác quy định pháp luật cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm

1946 khẳng định quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân Điều 67 của Hiến Pháp quy định "Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” (Điều 67 của Hiến pháp năm 1946)

Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền bào chữa trước Toà án của bị cáo, một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi trong Hiến pháp Sắc lệnh số 69/SL ngày 18.6.1949 quy định nguyên cáo, bị cáo có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình Để cụ thể hóa Sắc lệnh 69/SL ngày 18.6.1949, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 01/NĐ-VY ngày 12.01.1950 quy định về bào chữa viên Chế định bào chữa viên được hình thành là một chế định phù hợp với điều kiện của nước ta khi đó, thể hiện sự coi trọng, quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến việc thực thi quyền bào chữa nói riêng và việc xây dựng một nền tư pháp công bằng, dân chủ của chế độ mới Thực hiện quy định của pháp luật về bào chữa viên, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa tiếp theo, đội ngũ bào chữa viên đã được hình thành và ngày càng phát triển

Tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về quyền bào chữa và bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà năm 1959 (Điều 101) đã quy định "Quyền bào chữa của người bị cáo được bảođảm"; Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 ngoài việc khẳng định bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, còn quy định việc thành lập tổ chức luật sư để giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thực hiện quy định của Hiến pháp, trong giai đoạn triển khai xây dựng văn bản pháp luật về tổ chức luật sư, đội ngũ bào chữa viên tiếp tục được củng cố và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Ngày 31.10.1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số

691/QLTPK về công tác bào chữa, trong đó quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện làm bào chữa viên, quy định ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập một Đoàn bào chữa viên, riêng ở hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh thì thành lập Đoàn luật sư, bào chữa viên, tập hợp các luật sư đã được công nhận trướcđây và các bào chữa viên Thực hiện Thông tư số 691/QLTPK, đến cuối năm 1987,trên cả nước đã có 30 Đoàn bào chữa viên với gần 400 bào chữa viên

Từ sau ngày giải phóng, miền Nam, thống nhất đất nước đến những năm nửa đầu thập niên 80 của thế kỷ XX Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV năm 1986

đã mở đầu một thời kỳ lịch sử mới xây dựng đất nước, thời kỳ đổi mới Đường lối đổi mới do Đại hội vạch ra đã tác động sâu rộng đến mọi mặt hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp Các đạo luật về tố tụng được ban hành theo hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng, trong đó có việc tăng cường bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước Toà án và các

cơ quan tố tụng khác

Trong bối cảnh đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành ngày 18.12.1987 Có

Trang 13

thể nói, Pháp lệnh tổ chức luật sư là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịh sử trong việc khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Pháp lệnh quy định rõ tiêu chuẩn được công nhận là luật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực giúp đỡ pháp lý của luật sư Pháp lệnh cũng đã quy định về việc tổ chức các Đoàn luật sư ở các tỉnh, thanh phố trực thuộc Trung ương Thi hành Pháp lệnh tổ chức luật sư, chỉ sau gần 10 năm, ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Đoàn luật sư; đội ngũ luật sư trong

cả nước đã đạt tới con số hàng ngàn luật sư Riêng các Đoàn luật sư Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh số luật sư đã lên đến hàng trăm luật sư Hoạt động luật sư cũng có bước phát triển đáng kể Ngoài việc tăng cường một bước về số lượng và chất lượng tham gia tố tụng của luật sư trong các vụ án hình sự, dân sự, các luật sư

đã từng bước mở rộng hoạt động hành nghề sang lĩnh vực tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác

Sau hơn 10 năm kể từ Đại hội Đảng lần thứ IV, công cuộc đổi mới ở đất nước ta đãthu được những thành tựu to lớn và quan trọng Từ nửa cuối thập niên 90, đất nước

ta bước vào giai đoạn quan trọng của quá trình đổi mới, trong đó nhu cầu đẩy mạnh quá trình xây dựng cơ chế thị trường, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, hội nhập quốc tế ngày càng trở lên sâu sắc, ở mức độ cao hơn Cùng với những chủ trương đổi mới mạnh mẽ về kinh tế, Đảng và Nhà nước

ta đã đồng thời đề ra và thực thi những chủ trương, biện pháp cải cách mạnh mẽ về

tổ chức, hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới

tổ chức, hoạt động lập pháp, cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính, cải cách tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước

Trước tình hình đó, để đáp ứng nhu cầu mới, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã được ban hành Nội dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức

và hoạt động luật sư ở nước ta theo hướng chính quy hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề

nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật

sư ở Việt Nam Với nội dung tiến bộ, phù hợp với yêu cầu khách quan, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Chỉ sau 5 năm thi hành Pháp lệnh, đội ngũ luật sư đã tăng đáng kể cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt, cũng trong 5 năm đó các luật sư đã thành lập trên 1.000 tổ chức hành nghề là các văn phòng luật sư, các công ty luật hợp danh Các Đoàn luật sư được xây dựng lại và củng cố để làm đúng chức năng của tổ chức xã hội nghề nghiệp tự quản của các luật sư Hoạt động hành nghề của luật sư cũng được tăng lên đáng kể về phạm vi

và chất lượng Trong tham gia tố tụng, nhiều luật sư đã bắt đầu làm quen và dần khẳng định trình độ chuyên môn và bản lĩnh khi tham gia tranh tụng tại phiên toà Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư cũng đã có bước phát triển đáng kể, đặc biệthoạt động tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực kinh doanh, đầu tư, thương mại đã ngày càng mở rộng về phạm vi, nâng cao về chất lượng dịch vụ Đã bước đầu hình thành đội ngũ luật sư giỏi trong tham gia tố tụng và trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước Cùng với những bước tiến trong quá trình chuyên nghiệp hoá nghề luật sư, các luật sư Việt Nam cũng đã bước những bước đầu tiên và quan trọng trong quá trình mở rộng quan hệ

Trang 14

với các tổ chức luật sư nước ngoài và quốc tế Bên cạnh hoạt động phối hợp với các tổ chức luật sư, luật sư nước ngoài tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm về nghề nghiệp, một số Đoàn luật sư đã tham gia các tổ chức luật sư quốc tế với tư cách là thành viên bình đẳng

Có thể nói, Pháp lệnh luật sư năm 2001 là văn bản mở đầu cho quá trình chuyên nghiệp hoá và hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam, đã tạo một bộ mặt mới với triển vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư ở nước ta

Trong những năm đầu của thiên niên kỷ XXI, cùng với bước phát triển và những yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hoá, công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta đã có những bước phát triển nhanh và mạnh mẽ với những sự kiện quan trọng mang tính chất đột phá Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã tạo ra vị thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó

có nhiệm vụ quan trọng là phải chuyển đổi hệ thống pháp luật và các thiết chế cùng với cơ chế vận hành theo lộ trình phù hợp với các cam kết khi gia nhập

WTO Tổ chức, hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động luật sư nói riêng cũng nằm trong bối cảnh chung đó Trong các năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta đã ban thành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29.6.2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.01.2007

Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng một đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư và nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Đặc biệt Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm Tổ chức luật sư toàn quốc và các Đoàn luật sư Với quy định này, Luật Luật sư đã tạo cơ sở pháp lý nâng cao vai trò tự quản của nghề luật sư

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, đội ngũ luật sư Việt Nam đã vượt qua khó khăn, thử thách, gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Chặng đường phát triển tiếp theo đã được mở ra, nhiều cơ hội và thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thử thách đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vượt qua

Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc đề ra được phương hướng củng cố, hoàn thiện

và phát triển đáp ứng yêu cầu và hoà nhập với sự nghiệp phát triển của đất nước

II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LUẬT SƯ VÀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆN NAM

