ứng dụng gis quản lý chất thải rắn
Trang 1Chương 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề – lý do chọn đề tài:
hất thải rắn có từ những ngày đầu con người có mặt trên trái đất Con người và động vật khai thác các nguồn tài nguyên trên trái đất để phục vụ cho đời sống của mình và thải ra môi trường chất thải rắn Trong giai đoạn tiền sử, khi mà con người là một thành viên rất nhỏ bé trên trái đất với cuộc sống riêng lẻ, hoang dã thì chất thải rắn không ảnh hưởng lớn đến môi trường
do diện tích đất rộng và khả năng tự làm sạch cao, thiên nhiên có thể nhận một khối lượng lớn rác mà không gây hại tới môi trường Chỉ khi cách sống tập trung và các đô thị, thành phố ra đời thì rác mới trở thành mối quan tâm của cộng đồng con người do khối lượng lớn, thành phần phức tạp, khả năng phân huỷ chậm và sự tích tụ ngày càng cao của chúng Có loại vật liệu mới chỉ ngày hôm qua phục vụ đắc lực cho con người thì hôm nay lại trở thành chất thải rắn có khả năng gây độc hại không chỉ cho con người mà còn cho môi trường Đặc biệt trong giai đoạn phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá kèm theo tình trạng dân số tăng nhanh trong khi rác không còn chỗ để tái sử dụng hoặc nhiều loại chất thải không có khả năng phân huỷ hay tồn tại rất lâu trong thiên nhiên tăng cao thì chất thải rắn càng ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người
Thành phố Biên Hoà đang trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá, vừa là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Đồng Nai, vừa là đô thị loại hai Có một vị trí hết sức quan trọng, Biên Hòa là cửa ngõ của thành phố Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, với tốc độ đô thị hoá nhanh, do vậy dân số của thành phố Biên Hòa cũng tăng nhanh, tỉ lệ gia tăng dân
C
Trang 2khai thác nguồn tài nguyên, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá mạnh kết hợp hạ tầng kỹ thuật phát triển làm nảy sinh hàng loạt vấn đề môi trường Một trong số các vấn đề đó là vấn đề quản lý chất thải rắn đô thị – vấn đề nhức nhối đối với các nhà lãnh đạo, quy hoạch và quản lý Lượng chất thải rắn này nếu không được quản lý tốt sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường
Trong bối cảnh phát triển như Việt Nam hiện nay, việc từng bước ứng dụng GIS vào hoạt động quy hoạch, quản lý và giám sát trong các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, giao thông, du lịch … là rất cần thiết Nó giúp ta có được cái nhìn tổng thể cũng như nhận biết rất nhanh, rõ ràng và chính xác những thay đổi của đối tượng theo không gian và thời gian nhằm hổ trợ các nhà hoạch định ra quyết định sau cùng Nhận thấy được những lợi ích do các ứng dụng GIS đem lại, nhiều đơn vị đã bắt đầu đưa GIS vào hoạt động của mình và xem như đó là một phần quan trọng
không thể thiếu Chính vì vậy, tôi chọn đề tài Ưùng dụng GIS vào công tác quản lý thu gom – vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Biên Hòa để hỗ
trợ cho công tác quản lý CTR SH nhanh chóng và nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin địa lý GIS vào công tác quản lý môi trường để nâng cao hiệu quả quản lý Nhưng do những hạn chế về dữ liệu và thời gian nên tôi chỉ tiến hành
thí điểm trên các phường nội thành của thành phố Do vậy mà đề tài có thể đáp
ứng được nhu cầu hiện tại và phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố Biên Hòa, một thành phố đang trong giai đoạn CNH – HĐH, nên đề tài có tính thực tiễn cao
1.2 Mục tiêu của đề tài:
Thu thập các thông tin về hệ thống thu gom – vận chuyển CTR SH tại
thành phố Biên Hòa mà trọng tâm là các phường nội thành
Tìm hiểu hiện trạng thu gom, vận chuyển CTR SH tại thành phố Biên Hòa,
Trang 3 Thể hiện trực quan trên bản đồ thành phố Biên Hòa các thông tin về hệ
thống thu gom – vận chuyển CTR SH tại các phường nội thành
Đưa ra một số vấn đề phát sinh trong quản lý CTR SH tại các phường nội
thành phố Biên Hòa và đề xuất hướng giải quyết gợi ý
1.3 Nội dung nghiên cứu:
Khảo sát và phân tích hiện trạng hệ thống thu gom – vận chuyển CTR SH tại thành phố Biên Hòa để tìm ra những bất cập trong công tác thu gom và
vận chuyển để từ đó đưa ra hướng khắc phục
Tìm hiểu đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Biên
Hòa
Nghiên cứu hệ thống thông tin địa lý và phần mềm Map Info và Arcview
Thiết kế mô hình dữ liệu bao gồm: dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính
Ưùng dụng chức năng phân tích mạng của Arcview nhằm đề xuất lộ trình thu gom tối ưu cho công tác thu gom CTR SH tại các phường nội thành
thành phố Biên Hòa
1.4 Đối tượng nghiên cứu:
Các thông tin về hệ thống quản lý CTR SH tại thành phố Biên Hòa
Quy trình thu gom CTR SH tại thành phố Biên Hòa
Các điểm hẹn lấy rác trên địa bàn thành phố Biên Hòa và chủ yếu là các
điểm hẹn trong các phường nội thành
Các lộ trình vận chuyển CTR SH trong thành phố Biên Hòa
Tình trạng của các thiết bị thu gom – vận chuyển CTR SH trong thành phố
Biên Hòa
Trang 4 Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung vào khảo sát hệ thống thu
gom –vận chuyển CTR SH tại các phường nội thành thành phố Biên Hòa
Có thể nghiên cứu sâu hơn để mở rộng mô hình cho toàn thành phố Biên Hòa và các khu vực có đặc điểm về tuyến thu gom – vận chuyển gần giống
với điều kiện của thành phố Biên Hòa
1.6 Tiến trình thực hiện:
Trang 5Thành lập bản đồ tuyến thu gom, vận chuyển CTR SH tại các phường nội thành TP.Biên Hòa
Đánh giá hiện trạng thu gom – vận chuyển CTR SH tại các phường nọâi thành và các vấn đề cần giải quyết
Tìm hiểu phần mềm ứng
dụng MapInfo, Arcview:
- Các ứng dụng và khả
năng ứng dụng
- Các chức năng và công
cụ
Thu thập các dữ liệu không
gian ( các lớp thông tin bản
đồ thành phố Biên Hòa), dữ
liệu thuộc tính cho các dữ
liệu không gian
Tìm hiểu, thu thập dữ liệu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội thành phố Biên Hòa
Tìm hiểu, khảo sát, thu thập số liệu về hệ thống thu gom – vận chuyển CTR SH, đặc điểm và cách bố trí điểm hẹn và điểm dọc tuyến của thành phố Biên Hòa mà đặc biệt là các phường nội thành
Xây dựng bản đồ thành phố
Biên Hòa và bản đồ nền các
phường nội thành thành phố
Vạch lộ trình thu gom – vận chuyển CTR SH tối ưu cho các phường nội thành , phân chia số
xe đẩy tay trên mỗi phường, bố tríù thùng composit trên các tuyến đường
Ưùng dụng chức năng phân tích
mạng của GIS kết hợp tính
toán
Trang 6Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
2.1 Phương pháp luận ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS):
2.1.1 Cơ sở khoa học của GIS:
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và định nghĩa GIS:
Thu thập dữ liệu về vị trí phân bố trong không gian của các đặc tính quan trọng của trái đất từ lâu đã là các hoạt động quan trọng trong xã hội loài người Từ xưa đến nay, các nhà hàng hải, các nhà địa lý thu thập dữ liệu này, sau đó họa đồ can vẽ lại, tô màu để trở thành bản đồ Ban đầu bản đồ được sử dụng để diễn tả những vị trí xa để trợ giúp cho việc định hướng trong không gian và sử dụng cho quân đội ( Hodgkiss 1981)
Chỉ đến thế kỷ 18, nhu cầu về quản lý biên giới, lãnh thổ trở nên cấp bách thì các quốc gia bắt đầu công việc vẽ bản đồ một cách có hệ thống Vấn đề dữ liệu bản đồ đã mang tính toàn cầu, vì vậy nó phải được xác định một cách chính xác và khách quan
Vào thế kỷ 20, nhu cầu về dữ liệu ảnh hàng không, ảnh vũ trụ đột ngột tăng lên và dẫn đến sự ra đời các phương pháp chụp ảnh stereo Phương pháp phân loại ảnh không thể tránh được một khối lượng lớn các chỉ tiêu cho các dữ liệu phức tạp Đến năm 1930 xuất hiện lần đầu tiên phương pháp thống kê và phân tích chuỗi Đến những năm 1960 người ta mới có công cụ máy tính để thực hiện các phương pháp trên
Vào những năm 1960 – 1970, người ta sử dụng bản đồ ở hầu hết các lĩnh vực dẫn đến xuất hiện nhu cầu tổng hợp các bản đồ Một trong số hai cách để thực hiện điều này: người ta cố gắng tìm những đối tượng xuất hiện một cách tự nhiên, có thể nhận biết, mô tả và hiển thị bản đồ theo các thuộc tính Cùng với các yếu
Trang 7tố tự nhiên này, yêu cầu phải được nhận biết, duy nhất và tổ hợp độc lập của các đặc trưng môi trường Điều đáng quan tâm là khi sử dụng kết quả của bản đồ tài nguyên là đối với nhiều mục tiêu, chúng rất chung chung và khó tách ra được các thông tin cần thiết
Khi phạm vi của bản đồ chuyên ngành ngày càng rộng, người dùng muốn tìm cách tổng hợp thông tin sẵn có để có cái nhìn tổng quát hoặc phân loại thông tin theo cách riêng của mình Đến đầu năm 1970, SYMAP, chương trình đầu tiên vẽ bản đồ đơn giản và in ra các số liệu thống kê ra đời Chương trình GRID cũng được thành lập sử dụng khuôn dạng dữ liệu raster, các chương trình này đặc biệt phát triển dùng để chồng xếp bản đồ Kể từ đó, đã có nhiều phương pháp xử lý bản đồ tự động được phát triển
Tất cả các cố gắng này nhằm phát triển các công cụ hữu ích phục vụ việc thu thập, lưu trữ, truy cập, chuyển đổi, tích hợp và hiển thị dữ liệu không gian Tập hợp tất cả công cụ này cùng với một số thành phần khác cấu thành nên Hệ thống thông tin địa lý( Geographic Information System – GIS)
Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về GIS, dưới đây là một số định nghĩa của một vài tác giả:
Theo Dueker (1979): GIS là một trường hợp đặc biệt của hệ thống thông tin
với cơ sở dữ liệu gồm những đối tượng, những hoạt động hay những sự kiện phân bố trong không gian được biểu diễn như những điểm, đường, vùng trong hệ thống máy tính GIS xử lý, truy vấn dữ liệu theo điểm, đường, vùng, phục vụ cho những hỏi đáp và phân tích đặc biệt
Trang 8Theo Pavlidis (1982): GIS là một hệ thống có chức năng xử lý thông tin địa
lý nhằm phục vụ quy hoạch, trợ giúp quyết định trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định
Theo Burrough (1986): GIS là một hộp công cụ mạnh, dùng để lưu trữ, truy
vấn tùy ý, biến đổi và hiển thị dữ liệu không gian từ thế giới thực cho những mục tiêu đặc biệt
Theo Calkins và Tomlinson (1977), Marble (1984) và Star and Ester
(1990): GIS là một hệ thống thông tin bao gồm một phụ hệ có khả năng biến đổi dữ liệu địa lý thành những thông tin có ích
Theo Gilbert H.Castle (1993): Hệ thống thông tin địa lý (HTTTĐL hay GIS)
là một hệ thống bao gồm các phần mềm, phần cứng máy tính và một cơ sở dữ liệu đủ lớn, có chức năng thu thập, cập nhật, quản trị và phân tích, biểu diễn dữ liệu địa lý phục vụ giải quyết lớp rộng lớn các bài toán ứng dụng có liên quan tới vị trí địa lý trên bề mặt trái đất
2.1.1.2 Thành phần của GIS:
Hình 1: Thành phần của hệ GIS
Trang 9Một hệ GIS được kết hợp bởi năm thành phần chính: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và phương pháp Năm thành phần này phải cân bằng, hoàn chỉnh để GIS có thể hoạt động hiệu quả
Phần cứng (Hardware): phần cứng là hệ thống máy tính, trên đó một hệ GIS hoạt
động Ngày nay, phần mềm GIS có khả năng chạy trên rất nhiều dạng phần cứng, từ máy chủ trung tâm đến các máy trạm hoạt động độc lập hoặc liên kết mạng Các thành phần chính của phần cứng của GIS bao gồm:
Bàn số hóa: thiết bị dùng để chuyển đổi thông tin ở dạng giấy vào thành dạng số và đưa vào máy tính
Máy vẽ và thiết bị hiển thị trên màn hình: dùng biểu diễn kết quả tính toán tử máy tính
Đĩa cứng và tệp lưu trữ: lưu trữ dữ liệu hoặc chương trình trên băng từ hoặc để nối với hệ thống khác
Máy tính có thể nối với nhau, chia sẻ tài nguyên và lập thành mạng thông tin qua cáp hay đường điện thoại với modem
Hình2 : Các thành phần của phần cứng trong hệ thống thông tin địa lý
Trang 10Phần mềm (Software): phần mềm GIS cung cấp các chức năng và các công cụ
cần thiết để lưu trữ, phân tích và hiển thị thông tin địa lý Các thành phần chính trong phần mềm GIS là:
Công cụ nhập và thao tác trên các thông tin địa lý;
Hệ quản trị cở sở dữ liệu;
Công cụ hỗ trợ hỏi đáp, phân tích và hiển thị địa lý;