1 Thực trạng pháp luật luật sư về tổ chức và hoạt động

Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 được ban hành là cơ sở pháp lý hình thành và

mở ra triển vọng phát triển đội ngũ luật sư ở nước ta Tuy nhiên, trong thời gian này, số lượng luật sư trong cả nước tăng chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội ngày càng phát triển

Sau khi Pháp lệnh luật sư và Luật Luật sư được ban hành, số lượng Luật sư tăng lên đáng kể cụ thể tính đến ngày 31.5.2005 có 1.883 Luật sư và 1.535 Luật sư tập

sự, đến hết tháng 6 năm 2008 tăng lên đến gần 4.200 Luật sư và 2.000 người tập sựhành nghề Luật sư

Cùng với sự phát triển về số lượng, chất lượng luật sư cũng từng bước được nâng

Trang 15

lên Trước hết, về tiêu chuẩn luật sư, Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư đã đặc biệt chú trọng nâng cao tiêu chuẩn về chuẩn chuyên môn, về phẩm chất đạo đức đối với Luật sư Đồng thời, theo hướng “chuyên nghiệp hoá” đội ngũ luật sư, Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư quy định cán bộ, công chức không được hành nghề luật sư

Có thể nói, trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ Luật sư đã được nâng lên đáng kể, về cơ bản đủ khả năng cung cấp dịch vụ pháp lý tin cậy cho khách hàng Trong số những người đã qua đào tạo nghề luật sư, có nhiều người đã tập sự hành nghề trong các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam nên

có hiểu biết về pháp luật quốc tế và thông thạo ngoại ngữ Một số luật sư Việt Nam

đã theo học các khoá đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài và được công nhận là luật

sư của nước sở tại (Mỹ, Úc, Pháp)

Tuy nhiên, đội ngũ luật sư nước ta còn một số hạn chế sau đây:

- Số lượng luật sư hiện có so với dân số còn rất thấp Tỷ lệ luật sư nước ta trung bình là 1 luật sư/20.700 người dân, trong khi đó tỷ lệ này ở Thái Lan là 1/1526, Singapore là 1/1000, Nhật Bản là 1/4546, Pháp là 1/1000, Mỹ là 1/250 Mặt khác,

số lượng luật sư phát triển chưa cân đối giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, trung du

Với số lượng luật sư ở nước ta hiện nay Việc không đủ luật sư tham các vụ án hình sự là tất yếu và đã làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tranh tụng, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án Đội ngũ luật sư tư vấn cho các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp tronghoạt động kinh doanh, đầu tư, thương mại còn thiếu trầm trọng

- Chất lượng của đội ngũ luật sư còn nhiều hạn chế Gần một nửa số lượng luật sư hiện nay chưa được đào tạo một cách bài bản về kỹ năng hành nghề Hiệu quả tham gia tố tụng của luật sư vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp Các luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại phiên toà Một số luật sư còn có thái độ ứng xử nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ luật sư

- Về mức độ chuyên môn hoá trong hành nghề, đa số luật sư ở nước ta hành nghề trong tất cả các lĩnh vực tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng

và các dịch vụ pháp lý khác Tuy số lượng luật sư ở nước ta trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, song vẫn chưa hình thành được đội ngũ các luật sư chuyên sâu về những lĩnh vực khác nhau Các luật sư chủ yếu hành nghề trong hai lĩnh vựcdân sự và hình sự Trong các lĩnh vực pháp luật khác như hành chính, lao động, kinh tế…tỷ lệ vụ việc mà các luật sư tham gia tương đối thấp

Đội ngũ luật sư chuyên sâu trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại (sở hữu trí tuệ, tài chính ngân hàng, hàng không, hàng hải, bảo hiểm, thương mại quốc

tế, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế…) còn đang trong quá trình hình thành Do vậy, trong thời gian qua, đối với phần lớn các vụ tranh chấp thương mại quốc tế, các cơ quan, tổ chức của Việt Nam vẫn phải thuê luật sư nước ngoài làm đại diện, tư vấn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Ngày đăng: 07/07/2014, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w