Giao diện đồ họa người – máy để truy cập các công cụ dễ dàng;
Hình 3: Các thành phần của hệ quản trị CSDL của GIS
Ngoài ra, phần mềm còn phải đáp ứng yêu cầu của hệ thống mở, cho phép nâng cấp khi cần thiết và có thể liên kết với các hệ thống khác Cũng như phần cứng, tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà phần mềm trong hệ thống có thể được trang bị phù hợp và đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi format dữ liệu giữa các phần mềm khác nhau
Trang 11Dữ liệu ( Data): có thể coi thành phần quan trọng nhất của một hệ GIS là dữ liệu
Các dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính liên quan có thể được người sử dụng tự tập hợp hoặc được mua từ nhà cung cấp dữ liệu thương mại Hệ GIS sẽ kết hợp dữ liệu không gian với các nguồn dữ liệu khác, thậm chí có thể sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu để tổ chức lưu giữ và quản lý dữ liệu
Cơ sở dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý có hai loại: dữ liệu nền và dữ liệu chuyên biệt:
Cơ sở dữ liệu nền: bao gồm những lớp dữ liệu mà hệ thống thông tin địa lý chuyên ngành nào cũng có thể sử dụng được như: dữ liệu về lưới tọa độ, đường giao thông, mạng lưới sông ngòi, khu dân cư…
Cơ sở dữ liệu chuyên biệt: bao gồm dữ liệu của các yếu tố chuyên ngành được biểu diễn theo mô hình dữ liệu không gian và phi không gian liên kết và được thiết kế hay xây dựng theo mục tiêu sử dụng của từng chuyên ngành khác nhau Nhưng khi thiết kế cơ sở dữ liệu chuyên ngành cần chú ý đến những quan hệ giữa các yếu tố đơn tính trong một chuyên ngành đồng thời trong mối quan hệ giữa các ngành với nhau
Con người (People): công nghệ GIS sẽ bị hạn chế nếu không có con người tham
gia quản lý hệ thống và phát triển những ứng dụng GIS trong thực tế Người sử dụng GIS có thể là:
Những chuyên gia kỹ thuật: người thao tác trực tiếp trên các thiết bị phần cứng, phần mềm để thu thập, nhập, tổ chức lưu trữ và hiển thị dữ liệu hay thực hiện các thao tác khác khi có yêu cầu của người sử dụng cấp cao hơn
Người quản trị hệ thống: người sử dụng hệ thống để thực hiện các bài toán phân tích, đánh giá, giải quyết những vấn đề theo mục tiêu xác định nhằm
Trang 12 Những người dùng các kết quả, báo cáo của GIS để ra quyết định Nhóm này đặt ra mục tiêu, yêu cầu hoạt động cho hệ thống
Phương pháp (Methods): một hệ GIS thành công theo khía cạnh thiết kế và luật
thương mại là được mô phỏng và thực thi duy nhất cho mỗi tổ chức
2.1.1.3 Chức năng của GIS:
Mục đích chung của các HTTTĐL là thực hiện sáu chức năng sau:
Nhập dữ liệu: trước khi dữ liệu địa lý có thể được dùng cho GIS, dữ liệu
này phải được chuyển sang dạng số thích hợp Quá trình chuyển dữ liệu từ bản đồ giấy sang các file dữ liệu dạng số được gọi là quá trình số hóa Dữ liệu là phần đắt tiền nhất (chiếm khoảng 80% kinh phí dự án) và tồn tại lâu đời của một hệ thống thông tin địa lý Việc thu thập dữ liệu để đưa vào sử dụng trong hệ thống là bước đầu quan trọng
Lưu trữ dữ liệu: các đối tượng không gian địa lý có thể được lưu trữ trong
hệ thống GIS bằng một trong hai dạng cấu trúc: dữ liệu vector ( biểu diễn các đối trượng địa lý trên mặt đất bằng những điểm, đường, vùng trong mặt phẳng tọa độ Descartes với mỗi điểm được xác định bởi cặp tọa độ (x,y), đường được tuyến tính bằng từng đoạn, vùng được định nghĩa là một đường khép kín); dữ liệu rastor ( mô hình ấn định vị trí của các đối tượng không gian vào các ô lưới có kích thước bằng nhau gọi là pixel, được xác định vị trí bằng tọa độ (x,y) với x biểu diễn số hàng, y biểu diễn số cột của pixel Với cấu trúc này, đường được biểu diễn bằng những pixel có cùng giá trị, vùng được biểu diễn bằng một mảng gồm nhiều pixel có
cùng giá trị thuộc tính trải rộng theo nhiều phương
Trang 13Có những trường hợp các dạng dữ liệu đòi hỏi được chuyển dạng và thao tác theo một số cách để có thể tương thích với một hệ thống nhất định Công nghệ
GIS cung cấp nhiều công cụ cho các thao tác trên dữ liệu không gian như:
Chuyển đổi định dạng;
Chuyển đổi hình học;
Chuyển đổi lưới chiếu;
Khớp đối tượng;
Ghép biên;
Soạn thảo đồ họa; và
Làm thưa tọa độ;
Quản lý dữ liệu: đối với các thông tin địa lý có kích cỡ lớn và số lượng
người sử dụng nhiều thì cách tốt nhất là sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) để lưu trữ, tổ chức và quản lý thông tin DBMS là một phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu Có nhiều cấu trúc DBMS khác nhau, nhưng trong GIS cấu trúc quan hệ tỏ ra hữu hiệu nhất Trong cấu trúc này, dữ liệu được lưu ở dạng các bảng Các trường thuộc tính chung trong các bảng khác nhau được dùng để liên kết các bảng lại với nhau
Hỏi đáp và phân tích: khi đã có hệ GIS lưu giữ các thông tin địa lý, có thể
tiến hành các câu hỏi đơn giản và câu hỏi phân tích GIS cung cấp cả khả năng hỏi đáp đơn giản “ chỉ và nhấn” và các công cụ phân tích tinh vi để cung cấp kịp thời thông tin cho những người quản lý và phân tích Các hệ GIS hiện đại có nhiều công cụ phân tích hiệu quả như:
Phân tích lân cận;
Phân tích một lớp;
Phân tích không gian;
Trang 14 Phân tích bề mặt;
Phân tích chồng lớp;
Rút số liệu, phân loại và đo lường; và
Kết nối ( tạo vùng đệm, mạng, lan truyền, hướng dòng, chiếu sáng và phép phối cảnh)
Hiển thị: với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển
thị tốt nhất dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ Bản đồ hiển thị còn có thể được kết
hợp với các bản báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác
Xuất dữ liệu: việc chia xẻ kết quả đạt được là một ưu điểm và là một trong
những tiêu chí chủ yếu khi sử dụng các nguồn tài nguyên trong GIS Dữ liệu GIS có thể được xuất ra dưới dạng khác nhau như trên giấy, xuất ra thành tập tin ảnh,
đưa vào các báo cáo, chuyển tải lên internet…
2.1.2 Các ứng dụng của GIS trong quản lý môi trường:
Bước vào thế kỷ XXI, Công nghệ thông tin đã và đang phát triển như vũ bão với các ứng dụng khoa học vào các ngành và lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là về công nghệ thông tin địa lý Theo Phó giáo sư Tiến sĩ Trần Vĩnh Phước, nếu thế kỹ
XX được gọi là thế kỷ bùng nổ của công nghệ thông tin thì có thể nói thế kỷ XXI được nhận định là “ Thế kỷ của Công nghệ thông tin địa lý” Với những đột phá về thành tựu trong việc nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển kỹ thuật, GIS ngày càng trở thành một công cụ hổ trợ đắc lực cho các nhà quản lý trong việc phát triển kinh tế, xã hội Một số nghiên cứu mới từ năm 2004 đến nay như:
Dr David Fraser (RMIT) Mô hình hóa thủy học hệ thống nước tự nhiên của Việt Nam và Úc
Dr David Fraser và Dr Trần Vĩnh Phước Mô hình hóa môi trường về khả năng duy trì nông nghiệp tại tỉnh Bến Tre
Trang 15 Nguyễn Mạnh Hùng Ưùng dụng công nghệ GIS và Viễn thám trong quản lý, phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Nguyễn Thị Hồng Điệp Ưùng dụng phương pháp thống kê địa lý và thuật nội suy trong nghiên cứu Arsenic trong nước ngầm tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
Nguyễn Minh Tùng Ưùng dụng GIS phục vụ cho công tác điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025
TS Nguyễn Văn Nhân cùng các cộng tác Ưùng dụng GIS vào công tác quản lý đô thị thành phố Phan Thiết
Viện Điạ lý, viện KH&CNVN Hệ thống thông tin địa lý – Những ứng dụng trong nghiên cứu tai biến thiên nhiên
Ths Võ Khiếm trung tâm ứng dụng KHCN&Tin học Lâm Đồng Ưùng dụng viễn thám trong nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
2.1.3 Ưùng dụng GIS trong quản lý thu gom- vận chuyển chất thải rắn:
2.2.3.1 Ưùng dụng chức năng chồng lớp của GIS:
Thông tin về thế giới thực được GIS lưu trữ, quản lý dưới dạng tập hợp của nhiều lớp chuyên đề riêng biệt Tuy nhiên, các lớp này có thể liên kết với nhau nhờ có mối quan hệ về mặt địa lý với nhau Đặc điểm này tuy đơn giản nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng và trở thành công cụ đa năng để GIS thực hiện chức năng hỗ trợ việc ra quyết định trong việc giải quyết một số vấn đề thực tế đặt ra như: tích hợp nhiều lớp thông tin để quyết định thành lập các tuyến giao thông, tuyến xe buýt, xác định vị trí các khu công nghiệp thích hợp, giúp cho quá trình quy hoạch đô thị,…
Trang 16Chức năng chồng ghép là thao tác không gian trong đó những lớp chuyên đề được chồng lên nhau để tạo ra một lớp chuyên đề mới chứa đựng những thông tin mới Để rút ra những thông tin này, thao tác số học hoặc thao tác logic được vận dụng trên những lớp dữ liệu khác nhau được nhập vào Chồng ghép những lớp dữ liệu khác nhau là một quá trình bậc thang Hai lớp dữ liệu nhập vào được tổ hợp vào một lớp trung gian, nó lại được tổ hợp với lớp thứ ba để tạo ra lớp trung gian khác Điều này được thực hiện cho tới khi tất cả các lớp dữ liệu nhập vào đều được chồng lên nhau ( Star, 1990) Chính chức năng này làm cho GIS có khả năng phân tích không gian rất lớn, mang tính tổng quát hóa cao mà ngoài thực tế phải mất rất nhiều thời gian mới có thể phân tích được, từ đó nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và ra quyết định đối với các vấn đề thực tế đã đặt ra vì qua chồng ghép lớp thông tin ta có thể rút ra nhiều thông tin từ dữ liệu ban đầu
Trong đồ án, tôi thực hiện chồng lớp bản đồ nền ( gồm lớp đường giao thông, lớp sông, lớp hành chính, lớp cầu, …) lên lớp điểm hẹn nhằm thể hiện các điểm hẹn thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên bản đồ và do những điểm hẹn này là điểm bắt buộc xe chuyên dụng phải đi qua để thu gom CTR theo quy trình thu gom để từ đó đưa ra quy trình thu gom mà cụ thể là tuyến thu gom đề xuất Đồng thời tôi cũng tiến hành chồng hai lớp này lên lớp điểm dọc tuyến nhằm thể hiện trên bản đồ các đoạn đường mà xe chuyên dụng đi qua để đánh giá khối lượng rác thu gom tại các điểm hẹn và điểm dọc tuyến
GIS có khả năng lưu trữ , quản lý và làm việc với dữ liệu địa lý theo hai dạng: mô hình Raster và mô hình Vector Trong đề tài này, mô hình vector được sử dụng trong quá trình chồng ghép lớp Mô hình vector là mô hình mà dữ liệu không gian như điểm, đường, vùng được mã hóa và lưu trữ dưới dạng tập hợp các tọa độ x, y Vị trí của đối tượng điểm được thể hiện bởi tọa độ đơn x, y; đối tượng đường như sông, suối, đường giao thông được định nghĩa như một chuỗi các cặp
Trang 17tọa độ (xi,yi) Đối tượng dạng vùng được định nghĩa là một đường khép kín, được biểu diễn bởi một chuỗi các cặp tọa độ (xi,yi) có tọa độ điểm đầu và điểm cuối trùng nhau
2.2.3.2 Ưùng dụng chức năng mạng:
Mạng bao gồm các đoạn được nối kết với nhau Mỗi đoạn được xác định bằng node đầu và node kết thúc Cả hai node này đều được xác định vị trí Ngoài
ra, đoạn còn có thể được xác định bởi những điểm nằm giữa node đầu và node cuối Những điểm này dùng để uốn nắn hình dạng của đường và được gọi là đỉnh ( vertex )
Sự khác nhau chủ yếu giữa node và vertex là node có thông tin về quan hệ topology của mạng trong khi vertex chỉ tồn tại đơn thuần là phác họa hình dạng của đoạn Trên sơ đồ mạng phẳng thì quy ước nếu hai đoạn cắt nhau sẽ phải tạo ra một node tại vị trí giao nhau Ngoài ra, còn có trường hợp tại vị trí của một số node hoặc vertex có thêm các yếu tố cản trở ( impendance factor ) Những yếu tố này tượng trưng cho khoảng cách từ điểm này đến điểm kia hoặc một điều kiện nào đó Trong phân tích mạng thì những yếu tố này tùy theo yêu cầu thực tế của vấn đề nghiên cứu
Trong đồ án, tôi ứng dụng chức năng này để phân tích nhằm đưa ra quy trình đề xuất dựa trên cơ sở lý thuyết đã được học Do những hạn chế về kiến thức lập trình GIS nên tôi chỉ ứng dụng được chức năng mạng của GIS để đưa ra quy trình hoặc sẽ tối ưu về thời gian hoặc sẽ tối ưu về đoạn đường mà chưa thể kết hợp cả hai phần Sản phẩm của khâu này là bản đồ vạch tuyến thu gom – vận chuyển chất thải rắn trên cơ sở tính toán bằng tay kết hợp chức năng phân tích mạng của Arc view
Trang 18 Thu thập số liệu về:
Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Hiện trạng thu gom, khối lượng thu gom, thời gian thu gom, lực lượng thu gom – vận chuyển CTR SH tại Tp.BH
Phương tiện thu gom, dung tích, kích thước ngang đối với xe chuyên dụng
Quy trình thu gom CTR SH tại Tp.BH
Hiện trạng về các đọan đường như: chiều dài, chiều rộng, giờ cao điểm, chiều lưu thông
Thu thập bản đồ: thu thập dữ liệu, số hóa bản đồ nền gồm các lơp giao
thông, lớp sông, ranh giới hành chính, …
Điều tra thực địa: tiến hành khảo sát khối lượng thu gom tại các điểm hẹn và các điểm dọc tuyến, quy trình thu gom xem có đúng với quy trình trên
văn bản không
Thống kê số liệu: thống kê các số liệu thu được tại các điểm, lọc ra giá trị
để sử dụng bằng phần mềm Excel
Phân tích và đánh giá hiện trạng về kinh tế, xã hội và công tác thu gom –
vận chuyển CTR SH tại thành phố Biên Hòa
Trang 193.1 Điều kiện tự nhiên Tp.Biên Hòa:
3.1.1 Vị trí địa lý:
Thành phố Biên Hoà là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Đồng Nai, có tầm quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Thành phố Biên Hoà là đô thị loại 2 cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km theo quốc lộ 1A, cách Bà Rịa – Vũng Tàu 90 km theo quốc lộ 51, là cửa ngõ của thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam, có các khu công nghiệp lớn, là đầu mối giao thông quan trọng của các tuyến đường bộ và đường sắt quốc gia Thành phố Biên Hoà có ảnh hưởng đối với việc phát triển kinh tế – xã hội đồng thời giữ vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng đối với cả khu vực miền Đông Nam Bộ
Tổng diện tích tự nhiên: 15,473.4 ha
Phía Bắc và Đông Bắc giáp thị xã Vĩnh An và Thiện Tân, huyện Vĩnh Cữu
Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Thống Nhất – huyện Long Thành
Phía Nam giáp giáp huyện Thủ Đức TP Hồ Chí Minh
Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Thuận An và Tân Đông Hiệp tỉnh Bình Dương
Thành phố Biên Hoà có diện tích nhỏ nhất so với các huyện, thị khác trong tỉnh (154.73 km2) nhưng tập trung dân số lớn nhất (624000 người năm 2005) Dự kiến đến năm 2010 thành phố Biên Hoà sẽ có số dân từ 700 – 800 nghìn người
Trang 203.1.2.1 Địa hình:
Phần lớn phía Đông và Đông Bắc có dạng đồi nhỏ, dốc thoải không đều nghiêng về phía Đông sông Đồng Nai và các suối nhỏ Nước lũ tràn từ Bắc xuống Nam và Đông Nam Ven hai bờ sông là vùng vườn bằng phẳng, xen lẫn ao hồ do việc lấy đất làm gạch tạo nên Cao độ lớn nhất:+70m
Cao độ thấp nhất: 0.5 – 0.8m, hầu hết là ruộng vườn xen lẫn khu dân cư
Khu vực trung tâm thành phố cũ cao độ trung bình là từ: 5 – 10m
Ngoài ra còn các khu vực xây dựng, phần đất đồi là rừng bạch đàn, trồng hoa màu và hoang hóa
3.1.2.2 Địa chất:
a Địa chất kiến tạo:
Khu vực Tp Biên Hòa có cấu tạo địa chất vùng rìa Đông – Nam miền kiến tạo Nam Trung Bộ, thuộc ranh giới rìa Tây – Nam của đới sụt Mejojo – nâng Kainôjôi với đới sụt Kainôjôi Cửu Long, bao gồm:
Đá cổ nhất thấy được là trầm tích, trầm tích núi lửa phun trào và xâm nhập Mejojoi với bề dày 100 -150m, khu Bửu Long với cao độ 47m Lớp phong hóa dày 3 – 5m
Trầm tích lục nguyên J sớm lộ ra ở phía Đông Bắc trên diện rộng và chìm dần theo hướng Nam và Tây Nam
Các trầm tích phun trào có tuổi Jura muộn đến Kreta (J3 – K ) lộ ra ở Bửu Long, Bửu Hòa với thành phần chính là các kết, cuội kết, Andejit
Trang 21 Trầm tích trước đệ tứ duy nhất trong vùng ( Plioxen N ) nằm ở khu vực Hố Nai, Long Bình, lộ ra dưới dạng đồi gốm sét, sét pha với cao độ đỉnh 5 – 10m đến -50m, chiều dày thay đổi từ 30 – 70m
Trầm tích sông Pleitoxen sớm (aQ1 - +b ) chủ yếu ở khu vực Long Bình, Hố Nai có cao độ bề mặt từ 10 – 50m
b Địa chất thủy văn: có thể chia thành 3 khu vực:
Khu vực phát triển phức hệ chứa nước nằm trong trầm tích lục nguyên Jura (J1 ) có khoảng 80 km2 về phía Đông Bắc thành phố Bề dày tầng chứa nước khoảng 60 -80m
Khu vực phát triên các phân vị chứa nước Kainôjoi và Mejôjôi Trong đó phân vị chứa nước Kainôjôi dày từ 20 – 40m với diện tích khoảng 90 km2
tại Biên Hòa, Hố Nai, Tam Hiệp, lưu lượng khai thác ước chừng khoảng
30 – 40 m3/h Chất lượng nước đều có thể bị phèn
Khu vực phát triển các phân vị Mejôjôi, trong đó phân vị chứa nước Kainôjôi dày khoảng 20m ( thường 8 – 10m) Lưu lượng nươc thay đổi rất lớn, ví dụ như lỗ khoan của Đoàn 801 với chiều sâu 60m chỉ có lưu lượng dưới 1 lit/s, trong khi đó các lỗ khoan tại căn cứ Long Bình lại đạt 30 m3/h
Nhìn chung, trong phạm vi Tp Biên Hòa, các phân vị chứa nước phát triển không liên tục, ít đồng nhất Các tầng chứa nước có quan hệ thủy lực và có nhiều chỗ thông nhau Khu vực thuận lợi nhất cho khai thác nước ngầm là Tp.Biên Hòa và khu vực Hố Nai
c Đặc điểm khoáng sản:
Trong Tp Biên Hòa có một số điểm khoáng sản chủ yếu là Kaolin ở khu vực nghĩa trang thành phố Biên Hòa, Laterit ở khu vực tổng kho Long Bình ( phường
Trang 22Tam Hiệp ) và sét được phân bố ở khu vực xã An Hòa (hướng Long Thành ) Ngoài ra còn có than bùn ở Hóa An
d Địa chất công trình:
Tại Biên Hòa chưa tiến hành khảo sát địa chất công trình thành hệ thống Tuy nhiên theo kết quả do Đoàn Địa chất 801 thực hiện, có thể chia làm hai khu vực:
Khu vực Tây Nam thành phố ( ven sông): gồm các loại đất đá như:
- Lớp 1: đất đắp hoặc sét pha màu vàng có độ dày 0.4 – 1.5m
- Lớp 2: lớp sét pha xám tro, xám vàng ở trạng thái dẻo, dẻo chảy, độ sâu
Khu vực phía Bắc thành phố và khu vực Long Bình:
- Lớp 1: lớp cát pha, hạt mịn màu trắng, xám vàng đất ẩm, bở rời, có độ
dày từ 1 – 3m
- Lớp 2: lớp cát pha sét Kaolin màu xám trắng lẫn ít sỏi sạn thạch anh, sỏi
sạn laterit Đất ẩm ướt, dẻo ở độ sâu từ 1.7m, C = 0.18 -0.35 kg/cm2,
22 – 24o
- Lớp 3: lớp cát pha và cát sạn thạch anh màu xám trắng, đỏ vàng loang lổ
Đất ẩm trạng thái dẻo ở độ sâu từ 6 – 12m, C = 0.45 – 0.5 kg/cm2, 11o
Trang 233.1.3 Khí hậu:
Cùng với sự biến đổi toàn cầu do ảnh hưởng về cường độ của các hiện tượng Elnino, Lanina và những thay đổi về cảnh quan, môi trường nên hiện tượng thời tiết và khí hậu ở Đồng Nai và đặc biệt là thành phố Biên Hoà có thay đổi lớn, nhiệt độ không khí tăng dần Qua số liệu theo dõi trong năm năm gần đây như sau:
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm : 32.5oC
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm là 23oC
Bảng 1: Bảng nhiệt độ trung bình tháng tại Biên Hoà( oC )
Tháng
26.3 26.2 27.6 28.7 28.3 27.4 27.7 26.5 26.6 26.5 26 25.2
Nguồn Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới và BVMT năm 2003
3.1.3.2 Chế độ gió:
Tốc độ gió trung bình tại Biên Hoà là 2m/s
Trang 24- Gió Đông Bắc thổi vào mùa khô ( các tháng từ 11 đến tháng 2 năm sau) với tần suất 60%
- Từ tháng 3 đến tháng 5 có gió Đông Nam Tần suất hướng gió được trình bày theo bảng:
Bảng 2: Tần suất hướng gió
Nguồn Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới và BVMT năm 2003
3.1.3.3 Chế độ mưa:
- Lượng mưa vào mùa mưa chiếm khoảng 85% lượng mưa hàng năm
- Lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 1600 -1800 mm/ năm
- Trong khoảng thời gian từø tháng 5 đến tháng 11, hàng tháng có 19 ngày mưa với vũ lượng trung bình hơn 100mm / ngày Mùa mưa bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào tháng 11
Bảng 3: Lượng mưa trung bình tháng tại Biên Hoà (mm)
Trang 253.1.3.4 Độ ẩm:
Độ ẩm tại thành phố Biên Hoà tương đối cao, biến đổi theo mùa và theo vùng
- Độ ẩm tương đối của khu vực dao động từ : 75 -85%
- Độ ẩm cao nhất trong mùa mưa là: 83 -87%
- Độ ẩm thấp nhất vào mùa khô là: 67 -69%
Các tháng có độ ẩm trung bình cao nhất là tháng 9 và tháng 10, các tháng có độ ẩm nhỏ nhất là tháng 2 và tháng 3 Chênh lệch giữa nơi khô nhất và ẩm nhất là 5% Độ ẩm tương đối tại trạm Biên Hoà như sau:
Bảng 4: Bảng độ ẩm tương đối tại trạm Biên Hoà( %)
3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên:
3.1.4.1 Tài nguyên nước:
Trang 26Tp Biên Hòa có tài nguyên nươc phong phú, trong đó quan trọng nhất là sông Đồng Nai và các hồ Long Aån, Long Vân Sông Đồng Nai là nguồn duy nhất cấp nước mặt để sử dụng cho thành phố Biên Hòa, Hồ Chí Minh và khu vực Nam Sông Bé Do vậy, việc khai thác nguồn nước ngọt này cần được tính toán thận trọng cùng với việc phục hồi rừng đầu nguồn để đảm bảo tính bền vững về môi trường sinh thái
3.1.4.2 Tài nguyên khoáng sản:
Theo các tài liệu điều tra, trong khu vực Tp.Biên Hòa có một số điểm khoáng sản chủ yếu là Kaolin, laterit và sét phân bố trên các khu vực:
Laterit: tổng kho Long Bình ( phường Tam Hiệp) trên diện tích khoảng 3km2 dày từ 3 – 5m Nhiều chỗ bị xói mòn thành sỏi rắn chắc
Kaolin: ở khu vực nghĩa trang thành phố, có thành phần chính là Kaolinit (20 – 40 %) với diện tích khá rộng Tại khu vực Tân Mai tầng sét Kaolin nằm trong trầm tích với sét Kaolin 30 – 40 % màu trắng, cát thạch anh và bột thạch anh chiếm 60%
Sét gạch ngói: sét đựơc phân bố ở khu vực xã An Hòa ( về hướng Long Thành ) với trữ lượng khoảng 6 triệu m3
Ngoài ra còn có than bùn (Hóa An) với diện tích khá rộng, thường lẫn sét màu đen, độ phân giải thấp
3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội:
3.2.1 Đặc điểm kinh tế:
Giai đoạn 10 năm(1991 -2000): Đảng Bộ thành phố triển khai kịp thời chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn này là: quy hoạch và
Trang 27xây dựng các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài; phát triển mạnh sản xuất công nghiệp để tạo động lực thúc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế GDP trên địa bàn tăng 4 lần từ 1991 – 2000 tăng 16.9% cao hơn mức toàn tỉnh 13% Đến năm 2005 GDP tăng 14.3%
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố chuyển dịch nhanh và đúng hướng với 2 ngành: Công nghiệp – xây dựng; Dịch vụ – du lịch chiếm tỉ trọng cao trong tổng thể kinh tế thành phố Năm 2005 ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 70.1%; dịch vụ - du lịch: 28.72 %; nông lâm thuỷ sản chiếm 1.18%
Cơ cấu kinh tế trên địa bàn có sự chuyển đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Năm 2005,
cơ cấu kinh tế như sau:
Các xí nghiệp đã giữ vững và khẳng định vị trí, vai trò chủ đạo là: công ty Đường Biên Hòa, công ty bột giặt Net, Nhà máy thiết bị điện 4,…
Trang 28Các xí nghiệp quốc doanh địa phương hiện có 62 doanh nghiệp, trong đó có 2/3 số doanh nghiêp có xu hướng phát triển như: Nhà máy phân bón Nhà nông, Nhà máy quốc doanh Điện cơ Đồng Nai, Nhà máy Cơ khí Đồng Nai,…
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố hiện nay có hơn 100 dự án đi vào sản xuất
Các KCN đang hoạt động trên địa bàn Tp Biên Hòa có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng Nai nói chung và thành phố Biên Hòa nói riêng Thành phố hiện có 4 khu công nghiệp tập trung là: KCN Biên Hòa I, Biên Hòa II, Amata, Loteco Ngoài ra thành phố Biên Hòa còn có các cụm công nghiệp nhỏ đã được đầu tư xây dựng nằm kề cận các KCN lớn và khu dân cư 3.2.1.2 Nông nghiệp – lâm nghiệp:
Diện tích đất nông nghiệp năm 2000 là 4,062.29 ha chiếm 26.26% đất tự nhiên, trong đó đất trồng cây lúa 778.45 ha, đất lâm nghiệp 1,151.79 ha Thành phố đang chuyển mạnh cơ cấu cây trồng, nâng hệ số sử dụng đất để đảm bảo điều kiện sinh thái và tạo vành đai xanh cần thiết cho thành phố và các KCN Sản xuất nông nghiệp năm 2000 đạt giá trị tổng sản lượng là 224,064 triệu đồng, trong đó trồng trọt là 49,881 triệu đồng ( chiếm 22.26%), chăn nuôi 135,708 triệu đồng ( chiếm 60.56%), ngành thủy sản 5,937 triệu đồng ( 2.65%), dịch vụ sản xuất nông nghiệp 32,538 triệu đồng (14.52 %)
Thành phố Biên Hòa có diện tích đất lâm nghiệp là 1,619.1 ha, toàn bộ là đất có rừng trồng phòng hộ Trong đó, rừng quốc doanh quản lý chiếm 27.5%, rừng ngoại quốc doanh chiếm 10.9%, rừng do các đơn vị quốc phòng quản lý chiếm 61.7% Như vậy, diện tích rừng trồng chiếm 10.4% so với diện tích tự nhiên của thành phố Vệ hiệu quả kinh tế thì không cao, tuy nhiên cũng đã giải quyết được
Trang 29các mặt như môi trường sinh thái, chống xói mòn và tạo công ăn việc làm cho người dân thành phố
3.2.1.3 Thương mại và dịch vụ:
Từ sau ngày được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại 2, ngành này phát triển mạnh đã tạo ra được mối quan hệ với trung tâm và vùng phụ cận Doanh số kinh doanh ngày một tăng cao, bình quân mỗi năm tăng 158% Tuy nhiên sự phát triển của dịch vụ – thương mại tư nhân chưa tập trung theo quy hoạch, còn phát triển tràn lan, các hệ thống nhà hàng – khách sạn tuy có sự phát triên nhưng khả năng phục vụ còn thấp, chưa đủ sức hút, nhất là đối với khách nước ngoài 3.2.1.4 Xuất nhập khẩu:
Công tác xuất nhập khẩu tăng trưởng bình quân hàng năm là 33.67%, trong đó xuất khẩu có mức tăng bình quân hàng năm là 36.33% những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủ công mỹ nghệ: hàng gốm mỹ nghệ, may mặc, mây tre đan mộc dân dụng Ngoài ra, thành phố cũng tạo ra một số mặt hàng gia công như: gia công may mặc, sản xuất giày, đũa tre xuất khẩu…
3.2.1.5 Du lịch:
Du lịch của thành phố có tiềm năng lớn như khu du lịch Bửu Long, cù lao Hiệp Hòa, dọc sông Đồng Nai, nhưng chỉ có khu du lịch Bửu Long với diện tích 85 ha có thể nói là thu hút được khách vào các dịp lễ, tết, ngày nghỉ…
3.2.2 Đặc điểm xã hội:
3.2.2.1 Dân số:
Trang 30Biên Hòa là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, chính trị của tỉnh Đồng Nai với 26 đơn vị hành chính gồm 23 phường và 3 xã Biên Hoà là thành phố có tốc độ đô thị hoá nhanh, do vậy dân số cũng tăng nhanh Dân số hàng năm tăng khoảng 3.95%, trong đó dân số tăng tự nhiên là 1.5%, tăng dân số cơ học là 2.45%
Bảng 5: Dự báo dân số Biên Hoà giai đoạn 2005 -2010:
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng cộng 624,000 648,648 674,270 700,903 728,590 748,000
Bảng 6: Bảng thống kê dân số trong các phường thuộc TP Biên Hoà năm 2006
STT Phường xã Tổng số hộ Dân số
1,459 1,970 3,875 2,858 3,633 3,142 3,539 2,860 5,574 4,353 3,294 5,042 4,007 5,553 6,607 3,094
7,117 9,485 22,288 16,797 18,572 19,370 16,164 13,005 32,330 21,504 18,093 31,198 21,145 21,974 17,066 17,607
Trang 315,553 6,786 5,372 8,492 5,797 6,718 6,607 1,529 3,583 2,255
32,977 36,081 29,472 40,272 28,920 32,519 35,876 7,643 17,661 11,573 3.2.2.2 Ytế:
Đến nay, 100% phường , xã trên địa bàn đều có trạm ytế và nhân viên y tế Trên địa bàn thành phố hiện có:
1 bệnh viện Trung Ương: Bệnh viện Tâm thần;
7 bệnh viện cấp Tỉnh, thành phố:
- Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai
- Bệnh viện Nhi Đồng
- Bệnh viện Thống Nhất
- Bệnh viện Da liễu
- Bệnh viện Lao
- Quân Y viện 7B
- Bệnh viện Trung Cao
9 trung tâm y tế;
Trang 32Theo báo cáo của Sở Y tế tỉnh Đồng Nai, tổng số giường bệnh khoảng 3,140 giường, tổng số cán bộ công nhân viên là 2,200 ( trong đó có 412 bác sĩ) Bình quân có 8 bác sĩ trên 10,000 dân Tp Biên Hòa tập trung nhiều cơ sở y tế nhưng chưa có bệnh viện hiện đại về quy mô cũng như trang thiết bị
3.2.2.3 Giáo dục – đào tạo:
a Cơ sở vật chất giáo dục:
Nhờ thực hiện tốt nghị quyết Trung Ương về định hướng phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ CNH – HĐH, sự nghiệp giáo dục đào tạo của thành phố phát triển nhanh và toàn diện trong giai đoạn mới ( 1986 -2005) cả về quy mô, chất lượng và số cơ sở trường lớp Năm 2004 -2005, hệ thống giáo dục như sau:
Trường Mầm non: 48 trường
Cấp I: 41 trường
Cấp II: 22 trường
Cấp III: 13 trường
Cao đẳng và Đại học: 11 trường
Hầu hết các phường đều có trường Trung học cơ sở Một số trường có mặt bằng tiếp xúc với các tuyến đường chính của thành phố tuy nhiên lại chưa có khoảng cách ly hợp lý dẫn đến tình trạng ách tắt giao thông khi tan trường( đường QL1, QL15, cụm trường tại ngã ba Vườn Mít)
b Đào tạo:
Thành phố Biên Hòa có 13 trường Trung học chuyên nghiệp và trung tâm giáo dục đã cung cấp cán bộ và công nhân lành nghề cho toàn tỉnh và vùng lân cận
Trang 33Hàng năm đã đào tạo khoảng 2000 học sinh nghề và hướng nghiệp cho 11,000 học
sinh cấp 2 , 3
3.2.2.3 Văn hóa:
Một số công trình văn hóa truyền thống được đầu tư sửa chữa, nâng cấp, một số được xây mới tạo nét văn minh cho thành phố như: công viên Tân Biên, Đài tưởng niệm công viên phường Trung Dũng, Cụm bia Chiến thắng sân bay Tân Hòa, nhà Bảo tàng, nhà Truyền thống thành phố, các đài truyền thanh của phường xã, công viên chiến thắng Long Bình,… Các công trình văn hóa đã đáp ứng đựơc nhu cầu sinh hoạt tinh thần của nhân dân thành phố Tuy nhiên, hệ thống công viên cây xanh công cộng tại nội thành còn bé, chật hẹp và chưa được hoàn thiện
Trang 34Chương 4: HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THU GOM –
VẬN CHUYỂN VÀ QUẢN LÝ CTRSH
TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
4.1 Hiện trạng thu gom – vận chuyển CTR SH tại Tp.Biên Hòa:
4.1.1 Nguồn phát sinh CTR:
Nguồn gốc rác thải sinh hoạt của thành phố Biên Hòa chủ yếu là từ: các hộ gia đình, các chợ, vĩa hè và đường phố, công viên, trường học, bệnh viện, các công sở, các cơ sở sản xuất kinh doanh…và cụ thể như sau:
Rác hộ dân: phát sinh từ các hộ gia đình, biệt thự, căn hộ chung cư Thành phần rác thải này bao gồm: thực phẩm, giấy, carton, plastic, gỗ, thuỷ tinh, kim loại các loại, tro, đồ điện tử gia dụng, rác vườn, vỏ xe… Ngoài ra, rác từ các hộ gia đình cũng có chứa một phần chất thải nguy hại
Rác quét đường: phát sinh từ hoạt động vệ sinh đường phố, khu vui chơi giải trí Nguồn rác này do người đi đường và các hộ dân sống dọc hai bên đường xả bừa bãi Thành phần này bao gồm: cành cây và lá cây, giấy vụn, bao nylon, xác động vật chết
Rác khu thương mại: phát sinh từ các hoạt động buôn bán của các cửa hàng bách hoá, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, văn phòng giao dịch, nhà máy in, cửa hàng sửa chữa Các loại chất thải từ khu thương mại bao gồm: giấy, carton, plastic, gỗ, thực phẩm, thuỷ tinh, kim loại, vỏ xe, đồ điện gia dụng Ngoài ra, từ đây cũng có một phần chất thải nguy hại
Rác cơ quan công sở: phát sinh từ các cơ quan, xí nghiệp, trường học, nhà tù, văn phòng làm việc Thành phần rác thải ở đây giống như của khu thương mại
Trang 35 Rác chợ: phát sinh từ các hoạt động mua bán ở các chợ Thành phần chủ yếu là rác hữu cơ bao gồm: rau, củ, quả thừa và hư hỏng
Rác xà bần từ các công trình xây dựng: phát sinh từ các hoạt động xây dựng và tháo dỡ các công trình xây dựng, đường giao thông Các loại chất thải bao gồm: gỗ, thép, bêtông, gạch, bụi…
Rác bệnh viện: bao gồm rác sinh hoạt và rác y tế phát sinh từ các hoạt động khám bệnh, điều trị bệnh và nuôi bệnh trong các bệnh viện và sở y tế Rác y tế có thành phần phức tạp gồm các loại bệnh phẩm, kim tiêm, chai lọ chứa thuốc… có khả năng lây nhiễm và độc hại đối với sức khoẻ độc hại đối với sức khoẻ cộng đồng
Rác công nghiệp: phát sinh từ hoạt động sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp ( sản xuất vật liệu xây dựng, nhà máy hóa chất, nhà máy chế biến thực phẩm, các ngành công nghiệp …) Thành phần của chúng bao gồm: vật liệu phế thải không độc hại
4.1.2 Khối lượng – thành phần:
Thành phần: theo thực tế phân loại 7670 kg rác sinh hoạt từ các xí
nghiệp và các hộ gia đình trong khu công nghiệp, 6000 kg rác thải đường phố,
5100 kg rác chợ, tỷ lệ thành phần rác thải sinh hoạt của thành phố Biên Hoà như sau:
Bảng 7: Bảng thành phần CTR SH tại thành phố Biên Hòa
Trang 360.77 0.91 2.48 9.93 67.84
Biểu đồ1: Biểu đồ thành phần chất thải rắn của thành phố Biên Hoà
Qua biểu đồ ta thấy được, chất thải rắn của thành phố Biên Hoà chủ yếu vẫn là chất thải có nguồn gốc hữu cơ (67.84%), kế đến là nhựa bao gồm nylon, chai nhựa, hộp nhựa (10.46%), tiếp theo là giấy các loại bao gồm giấy vụn, giấy carton, bao bì… Chiếm một lượng nhỏ nhất trong CTR là kim loại bao gồm lon sắt, nhôm, hợp kim các loại ( 0.91%) và thuỷ tinh như chai, mảnh thuỷ tinh… (0.77%)
Trang 37 Khối lượng: Chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình và rác đường
phố được Nhà nước thuê bao thu gom Với dân số điều tra năm 2006 tại thành phố Biên Hoà là 576,709 người, bình quân lượng CTR mỗi người thải ra trong một ngày là 0.6 kg Ước tính lượng chất thải rắn sinh ra trong một ngày tại thành phố Biên Hoà được thể hiện trong bảng 6
Bảng 8: Bảng thống kê lượng rác sinh ra tại TP Biên Hoà trong 1ngày năm 2006
STT Phường xã
Tổng số hộ
Dân số
Khối lượng rác sinh ra trong 1 ngày(tấn / ngày)
1,459 1,970 3,875 2,858 3,633 3,142 3,539 2,860 5,574 4,353 3,294 5,042 4,007 5,553 6,607 3,094 5,553
7,117 9,485 22,288 16,797 18,572 19,370 16,164 13,005 32,330 21,504 18,093 31,198 21,145 21,974 17,066 17,607 32,977
4.2702 5.691 13.3728 10.0782 11.1432 11.622 9.6984 7.803 19.398 12.9024 10.8558 18.7188 12.687 13.1844 10.2396 10.5642 19.7862
Trang 385,372 8,492 5,797 6,718 6,607 1,529 3,583 2,255
29,472 40,272 28,920 32,519 35,876 7,643 17,661 11,573
17.6832 24.1632 17.352 19.5114 21.5256 4.5858 10.5966 6.9438
Bảng 9: Bảng thống kê khối lượng rác công cộng thu gom vận chuyển trong các năm từ 1998 – 2005 trên toàn thành phố
m 3 /năm tấn/năm tấn/ngày
Nguồn công ty Dịch vụ Môi trường Đô thị Biên Hoà
Rác công cộng bao gồm rác sinh hoạt từ các hộ gia đình và rác quét đường
Trang 39Biểu đồ biểu diễn lượng rác công cộng thu gom trong ngày
Biểu đồ2: Biểu đồ biểu diễn lượng rác công cộng thu gom trong ngày từ ‘98 – ‘05
Theo thống kê từ năm 1995, khi thành lập công ty lượng rác thải thu gom khoảng lớn hơn 20% Lượng rác thải phát sinh đã được thu gom với tỷ lệ tăng dần Trước năm 2002, tỷ lệ thu gom đạt khoảng 60% thì đến năm 2004 đạt khoảng 65% và đến năm 2005 tỷ lệ thu gom đạt khoảng 70% Cụ thể lượng chất thải rắn công cộng được thu gom từ năm 1998 -2005 được thể hiện trong bảng 9
4.1.3 Công tác thu gom – vận chuyển:
Công tác thu gom, vận chuyển rác sinh hoạt của thành phố Biên Hoà được thực hiện bởi Công ty Dịch vụ Môi trường Đô thị theo cơ chế thuê bao Còn đối với chất thải rắn từ các cơ quan, công sở, trường học, nhà máy, xí nghiệp… được thu gom bằng cơ chế dịch vụ Cụ thể có thể được tóm tắt như sau:
Đối với rác sinh hoạt của hộ dân cư: có thể được thu gom bằng xe ba gát đẩy tay và xe tải nhẹ đối với các phường nội thành hoặc bằng xe tải nhẹ 500
Trang 40cho người dân (7 lần/ tuần) Người dân có thể để thùng rác hoặc bao rác của gia đình trước cửa nhà hay đặt rác sinh hoạt khi có kẻng báo của công nhân thu gom Bằng cách này rác sinh hoạt của hộ gia đình sẽ được thu gom vận chuyển đến bãi chôn lấp
Đối với rác của các cơ quan, trường học, cơ sở sản xuất kinh doanh: rác thải được chứa vào thùng rác công cộng 240l hoặc 660l Sau khi thùng đầy sẽ được chở về bãi chôn lấp
Đối với rác chợ hoặc rác đường phố: phần CTR này được công nhân vệ sinh quét dọn và thu gom tại nơi phát sinh và được vận chuyển bằng các xe đẩy tay với tần suất 7 lần/ tuần Từ đây, các xe đẩy tay này tập trung tại các điểm hẹn để chuyển rác qua các xe chuyên dụng đưa về BCL
Rác xây dựng: rác xây dựng phát sinh trên đường, vỉa hè do các công trình thi công xây dựng, sửa chữa thải ra không đúng nơi quy định, công ty DVMTĐT phải tiến hành thu gom, vận chuyển về BCL Trảng Dài
Rác bệnh viện: công ty chỉ thu gom rác sinh hoạt, phần rác này được lưu chứa trong các thùng 660l, sau đó chuyển sang các xe cơ giới đưa đến BCL Trảng Dài
Rác công nghiệp không nguy hại: công ty chỉ thu gom phần rác công nghiệp không nguy hại, rác được cho vào các thùng chứa và vận chuyển ra BCL bằng xe cơ giới
Phương tiện sử dụng cho công tác thu gom gồm 3 loại phương tiện sau:
Xe đẩy tay: được sử dụng thu gom CTR SH từ các hộ gia đình trong các hẻm lớn, nhỏ, chợ mà tại đó xe chuyên dụng không vào đến nơi được hoặc không có trên lộ trình vạch tuyến Các xe đẩy tay này sau khi thu gom đầy chất thải thì đến điểm hẹn để chuyển rác sang xe chuyên dụng